PHAN THỊ BẢO CHI MỐI QUAN HỆ GIỮA TÀI NGUYÊN ĐẤT NGẬP NƯỚC TRONG HỆ SINH THÁI RỪNG KHỘP VÀ ĐỜI SỐNG CỦA CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VƯỜN QUỐC GIA YOK ĐÔN, TỈNH ĐĂK LĂK Chuyên ngàn
Trang 1
PHAN THỊ BẢO CHI
MỐI QUAN HỆ GIỮA TÀI NGUYÊN ĐẤT NGẬP NƯỚC TRONG HỆ SINH THÁI RỪNG KHỘP VÀ ĐỜI SỐNG CỦA CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VƯỜN QUỐC GIA YOK ĐÔN, TỈNH ĐĂK LĂK
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS TS BẢO HUY
2 TS TRẦN TRIẾT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn:
³ Hội Sếu Quốc tế (ICF) và Quỹ Học bổng Nagao đã hỗ trợ kinh phí trong quá trình thực hiện đề tài
nhiên, ĐH Quốc gia TP.HCM đã giúp đỡ, động viên và đóng góp ý kiến trong suốt quá trình làm luận văn nói riêng và quá trình làm việc tại bộ môn nói chung
Nguyên đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
nghiên cứu đã hỗ trợ, tham gia và tạo điều kiện
³ Bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và hết lòng giúp đỡ
Xin được gửi lời tri ân đến:
³ PGS TS Bảo Huy và TS Trần Triết đã tận tình dạy dỗ, hướng dẫn và truyền thụ kiến thức
³ Gia đình đã hết lòng ủng hộ, khích lệ và tin tưởng
Tp.Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2010
Phan Thị Bảo Chi
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH x
Chương 1 GIỚI THIỆU 1.1 Mở đầu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Về lý luận 3
1.2.2 Về thực tiễn 3
1.3 Ý nghĩa 3
Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Khái quát về đất ngập nước 4
2.2 Tình hình nghiên cứu đất ngập nước và mối quan hệ của tài nguyên đất ngập nước với các cộng đồng dân tộc địa phương trên thế giới 5
2.2.1 Tình hình quản lý bảo tồn đất ngập nước trên thế giới 5
2.2.2 Một số nghiên cứu trên thế giới về bảo tồn và phát triển bền vững đất ngập nước có sự tham gia của cộng đồng dân tộc địa phương 6
2.3 Tình hình nghiên cứu đất ngập nước và mối quan hệ giữa cộng đồng dân tộc địa phương ở Việt Nam với tài nguyên đất ngập nước 7
2.3.1 Tình hình nghiên cứu đất ngập nước ở Việt Nam 7
2.3.2 Nghiên cứu về cộng đồng dân tộc thiểu số và mối quan hệ giữa sinh kế với quản lý bảo tồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Tây Nguyên, đặc biệt là VQGYD 9
Trang 4Chương 3 ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 13
3.1.2 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 13
3.1.2.1 Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên của VQGYD 13
3.1.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội, văn hóa của cộng đồng dân tộc ở VQGYD và khu vực nghiên cứu 16
3.2 Giả định nghiên cứu 24
3.3 Nội dung nghiên cứu 24
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Phương pháp luận và cách tiếp cận nghiên cứu 30
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 30
3.4.2.1 Phương pháp thu thập thông tin kinh tế xã hội về dân cư sinh sống bên trong và ven ranh giới có khả năng sử dụng các vùng đất ngập nước bên trong VQGYD 30
3.4.2.2 Phương pháp xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ các vùng đất ngập nước tự nhiên mà cộng đồng tác động bên trong VQGYD 31
3.4.2.3 Phương pháp ước lượng tài nguyên đất ngập nước 32
3.4.2.4 Phương pháp đánh giá mức độ quy mô sử dụng tài nguyên ở các vùng đất ngập nước bởi người dân địa phương trong và xung quanh VQGYD 32
3.4.2.5 Phương pháp phân tích mối quan hệ giữa kinh tế hộ với tài nguyên đất ngập nước 34
3.4.2.6 Phương pháp xây dựng các biện pháp giảm thiểu tác động và hài hòa giữa bảo tồn với sinh kế trên cơ sở có sự tham gia của cộng đồng 35
Trang 5Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Phân bố và quy mô các vùng đất ngập nước trong hệ sinh thái
rừng khộp 36
4.2 Đa dạng sinh vật ở vùng đất ngập nước 45
4.2.1 Danh mục các loài thực vật đất ngập nước 46
4.2.2 Danh mục các loài động vật đất ngập nước 50
4.3 Mức độ sử dụng tài nguyên sinh vật ở các vùng đất ngập nước bởi cộng đồng dân cư 55
4.3.1 Tầm quan trọng và mức độ sử dụng các sản phẩm từ các vùng đất ngập nước đối với cộng đồng 55
4.3.2 Nhu cầu sử dụng các sản phẩm đất ngập nước của cộng đồng 60
4.4 Sự liên quan giữa kinh tế hộ và sử dụng tài nguyên đất ngập nước 64
4.4.1 Cơ cấu kinh tế hộ và thu nhập từ tài nguyên đất ngập nước 64
4.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập từ đất ngập nước của cộng đồng 73
4.5 Giải pháp hài hòa giữa bảo tồn tài nguyên đất ngập nước và sinh kế cộng đồng 78
4.5.1 Quan điểm hài hòa và chia sẻ trong bảo tồn tài nguyên đất ngập nước trên thế giới và ở Việt Nam 78
4.5.2 Các sản phẩm từ đất ngập nước có thể thay thế, không thể thay thế đối với cộng đồng và giải pháp 79
Chương 5 KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 5.1 Kết luận 85
5.2 Kiến nghị 87
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Gồm những taxon được quy định là hạn chế khai thác,
sử dụng vì mục đích thương mại Những taxon có giá trị về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng
Danh sách các loài động vật có nguy cơ bị diệt vong của Hiệp hội Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới năm 2007
NĐ 32/2006/NĐ-CP : Nghị định của Chính phủ ngày 30/3/2006 quy định về
quản lý động vật, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Sơ đồ phương pháp nghiên cứu 29
Hình 4.1 Vị trí các vùng đất ngập nước cộng đồng tiếp cận được vẽ bởi cộng đồng buôn Đrăng Phok 36
Hình 4.2 Tổng số bàu trảng và diện tích đất ngập nước ở 3 buôn nghiên cứu 40
Hình 4.3 Bản đồ phân bố đất ngập nước ở ba buôn khảo sát 41
Hình 4.4 Bản đồ phân bố đất ngập nước buôn Drăng Phok 42
Hình 4.5 Bản đồ đất ngập nước buôn Trí B 43
Hình 4.6 Bản đồ phân bố đất ngập nước buôn N’Drếch B 44
Hình 4.7 Cơ sở dữ liệu đất ngập nước trong GIS 45
Hình 4.8 Số loài thực vật từ đất ngập nước theo công dụng trong đời sống cộng đồng 59
Hình 4.9 Bình quân thu nhập của các nhóm kinh tế hộ/năm 65
Hình 4.10 Bình quân thu nhập từ đất ngập nước của các nhóm kinh tế 66
Hình 4.11 Tỷ lệ cơ cấu thu nhập của các nhóm kinh tế hộ ở các buôn 69
