1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

biểu tượng vườn và nước trong hồng lâu mộng

175 1,1K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tư cách là một trong những thành tố nội tại của tác phẩm, cùng với những biểu tượng khác, vườn và nước là hai biểu tượng quan trọng, có quan hệ mất thiết với nhau, thể hiện tư tưởng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS ĐINH PHAN CẨM VÂN

Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,

kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Đặng Thị Thu Hiền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực và cố gắng của bản thân, tôi đã

nhận được sự giúp đỡ, ủng hộ nhiệt tình từ thầy cô, gia đình và bạn bè Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:

 Quý thầy cô trong khoa Ngữ văn và phòng Sau đại học trường Đại

học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi

thực hiện đề tài này

 Cô Đinh Phan Cẩm Vân, người đã giúp đỡ, cung cấp tài liệu và hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài Qua đây, tôi xin

gửi tới cô lời biết ơn chân thành nhất

 Gia đình, bạn bè, người thân luôn hỗ trợ, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Với việc thực hiện một đề tài nghiên cứu trong khoảng thời gian và khả năng của bản thân còn hạn chế, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý từ quý thầy cô và các bạn

Xin chân thành c ảm ơn!

Trang 5

M ỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 10

1.1 Biểu tượng – vấn đề thuật ngữ 10

1.1.1 Khái niệm biểu tượng 10

1.1.2 Các cấp độ của biểu tượng 16

1.1.3 Vấn đề “giải mã” biểu tượng 17

1.2 Biểu tượng trong văn học cổ - trung đại Trung Quốc 19

1.2.1 Thời kỳ văn học Tiên Tần 22

1.2.2 Thời kỳ văn học cổ điển 26

Chương 2 BIỂU TƯỢNG VƯỜN TRONG HỒNG LÂU MỘNG 31

2.1 Biểu tượng vườn trong văn hóa – văn học Trung Quốc 31

2.1.1 Biểu tượng vườn trong văn hóa Trung Quốc – niềm nuối tiếc về một thiên đường đã mất 33

2.1.2 Biểu tượng vườn trong văn học Trung Quốc – sự tiếp nối những giá trị văn hóa truyền thống 35

2.2 Biểu tượng vườn trong Hồng lâu mộng - những sáng tạo của Tào Tuyết Cần 39

2.2.1 Cách thức xây dựng biểu tượng vườn 39

2.2.2 Đặc trưng tiểu cảnh Đại Quan Viên – sự mở rộng ý nghĩa biểu tượng 49

Chương 3 BIỂU TƯỢNG NƯỚC TRONG HỒNG LÂU MỘNG 68

3.1 Biểu tượng nước trong văn hóa – văn học Trung Quốc 68

3.1.1 Biểu tượng nước trong văn hóa Trung Quốc - sự đồng điệu cùng dòng chảy văn hóa nhân loại 70

Trang 6

3.1.2 Biểu tượng nước trong văn học Trung Quốc - tiếng đồng vọng

của văn hóa truyền thống 74

3.2 Biểu tượng nước trong Hồng lâu mộng - những tầng ý nghĩa 78

3.2.1 Nước – biểu tượng của nữ giới 78

3.2.2 Biểu tượng nước và tư tưởng “sùng âm ức dương” trong Hồng lâu m ộng 88

3.2.3 Biểu tượng nước và những chuyển hóa – biến thể 100

K ẾT LUẬN 114

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 117

PH Ụ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do l ựa chọn đề tài

Tiểu thuyết chương hồi là một trong những “đặc sản” của văn học Trung

Quốc, có ảnh hưởng lớn tới các nước thuộc khu vực văn hóa Đông Á trong đó

có Việt Nam Hồng lâu mộng là kiệt tác văn xuôi không chỉ được người

Trung Hoa ưu ái, ngưỡng mộ mà còn làm say mê tất cả những ai đọc nó, bình

luận về nó Trên quê hương của mình, tiểu thuyết này được đề cao hơn hẳn so

với những tác phẩm cùng thời: “Khai đàm bất thuyết Hồng lâu mộng; Độc tận

thi thư diệc uổng nhiên!” (Mở miệng mà không nói Hồng lâu mộng thì đọc

hết cả thi thư cũng vô ích!) Bởi vậy, nó được xếp trong “Tứ tài tử” (Tây

sương ký, Tam quốc chí, Thủy Hử truyện, Hồng lâu mộng), “Tứ đại kỳ thư”

(Kim Bình Mai, Tam qu ốc chí, Thủy Hử truyện, Hồng lâu mộng), một trong

hai “Tuyệt thế kỳ thư” (Tây du ký, Hồng lâu mộng) Từ khi ra đời, Hồng lâu

m ộng luôn là thử thách đối với người đọc bởi nó không phải là một tác phẩm

dễ đọc, dễ hiểu “Hồng lâu mộng phản ánh kiến trúc thượng tầng từ phong

t ục, tập quán, đạo đức, giáo dục, văn hóa, hội họa, y học, ẩm thực, phục trang cho đến các quan điểm triết học, tôn giáo, kinh học, sử học” [76, tr.62]

Văn học Trung Quốc từ cổ đại, trung đại tới hiện đại luôn thu hút sự quan tâm của độc giả và giới nghiên cứu không chỉ bởi những sự đa dạng về phong cách sáng tác, đặc sắc về nghệ thuật mà còn bởi sự nỗ lực không ngừng

của nhiều thế hệ văn nhân trên con đường tìm tòi và đổi mới bút pháp Tiểu thuyết Minh – Thanh là giai đoạn văn học chứng kiến sự xuất hiện của nhiều cây bút muốn bứt phá, muốn trải nghiệm, không chấp nhận lối viết sáo mòn,

cũ kỹ của văn nhân thuở trước Tào Tuyết Cần là bông hướng dương tiêu biểu

nhất trong một rừng hoa đang hướng về phía mặt trời Với những quan niệm

mới mẻ về tiểu thuyết, Cần Khê đã nghiêm túc coi việc sáng tạo nghệ thuật là

vấn đề sống còn trong sáng tác của người nghệ sỹ Một trong những đổi mới trong bút pháp của ông chính là sử dụng hệ thống biểu tượng dày đặc, mang

Trang 8

hàm nghĩa phong phú để truyền đạt quan điểm nhân sinh và quan niệm nghệ thuật của mình

Việc tìm hiểu biểu tượng là một trong những con đường quan trọng để

tiếp cận thế giới nghệ thuật của nhà văn Dựa trên nền tảng những giá trị văn hóa tinh thần của nhân loại cũng như tinh hoa văn hóa dân tộc, chúng ta có

thể thấy được cách thức tiếp nhận, khả năng khai thác những giá trị ấy nhằm sáng tạo ra cái mới phục vụ cho việc truyền tải tư tưởng của Tào Tuyết Cần

Mặt khác, đến với Hồng lâu mộng là người đọc đến với thế giới của

những biểu tượng Với tư cách là một trong những thành tố nội tại của tác

phẩm, cùng với những biểu tượng khác, vườn và nước là hai biểu tượng quan

trọng, có quan hệ mất thiết với nhau, thể hiện tư tưởng nghệ thuật cũng như quan điểm thẩm mỹ của nhà văn

Từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Biểu tượng

vườn và nước trong Hồng lâu mộng” với mong muốn đóng góp phần nhỏ

vào quá trình “giải mã” cũng như tiếp cận thế giới nghệ thuật của tác phẩm từ

mã văn hóa Qua đó, phần nào giúp người đọc có cái nhìn toàn vẹn hơn về

“Tuyệt thế kỳ thư” này và những sáng tạo nghệ thuật của nhà văn trong dòng

chảy của văn hóa, văn học dân tộc

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Tình hình nghiên c ứu ngoài nước

Hồng lâu mộng không chỉ được yêu quý trên quê hương của nó mà tại

nhiều quốc gia trên thế giới (cả phương Đông và phương Tây), bộ tiểu thuyết cũng dành được đón nhận nồng nhiệt của độc giả và sự quan tâm của giới nghiên cứu văn học Dựa vào những tài liệu đã thu thập được, chúng tôi chủ

yếu quái quát tình hình nghiên cứu biểu tượng nói chung trong Hồng lâu

m ộng, biểu tượng vườn và nước nói riêng tại Trung Quốc cũng như Hoa Kỳ

H ồng lâu mộng đã được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng qua nhiều thời

kỳ, thậm chí ở Trung Quốc đã có ngành nghiên cứu riêng về kiệt tác này là

Trang 9

H ồng học Ở mỗi giai đoạn lịch sử, hướng tiếp cận cũng như tiếp nhận khác

nhau nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu chủ yếu tiếp cận tác phẩm dựa trên cơ sở lịch sử và lập trường giai cấp nên hiệu quả nghiên cứu gặp nhiều

hạn chế, thậm chí, có người còn cho rằng việc nghiên cứu về Hồng lâu mộng

đã đi tới chỗ cùng kiệt

- Cựu Hồng học: xu hướng nghiên cứu chủ yếu là tập trung khảo chứng,

truy tìm người thật việc được dùng làm nguyên mẫu cho các nhân vật cũng

như địa danh, địa điểm trong Hồng lâu mộng

- Tân H ồng học: tập trung tìm hiểu mối quan hệ giữa Tào Tuyết Cần với

Bảo Ngọc và gia đình họ Giả, dẫn đến việc nghiên cứu Hồng học thành

nghiên cứu Tào học

Gần đây, tại Trung Quốc một số công trình nghiên cứu quan trọng về

H ồng lâu mộng đã được công bố:

Tác giả Dương Hải Ba với bài “Tượng trưng bản thể - mục đích tối

thượng của nghệ thuật tượng trưng trong Hồng lâu mộng” đăng trên Học san Hồng lâu mộng kỳ 1 năm 2010 đã khái quát được quá trình nghiên cứu kiệt

tác H ồng lâu mộng theo hướng tìm hiểu về nghệ thuật tượng trưng của nhiều

học giả nổi tiếng tại Trung Quốc Ngoài việc chỉ ra những hạn chế trong việc nghiên cứu thủ pháp tượng trưng của những công trình ấy, Dương Hải Ba đã

đi vào phân tích rất sâu sắc về nghệ thuật tượng trưng bản thể trong Hồng lâu

mộng: ý nghĩa tượng trưng bản thể hiện thực, ý nghĩa tượng trưng bản thể của

cuộc sống, ý nghĩa tượng trưng bản thể tình cảm Cuối cùng, tác giả khẳng định rằng: tượng trưng bản thể vừa có tính trừu tượng, vừa có tính hiện thực;

tất cả những vấn đề trong kiệt tác này, xét cho cùng đều trở về biểu hiện một

số điều có tính cốt lõi của nhân sinh Hồng lâu mộng là “tác phẩm văn học

hi ếm có trên thế giới mang ý nghĩa tượng trưng bản thể” [134]