Trang 8DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH
1 Phan Thị Bảo Chi (2006), Hệ côn trùng thủy sinh ở suối Cát, huyện Bảo
Lâm, tỉnh Lâm Đồng (Insecta) Họ Limnocentropodidae, bộ Trichoptera,
Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia
Tp HCM
2 Phan Thị Bảo Chi (2010), Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước trong
hệ sinh thái rừng khộp và sinh kế của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Vườn
quốc gia Yok Đôn, tỉnh Đăk Lăk, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn số 4/2010
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Thống kê giá trị sử dụng tài nguyên thực vật tại VQGYD 15 Bảng 3.2 Tổng hợp tình hình kinh tế xã hội của ba buôn thôn nghiên cứu 18 Bảng 3.3 Thành phần kinh tế hộ theo chuẩn nghèo nhà nước tại các buôn
nghiên cứu 21 Bảng 3.4 Dân số, thành phần dân tộc các buôn nghiên cứu 21 Bảng 3.5 Khung logic nghiên cứu (Phạm vi đất ngập nước: Bàu và trảng) 25 Bảng 3.6 Các buôn vùng đệm và vùng lõi VQGYD được chọn làm điểm
nghiên cứu 31 Bảng 4.1 Các bàu trảng ngập nước cộng đồng ba buôn Drăng Phok, Trí B và
N’Drếch B tiếp cận khai thác sử dụng sản phẩm 37 Bảng 4.2 Danh mục thực vật đất ngập nước 46 Bảng 4.3 Danh mục động vật đất ngập nước 51 Bảng 4.4 Danh sách các loài thú tại các bàu trảng được đánh giá theo SĐVN,
NĐ 32 và IUCN 55
Bảng 4.5 Danh sách các loài thuộc các nhóm tài nguyên quan trọng và sử dụng nhiều
bởi cộng đồng 56 Bảng 4.6 Số loài thực vật từ đất ngập nước theo công dụng trong đời sống
cộng đồng 58 Bảng 4.7 So sánh số lượng loài động thực vật có trong bàu trảng và sử dụng
bởi cộng đồng 60 Bảng 4.8 Nhu cầu sử dụng các sản phẩm đất ngập nước quan trọng đối với
đời sống cộng đồng trong 1 năm 61 Bảng 4.9 Tổng hợp khối lượng các loại sản phẩm từ đất ngập nước
các buôn sử dụng trong 1 năm 64 Bảng 4.10 Bình quân thu nhập chung và thu nhập từ đất ngập nước của hộ 65 Bảng 4.11 Cơ cấu thu nhập của các nhóm kinh tế hộ trong một năm 68
Trang 10Bảng 4.12 Bình quân thu nhập/năm theo 2 nhân tố nhóm kinh tế và mức độ tác
động vào các vùng đất ngập nước 71
Bảng 4.13 Kết quả phân tích phương sai 2 nhân tố (Mức độ tác động và Nhóm kinh tế hộ) 1 lần lặp về các loại thu nhập 72
Bảng 4.14 Mã hóa các biến số và thu nhập từ đất nhập nước của hộ 75
Bảng 4.15 Các sản phẩm từ đất ngập nước có thể thay thế được 80
Bảng 4.16 Các sản phẩm từ đất ngập nước chưa thể thay thế ở ba buôn 80
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Trang 121.1 MỞ ĐẦU
Mâu thuẫn của việc bảo tồn nghiêm ngặt với chia sẻ bình đẳng các nguồn tài nguyên thiên nhiên theo nhu cầu sử dụng của con người luôn là vấn đề được quan tâm Mâu thuẫn này càng trầm trọng trong bối cảnh dân số gia tăng và nguồn tài nguyên thiên nhiên càng cạn kiệt, suy thoái Các nguồn tài nguyên bị thoái hóa, cạn kiệt là do
sự sử dụng bất hợp lý của con người Hệ sinh thái đất ngập nước (DNN) ở vườn Quốc gia Yok Đôn (VQGYD) không là ngoại lệ, việc quy hoạch phát triển đời sống của cộng đồng dân tộc địa phương ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển bền vững các vùng DNN
tự nhiên này
Các kiểu hệ sinh thái DNN chính có trong VQGYD bao gồm sông, suối, bàu và trảng trong đó có 181 bàu với tổng diện tích xấp xỉ 100 ha [1] Các bàu nước này chỉ chiếm một phần rất nhỏ nhưng lại có vai trò quan trọng như là nơi cư trú, phân bố của các loài động, thực vật Ngoài ra, bàu nước cũng là nơi cung cấp thức ăn và nước uống duy trì chức năng hoạt động cho cả hệ sinh thái lớn trong cả mùa mưa và mùa khô, đặc biệt trong mùa khô kéo dài của rừng khộp
Cộng đồng dân tộc địa phương tác động trực tiếp lên các bàu nước thông qua các hoạt động đánh bắt cá, săn thú, chăn thả gia súc, thu hái rau xanh hay cây thuốc và trồng trọt Phần lớn người dân ở đây là các dân tộc ít người, chủ yếu là các dân tộc Mơ Nông, Ê Đê, Gia Rai và Lào, tập trung sinh sống ở vùng lõi và vùng đệm của VQGYD [5] Nhìn chung, mỗi cộng đồng và mỗi dân tộc đều có những vốn kiến thức kinh nghiệm khá phong phú và khác nhau trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên
Nhiều công trình nghiên cứu về các cộng đồng dân tộc ít người ở khu vực Tây Nguyên Việt Nam được thực hiện, nhưng hầu hết tập trung vào nghiên cứu vấn đề quản lý rừng dựa vào cộng đồng Riêng ở khu vực VQGYD, các nghiên cứu về kiểm
Trang 13kê, khảo sát hệ sinh thái DNN lại được chú trọng, mà ít chú ý quan tâm đến việc sử dụng và sự tác động vào hệ sinh thái DNN của các cộng đồng dân tộc bản địa Cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào về quản lý bền vững các vùng DNN tại VQGYD trong khi đời sống cộng đồng dân tộc vùng đệm và vùng lõi vẫn còn khó khăn và áp lực này có chiều hướng gia tăng Câu hỏi được đặt ra là với sự tác động liên tục của người dân, cùng với sự mất dần hệ động, thực vật thì hệ sinh thái DNN ở VQGYD sẽ tồn tại được trong thời gian bao lâu và ảnh hưởng của nó đến sự bền vững của hệ sinh thái rừng khộp trong vườn quốc gia cũng như tác động của nó đến sinh kế cộng đồng như thế nào
Để trả lời câu hỏi trên, đề tài “Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước
trong hệ sinh thái rừng khộp và đời sống của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở vườn quốc gia Yok Đôn, tỉnh Đăk Lăk” được thực hiện nhằm phát hiện các hình thức và quy mô sử dụng các vùng DNN tự nhiên của cộng đồng, mối quan hệ của nó với tài nguyên DNN làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp giảm thiểu tác động cũng như hỗ trợ cho bảo tồn bền vững dựa vào cộng đồng
Trang 141.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Xác định được mối quan hệ giữa nhu cầu sinh kế của cộng đồng với nguồn tài nguyên sinh vật các vùng DNN
- Đề xuất được các biện pháp hài hòa giữa quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học với
sử dụng bền vững của cộng đồng dân tộc thiểu số ở các vùng DNN trong hệ sinh thái rừng khộp thuộc khu vực VQGYD.
1.3 Ý NGHĨA
Kết quả của đề tài sẽ cung cấp các thông tin cần thiết cho việc thiết kế các chương trình đầu tư lớn hơn nhằm tăng cường việc bảo tồn tài nguyên DNN và cải thiện sinh kế của người dân địa phương hiện đang sử dụng các vùng DNN của
VQGYD
Trang 15CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trang 162.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẤT NGẬP NƯỚC
Đất ngập nước bao gồm các hệ sinh thái tiếp giáp giữa các sinh cảnh trên cạn và các vực nước sâu Hệ sinh thái đất ngập nước chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên thiết yếu cho hoạt động của con người và góp phần duy trì nhiều chức năng quan trọng của môi trường [16] Có nhiều định nghĩa về đất ngập nước nhưng định nghĩa của Công ước Ramsar được công nhận rộng rãi hơn cả Theo công ước này, đất ngập nước là các vùng đầm lầy, đất than bùn hoặc vực nước, tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, nước tĩnh hay nước chảy, nước ngọt, lợ hay mặn, kể cả vùng biển có độ sâu không vượt quá 6 mét lúc thủy triều thấp
Như vậy, đất ngập nước rất đa dạng nhưng nhìn chung chúng cùng có những đặc điểm chung sau:
- Ngập nước thường xuyên hoặc một thời kỳ nhất định trên bề mặt hoặc ẩm trong đới rễ
- Có đặc điểm thổ nhưỡng đặc trưng (thổ nhưỡng trầm thủy)
- Có mặt các loài thực vật thủy sinh hoặc thực vật ái thủy
Với khoảng 7-9 triệu km2, các vùng DNN chiếm 4% - 6% diện tích bề mặt trái đất nhưng DNN lại đóng một vai trò quan trọng về kinh tế và môi trường DNN có những lợi ích sau đây:
- Điều hòa và kiểm soát lũ lụt
- Cung cấp nước cho nguồn nước ngầm
- Ổn định vùng bờ và có tác động bảo vệ, che chắn
- Duy trì trầm tích của dòng nước, cung cấp chất dinh dưỡng cho các vùng khác
- Điều hòa sự biến đổi khí hậu
- Làm trong sạch nguồn nước
- Số lượng loài hiện diện tuy không nhiều nhưng mức độ đặc sắc cao
- Nguồn cung cấp nước sinh hoạt dùng trong nông nghiệp của con người
Trang 17- Nguồn cung cấp các nguyên vật liệu cho con người
- Là nơi du lịch, giải trí
- Ngoài ra, các vùng DNN còn có các đặc tính đặc biệt về di sản văn hoá của loài người; các vùng DNN có liên quan đến tín ngưỡng và vũ trụ, hình thành nên nguồn khát vọng thẩm mỹ, tạo ra các vùng sinh cảnh của đời sống hoang dã, cũng như tạo cơ sở cho các truyền thống quan trọng địa phương
Theo bảng phân loại DNN của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN – 1990), DNN Việt Nam có thể chia làm ba hệ lớn đó là DNN ven biển, DNN nội địa, và DNN nhân tạo Ba hệ lớn này bao gồm 12 phụ hệ: Biển, cửa sông, đầm phá, hồ nước mặn ven biển, sông, hồ, đầm lầy, vùng nuôi trồng thủy sản, đất nông nghiệp, nơi khai thác muối, đất đô thị, đất công nghiệp
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐẤT NGẬP NƯỚC VÀ MỐI QUAN HỆ
CỦA TÀI NGUYÊN ĐẤT NGẬP NƯỚC VỚI CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC ĐỊA PHƯƠNG TRÊN THẾ GIỚI
2.2.1 Tình hình quản lý bảo tồn đất ngập nước trên thế giới
Các vùng DNN hiện nay bị giảm sút diện tích và thoái hóa rất nhanh, xảy ra ở nhiều nước trên thế giới nhưng tập trung nhiều nhất ở những nước đang phát triển Nguyên nhân chủ yếu là do sức ép khai thác tài nguyên, mở rộng đất sản xuất, định cư và
ô nhiễm nguồn nước [16] Chính vì vậy, nhiều tổ chức, nhiều quốc gia trên thế giới chú trọng đến việc nghiên cứu, quản lý, phục hồi và bảo tồn các vùng DNN trên thế giới Công ước Ramsar, công ước quốc tế về bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý các vùng DNN, đã thúc đẩy sự phát triển các phương pháp kiểm kê DNN; đáng chú ý là chương trình kiểm kê DNN trên thế giới và chương trình kiểm kê DNN Châu Á [3] với mục đích xác định hiện trạng các vùng DNN trong thế kỷ XXI và xây dựng cơ sở dữ liệu kiểm kê DNN một cách toàn diện Ngoài ra, còn có nhiều chương trình bảo tồn DNN của các tổ
Trang 18chức như International Union for the Conservation of Natural and Natural Resources (IUCN), Wetlands International,…
Khu vực hạ lưu sông Mê Kông bao gồm Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam cũng đã phối hợp với nhau cùng quản lý hệ sinh thái DNN và bảo tồn đa dạng sinh học của sông Mê Kông
2.2.2 Một số nghiên cứu trên thế giới về bảo tồn và phát triển bền vững đất ngập
nước có sự tham gia của cộng đồng dân tộc địa phương
Công ước Ramsar đã chỉ rõ tầm quan trọng của cộng đồng dân tộc địa phương đối với việc quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững các vùng DNN; trong đó, sự giao tiếp (Communication), trình độ học vấn (Education) và khả năng nhận thức cộng đồng (Public Awareness) là ba vấn đề quan trọng nhất, được gọi tắt là CEPA - công cụ hướng dẫn cụ thể cách tiếp cận với cộng đồng [31] Như vậy với CEPA, ngoài việc nâng cao giáo dục, nhận thức cho cộng đồng địa phương về vai trò của DNN trong bảo tồn các hệ sinh thái, bảo vệ môi trường thì vấn đề giao tiếp, tiếp cận với cộng đồng để cùng phân tích, phát hiện vấn đề và tìm ra giải pháp đồng thuận là rất quan trọng, hơn là sử dụng các biện pháp cưỡng chế, hành chính