Như vậy, bài viết của Dương Hải Ba đã nghiên cứu về thủ pháp tượng

trưng (mà nói chính xác hơn là tượng trưng bản thể) trong Hồng lâu mộng

Trang 10

trên bình diện khá rộng và qua đó, cung cấp nhiều cứ liệu quan trọng cho

người đọc liên quan tới nội dung của Hồng lâu mộng (về hiện thực xã hội, đời

sống tinh thần của con người) Tuy vậy, bài báo rất ít đề cập tới đối tượng nghiên cứu của luận văn, cũng như không đi sâu vào một biểu tượng cụ thể nào đó trong tác phẩm để thấy được biểu tượng văn hóa biến đổi hay sản sinh

ý nghĩa khi đi vào tác phẩm văn học

Công trình nghiên cứu nổi bật về Hồng lâu mộng là cuốn Hai thế giới

trong H ồng lâu mộng (The Two Worlds of Hung-lou-meng) của Dư Anh Thời

(Yu Yingshi) - giáo sư đại học Harvard, do Thượng Hải Xã hội Khoa học Viện Xuất bản Xã xuất bản năm 2002 Một một chương trong cùng tên trong cuốn sách này đã được Lê Thời Tân dịch sang tiếng Việt Phần trích dịch này chủ yếu nói về thế giới bên trong và bên ngoài Đại Quan Viên mà cụ thể là sự đối lập giữa thanh sạch và nhơ bẩn giữa hai thế giới ấy Bên cạnh đó, dù

không gọi chính thức vườn và nước trong Hồng lâu mộng bằng thuật ngữ

“biểu tượng” nhưng nhà nghiên cứu đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần về hai biểu tượng này và cho rằng cả nước và vườn trong kiệt tác của Tào Tuyết Cần đều chứa những ẩn ý nhất định Đó là những gợi ý quan trọng giúp chúng tôi có thêm tư liệu và cách nhìn cũng như những đánh giá về đối tượng nghiên cứu

Tại Hoa Kỳ, bài viết “Hồng học tâm bệnh: tiếp cận Hồng lâu mộng từ

góc nhìn phân tâm h ọc” của Ming – Donggu (Giáo sư Văn học và Ngôn ngữ

Đại học Texas, Dallas) do Nguyễn Đào Nguyên và Trần Hải Yến dịch cũng

đề cập đến vườn Đại Quan như “một dạ con biểu tượng” Đó là tài liệu quý giá giúp chúng tôi có thêm một hướng tiếp cận cho đề tài của mình

Tất cả đều là những tài liệu quan trọng, không chỉ có tác dụng gợi ý mà còn hỗ trợ chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài

2.2 Tình hình nghiên c ứu trong nước

Tại Việt Nam, nhiều giáo trình nghiên cứu đã cho độc giả cái nhìn khái

quát về tác giả Tào Tuyết Cần (cuộc đời), tác phẩm Hồng lâu mộng (tóm tắt

Trang 11

sơ lược nội dung cốt truyện, trích dẫn những đoạn độc đáo để độc giả thưởng

thức, khái quát về nội dung và hình thức của tác phẩm, đồng thời nêu nhận

định chung của tác giả) như: Bài giảng văn học Trung Quốc (GS Lương Duy

Thứ), Tác giả, tác phẩm văn học phương Đông (Văn học Trung Quốc) (Trần

Xuân Đề), Bên cạnh đó, còn có một số công trình nghiên cứu riêng trình bày sự chuyển biến từ thưở ban sơ cho đến khi hình thành nên một thể loại hoàn chỉnh và phát triển rực rỡ, góp phần vào thành công của tiểu thuyết

Trung Hoa: Ti ểu thuyết cổ điển Trung Quốc (Trần Xuân Đề), Để hiểu tám bộ

ti ếu thuyết Trung Quốc (Lương Duy Thứ), Những tài liệu trên chỉ đề cập tới

một vài khía cạnh nghệ thuật của bộ tiểu thuyết, còn vấn đề có liên quan đến

biểu tượng hầu như chưa được nhắc tới Tuy vậy, tất cả những công trình đều trên là nguồn tài liệu hỗ trợ chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Trong qua tình tìm kiếm tài liệu để thực hiện đề tài, chúng tôi nhận thấy

ở Việt Nam hầu như chưa có công trình nghiên cứu về biểu tượng trong Hồng

lâu m ộng Các khóa luận tốt nghiệp, luận văn, luận án phần lớn tập trung vào

nghiên cứu về phương diện hình thức cũng như nội dung trong kiệt tác văn chương này Tựu chung, các công trình nghiên cứu ấy tập trung vào các nhóm (tạm chia) sau đây:

+ Nhóm nghiên cứu về nội dung của Hồng lâu mộng gồm: Luận văn

Ngh ệ thuật xây dựng nhân vật trong "Hồng Lâu Mộng" của Tào Tuyết Cần do

Phan Thị Lan thực hiện tại Đại học Vinh năm 2005; Nhân vật A hoàn trong

H ồng Lâu Mộng (Nguyễn Thị Thanh Nga - Đại học Sư phạm Hà Nội, năm

2010)… và nhiều luận văn, luận án khác nghiên cứu về nghệ thuật xây dựng nhân vật, phân tích tâm lý bi kịch tình yêu và hôn nhân trong kiệt tác này + Ngoài ra, còn có một số luận văn nghiên cứu một số đặc điểm nghệ thuật của Hồng lâu mộng như: Nghệ thuật tổ chức không, thời gian trong

"H ồng Lâu Mộng" của Nguyễn Thị Minh Hậu – Đại học Sư phạm Hà Nội

năm 2002; hay Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết "Hồng lâu mộng" do

Trang 12

Nguyễn Thị Cẩn thực hiện tại Đại học Vinh, năm 2006; Lê Thị Thanh Hồng

với Kết cấu tác phẩm Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần (2006); Yếu tố "kỳ"

trong H ồng Lâu Mộng do Bùi Thị Phương Lan thực hiện - Đại học Sư phạm

Hà Nội (2007),

Khóa luận tốt nghiệp của Võ Hương Giang thực hiện tại Đại học Sư

phạm thành phố Hồ Chí Minh năm 2001 với đề tài khá bao quát Bút pháp

nghệ thuật độc đáo của “Hồng lâu mộng” cũng chỉ đề cập được ba đặc điểm

nghệ thuật chính của tác phẩm là: nghệ thuật miêu tả nhân vật, kết cấu nghệ thuật và ngôn ngữ

Dù vườn và nước không được gọi rõ ràng bằng cái tên “biểu tượng”

nhưng rải rác trong cuốn “Tìm hiểu Hồng lâu mộng”, Tiến sĩ Đinh Phan Cẩm

Vân (Trường đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh) cũng có nhiều phân tích và nhận định quan trọng có liên quan mật thiết với đối tượng nghiên cứu

của luận văn Cùng với chương trích trong cuốn sách cùng tên “Hai thế giới

trong h ồng lâu mộng” của Dư Anh Thời (Lê Thời Tân dịch), công trình này là

tài liệu quý giá, gợi mở ý tưởng, cung cấp những cứ liệu quan trọng để chúng tôi bắt tay vào thực hiện đề tài của mình

Tính đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam, chưa có công trình nào viết về

biểu tượng trong Hồng lâu mộng nói chung, biểu tượng vườn và biểu tượng

nước nói riêng Chúng tôi cho rằng, nghiên cứu kiệt tác này từ bình diện biểu

tượng là hướng đi mở, cần được thực hiện nghiêm túc

3 M ục đích nghiên cứu

Luận văn nhằm cắt nghĩa, lý giải biểu tượng vườn và nước trong Hồng

lâu m ộng từ nguồn gốc đến sự biến đổi, mở rộng ý nghĩa trong mối quan hệ

với văn hóa và những tác phẩm văn học khác Đồng thời, luận văn tìm hiểu

thủ pháp nghệ thuật xây dựng biểu tượng cũng như chức năng mà biểu tượng đem lại cho cuốn tiểu thuyết Nghiên cứu biểu tượng không chỉ nằm ở yếu tố riêng rẽ mà phải đặt chúng trong hệ thống những biểu tượng khác trong tác

Trang 13

phẩm, để thấy được đầy đủ những nét nghĩa của biểu tượng cũng như cá tính sáng tạo độc đáo của nhà văn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

H ồng lâu mộng là thế giới của những biểu tượng Tuy nhiên, trong phạm

vi hạn hẹp của luận văn, chúng tôi xin lựa chọn hai biểu tượng để nghiên cứu,

khảo sát và “giải mã” là biểu tượng vườn và biểu tượng nước

4.2 Ph ạm vi nghiên cứu

Khi thực hiện luận văn này, chúng tôi dựa vào bản dịch Hồng lâu mộng

120 hồi (80 hồi đầu là Tào Tuyết Cần viết, 40 hồi sau do Cao Ngạc kế tục tinh

thần của văn sỹ họ Tào viết nên) Bộ tiểu thuyết gồm sáu tập của nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1989, do Vũ Bội Hoàng và Nguyễn Doãn Địch dịch theo bản Trung văn “Hồng lâu mộng thập bát hồi

hi ệu bản”, do nhà xuất bản Văn học nhân dân Bắc Kinh xuất bản năm 1958

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng riêng lẻ (hoặc kết hợp) một số phương pháp nghiên

cứu chính sau đây:

tượng, đi sâu “giải mã” nền văn hóa nhân loại và dân tộc có ảnh hưởng đến

việc sử dụng biểu tượng

dưới góc độ ký hiệu học, giúp giải mã các nét nghĩa cũng như cách thức phái sinh nghĩa của từng biểu tượng cụ thể trong tác phẩm

như tần số xuất hiện của từng biểu tượng được khảo sát trong đề tài nghiên

cứu

sở phân tích, đánh giá với việc biểu đạt nội dung ý nghĩa

Trang 14

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: chúng tôi sử dụng phương pháp

nghiên cứu này nhằm đặt tác phẩm trong mối quan hệ với triết học, văn hóa

học, sử học, tôn giáo để góp phần làm rõ ý nghĩa của biểu tượng cũng như quan niệm thẩm mỹ của Tào Tuyết Cần

+ Phân biệt “biểu tượng” với các thuật ngữ, các khái niệm dễ gây nhầm

lẫn;

+ Đối sánh những điểm giống nhau và khác nhau giữa biểu tượng được

khảo sát trong đề tài với biểu tượng bên trong cũng như bên ngoài kiệt tác

H ồng lâu mộng;

+ Chỉ ra sự tương đồng cũng như khác biệt, sáng tạo trong cách sử dụng

biểu tượng của Tào Tuyết Cần với biểu tượng văn hóa của nhân loại và văn hóa – văn học Trung Quốc

đời nhà văn để làm sáng tỏ những nét tư tưởng cũng như quan niệm sống của tác giả