Một nghiên cứu điển hình của Silima (2007) sử dụng công cụ CEPA để đánh giá
sự tham gia của cộng đồng dân tộc địa phương trong việc bảo tồn và sử dụng bền vững
hồ Fundudzi ở Nam Phi Nghiên cứu cho thấy hoạt động giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về ý nghĩa của việc bảo tồn mang tính quyết định đến sự tham gia lâu dài và
có hiệu quả của cộng đồng địa phương Cộng đồng địa phương phải tham gia vào tất cả các giai đoạn của chương trình bao gồm việc lên kế hoạch, thực hiện và giám sát Các mâu thuẫn xảy ra trong quá trình thực hiện sẽ được giảm thiểu khi có sự thống nhất về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia [34]
Trang 19Nghiên cứu khác của Peterson (2008) thảo luận về sự bảo tồn kiến thức bản địa và
sự đổi mới các bộ luật quốc tế cho phù hợp với người dân địa phương trong việc bảo tồn, quản lý và sử dụng bền vững các vùng DNN nội địa Đối với người dân, nguồn tài nguyên nước nội địa mang ý nghĩa thiêng liêng, chất lượng nước ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và sự thịnh vượng của cộng đồng Khi chất lượng nước suy giảm thì cộng đồng địa phương là thành phần chủ yếu tham gia vào các hoạt động bảo vệ Vì vậy, các bộ luật quốc tế phải được xây dựng dựa trên kiến thức bản địa về sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên DNN nói riêng [30]
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐẤT NGẬP NƯỚC VÀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM VỚI TÀI NGUYÊN ĐẤT NGẬP NƯỚC
2.3.1 Tình hình nghiên cứu đất ngập nước ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước phong phú về tài nguyên DNN với gần 10 triệu hecta [2] Trong đó, DNN nước ngọt chiếm khoảng 10% diện tích của các vùng DNN toàn quốc Cũng như nhiều nước trên thế giới, DNN Việt Nam đang trong xu hướng giảm sút về diện tích và chất lượng bởi sức ép dân số, áp lực khai thác, thiếu sự kết hợp giữa chiến lược phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên, sinh thái môi trường ngập nước Nhận thức được tầm quan trọng của DNN, Chính phủ Việt Nam đã tham gia vào Công ước Ramsar từ năm 1989 Nhiều biện pháp quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên DNN được thực hiện Các chương trình, chính sách và dự án tiêu
tồn và Phát triển bền vững các vùng DNN”; Chương trình Bảo tồn đa dạng sinh học và
Sử dụng bền vững DNN sông Mê Kông (MWBP); Quyết định 25/2000/QĐ-TTG về
“Bảo vệ và Phát triển những vùng DNN ven biển miền Nam Việt Nam”;…
Nhiều chương trình quốc gia về bảo tồn DNN được tiến hành tại các vùng DNN quan trọng như VQG Xuân Thủy, VQG Cát Tiên, VQG Tràm Chim, VQG U Minh
Trang 20Thượng và các Sân Chim ở Đồng bằng Sông Cửu Long Nhiều vùng DNN của Việt Nam được công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới như Cần Giờ, Quần đảo Cát Bà [16]
• Nghiên cứu trong nước về bảo tồn và phát triển bền vững DNN có sự tham gia
của cộng đồng dân tộc địa phương:
Dự án bảo tồn DNN Phú Mỹ thuộc tỉnh Kiên Giang là dự án đầu tiên ở Việt Nam kết hợp bảo tồn thiên nhiên, xóa đói giảm nghèo và duy trì văn hóa Dự án thực hiện thông qua một mô hình kinh doanh sáng tạo, liên kết cộng đồng dân tộc địa phương
nhằm bảo vệ môi trường sống của loài Sếu đầu đỏ Grus antigone và giúp người dân sử
dụng cỏ bàng để có thu nhập cao hơn Dự án đã giúp nâng cao chất lượng hệ sinh thái cho cộng đồng dân cư, cho các loài sếu và những loài khác của vùng DNN (Nguồn: Thông cáo báo chí ICF)
• Một số nghiên cứu về DNN tại VQGYD, tỉnh Đăk Lăk:
Tuy chiếm một diện tích nhỏ nhưng DNN là một kiểu hệ sinh thái rất đặc sắc và
có tầm quan trọng to lớn trong VQGYD, nơi hệ sinh thái rừng khộp rất đặc thù, khô hạn trong mùa mưa, thiếu nước trong mùa khô Vì vậy, DNN trong hệ sinh thái rừng khộp đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn các loài động thực vật
Nghiên cứu của Nguyễn Thọ (2004) là nghiên cứu đầu tiên về kiểm kê các loại DNN tại VQGYD Trên cơ sở bản đồ nền, kết quả giải đoán ảnh kết hợp với thông tin thu thập ngoài thực địa, bản đồ DNN VQGYD với tỉ lệ 1/50.000 được thành lập Tác giả chia DNN thành 4 kiểu và 9 đơn vị trong đó có 65,9 km sông; 1145,7 km suối; 16,81 ha bàu và 180 ha trảng Ngoài ra, một số đặc trưng của môi trường tự nhiên như đất, nước được xác định và sự khác nhau về hệ thực vật ở các kiểu DNN được thảo luận Trong nghiên cứu này, tác giả cũng đã nêu ra một số nguyên nhân dẫn đến sự tác động của người dân lên các vùng DNN và đề xuất một số biện pháp nhằm ngăn chặn tình trạng
Trang 21này; tuy nhiên, những nguyên nhân và biện pháp giải quyết chưa được tập trung khảo sát
mà chỉ là ý kiến chủ quan của tác giả [14]
Nghiên cứu của Nguyễn Hoài Bão (2006) đã chia DNN ở VQGYD thành 2 lớp (DNN tự nhiên và DNN nhân tạo); 6 lớp phụ (bàu, trảng, sông, suối, hồ, ruộng rẫy) và 12 kiểu (bàu ngập thường xuyên và theo mùa, trảng cỏ, trảng cây gỗ, lòng sông, doi cát và ghềnh đá, ven sông, suối ngập thường xuyên và theo mùa, ven suối, hồ, ruộng rẫy) Khảo sát chi tiết hơn về các bàu, tác giả đã ghi nhận 181 bàu, với tổng diện tích xấp xỉ 100 ha; trong đó có 116 bàu được đo đạc ngoài thực địa Nghiên cứu này cũng lần đầu tiên ghi
nhận bằng chứng để khẳng định có sự làm tổ và sinh sản của Sếu đầu đỏ Grus antigone
sharpii ở Việt Nam Sinh cảnh làm tổ của Sếu đầu đỏ là các bàu ngập nước tự nhiên ở
giữa hệ sinh thái rừng khô cây họ Dầu [1]
2.3.2 Nghiên cứu về cộng đồng dân tộc thiểu số và mối quan hệ giữa sinh kế với
quản lý bảo tồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Tây Nguyên, đặc biệt là VQGYD
Khái niệm về Cộng đồng: Là cộng đồng dân cư thôn, làng, buôn Khái niệm này
còn có thể hiểu mở rộng là các nhóm hộ/dòng họ cùng chung sống trong một thôn làng,
có các quan hệ huyết thống hoặc có truyền thống quản lý chung một phần tài nguyên đất, rừng Khái niệm cộng đồng này tuân theo định nghĩa “cộng đồng dân cư” trong điều 9 của Luật Đất đai (2003) [9]
Hàng loạt các nghiên cứu về cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực Tây Nguyên đã được công bố Kết quả của những nghiên cứu này được coi như bài học kinh nghiệm và tạo tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo trên cơ sở phát triển cộng đồng gắn liền với mục tiêu bảo tồn nói riêng và phát triển cộng đồng vì mục đích nâng cao cuộc sống cộng đồng nói chung
Trang 22• Nghiên cứu của dự án PARC Yok Đôn (2004) bước đầu tìm ra được phương pháp tiếp cận với cộng đồng đa sắc tộc tại địa phương, đó là phương pháp phát triển cộng đồng tổng hợp trên cơ sở đánh giá nhu cầu có sự tham gia Phương pháp này lần đầu tiên được triển khai nhằm đưa các hoạt động phát triển cộng đồng phù hợp với mục tiêu bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên VQGYD [17]
• Những nghiên cứu về thực vật thân gỗ và lâm sản ngoài gỗ của Bảo Huy và cộng
sự đã cho thấy kiến thức sinh thái địa phương thực sự tồn tại và rất phong phú, các cộng đồng có những kinh nghiệm truyền thống và kiến thức có ý nghĩa trong quản lý sử dụng tài nguyên rừng và đất rừng Đặc biệt là quản lý và sử dụng lâm sản ngoài gỗ Dựa vào kiến thức bản địa, nhóm nghiên cứu sưu tầm được 207 bài thuốc với 172 loài cây thuốc theo 18 nhóm công dụng khác nhau, không những có giá trị về bảo tồn tài nguyên mà còn đóng góp vào phát triển thực vật cây thuốc phục vụ dân sinh kinh tế [6], [7], [10]
• Qua đánh giá kinh tế hộ và hiện trạng lâm nghiệp ở khu vực Tây Nguyên của Bảo Huy và cộng sự (2005) cho thấy rừng đóng vai trò quan trọng trong sinh kế người nghèo vùng cao Qua đó, ba mục tiêu cải thiện sinh kế và tám giải pháp giảm nghèo được đưa ra Đối với Tây Nguyên, để tạo ra sinh kế bền vững cho cộng đồng thông qua quản lý tài nguyên cần quan tâm các yếu tố: i) Làm thế nào cộng đồng có thể tiếp cận và hưởng lợi một cách bình đẳng đối với tài nguyên rừng và đất, ii) Nâng cao năng lực quản lý, tổ chức và ra quyết định của cộng đồng trong sản xuất, kinh doanh từ trồng, chăm sóc rừng cho đến thu hái và chế biến, iii) Yếu
tố tài chính bao gồm tiếp cận vốn, tín dụng, tổ chức quản lý nguồn vốn trong hộ cũng như cộng đồng là quan trọng để nâng cao hiệu quả đầu tư cho lâm nghiệp [8], [15]
Trang 23Các nghiên cứu trên chú trọng việc thu hút sự tham gia của cộng đồng trong quản
lý, bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng, tài nguyên sinh vật và tài nguyên DNN của VQGYD Các vấn đề kể trên cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các thành phần tham gia như Ban Quản lý VQGYD, các nhà nghiên cứu khoa học và cộng đồng dân tộc địa phương; trong đó, cộng đồng dân tộc địa phương đóng vai trò chủ đạo trong việc chủ động quản lý và bảo tồn VQGYD
Tổng quan vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy:
- Tài nguyên DNN nói chung có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường sinh thái và cung cấp sinh kế cho nhiều cộng đồng dân cư Do vậy bảo tồn bền vững tài nguyên này là mối quan tâm chung của thế giới trong đó có Việt Nam Điều này thể hiện qua các công ước quốc tế
- Phương pháp tiếp cận trong bảo tồn tài nguyên DNN cần có những cải tiến thay đổi cho phù hợp với các nhân tố xã hội Trong đó sự tham gia của cộng đồng trong việc quản lý và chia sẻ bền vững các nguồn tài nguyên DNN ở các khu bảo tồn, vườn quốc gia cần được quan tâm
Tuy nhiên nghiên cứu về mối quan hệ giữa tài nguyên DNN với sinh kế cộng đồng, đặc biệt là ở VQGYD chưa được đề cập và làm rõ Một số vấn đề sau đây cần được tiếp tục nghiên cứu:
- Sự phong phú về tài nguyên sinh vật ở các vùng đất ngập nước trong hệ sinh thái rừng khộp, vai trò sinh thái của nó trong hệ thống bảo tồn?
- Mức độ phụ thuộc của cộng đồng bản địa với tài nguyên sinh vật DNN? Các hình thức, mức độ sử dụng của cộng đồng?
Trang 24- Mối quan hệ giữa nhu cầu và khả năng cung cấp của tài nguyên sinh vật DNN? Khả năng phục hồi của DNN? Khả năng suy thoái nếu không được quản lý và kiểm soát?
- Giải pháp hài hòa trong bảo tồn và phát triển sinh kế, sử dụng kiến thức bản địa trong quản lý DNN?