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn bước đầu tìm hiểu hai trong số rất nhiều biểu tượng trong

H ồng lâu mộng dựa trên cơ sở tìm hiểu nghĩa gốc và sự vận dụng sáng tạo

trong tác phẩm Từ đây, công trình nghiên cứu chỉ ra những nét khác biệt của

biểu tượng vườn và nước trong Hồng lâu mộng với văn hóa, văn học Trung

Hoa truyền thống về mặt ý nghĩa Qua đó, người đọc có thể thấy được những nét đặc sắc về nội dung tư tưởng, chức năng cũng như cách thức tiêu biểu trong việc xây dựng biểu tượng của nhà văn

7 C ấu trúc của luận văn

Ngoài phần Lời cam đoan, Lời cảm ơn, Mục lục, Mở đầu, Kết luận,

Trang 15

Chương 1: Những vấn đề chung

Trình bày lý thuyết về biểu tượng để làm cơ sở lý luận chung cho toàn

luận văn Từ đó, chúng tôi sẽ đi tìm hiểu khái quát về vấn đề sử dụng biểu tượng trong văn học cổ - trung đại Trung Quốc

Chương 2: Biểu tượng vườn trong Hồng lâu mộng

Tìm hiểu ý nghĩa của biểu tượng vườn trong văn hóa thế giới, trong văn

hóa – văn học Trung Quốc, phương thức xây dựng biểu tượng của Tào Tuyết

Cần cũng như những tiếp thu, sáng tạo khi viết về biểu tượng của nhà văn so

với ý nghĩa của biểu tượng vườn truyền thống

Chương 3: Biểu tượng nước trong Hồng lâu mộng

Tìm hiểu ý nghĩa của biểu tượng nước trong văn hóa thế giới, trong văn hóa – văn học Trung Quốc cũng như sự tiếp nhận, sáng tạo ý nghĩa biểu tượng của Tào Tuyết Cần trong việc thể hiện quan niệm thẩm mỹ và nội dung

của tác phẩm

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Biểu tượng – vấn đề thuật ngữ

1.1.1 Khái niệm biểu tượng

Vấn đề khái niệm biểu tượng hiện nay rất phức tạp, chưa có sự thống

nhất giữa các ngành khoa học và các lĩnh vực Bởi vậy, trong luận văn này, chúng tôi chỉ đi vào nắm bắt, khái quát tinh thần cơ bản của một số quan niệm xung quanh thuật ngữ biểu tượng

Từ tượng trưng (symbole) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp sumballein có

nghĩa là nối lại với nhau Quá trình hình thành của biểu tượng xuất phát từ

thực tiễn đời sống Nếu trong tiếng Việt, biểu tượng là một từ gốc Hán được dùng lẫn lộn với hình tượng và ký hiệu (với ba nghĩa: 1- hình ảnh tượng

trưng; 2- “hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự

v ật còn lưu giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan của ta đã chấm dứt” [34, tr.99]; 3- ký hiệu bằng hình, đồ họa trên máy tính)

thì đối với nhiều ngành khoa học, nó là một thuật ngữ được sử dụng với

những nội hàm khác nhau:

Trong phạm vi tâm lý học, biểu tượng được xem như những hình ảnh cụ

thể, trực quan, là “hình ảnh của vật thể, bối cảnh và sự kiện xuất hiện trên cơ

sở nhớ lại hay tưởng tượng” [10, tr.29] Đi từ nền tảng tâm lý, biểu tượng trở

thành đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học xã hội

Phân tâm h ọc trong nghiên cứu biểu tượng có được nhiều thành tựu

đáng kể Theo S Freud, thuật ngữ biểu tượng (symbole) chỉ sản phẩm của vô

thức cá nhân bao gồm những hình ảnh, sự vật, hiện tượng có khả năng “diễn

đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít nhiều khó nhận ra, niềm ham muốn hay các xung đột” [60, tr.XXIV] Và như vậy, S Freud đã quá tập trung vào lĩnh

vực bản năng vô thức, đánh đồng toàn bộ hình ảnh xuất hiện trong giấc mơ

với biểu tượng

Trang 17

C Jung cũng thừa nhận quá trình hình thành biểu tượng gắn liền với cái

vô thức mà cụ thể hơn là vô thức cá nhân nhưng ông lại lý giải sự hình thành

biểu tượng khác với sự luận giải dựa trên dục năng libido của Freud Theo C Jung, biểu tượng được hình thành dựa trên “những dấu vết cổ xưa” hay từ vô

thức tập thể Quan điểm của C Jung về biểu tượng gắn với ký ức nhân loại và cho thấy có mối liên hệ giữa biểu tượng và mẫu gốc Mẫu gốc là những tín

hiệu xuất hiện sớm nhất (để lại dấu ấn trong tín ngưỡng, văn hóa dân gian: lễ

hội, thần thoại, truyền thuyết,…), mang tính phổ quát, còn có khả năng sản sinh ra các hệ biểu tượng văn hóa: mặt trời, hành xác, hiến tế,…

Jung đã trình bày một cách rốt ráo về mẫu gốc (cổ mẫu) Theo ông, “các

m ẫu gốc giống như những nguyên mẫu của các tập hợp biểu tượng ăn sâu vào vô th ức đến nỗi chúng trở thành như một cấu trúc” [60, tr.XXI] Mẫu gốc

gần như là hằng số chung cho cơ cấu tinh thần Đó là tiếng nói của giống nòi,

của tổ tiên khi đứng trước tự nhiên và trong mối liên hệ với tự nhiên Cơ sở để hình thành và khởi đi của các mẫu gốc là vô thức tập thể (tức ký ức nguyên

thủy của nhân loại)

Cũng theo C.Jung, mẫu gốc là yếu tố sản sinh ra các hệ biểu tượng trong

một nền văn hóa, một cộng đồng Khi khuynh hướng vận hành của phản ứng tinh thần tác động vào phạm vi vô thức cá nhân thì nó được biểu lộ qua các

biểu tượng Biểu tượng của mẫu gốc là những biểu lộ bằng hình ảnh tinh thần đặc biệt được nhận thức bởi ý thức và rất khác nhau đối với mỗi mẫu gốc riêng biệt Những khía cạnh khác biệt của cùng một mẫu gốc này lại được

biểu hiện qua nhiều hình ảnh khác nhau Mẫu gốc là khuynh hướng tạo ra

những biểu tượng trong môi trường vô thức cá nhân Những biểu tượng của cùng mẫu gốc đã vô cùng khác nhau, nhưng đến lượt mình, biểu tượng lại được biểu lộ bằng nhiều hình ảnh tinh thần mà ý thức có thể nắm bắt được

Bởi vậy, biểu tượng không chỉ là hình ảnh trong mơ, mang hàm ý tính dục và tuân thủ nguyên tắc thỏa mãn đơn thuần (theo quan điểm của Freud); mà hơn

Trang 18

thế, nó còn là sự tái sinh và biểu hiện những dấu vết trí tuệ của tổ tiên được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử giống nòi Song song với điều đó, bằng

ý thức sáng tạo và tài năng của mình, người nghệ sỹ sẽ luôn làm phong phú thêm nghĩa của biểu tượng

Mặt khác, khi nghiên cứu vấn đề biểu tượng trong lĩnh vực tâm lý và nghệ thuật, hai nhà phân tâm học trên đều khẳng định: trong mối quan hệ giữa cái biểu trưng (mặt hình thức của cảm tính) và cái được biểu trưng (mặt ý nghĩa, phi trực quan) thì cái được biểu trưng bao giờ cũng là cái vô thức Do

đó, bình diện cái biểu trưng là rõ ràng, có thể nắm bắt được, còn bình diện cái được biểu trưng luôn biến đổi

Với triết học, biểu tượng là “hình ảnh trực quan - cảm tính, khái quát về

các sự vật và hiện tượng của hiện thực, được giữ lại và tái tạo trong ý thức và không có s ự tác động trực tiếp của bản thân các sự vật hiện tượng đến giác quan” [52, tr.86] Có hai điểm cần chú ý ở đây: là hình thức phản ánh cảm tính, được giữ lại và tái tạo Điều đó có nghĩa là biểu tượng như một hạt mầm không ngừng nảy nở, xác lập và tái tạo lại nó để bản thân nó có thể chứa đựng

một lượng ý nghĩa năng động

Theo T ừ điển bách khoa văn hóa học, “biểu tượng – một loại ký hiệu đặc

bi ệt, thể hiện nội dung thực tế của một điều nào đó Biểu tượng văn hóa khác

ký hi ệu thông thường ở chỗ chứa đựng mối liên hệ tâm lý và tồn tại mà nó biểu trưng” [67; tr.50] Các nhà nghiên cứu văn hóa đều có xu hướng xem xét

biểu tượng trong mối quan hệ mang tính chất hai chiều giữa thế giới của đời

sống tâm lý cá nhân và đời sống tâm linh của cộng đồng Tách khỏi mối quan

hệ đó, biểu tượng không còn tồn tại với những năng lực mang ý nghĩa giàu

có, tiềm tàng của nó nữa

Đối với văn học, biểu tượng còn được gọi là tượng trưng Theo nghĩa

rộng, “biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng của văn

h ọc nghệ thuật” [18, tr.24] Còn theo nghĩa hẹp, “biểu tượng là một phương

Trang 19

th ức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một vài hình tượng nghệ thuật đặc biệt có

kh ả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lý sâu xa về con người và cuộc đời”[18, tr.24]

Trên đây là một số cách hiểu xoay quanh khái niệm biểu tượng Mặc dù quan niệm không hoàn toàn giống nhau nhưng các lĩnh vực, các tác giả đều có

sự gặp gỡ về một số đặc trưng của biểu tượng: 1- biểu tượng vừa là hình thức

phản ánh cảm tính của cá nhân, vừa mang nội dung xã hội; 2- biểu tượng là

một yếu tố tất yếu của ý thức; 3- biểu tượng gồm hai mặt: cái biểu trưng và cái được biểu trưng

Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi tiếp thu quan điểm của C Jung

về biểu tượng Theo chúng tôi, đó là những kiến giải đầy đủ nhất về nguồn

gốc, nội hàm cũng như bản chất của thuật ngữ này: biểu tượng của một nền văn hóa, một cộng đồng được sản sinh dựa trên cơ sở của mẫu gốc; nó luôn được tái sinh để biểu hiện những dấu vết trí tuệ của tổ tiên; vai trò sáng tạo độc lập của người nghệ sỹ là đặc biệt quan trọng trong quá trình làm phong phú thêm nghĩa của biểu tượng; biểu tượng gồm hai mặt: cái biểu trưng (mặt hình thức của cảm tính, là cái vô thức - luôn rõ ràng, có thể nắm bắt được) và cái được biểu trưng (mặt ý nghĩa, phi trực quan - luôn biến đổi)