Vì vậy đề tài nghiên cứu này được đặt ra và cố gắng đóng góp một phần trong việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu nói trên
Trang 25CHƯƠNG 3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU NỘI DUNG NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 263.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài được triển khai với đối tượng và phạm vi nghiên cứu cụ thể như sau:
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi tiếp cận nghiên cứu được xác định như sau:
- DNN trong hệ sinh thái rừng khộp của VQGYD: Nghiên cứu các khu vực DNN
tự nhiên là bàu, trảng và hiện đang bị tác động bởi người dân địa phương Tài nguyên
đa dạng sinh vật ở DNN được tập trung nghiên cứu về thực vật và động vật
- Nhóm cộng đồng tác động đến sinh cảnh DNN: Đây là các thôn, buôn nơi cư trú
của cộng đồng dân tộc bản địa đại diện ở khu vực vùng đệm và vùng lõi của VQGYD
Có 3 cộng đồng thôn buôn vùng đệm và vùng lõi VQG tham gia vào nghiên cứu bao gồm: buôn vùng lõi Buôn Drăng Phok thuộc xã Krông Na và hai buôn vùng đệm: Buôn Trí B thuộc xã Krông Na và Buôn N’Drếch B thuộc xã Ea Huar, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk Cả ba buôn được lựa chọn nghiên cứu theo tiêu chí ở ba cấp độ: Tiếp cận tác động cao, tác động trung bình và tác động thấp đến tài nguyên của vườn
3.1.2 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu là các vùng đất ngập nước trong diện tích của VQGYD và các buôn đại diện ở vùng đệm và vùng lõi VQG
3.1.2.1 Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên của VQGYD
VQGYD có tổng diện tích là 115.545 ha nằm trong ranh giới hành chính tỉnh Đăk Lăk, hệ sinh thái đặc trưng chủ yếu là rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới (rừng khộp) với hệ thực vật gồm 566 loài thuộc 109 họ và 290 chi [13] Hệ động vật bao gồm: 74 loài thú, 245 loài chim, 48 loài bò sát, 16 loài ếch nhái, 78 loài cá và 65 loài bướm với nhiều loài thú quan trọng được liệt kê trong danh sách các loài bị đe dọa trên toàn cầu
Trang 27VQGYD là nơi bảo tồn hệ sinh thái rừng khộp, rừng khô cây họ Dầu, cùng với
các hệ sinh thái rừng bán thường xanh và các kiểu sinh cảnh sông suối, ngập nước
• Địa hình, địa mạo: VQGYD nằm trên địa hình tương đối bằng phẳng, nghiêng
từ đông sang tây, độ cao trung bình 150m - 200m so với mặt nước biển, chia thành các dạng địa hình như:
− Địa hình đồi và núi thấp: phân bố rải rác trên diện tích VQGYD
− Địa hình dốc tụ: phân bố dọc bờ sông Srêpok và các suối lớn trong vùng
• Thổ nhưỡng: gồm bốn loại đất chính với tỷ lệ % về diện tích như sau:
− Nhóm đất Feralit đỏ vàng trên đá phiến: 2,5%
− Nhóm đất vàng nhạt trên đá cát kết: 64,7% (lớn nhất)
− Nhóm đất xám: 26,4%
− Đất dốc tụ thuộc nhóm đất nâu vàng trên đá Bazan: 6,4%
• Khí hậu, thủy văn: Khu vực VQG mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4-10, gió hướng Tây Nam Mùa khô từ tháng 11-3, gió hướng Đông Bắc Lượng mưa bình quân năm từ 1.500-1.600 mm Nhiệt độ trung bình 25.5 oC Hệ thống sông suối của VQGYD nằm trong lưu vực sông
Mê Kông, với nhánh Srêpok (Đăk Krông) chảy qua VQG dài 60 km Sông có nhiều thác nghềnh và liên kết với hệ thống suối dày đặc
• Thảm thực vật và các đặc trưng về đa dạng sinh học
VQGYD là một trong những VQG đa dạng về các kiểu hệ sinh thái bao gồm sáu kiểu hệ sinh thái chính [12], trong đó ba kiểu hệ sinh thái chính phổ biến nhất có thể kể:
− Hệ sinh thái rừng kín rụng lá – rừng khộp
− Hệ sinh thái rừng kín nửa rụng lá
− Hệ sinh thái rừng kín thường xanh
Trang 28Sự đa dạng về các kiểu sinh cảnh này đã tạo ra sự đa dạng và phong phú về hệ động vật và thực vật ở đây
VQGYD là một trong bảy trung tâm đa dạng thực vật có tầm quan trọng quốc tế trong bảo tồn hệ sinh thái rừng khộp độc đáo Vì vậy, thành phần thực vật của VQG chủ yếu là những loài đại diện cho hệ sinh thái này Theo thống kê, thực vật của VQG
có khoảng 566 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 290 chi và 108 họ [13]
Tài nguyên thực vật của VQG không chỉ đa dạng về thành phần mà còn đa dạng
về giá trị sử dụng Việc tìm hiểu và làm sáng tỏ công dụng của các loài thực vật không chỉ định hướng cho việc khai thác và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thực vật
mà còn có ý nghĩa cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học của VQG
Bảng 3.1 Thống kê giá trị sử dụng tài nguyên thực vật tại VQGYD
Nguồn: Số liệu thu thập tại VQGYD năm 2008
Các nghiên cứu về hệ động vật của VQGYD cho thấy hệ động vật ở đây rất đa dạng và phong phú, bao gồm 77 loài thú, 250 loài chim, 48 loài bò sát, 16 loài lưỡng
cư, 78 loài cá, 65 loài bướm cùng với hàng trăm loài côn trùng khác [18], [19], [20], [21], [22], [23], [24], [25], [26], [27], [28], [29] Nhiều loài động vật được đánh giá là
quý hiếm như Voi Châu Á Elephas maximus, Vượn đen má hung Hylobates gabriellae,