Những cách hiểu về biểu tượng ở trên đều có nguồn gốc từ phương Tây

Với Trung Quốc, các nhà lý luận văn học không đưa ra được một khái niệm

chặt chẽ về biểu tượng cũng như xây dựng nó thành một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh như vậy nhưng họ cũng có từ ngữ khác tương đương với nội hàm

của thuật ngữ này dưới tên gọi “tượng trưng” Theo họ, tượng trưng là “mượn

một hình tượng cụ thể nhất định nào đó để biểu hiện một ý nghĩa đặc biệt nào

đó hoặc ám chỉ một sự vật nào đó” [19, tr.215] Xét cho cùng, tuy không hoàn

toàn đồng nhất, trùng khít về câu chữ nhưng cách “mượn một hình tượng cụ

th ể” để “biểu hiện một ý nghĩa” của lý luận văn học Trung Hoa chính là nói

Trang 20

về quan hệ giữa cái biểu trưng và cái được biểu trưng mà phương Tây đề cập

tới trong nội hàm của hai chữ “biểu tượng”

Tính có lý do: Cái được biểu trưng (biểu đạt) của biểu tượng chỉ nảy sinh trên cơ sở những đặc điểm bản thể của cái biểu trưng Các ý nghĩa biểu trưng của biểu tượng là có thể lý giải được chứ không phải là sự quy ước tùy tiện Tính khả biến – chính là khả năng biến đổi ý nghĩa, sức sản sinh dồi dào của cái được biểu đạt từ một cái biểu đạt Tính khả biến của biểu tượng nghĩa

là sự không ổn định, biến đổi theo môi trường, thời kỳ, cá nhân, cộng đồng dân tộc… Đó là khả năng chuyển dịch liên tục, tái sinh liên hồi từ cái biểu đạt đến cái được biểu đạt Theo tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa, quá trình biến đổi ấy được diễn ra qua hai cấp độ mô hình hóa sau đây:

(biến đổi ý nghĩa cấp độ 1)

Các biến thể từ ngữ

(hiện thực hóa quan hệ sản sinh từ mẫu gốc đến hệ biểu tượng)

Phân hóa Chi tiết hóa Tương đồng Tương phản

(biến đổi ý nghĩa cấp độ 2)

Trang 21

tượng trong ngôn từ nghệ thuật

Có nhiều tiêu chí để phân loại biểu tượng như:

Dựa vào tiêu chí trương độ: gồm biểu tượng không gian và thời gian

Dựa vào cơ chế hoạt động của tư duy: biểu tượng thay thế và biểu tượng trí nhớ [10, tr.29]…

Dựa trên việc sử dụng biểu tượng trong các chuyên ngành khác nhau

gồm có: biểu tượng trong các ngành khoa học tự nhiên (toán học, logic

học,…) – là những biểu tượng có tính chất ước định, được lựa chọn và sử

dụng theo thỏa thuận chung; biểu tượng trong tôn giáo và triết học; biểu tượng tronng lĩnh vực nghệ thuật nghệ thuật nói chung,

Về mặt nguồn gốc, biểu tượng được chia làm hai loại: biểu tượng gốc và

biểu tượng quy ước

Biểu tượng gốc: là những biểu tượng trực tiếp nảy sinh từ mẫu gốc của

nó, có thể có hình thức vật chất Biểu tượng gốc cũng có thể không có hình thức tồn tại vật chất mà chỉ là một ý niệm tinh thần của con người

Biểu tượng quy ước: là một dạng của biểu tượng gốc trong nền văn hóa, bao gồm những biểu tượng ra đời sau, dựa trên những quy ước của một cộng đồng văn hóa nào đó Ví dụ, cây thập tự là biểu tượng quy ước cộng đồng kitô giáo Tràng hạt và cây bồ đề là biểu tượng quý ước của cộng đồng Phật giáo Tính quy ước ở đây không phải là tuyệt đối, nó không đồng nghĩa với tính võ đoán Xét đến cùng thì biểu tượng quy ước chính là một dạng biểu hiện của biểu tượng gốc trong nền văn hóa nhất định Chúng ta có thể tìm ra được mối liên hệ giữa biểu tượng quý ước với biểu tượng gốc hay một mẫu gốc nào đó Cây thập tự xuất phát từ biểu tượng gốc sự khổ hình để đạt trạng thái thăng hoa về tinh thần Biểu tượng này có thể thấy trong thần thoại Prômêtê bị xiềng

Trang 22

1.1.2 Các cấp độ của biểu tượng

Mẫu gốc (cổ mẫu) là biểu tượng mẹ, nguyên mẫu của các biểu

tượng, đi vào trong tâm thức của các cộng đồng như là "ký tích",

"mô hình tiềm tàng" trong tâm hồn con người có tính chất kế thừa hay tính chất bẩm sinh, tính chất di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

• Bi ểu tượng văn hóa

Các cổ mẫu khi đi vào trong những nền văn hóa khác nhau, chịu sự tác động về những điểu kiện kinh tế, xã hội, về tự nhiên, về tôn giáo thì có thể sản sinh ra các biểu tượng văn hóa

Biểu tượng văn hóa là những thực thể vật chất hoặc tinh thần (sự vật, hành động, ý niệm,…) có khả năng biểu hiện những ý nghĩa rộng lớn hơn hình thức cảm tính của nó, tồn tại trong một tập hợp, một hệ thống đặc trưng cho những nền văn hóa nhất định: nghi lễ, hành vi kiêng kỵ, thần linh, trang

phục,… Biểu tượng văn hóa bao gồm cả những biểu tượng vật thể (trong các ngành nghệ thuật như kiến trúc, hội họa, điêu khắc: Kim tự tháp là biểu tượng văn hóa của Ai Cập, Vạn lý trường thành là biểu tượng văn hóa của Trung

Quốc, tháp Eiffel biểu tượng văn hóa của nước Pháp…) và phi vật thể (tín

ngưỡng, tôn giáo, triết học, phong tục, văn học) Trong “Từ điển biểu tượng

văn hóa thế giới”, tác giả J Chevalier cho rằng “biểu tượng có khả năng cùng lúc thâm nhập vào tận bên trong cá thể xã hội” và hiểu ý nghĩa biểu tượng là

một bước trên hành trình tiếp cận bản sắc văn hóa của dân tộc đó

Các biểu tượng văn hóa này vừa có sự duy trì những ý nghĩa biểu trưng

của mẫu gốc, vừa có sự điều chỉnh và biến đổi cả về cái biểu đạt và cái được

biểu đạt Các biểu tượng văn hóa xuất hiện sâu rộng và có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần mỗi dân tộc, là nguồn mạch dân gian nuôi dưỡng những giá trị tâm linh Mỗi quốc gia có những biểu tượng đặc trưng cho mình, thậm chí có khi cùng một biểu tượng nhưng ở mỗi nước lại mang ý nghĩa khác nhau

Trang 23

Cùng với sự phát triển của đời sống, biểu tượng văn hóa ngày càng được bồi đắp thêm ý nghĩa cũng như có sự xuất hiện nhiều biểu tượng mới theo cá tính sáng tạo của nhà văn Đó là sự mở rộng nội hàm ý nghĩa, vận động không ngừng trong vũ trụ nghĩa - một đặc trưng của biểu tượng làm cho văn bản trở nên đa chiều, tiếp thu và tiếp biến

• Bi ểu tượng nghệ thuật

Từ bình diện văn hóa, biểu tượng chuyển hóa vào các loại hình nghệ thuật, một hệ biểu tượng được sáng tạo lại theo những đặc trưng loại hình

nhất định: hội họa, sân khấu, văn học, Vì vậy, biểu tượng nghệ thuật là “các

bi ến thể loại hình của biểu tượng văn hóa trong những ngành nghệ thuật khác nhau: h ội họa, âm nhạc, kiến trúc, văn học,…”[94, tr.35] Các biểu tượng văn

hóa khi đi vào trong các ngành nghệ thuật sẽ được hiện thực hóa thành các

chất liệu tương ứng của ngành nghệ thuật đó

Biểu tượng ngôn từ nghệ thuật: Các biểu tượng nghệ thuật chịu sự

điều biến của yếu tố chủ thể sẽ được cấu tạo lại thông qua tín hiệu ngôn ngữ trong văn học mà sản sinh ra các biểu tượng ngôn từ Trong phạm vi ngôn ngữ văn học, các biểu tượng tâm lý, biểu tượng văn hóa đều được chuyển thành các từ - biểu tượng (word – symbols) Ở đây, vừa có sự duy trì những nét nghĩa gốc của biểu tượng vừa có sự tiêu biến một số nét nghĩa nhất định

và sự sáng tạo ra một số nét nghĩa mới

1.1.3 Vấn đề “giải mã” biểu tượng

“Mã” xuất hiện lần đầu tiên trong lý thuyết thông tin Nó là hệ thống

những biểu trưng được chọn một cách võ đoán (không tất yếu) thông qua

những quy luật cấu tạo của ký hiệu để dùng trong các thông điệp Ngôn ngữ cũng được xem là một loại mã đặc biệt, tức một hệ thống những ký hiệu có tính chất ước lệ được xây dưng theo những liên hệ và cấu trúc rất chặt chẽ, theo những luật lệ vô hình, được cam kết một cách thống nhất tuyệt đối trong

một cộng đồng ngôn ngữ Trong đời sống xã hội, với nhiều phạm vi giao tiếp

Trang 24

khác nhau, con người cũng tạo ra nhiều mã Các mã được xếp thành ba loại:

mã logic, mã xã hội và mã thẩm mỹ Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi sẽ tập trung vào tìm hiểu mã thẩm mỹ Đây là loại mã mang tính

chủ quan xúc cảm nhằm tác động vào tư tưởng, tình cảm, trí tuệ, thông qua

những hứng thú như: văn hóa, nghệ thuật,… Vì vậy, mã văn chuơng cũng là

một loại mã mang tính chất thẩm mỹ “Giải mã” tức là giải thích mã, chuyển

dịch mã sang sự hiểu biết cụ thể khi nhận được thông điệp

Biểu tượng được nhìn qua lăng kính của người nghệ sỹ và gắn với tư

tưởng của chủ thể sáng tạo “Biểu tượng rơi vào ký ức nhà văn từ chiều sâu

ký ức văn hóa và được làm sống lại trong văn bản mới, như một hạt giống đánh rơi vào lòng đất” [125] Bởi vậy, “giải mã” là một trong những khâu

đặc biệt quan trọng trên hành trình đi tìm ý nghĩa của biểu tượng nghệ thuật nói chung và biểu tượng văn học nói riêng Nhờ đó, chúng ta mới có thể tìm

hiểu ý nghĩa cũng như vị trí của nó trong văn hóa của mỗi dân tộc, bao tiếng nói từ trái tim, từ trí tuệ của người nghệ sỹ được thể hiện qua biểu tượng -

một phần trong kết cấu nội tại của tác phẩm ấy

Theo chúng tôi, để có thể giải mã được một biểu tượng cụ thể nào đó, chúng ta cần chú ý một số điểm cơ bản sau đây:

Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu xem biểu tượng đó được xuất phát từ

biểu tượng gốc hay biểu tượng quy ước (tức là đi xác định nguồn gốc của biểu tượng) Sau đó, từ trong đời sống văn hóa, tìm hiểu sự biến đổi ý nghĩa của

biểu tượng trong tác phẩm văn học nghệ thuật cụ thể Chính trong sự chuyển hóa này xuất hiện vai trò của chủ thể không phải là một nhân tố bị động mà như một năng lực chủ động, có khả năng điều chỉnh các ý nghĩa của biểu tượng Đó chính là cơ sở để chúng ta từng bước tìm hiểu quá trình phái sinh cũng như bồi đắp ý nghĩa của biểu tượng ở hiện tại

Biểu tượng “mãi mãi gợi cảm đến bất tận: mỗi người thấy ở đấy cái mà

năng lực thị giác của mình có thể nhận ra Thiếu sự thâm thúy sẽ chẳng nhận

Trang 25

được cái gì cả” [60, tr.XXVI] Vì vậy, vấn đề “giải mã” biểu tượng cần có

một cái nhìn tổng thể của nhiều ngành khoa học khác nhau (triết học, tâm lý

học, văn học,văn hóa học, ký hiệu học, nhân học,…) trong đó có ký hiệu học, văn hóa học Hai bộ môn khoa học này đã và đang trở thành một phương pháp tiếp cận quan trọng trong nghiên cứu về biểu tượng (biểu tượng văn hóa,

biểu tượng nghệ thuật)

Để nắm bắt tương đối đầy đủ và trọn vẹn ý nghĩa của biểu tượng, độc giả

“ph ải tổng hợp và đồng cảm hết mực, nghĩa là chia sẻ và cảm nghiệm một cái nhìn nào đó về thế giới” [60, tr.XXVII] J Chevalier cho rằng ý nghĩa của

một biểu tượng không phải là một cấu trúc khép kín mà là một khả năng gợi

ra các chiều liên tưởng trong thực tại tinh thần của con người, những chiều hướng này có thể rất khác nhau, rất trái ngược nhau Mỗi người có thể tìm thấy trong biểu tượng sự trải nghiệm tinh thần mang tính cá nhân nhưng vẫn không tách rời cái bản chất xã hội, cái trung tâm tinh thần chi phối toàn bộ sự vận động của chúng Trong mối quan hệ với tâm điểm, chu vi của một biểu

tượng lại vô tận, có thể vượt quá sự hiểu biết của lý trí, và thực chất “chính vì

vô số điều nằm ngoài những phạm vi hiểu biết của con người nên chúng ta thường xuyên dùng những từ ngữ biểu tượng để thể hiện những khái niệm mà chúng ta không thể xác định được, cũng chẳng hiểu được trọn vẹn” [60,

tr.XXX] Tuy vậy, điều đó không có nghĩa là một sự tưởng tượng hỗn loạn,

vô hướng của con người, “các vế chưa biết mà biểu tượng hướng tư duy của

ta về đó không phải là bất cứ điều ngông cuồng nào của trí tưởng tượng” [60;

tr.XXX]

1.2 Biểu tượng trong văn học cổ - trung đại Trung Quốc

Kinh Dịch là cội nguồn của triết học Trung Quốc, là mô hình tư duy triết

học cổ đại nhất, mọi phương diện của triết học truyền thống Trung Quốc đều

bắt nguồn từ nó Tác giả Trần Lê Bảo cho rằng “đó là lối tư duy thiên về nhận

th ức những biểu tượng cụ thể” [2, tr.45]

Trang 26

Ngay từ đời Phục Hy đến cuối nhà Thương, Kinh Dịch vẫn là một mớ

vạch liền, vạch đứt, chưa có tên hiệu hay chữ nghĩa gì cả Tuy vậy, chúng vẫn

biểu trưng cho những ý nghĩa nhất định Ký hiệu cơ bản của các quẻ trong

Kinh D ịch đoạn thẳng: một đoạn thẳng (vạch liền) “ ” gọi là vạch Dương

(hào Dương) hoặc đoạn cắt (vạch đứt) “_ _” gọi là vạch Âm (hào Âm) Vạch Dương đại diện cho dương khí, vạch Âm đại diện âm khí, sự lưu thông thống

nhất giữa hai khí này sẽ tạo ra vạn vật Hai vạch đó gọi là NHỊ NGUYÊN (LƯỠNG NGHI); Trên mỗi LƯỠNG NGHI thêm một nét nữa, thành ra bốn cái hai vạch, tạo thành bốn hình khác biệt với tên: Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm, gọi chung là TỨ TƯỢNG Tứ Tượng là Nhật Nguyệt Tinh Thần (mặt trời, mặt trăng, định tinh và hành tinh) Trên bốn tượng lại có thêm một vạch nữa, tạo thành tám cái ba vạch, gọi là tám Quẻ (tức quẻ đơn)

Chữ “tượng” chính là căn cứ tạo nên Kinh Dịch Nó có nghĩa là mô

phỏng, tượng trưng Người Trung Quốc cổ đại cho rằng: sự vật cơ bản giữa

trời đất có tám loại: trời đất, sấm sét, gió, nước, lửa, núi và sông ngòi làm đại

diện, từ đó chia làm tám quẻ: Càn hay Kiền (trời), Khôn (đất), Chấn (sấm sét),

Tốn (gió), Khảm (nước), Ly (lửa), Cấn (núi), Đoài (sông ngòi) “Tượng” mang tất cả tính đại diện cụ thể của Bát quái (tức giải thích tất cả các ý nghĩa,

hiện tượng đại diện cho từng quẻ, muốn hiểu được điều đó phải đọc sách

“Thuyết Quái” của Khổng Tử soạn) Tám quẻ đơn ở trên tượng trưng cho các

vật ở vũ trụ, mỗi quẻ là hình tượng và tính chất của một hoặc nhiều vật: Kiền

là tượng trời, tượng con rồng, có sức mạnh, tượng trưng đàn ông; Khôn là tượng đất, tượng con trâu, có tính chất nhu thuận, là đàn bà; Chấn là tượng

tiếng sấm, tượng cái cây, tính động; Khảm là tượng nước, tượng mây, tượng mưa, tính hiểm trở; Tốn là tượng gió, tính chất luồn vào, đong đưa; Ly là tượng lửa, là ánh sáng, tính quang đãng; Cấn là tượng núi, tính chất yên tĩnh; Đoài là tượng đầm, tính vui vẻ Sau cùng, Phục Hy đem quẻ nọ chồng lên quẻ kia, điên đảo khắp lượt, tạo thành sau mươi tư cái sáu vạch, gọi là sáu mươi tư

Trang 27

Quẻ (quẻ kép) Ba vạch cắt nhau tạo nên Bát quái, Bát quái hai phần chồng nên nhau tạo thành sáu mươi bốn quẻ Bắt nguồn từ những vạch liền vạch đứt

kết hợp lại với nhau nhưng ảnh hưởng của Kinh Dịch hết sức lớn lao Khi người dân Trung Hoa chưa có chữ viết, “những quẻ là bước đầu để đi tới văn

t ự Sáu mươi bốn quẻ được Kinh Dịch Huyền Nghĩa coi như là sáu mươi bốn

d ạng chữ đầu tiên” [40, tr.18] Với việc bói toán bằng cỏ thi, bằng tiền cũng

bắt nguồn từ Kinh Dịch Trong phong thủy và quân sự, những nguyên lý của

D ịch học cũng được áp dụng rất nhiều

Như vậy, mô hình tư duy triết học trong Kinh Dịch đã tạo nên một hệ

thống tín hiệu, biểu tượng phong phú trong việc nhận thức thế giới Mỗi hào,

quẻ trong hệ thống đều mang một ý nghĩa biểu trưng nào đó Tính chất của

mỗi quẻ tượng trưng cho sự riêng biệt của nó “vì bản thân các phù hiệu tượng

trưng trên đã chứng tỏ năng lực tư duy đương thời có thể bao quát bản chất

s ự việc vào một số tượng, một số phạm trù cụ thể” [2, tr.46] Cũng theo tác

giả Trần Lê Bảo, Kinh Dịch có sức ảnh hưởng mạnh mẽ không chỉ trên quê hương của nó mà còn “là đặc điểm tư duy phương Đông, trong đó có tư duy

ngh ệ thuật” [2, tr.46]

Nam hoa kinh là cuốn sách do Trang Tử và các đệ tử đời sau dựa trên cơ

sở tư tưởng triết học của Lão Tử (lấy “Đạo” làm tín ngưỡng căn bản và làm

cơ sở lý luận của giáo nghĩa) mà phát triển thành Nó không chỉ là một tác

phẩm triết học mà còn được coi là một tác phẩm văn chương, được Kim Thánh Thán xếp vào vị trí số một trong “Lục tài tử”

Ngoài đặc điểm chung của các triết gia Trung Hoa khi viết sách là trình bày tư tưởng của mình một cách vắn tắt, lửng lơ để dành khoảng trống cho người đọc suy ngẫm, Trang Tử còn sử dụng nhiều ngụ ngôn cũng như ý tứ rất thâm trầm khiến người đọc không kể công sức và thời gian để suy nghĩ về nó, bàn luận về nó Tác giả của Nam hoa kinh đã sử dụng vô số những hình ảnh mang ý nghĩa ẩn dụ Trong bài Tiêu dao du (thuộc chương Nội thiên), Trang

Trang 28

Tử đã mượn thần thoại “Tinh Vệ lấp biển” để xây dựng một hình ảnh tương tự

nhằm bày tỏ suy nghĩ của mình Nếu như hình ảnh chim bằng không nề hà gió bão, sóng lớn để vượt biển là biểu tượng chí lớn và lòng quyết tâm thì con ve,

con cưu mới ra ràng và con chim sẻ lại mang ý nghĩa ngược lại Ở thiên Tề

v ật luận, hình ảnh cánh bướm không chỉ nói để về quan niệm nhân sinh của

mình mà còn là biểu tượng cho giấc mộng (tỉnh và mộng – Trang Tử và

bướm) Ngoài biểu tượng cánh bướm, trong Nam hoa kinh còn xuất hiện biểu tượng cái bóng Chúng ta gặp đi gặp lại hai cái bóng trong thiên Tề vật luận,

Ng ụ ngôn và cuộc đối thoại giữa chúng Theo các tác giả cuốn Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, trong tâm thức của người Trung Hoa cổ, cái bóng

được khởi thủy từ việc con người thấy sườn núi râm tối của thung lũng đối

lập với sườn chói chang ánh nắng hoặc bóng là một cổ mẫu nguyên thủy trong tấm gương nước vô thức (theo Đào Ngọc Chương) Từ việc nghiên cứu hình bóng, phép định hướng trong thuật địa lý cổ xưa được hình thành