Bò tót Bos gaurus, Tê tê Manicus javanica, Báo lửa Catopuma temminckii, Báo hoa mai Panthera pardus, Rái cá lông mượt Lutrogale perspicillata, Cầy mực Arctictis
Trang 29binturong, Nai cà tông Cervus eldii, Công Pavo muticus, Gà lôi hông tía Lophura diardi, Quắm lớn Pseudibis gigantea, Sếu đầu đỏ Grus antigone
3.1.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội, văn hóa của cộng đồng dân tộc ở VQGYD và khu vực nghiên cứu
Đặc điểm chung về kinh tế xã hội, văn hóa của các cộng đồng dân tộc ở VQGYD
Dân cư tập trung sinh sống ở vùng đệm; tuy nhiên, theo quy hoạch mở rộng từ năm 2002, có một buôn dân cư hiện đang sinh sống ở vùng lõi Đây là khu vực cư trú lâu đời của các cộng đồng dân tộc bản địa ở Tây Nguyên, cộng đồng người Kinh và một số dân tộc thiểu số khác như Tày, Nùng, Mường, H’mông chỉ đến đây trong vài thập kỷ qua Hoạt động chính của các buôn ở đây là canh tác cây ngắn ngày; trong đó người dân bản địa có truyền thống canh tác lúa nước, nương rẫy xen với canh tác các loại hoa màu và thu hái các loại sản phẩm rừng Việc mở rộng canh tác theo hướng thâm canh, chú trọng cây công nghiệp vẫn theo hướng tự phát, chưa theo quy hoạch, bị tác động bởi giá cả thị trường Kinh tế vẫn còn chậm phát triển, vẫn còn mang tính tự cung tự cấp ở các thôn buôn vùng sâu vùng xa Cho đến nay đã có nhiều chương trình quốc gia đầu tư cho việc phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, hỗ trợ xóa đói giảm nghèo,
hỗ trợ vật tư sản xuất nông nghiệp nhưng điều kiện lưu thông hàng hóa, giao lưu văn hóa, giáo dục, y tế vẫn còn nhiều hạn chế
Vùng đệm VQGYD được xác định gồm 7 xã thuộc 3 huyện: xã Cư M’Lan, xã
Ea Bung thuộc huyện Ea Súp; xã Krông Na, xã Ea Wer, xã Ea Huar thuộc huyện Buôn Đôn, xã Ea Pô và xã Đăk Win thuộc huyện Cư Jút Tổng dân số vùng đệm vào khoảng 32.232 người trong tổng số 6.977 hộ dân, mật độ dân số bình quân khoảng 36 người/km2 Cộng đồng dân tộc bản địa chủ yếu là người M’nông, Ê đê, Lào Tình hình kinh tế xã hội ở các xã rất khác nhau, tuy nhiên rừng vẫn ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người dân trong vùng
Trang 30Cộng đồng dân tộc bản địa truyền thống tại các buôn vẫn còn giữ được những nét văn hóa đặc trưng của vùng Tây Nguyên về sinh hoạt cộng đồng, cấu trúc nhà cửa, trang phục, cồng chiêng… Sinh hoạt và sản xuất phụ thuộc phần lớn vào rừng và thiên nhiên với các tập quán săn bắt, thu hái sản phẩm rừng phục vụ cho đời sống, chăn thả rông,… [11]
Bên cạnh đó, tình trạng di dân tự do đã làm thay đổi căn bản cấu trúc dân tộc ở nông thôn, hình thức sống cộng cư, xen cài giữa nhiều dân tộc trong một cộng đồng đã trở nên phổ biến; do đó, giữa các dân tộc luôn có sự giao thoa văn hóa, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau [4]
Đời sống của cộng đồng dân tộc bản địa chủ yếu dựa vào canh tác cây ngắn ngày như trồng cây lương thực trên các nương rẫy, canh tác lúa nước ở các khu vực ven sông và một số vùng DNN trong VQGYD Một số hộ dân tộc địa phương còn chăn nuôi trâu bò và dê thả tự do trong rừng Đa số các hộ dân tộc bản địa thường trồng cây công nghiệp như điều, cà phê; cây ăn quả ở đất vườn hộ với quy mô nhỏ, không thâm canh, năng suất thấp [11]
Thu nhập của hộ gia đình tại các buôn vùng đệm và vùng lõi VQGYD còn thấp chủ yếu từ các nguồn như nông nghiệp, lâm nghiệp, DNN, chăn nuôi và các nguồn khác như làm thuê, dịch vụ, dệt thổ cẩm, Các nguồn thu này đa số một phần sử dụng trong gia đình, một phần bán ra thị trường
Theo chuẩn nghèo nhà nước năm 2007 về thu nhập của hộ thoát nghèo là trên 200.000 đồng/khẩu/tháng, tỷ lệ hộ nghèo tại các xã vùng đệm vẫn còn cao, chiếm trên 40%
Hệ thống giao thông tại các buôn phát triển khá tốt, các đường tỉnh lộ, liên xã đã dần được nâng cấp, nhựa hóa Hầu hết các buôn thôn vùng đệm đều có điện lưới phục
vụ sinh hoạt và sản xuất Hệ thống nước sạch cũng được hỗ trợ xây dựng ở buôn N’Drếch B; các buôn khác chủ yếu sử dụng nước giếng tự đào hoặc nước sông, nước suối để sinh hoạt
Trang 31Mỗi xã đều có trạm y tế, ở mỗi buôn mạng lưới y tá cộng đồng chủ yếu là người dân tộc tại chỗ
Tại các buôn thôn đều có trường tiểu học, xã có trường phổ thông trung học cơ
sở và huyện có trường phổ thông trung học Bên cạnh đó, mỗi xã có một bưu điện văn hóa, là nơi người dân trao đổi thông tin, liên lạc, và tham khảo các tài liệu, sách báo nâng cao kiến thức
Thị trường ở các buôn chưa phát triển, các cộng đồng mới chỉ dừng ở mức tự cung tự cấp Đầu vào cho sản xuất sinh hoạt là các vật liệu để trồng trọt, lương thực thực phẩm được bán tại các chợ xã, huyện Đầu ra cho sản phẩm được trao đổi ngang giá hoặc bán cho tư thương tại buôn, từ các chợ xã, huyện đến mua Các sản phẩm được lấy từ rừng, các vùng DNN trong VQGYD một phần dùng để phục vụ đời sống sinh hoạt của gia đình, một phần được bán ra ngoài thị trường tại các điểm thu mua nông lâm sản trong thôn buôn