Bước vào Nam hoa kinh là chúng ta nghe Trang Tử nói về mộng Đó là

mộng về chim bằng, về cánh bướm, về cái bóng, con ốc sên, con ếch trong

giếng cạn, Như vậy, thế giới của Trang Tử chỉ là những biểu tượng, là

những cái mà ông gọi là, ngụ ngôn, trùng ngôn Ông đã gửi gắm vào những

biểu tượng nghệ thuật này những tính chất trừu tượng của ý cảnh hoặc phẩm

chất nào đó của con người Ngụ ngôn trong tác phẩm của Trang Tử là nghệ thuật tượng trưng, mà nói như Hêghen, nghệ thuật ấy là một “mã tinh thần” khó có thể giải thích hết được Cùng với phong cách lãng mạn, trí tưởng tượng phong phú, lối nói tượng trưng tuy còn đơn giản nhưng có ảnh hưởng

rất lớn tới các nhà thơ, nhà văn đời sau như: Bạch Cư Dị, Tào Tuyết Cần,…

1.2.1 Thời kỳ văn học Tiên Tần

• Kinh thi

Ca của Trung Quốc ra đời trước khi có chữ viết, được hình thành và phát triển dần lên trong quá trình lao động, múa hát của con người (văn học dân

Trang 29

gian) Kinh thi là bộ tổng tập thơ ca đầu tiên (từ thế kỷ XI – IV TCN – tức từ đầu thời nhà Chu đến giữa thời Xuân Thu) cũng là một trong những tác phẩm

nổi tiếng của nền văn học cổ Trung Quốc Đây là tác phẩm tiêu biểu cho nền văn hóa phương Bắc (cùng với triết học Khổng Mạnh)

Kinh thi được đánh giá cao không chỉ bởi đây là tuyển tập thơ ca dân gian có nội dung làm nền tảng cho khuynh hướng hiện thực của văn học Trung Quốc mà nghệ thuật của nó cũng rất đặc sắc Cùng với lối kết cấu trùng

chương điệp cú, phú thì tỷ, hứng là những thủ pháp nghệ thuật nổi bật Tỷ là

so sánh, mượn cái này để nói cái kia, mượn cái cụ thể để nói cái trừu tượng:

mượn con chuột để nói về kẻ bóc lột – Thạc thử, mượn hình ảnh cây đào non, đào tơ để nói về sự trẻ đẹp của người con gái dậy thì – Đào yêu, mượn hình

ảnh quả mai (mơ) rụng để nói tiết cuối xuân và chỉ hương sắc dần nhạt phai theo thời gian của người con gái – Phiếu hữu mai, lấy gió lớn để ví với người

chồng bạo tàn - Chung phong,… Hứng là khêu gợi, mượn sự vật bên ngoài để

khêu gợi tình cảm bên trong, có khi liên quan, có khi chỉ gợi âm thanh, gợi

vần: từ tiếng chim gù gọi nhau mà chàng trai mơ tưởng đến cô gái hái rau

hạnh, rồi nhớ thương, rồi trằn trọc và tưởng tượng ra ngày cưới – Quan thư,

khởi hứng từ hình ảnh con chim sẻ vàng kêu chích chích ở bụi cây gai, rồi cây dâu mà dẫn đến chuyện tuẫn táng – Hoàng điểu,… Giữa tỷ và hứng nhiều khi

rất khó phân chia ranh giới rõ ràng bởi trong tỷ có hứng, trong hứng có tỷ Lưu Hiệp nói: “thể tỷ thì chứa giận dữ mà không nói thẳng; thể hứng thì ví

von xa g ần để gửi sự răn đe” [77, tr.117]

Dù thuộc dòng văn học dân gian – những sáng tác thơ ca đầu tiên của

văn học Trung Quốc nhưng phép tỷ, hứng trong Kinh thi đã chứa đựng những

(biểu tượng) tượng trưng đơn giản và có ảnh hưởng rất lớn đến thơ ca Trung

Quốc đời sau

• S ở từ

Thế kỷ thứ IV TCN, nước Sở thời Chiến Quốc với nền tảng văn hóa độc

Trang 30

đáo của mình cộng thêm những ảnh hưởng của văn hóa phương Bắc đã hun đúc cho ra đời nhà thơ vĩ đại Khuất Nguyên Khuất Nguyên cùng những người chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của ông như Tống Ngọc đã sáng tạo ra

thể thơ Sở từ - loại thơ ca ra đời trong thời Chiến Quốc, giàu màu sắc địa phương nước Sở Đến Sở từ, mặt hình thức của thơ ca Trung Quốc cổ đại đã

có bước phát triển mới Ly tao là tác phẩm Sở từ kiệt xuất, tiêu biểu của Khuất

Nguyên Đây là bài thơ trữ tình dài, xuất hiện sớm nhất trong lịch sử văn học

viết Trung Quốc Ly tao của Khuất Nguyên ra đời không chỉ đưa thơ ca Trung

Quốc vào giai đoạn sáng tác có ghi tên tác giả cụ thể, không còn là tác giả khuyết danh như trong Kinh thi nữa, mà còn là sáng tác văn học đầu tiên theo

khuynh hướng lãng mạn với việc sử dụng khá đầy đủ các thủ pháp biểu hiện lãng mạn

Trong cuốn Lý luận văn học, nghệ thuật cổ điển Trung Quốc, Khâu Chấn Thanh đã nêu ý kiến của Tô Thức đời Tống: “Tác phẩm Ly tao của Khuất

Nguyên s ở dĩ tranh được vẻ sáng với mặt trăng, mặt trời, và biến đổi cả thể phong và nhã” (cái phong nhã nhi tái biến giả), ấy là vì nó đã có sự đổi mới, phát tri ển trên cơ sở của 300 bài thơ Kinh Thi” [81, tr.304] Qủa vậy, về mặt

biểu hiện nghệ thuật, Ly tao của Khuất Nguyên đã tham khảo thủ pháp tỷ,

h ứng của Kinh thi khi sử dụng số lượng nhiều biện pháp tỷ dụ Nhà thơ đã sử

dụng những loài hoa cỏ thơm (huệ, lan, sói, thiên lý, đỗ quyên,…) và chim quý (phượng, loan,…) để ví với phẩm chất trung trinh của mình; dùng những loài cỏ độc (cỏ tiêu, cỏ ngải, cỏ tranh,…), những loài ác điểu, vật tồi (chim

trấm – loài chim độc mà lông của nó ngâm rượu uống có thể chết người, chim cưu,…) để ví với thói xiểm nịnh, nham hiểm của bon người xấu; lấy vị nữ

thần của Lạc Thủy trong thần thoại là Phục Phi và người con gái của họ là

Hữu Ngu để ví với hiền thần; lấy loài rồng và các thứ chim loan phượng bay lượn trên trời cao để ví với người quân tử; lấy hình ảnh gió xoáy, mây trời,

mống cụt,… biến đổi vô thường để ví với kẻ tiểu nhân,…

Trang 31

Tuy bắt nguồn từ Kinh thi nhưng phép tỷ, hứng của Ly tao có sự đổi mới

rõ rệt Trong Kinh thi, phép tỷ được thực hiện dựa trên cơ sở lợi dụng điểm

giống nhau nào đó giữa hai vật và so sánh chúng với nhau, khiến cho tư tưởng, tình cảm hoặc quan điểm vốn trừu tượng được trình bày một cách sinh động, cụ thể, khiến cho người đọc có ấn tượng rõ nét, hoặc trình bày một cách

uyển chuyển, hàm súc để độc giả tự tìm lấy ý vị ở những điều không tiện nói

thẳng ra; hứng mượn sự vật để khơi gợi hoặc mượn đề tài để phát huy Lưu

Hiệp gộp tỷ, hứng trong Ly tao vào làm một khi nói rằng: “Loài rồng để so

sánh v ới người tốt, mây mống để so sánh với người xấu, như thế đều có cái phong cách c ủa tỷ hứng trong Kinh thi vậy” [77, tr.36] Sự khác nhau lớn nhất

giữa tỷ, hứng trong Ly tao và Kinh thi, theo Khâu Chấn Thanh chính là “sự

“nghĩ nhân hóa” (nhân cách hóa) của nó Điều đó có thể nói rằng, đó là sự phát tri ển thủ pháp tỷ, hứng trong Kinh thi vậy.” [81, tr.292] Do vậy, so với Kinh thi, th ủ pháp này trong Ly tao phức tạp và phong phú hơn nhiều

Như vậy, với bài thơ trữ tình đầu tiên trong lịch sử văn học viết Trung

Quốc, nhà thơ không chỉ có ý thức tham khảo phép tỷ, hứng trong Kinh thi mà

còn sử dụng thủ pháp này với mật độ dày đặc nhằm làm tăng sự sinh động cụ

thể, ý nghĩa sâu sắc Đó chính là sự phát triển phép tỷ, hứng của Kinh thi, cho

chúng ta thấy được một hệ thống tượng trưng hoàn chỉnh xuất hiện trong tác

phẩm, trở thành kinh điển cho các thi nhân đời sau học tập Đó chính là một trong những lý do để Tư Mã Thiên đánh giá về tài năng của Khuất Nguyên trong cuốn Sử ký: “Dữ nhật nguyệt tranh quang khả dã” (đủ để sáng rực cùng

m ặt trời, mặt trăng) [33, tr.162], hay như lời nhận xét của Lưu Hiệp trong

cuốn Văn tâm điêu long: “văn khí vượt quá người xưa, ngôn ngữ hơn hẳn đời

sau” [77, tr 37] Nhưng suy cho cùng, tỷ, hứng ấy vẫn còn đơn giản và để phát

triển thành biểu tượng (tượng trưng), chúng còn phải trải qua nhiều chặng đường khác

Trang 32

1.2.2 Thời kỳ văn học cổ điển

Văn học trung đại nằm gọn trong lịch sử chế độ phong kiến Trung Quốc (Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh) kéo dài hai mươi thế kỷ Cùng

với sự trưởng thành và hoàn thiện của thi pháp văn học cổ điển nói chung (bao gồm các loại hình thơ ca, tiểu thuyết,…), thủ pháp sử dụng biểu tượng trong các tác phẩm thuộc giai đoạn này từng bước được định hình rõ ràng và nâng lên những bậc thang mới Đến giai đoạn văn học này, biểu tượng (tượng trưng) đã thực sự trở thành một thủ pháp nghệ thuật đắc dụng giúp các nhà thơ, nhà văn phản ánh hiện thực, truyền đạt nội dung tư tưởng một cách chân

thực nhất cũng như thể hiện ý đồ của người sáng tác

Thời Đường kéo dài khoảng ba trăm năm (năm 617 – 907) là thời kỳ thơ

ca Trung Quốc phát triển rực rỡ nhất, không chỉ chứa đựng nội dung phong phú mà hình thức cũng rất điêu luyện Nói tới thời kỳ hoàng kim của thơ ca Trung Hoa là nói đến mẫu mực của thơ ca cổ điển Kế thừa những tinh hoa

của văn học trước đó, các nhà thơ giai đoạn này đã đưa thành tựu thơ ca Trung Hoa có thêm những bước tiến mới Phép tỷ, hứng được bắt nguồn từ

Kinh thi, sau đó là Sở từ, những sáng tác của Đào Uyên Minh,… đến thời Đường được phát triển cực độ trong sáng tác thi ca

Với người đời Hán, tỷ và hứng được dùng để phúng thích những điều chướng tai gai mắt trong xã hội Đến thơ Đường, lối tỷ, hứng trong Kinh thi,

Ly tao hay trong thơ Đào Uyên Minh không chỉ là nghệ thuật tỷ dụ, ám dụ mà

được phát triển thành tượng trưng (mà trong thơ gọi là hứng tượng) khi ý

nghĩa của cái được biểu đạt phong phú hơn Nhờ có phép tượng trưng mà thi nhân có thể tác động vào tư tưởng, tình cảm của người đọc chỉ bằng cách gợi lên một vài ý, một vài đặc điểm mà không cần dài dòng Bàn về mối quan hệ

giữa khung cảnh và ý nghĩ trong nội tâm, khi xét trên phương diện tình cảm

và tượng trưng, Lâm Ngữ Đường goi phép đó là hứng (mà đúng hơn là hứng

Trang 33

tượng) Khái niệm này “diễn đạt tinh tế và cô đọng mối liên kết cảnh tình”

[57, tr.37] Nếu đem cả hứng và tượng (tức tượng của vật) ra so sánh thì

tượng có xu hướng gắn liền với cái thực, cũng chính là phần cứng hiển hiện thu ộc thế giới nghệ thuật của tác phẩm; còn “hứng” lại có xu hướng hư không, t ạo nên phần tiềm ẩn của hình tượng nghệ thuật” [39, tr.213] Theo

tác giả Đinh Phan Cẩm Vân, sự vật được nói tới hay nội dung cụ thể của một

bài thơ là “sự tương tác giữa hình ảnh và khơi gợi, giữa bề mặt và phần chìm

sâu, gi ữa nghĩa phô bày và nghĩa hàm ẩn, giữa cái được nói ra và cái ám thị

Ph ần bề nổi (tượng nội) và phần chìm sâu (tượng ngoại) đều phải thiết lập thành m ột thế giới gắn kết về ý nghĩa” [57, tr.37] Từ đây có thể nói, hai chữ

h ứng tượng của thơ Đường khi đó rất gần gũi với thuật ngữ “biểu tượng” –

“tượng trưng” của các nhà lý luận văn học phương Tây và Trung Quốc ngày nay

Đến với Đường thi, độc giả như bị choáng ngợp bởi hàng loạt các hình ảnh tượng trưng Mỗi tượng trưng ấy không chỉ là những tỷ dụ đơn nghĩa mà thi nhân đã bồi đắp thêm để chúng chứa đựng trong mình bao tầng nghĩa sâu

xa, biểu thị nỗi lòng tâm sự của mình Thơ Đường có rất nhiều hình ảnh biểu trưng như: dòng sông, dương liễu, rượu, ánh trăng… Sau đây, chúng tôi xin điểm qua một vài hình ảnh tượng trưng tiêu biểu

Gió là một ẩn dụ giàu ý nghĩa trong thơ Đường Với thi nhân giai đoạn

này, gió cũng là một hình ảnh biểu trưng, được họ gửi gắm vào đó nỗi niềm khi tiễn biệt Có thể đó là gió xuân mang nỗi biệt ly bằng hữu khi Cao Thích

tiễn bạn là thiếu phủ Lý Thẩm lên đường mà “Xuân phong tống khách sử

nhân bi” (Gió xuân tiễn bạn lòng càng xót xa) Ở một nghĩa khác, gió gợi nỗi

niềm thương nhớ Đến đây, gió không còn như một dấu hiệu tình cảm trong

các buổi ly biệt – một không gian nền làm tăng thêm nỗi buồn giữa những người biệt ly mà còn như một dấu hiệu tình cảm

Hình ảnh cánh nhạn trong thơ Đường mang những giá trị biểu trưng

Trang 34

như: tình cảm hoài hương và căn tính thích yên ổn của người Trung Hoa;

nhạn là tín sứ của tâm tưởng và tình yêu, cánh nhạn biểu thị sâu sắc sự ly biệt hay một biểu tượng thể hiện nguyên tắc quần thể Đồng thời qua biểu tượng chim nhạn, các nhà thơ Đường còn bộc lộ nhân sinh quan và thái độ sống của mình

H ứng tượng có nguồn gốc sâu xa từ Kinh thi, sau đó trải qua các giai

đoạn phát triển: thơ văn của Khuất Nguyên, Đào Uyên Minh,… mà định hình

rõ nét, phát triển vượt bậc ở Đường thi Điều đó giúp ngôn ngữ trong thơ Đường trong sáng, tinh luyện, tiết kiệm ngôn từ để tạo nên tính hàm súc, cô đọng Thi nhân hòa cùng với thiên nhiên nhằm diễn tả triết lý người và vật

hợp nhất, vạn vật trong vũ trụ sống và cảm xúc với người, chia sẻ buồn vui

với người Sau giai đoạn văn học này là thời đại hoàng kim của tiểu thuyết cổ điển Minh – Thanh Đến đây, sử dụng phép tượng trưng mới thực sự chín

muồi, đạt được những thành tựu vượt bậc, trở thành thủ pháp đặc biệt quan

trọng đối với văn nhân trong việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm cũng như những quan điểm văn học, quan điểm thẩm mỹ và quan điểm chính

trị của mình

• Ti ểu thuyết Minh – Thanh

Thời Minh – Thanh, các văn nhân Trung Hoa sống trong bối cảnh lịch sử đặc biệt Hai triều đại Minh và Thanh lần lượt thế chân nhau cai trị đất nước

rộng lớn, đông dân này Nhà Thanh đã thi hành những chính sách kinh tế, văn hóa - chính trị tàn bạo nhằm đồng hóa và thống trị người Hán và các tộc người khác Được tắm mình trong bầu không khí của thời đại, các văn nhân

đã đã suy tư, cảm nhận và lấy đó làm nền tảng cho những sáng tạo nghệ thuật

của mình Hoàn cảnh tâm lý xã hội cụ thể nêu trên đã chi phối trực tiếp nhãn quan nghệ thuật của nhiều nhà văn đương thời Những hiện thực ấy đã giúp

những người cầm bút đi tìm đáp án cho những câu hỏi: thế nào là thiện, là ác,

là cái đẹp? Thế nào là con người tự do, con người có hạnh phúc? Thế nào là

Trang 35

làm tròn trách nhiệm với quốc gia, với dân tộc và với bản thân mình để không

phải hổ thẹn khi “đã mang tiếng ở trong trời đất”? Từ suy nghĩ tới hành

động, trong tác phẩm của mình, họ đã dành nhiều tâm huyết khi xây dựng thế

giới nghệ thuật trong đó có những biểu tượng để ký thác nỗi ưu tư, bộc bạch

những quan điểm nhân sinh Nếu như Tây du ký là tiểu thuyết chương hồi tiêu

biểu cho văn học cổ điển thời Minh thì Hồng lâu mộng cũng là tác phẩm đứng

đầu trong số những tiểu thuyết cổ điển thời Thanh Lúc sinh thời, Tào Tuyết

Cần đã dành nhiều tâm huyết xây dựng cho đứa con tinh thần một thế giới dày đặc những biểu tượng (đá, nước, vườn, ) Và thật trùng hợp, sau khi ra đi, thân thế - sự nghiệp của ông cũng là biểu tượng về cuộc đời thật - ảo không khác những điều Cần Khê đã viết trong Hồng lâu mộng là bao Và việc đi

khám phá về biểu tượng trong bộ tiểu thuyết cũng như cuộc đời của nhà văn không phải là việc làm dễ dàng với giới nghiên cứu và những ai yêu thích kiệt tác văn chương này

Ti ểu kết

Qua những vấn đề lý luận liên quan tới thuật ngữ biểu tượng và hình

thức sử dụng biểu tượng trong văn học cổ - trung đại Trung Quốc, chúng tôi xin rút ra một số nhận định ban đầu như sau:

Thứ nhất, mẫu gốc là cấp độ cơ sở đầu tiên, biểu tượng là hiện thực hóa

của mẫu gốc trong văn hóa và các loại hình nghệ thuật Sự hiện thực hóa ấy cho thấy một hệ biểu tượng vừa có những đặc điểm thống nhất, vừa bộc lộ

những khác biệt nhất định Khi chuyển hóa vào một tác phẩm cụ thể, biểu tượng vừa mang những ý nghĩa gắn với giá trị văn hóa chung (mẫu gốc), vừa

có sự điều chỉnh, tiếp nhận hay sáng tạo của người nghệ sỹ với những mẫu văn hóa này

Thứ hai, vấn đề “giải mã” biểu tượng nghệ thuật nói chung và biểu tượng văn chương nói riêng cần có sự hỗ trợ của các ngành khoa học khác nhau Bên cạnh đó, người đọc, nhà nghiên cứu cần đặt việc sử dụng hết những trải nghiệm của bản thân về cuộc sống song song với sự cảm nhận từ trái tim

Trang 36

mình lên hàng đầu để có thể chạm tới những vỉa đá của các lớp biểu tượng

Có như vậy, chúng ta mới “hiểu thêm ngôn ngữ văn học, hiểu thêm quan hệ

máu th ịt giữa những cái gì con người nhất, cuộc sống nhất đối với tác phẩm”

[56, tr.62] cũng như sự cống hiến và hoài bão và dụng ý của người sáng tác

Thứ ba, biểu tượng là thuật ngữ phức tạp, mỗi ngành khoa học, mỗi lĩnh

vực của đời sống lại có quan niệm khác nhau về nó Với các vùng văn hóa, tuy không trùng khít nhau về tên gọi nhưng khái niệm “biểu tượng” của phương Tây và khái niệm “tượng trưng” của phương Đông (Trung Quốc) có

sự gần gũi, tương đồng về nội hàm khái niệm Đó là cơ sở quan trọng, có tác

dụng chỉ đường giúp chúng tôi triển khai những nội dung tiếp theo của luận

văn

Hình thức sử dụng biểu tượng (tượng trưng) trong văn học cổ - trung đại Trung Quốc được bắt nguồn từ phép tỷ, hứng thuộc thời kỳ văn học Tiên Tần (Kinh thi, S ở từ) Sau đó, thủ pháp này được phát triển và hoàn thiện dần qua

các giai đoạn thuộc văn học cổ điển (thơ Đường, tiểu thuyết Minh – Thanh)

và đạt đến đỉnh cao ở Hồng lâu mộng – bộ tiểu thuyết xuất sắc và duy nhất

của Tào Tuyết Cần được độc giả biết đến Cuộc đời của văn sỹ họ Tào vô tình cũng thực – hư, cần được tìm đáp án và lời giải như một loạt những biểu tượng được xây dựng dày đặc trong tác phẩm của ông vậy

Trang 37

Chương 2 BIỂU TƯỢNG VƯỜN TRONGH ỒNG LÂU MỘNG

2.1 Biểu tượng vườn trong văn hóa – văn học Trung Quốc

Vườn mẫu gốc trong văn hóa nhân loại từ ngàn xưa, “là một biểu tượng

c ủa thiên đường trên mặt đất của các trạng thái tinh thần như lúc được

s ống trên thiên đường” [60, tr.1004] Ở mỗi tôn giáo, mỗi dân tộc, vườn lại có

những ý nghĩa đa dạng

Theo sách Sáng th ế của Thiên chúa giáo, vườn Ê – đen là do Đức Chúa

Trời lập nên Nơi đó không những có nhiều loại cây cối sum suê, đẹp mắt và

ăn rất ngon mà còn có một dòng sông được chia làm bốn nhánh để tưới vườn,

có nhiều loài động vật Dẫu là nơi hoang sơ nhưng đó là chốn thật tuyệt vời khi những con người đầu tiên trên trái đất sống và lao động tự do, tự tại Trong khu vườn đó, các giống vật sống rất thoải mái và con người có thể hiểu được tiếng nói của chúng Nhưng đồng thời, khu vườn ấy cũng là nơi chất

chứa những tội lỗi do Ađam và Eva khi cả hai nghe lời xúi giục của con rắn

mà ăn trái cấm giữa vườn Cuối cùng, con người, dù là nam hay nữ đều có

những nỗi khổ và đớn đau riêng trong cuộc đời như một hình phạt mà Chúa giành cho những kẻ không biết nghe lời

Với Phật giáo, vườn Lộc Uyển (Sarnath hay còn gọi là Vườn Nai) là một trong những thánh địa Phật giáo nổi tiếng nhất thế giới, gắn liền với những truyền thuyết đẹp và thần bí liên quan đến Đức Phật Sự ra đời của khu vườn

có nhiều cách giải thích khác nhau nhưng cư dân bản địa coi khu rừng này là thiên đường của nai và cũng được người đời gọi là “vườn thượng uyển” hoang dã của hươu

Người Ấn Độ cổ đại mô tả vũ trụ có bốn cạnh, ở trung tâm có một ngọn núi Theo họ, đó là khu vườn ở giữa được bao quanh bởi bốn bức tường Cùng

với Ramayana, sử thi Mahabrahata - tác phẩm được đánh giá “chẳng khác gì

Trang 38

nh ững kim tự tháp khổng lồ sững sững”1

kết thúc bằng cuộc hành hương của năm anh em Panđava và nàng Đropađi lên đỉnh Mêru của ngọn núi Himalaya, nơi đó là cõi trời Dọc đường Đropađi và bốn anh em lần lượt bỏ xác ở trần gian, riêng Yudihitira và con chó mà chàng gặp dọc đường nhận làm bạn đồng hành là lên được núi Vì thần Inđra không cho con chó vào cõi trời nên Yudihitira đã không vào cõi Trời Lúc ấy con chó biến thành thần Đácma vầ cho biết đây là hành động thử thách đạo đức Khi vào cõi Trời Yudihitira đã xin ở lại chốn hỏa ngục với anh em và bạn bè của chàng vì đó là Yudihitira

“thiên đường của tôi” Vườn trong văn hóa Ấn Độ gắn với quan niệm của con người nơi đây đây về sự hòa hợp giữa thiên nhiên với con người (vũ trụ và cá

thể - Atman và Brahman) Chỉ khi đạt tới sự hòa hợp ấy con người mới được hoàn thiện, giải thoát và lên Thiên đường Như thế, Thiên đường (vườn) không chỉ là chốn tĩnh lặng – nơi rào cản giữa con người và thiên nhiên bị xóa bỏ mà còn là nơi con người dễ dàng vươn dần lên cao về mặt tinh thần Trong thần thoại Hy Lạp, vườn Hesperides - nơi trồng những quả táo quả

bằng vàng là Thiên đường - nơi con người hướng tới sự bất tử Để vào được khu vườn này, Heracles phải vượt qua rất nhiều trở ngại, nhất là khó khăn khi chiến đấu với con rồng canh táo Lễ cưới của thần Zeus với nữ thần Hera diễn

ra trong khu vườn kỳ diệu và huyền thoại này Với người Hy Lạp, vườn không chỉ là biểu tượng của Thiên đường – nơi con người sống cuộc sống bất

tử mà còn là biểu tượng của sức sản sinh mãi mãi không ngừng

Nhìn chung, trong các tôn giáo và các nền văn hóa trên thế giới, vườn là

một biểu tượng đa dạng, bao hàm nhiều ý nghĩa Tựu chung lại, nó mang một

số nét nghĩa cơ bản sau đây: là một nơi đẹp tuyệt vời, là trung tâm thế giới, nơi đem lại cho con người cùng các sinh vật trên đó cuộc sống tự do, tự tại và

sự bất tử

1 Michele – nhà phê bình văn học Pháp thế kỷ XIX

Trang 39

2.1.1 Biểu tượng vườn trong văn hóa Trung Quốc – niềm nuối tiếc

về một thiên đường đã mất

Cũng như nhiều dân thuộc nhiều vùng khác nhau trên thế giới, cuộc sống

của người Trung Hoa cổ đại phát triển từ hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên (săn bắn, hái lượm) cho tới biết tự cải tạo cuộc sống của mình (chăn nuôi,

trồng trọt) Nơi con người canh tác, chăn nuôi ấy chính là những khu vườn nguyên thủy của người Trung Quốc

Bởi gắn liền với cuộc sống của con người ngay từ thuở hồng hoang, vườn có vị trí rất quan trọng trong tâm thức người Trung Quốc cổ đại Nó là

một Thiên đường chốn trần gian với ý nghĩa sơ khởi ban đầu là nơi có thể cung cấp đầy đủ thực phẩm phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của con người

Thế nhưng, cuộc sống của những con người cổ xưa ấy cùng những khu vườn

của họ phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên và bản thân họ không thể lý giải được

những hiện tượng của vũ trụ tác động vào nơi họ trồng trọt, canh tác Thế giới quan thần thoại đã đáp ứng được nhu cầu giải thích thế giới của con người Theo thần thoại từ ngàn xưa của đất nước này, khu vườn đầu tiên nằm trên đỉnh Côn Luân – nơi cư trú giữa nhân gian của các vị thần có tên là Huyền

Phố - một khu vườn treo Ai leo lên được khu vườn thần tiên này thì có thể hô mưa, gọi gió Cũng như nhiều nơi khác trên đỉnh Côn Luân, nơi đây có những

suối nước trong vắt, ngọt ngào, nhiều của sản vật hiếm có trên đời và hoa thơm cỏ lạ:

“M ộc hòa là loại lứa nước thân gỗ, cao bốn trượng, thân cây rất to, phải năm người ôm mới xuể Phía đông mộc hòa là cây sa đường và cây lang can Quả sa đường giống như quả mận nhưng không có hạt, người ăn vào có thể nổi trên mặt

bi ển, xuống nước không chìm…Cây văn ngọc ở phía bắc mộc hòa là đẹp nhất, trên cây mọc đầy ngọc quý muôn màu muôn vẻ, diễm lệ lạ thường” [78, tr.26]

Huyền Phố đi lên nữa sẽ vào tới Thiên Đình – là nơi ở của Thiên Đế đồng

thời cũng có thể trở thành thần linh Vườn trong thần thoại Trung Hoa cổ đại

Trang 40

là biểu tượng của thiên đường chốn nhân gian, là nơi cư trú của thần tiên, là

biểu tượng của sự trường sinh bất tử và quyền năng tối thượng

Theo các tác giả cuốn Lịch sử văn hóa Trung Quốc, vườn cảnh Trung

Hoa bắt đầu được xây dựng từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ - thời Thương và Tây Chu (tức thế kỷ XII trước công nguyên) Khi đó, các chủ nô dựa vào khung

cảnh thiên nhiên, đã khoanh một vùng đất để trồng cây cỏ, nuôi động vật, làm nơi săn bắn, giải trí và tiến hành các nghi lễ Đến thời Hán, vườn tược đã được xây dựng ở nhiều nơi với bố cục tổng thể được tổ chức hợp lý khiến cho vườn cảnh được bố trí rất tự nhiên Thời kỳ này mở đầu cho nghệ thuật xây

dựng vườn cảnh Trung Quốc Sang thời Ngụy - Tấn - Nam Bắc Triều, vườn

cảnh Trung Quốc phát triển theo hướng rừng cây và sơn thủy tự nhiên (lấy sơn thủy làm chủ đề để tạo nên cảnh sắc núi rừng là mục đích chủ yếu) Đến

hai đời Đường, Tống, những khu vườn phỏng theo cảnh “Thọ sơn Cấn nhạc” – lấy núi đá kỳ dị và hang động âm u làm trung tâm (ở tây bắc Biện Kinh) được xây dựng trong thành phố gọi là những khu vườn cảnh trong thành phố

Thời Minh – Thanh là thời kỳ tổng hợp của nghệ thuật vườn cảnh Ngoài vườn rừng rộng lớn của hoàng gia còn có nhiều vườn tược của tầng lớp sỹ đại phu được xây dựng trong đô thành Vườn cảnh của hoàng gia được xây dựng

ở ngoại thành Bắc Kinh với bố cục tổng thể dựa trên sơn thủy tự nhiên kết

hợp với bàn tay tu sửa của con người tạo thành công trình hùng vĩ, màu sắc phong phú (tiêu biểu là Viên Minh Viên và Di Hòa Viên ở Bắc Kinh) Vườn

cảnh tư nhân thường chiếm diện tích không lớn, được xử lý thuận theo tự nhiên, bố cục linh hoạt, biến hóa nhiều vẻ, gắn liền với nhà ở khiến vườn càng

trở nên ý họa tình thơ

Vườn trong văn hóa Trung Hoa xuất phát từ những khu vườn nguyên

thủy đầu tiên thời cổ đại Trải qua hàng nghìn năm, mặc bao lớp trầm tích thời gian phủ trên câu chuyện về khu vườn trong thần thoại, vườn Trung Quốc ngày càng được cải tạo, xây dựng lớn dần về quy mô, chất lượng với ý nghĩa

Ngày đăng: 02/12/2015, 07:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w