Đặc điểm về kinh tế xã hội, văn hóa của các cộng đồng dân tộc ở ba thôn buôn nghiên cứu:
Ba thôn buôn cộng đồng dân tộc vùng đệm và vùng lõi VQG tham gia vào nghiên cứu bao gồm: buôn Drăng Phok thuộc xã Krông Na và 2 buôn vùng đệm: Buôn Trí B thuộc xã Krông Na và Buôn N’Drếch B thuộc xã Ea Huar, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk Bảng 3.2 tổng hợp về đặc điểm tình hình kinh tế xã hội và sử dụng tài nguyên của 3 buôn được khảo sát nghiên cứu
Bảng 3.2 Tổng hợp tình hình kinh tế xã hội của ba buôn thôn nghiên cứu
Trang 32Thông tin Buôn Đrăng Phok Buôn Trí B Buôn N’Drếch B
tác (ha)
2007: 31,8ha
- Cây ngắn ngày Lúa nước 1 vụ: 46 ha;
Rẫy (bắp, lang): 139ha (46 ha không làm), hiện còn 93 ha đang làm)
Lúa 2 vụ: 1,2ha; 1 vụ:
10ha
Hoa mùa: 16 ha Lúa 1 vụ: 2,5 ha Lúa 2 vụ: 0,7 ha
- Cây dài ngày Điều: vườn hộ khoảng 3
20 ha x 127 hộ = 2540ha 24 hộ x 30ha = 720ha
Không có đất chăn thả riêng Một số hộ nuôi trâu bò thả tự do vào trong vùng lõi VQG
Thả tự nhiên trong VQG
- Số lượng các loại Trâu 117 con
Bò 163 con Heo 96 con Gia cầm 316 con
150 trâu
300 bò Gia cầm khoảng 1000 con – các hộ nuôi để ăn
để dùng
Chai cục, măng, nấm,
cá, săn bắt thú nhỏ (thỉnh thoảng mới đi, ở suối Ea Klô, Ea Kên) Thu nhập bình quân
đầu người/tháng
-năm
Dưới 200.000/người/tháng Các dự án liên quan:
(Mô tả, thời gian,
có vôi, hiện vẫn dùng nước sông
- Dự án HIPHER: hỗ trợ
hộ nghèo nuôi bò (2 con/hộ trong 3 năm trả lại 2 bê để chuyển giao cho hộ khác)
- HIPHER: hỗ trợ nuôi
bò, 28 hộ nuôi; 2 con bò/hộ (2007)
Trang 33Thông tin Buôn Đrăng Phok Buôn Trí B Buôn N’Drếch B
Không có
Thị trường các sản
phẩm nông lâm
nghiệp (Mô tả địa
điểm, loại mua bán,
- Lâm sản: chai cục:5.000d/kg, măng:1.000d/kg (năm 2008: 3.000đ/kg), tê tê:
0,9-1 triệu/kg, ba ba:
200.000đ/kg, kỳ đà:150.000đ/kg, rắn hổ mang và hổ trâu:
80.000-200.000đ/kg, thỏ: 80.000đ/con, mang: 80.000đ/kg, nai:
50.000đ/kg, heo rừng:
100.000đ/kg, chồn:140.000đ/kg, nhím:80.000đ/kg, (300.000đ/bao tử nhím), khỉ:50.000đ/kg, ếch:30.000đ/kg, tắc kè:
140.000đ/kg, tắc kè hoa:180.000đ/kg, cá lăng:120.000d/kg, cá mõm trâu/úc:
80.000đ/kg, cá lóc:30.000đ/kg, nhồng:
400.000đ/con, bìm bịp:
50.000đ/con, vẹt lào:400.000đ/cặp, gà rừng:100.000đ/kg, đa đa: 30.000đ/kg
- Người dân ít biết
- Giá một số loại (2008):
Lúa: 2500đ/kg, 3500đ/kg, điều 10 – 15000đ/kg, gạo từ
Bắp-7000 – 11000đ/kg, cá lóc: 45000đ/kg, rùa khép 75000đ/kg, ếch 6000đ/kg, măng 1000đ/kg, chai cục 5000đ/kg, kì đà 130.000đ/kg, ba ba 80.000đ/kg
- Giá các sản phẩm giống như ở buôn Trí
B
Cơ sở hạ tầng (Mô
tả điện đường
trường trạm, thủy
lợi, nước sinh
- Đường nhựa đến thôn
- 100% hộ sử dụng điện lưới
- Đang làm đập thủy lợi
- Đường nhựa đến thôn,
có ít đoạn đường cấp phối ngắn
Trang 34Thông tin Buôn Đrăng Phok Buôn Trí B Buôn N’Drếch B
hoạt,…) dẫn nước về ruộng 3
vụ
- Nước sinh hoạt: sông + nước giếng đào (dân tự đào)
- Trường cấp I: từ lớp mẫu giáo đến lớp 5 (6 lớp)
- Thủy lợi chưa có,
- Nước sinh hoạt hầu hết dùng nước sông
- Có nhà cộng đồng
Bảng 3.3 Thành phần kinh tế hộ theo chuẩn nghèo nhà nước tại các buôn nghiên cứu
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
Nguồn: Số liệu thu thập tại các buôn nghiên cứu năm 2008
Bảng 3.4 Dân số, thành phần dân tộc các buôn nghiên cứu
Xã, thị trấn Buôn thôn Số hộ Số khẩu Thành phần dân tộc bản địa
Krông Na Drăng Phok 87 345 Ê đê, M'nông, Kinh, Nùng
Trí B 130 614 Ê đê, M'nông, Jrai, Lào, Kinh
Ea Huar N'Drếch B 32 171 Ê đê, M'nông, Kinh
Nguồn: Số liệu thu thập tại các buôn nghiên cứu năm 2008
Hiện nay tại ba buôn nghiên cứu, số hộ trong mỗi buôn dao động từ 32 đến 130
hộ, với số khẩu thay đổi từ 171 đến 614 khẩu, thành phần dân tộc thiểu số tại chỗ chiếm trên 80%, gồm các dân tộc: Mnông, Ê đê, Lào, Nhiều ngôn ngữ khác nhau được sử dụng trong giao tiếp Người Kinh từ các miền đất nước đến định cư và sinh sống, sự giao tiếp khách thập phương đi du lịch tạo sự giao lưu văn hoá, sinh hoạt trong đời sống và lao động sản xuất, người Kinh đã mang đến các kiến thức khoa học kỹ thuật và các tập quán canh tác tiên tiến, áp dụng khoa học kỹ thuật từ vùng đồng bằng đan xen với các phương thức canh tác truyền thống của bà con dân tộc tại chỗ
Trang 35Phân loại kinh tế hộ dựa theo sự đánh giá của thôn buôn cho thấy, số hộ nghèo
có thu nhập dưới 200.000đ/người/tháng chiếm 30% – 80%, hộ nghèo chủ yếu là người dân tộc thiểu số Các nguồn thu nhập chính của người dân là từ trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt, hái lượm, nhận khoán quản lý bảo vệ rừng của VQGYD, đánh bắt cá, buôn bán, cho thuê đất, ruộng và một ít dịch vụ du lịch,…
Diện tích đất canh tác của các thôn là tương đối thấp so với số khẩu, số liệu trung bình cho thấy chỉ vào khoảng 0,2 ha đất canh tác/khẩu Tình hình trồng trọt một
số loại cây trồng như sau: Lúa 2 vụ chủ yếu sử dụng giống IR64 do trạm khuyến nông huyện cung cấp, nhưng do tại địa phương đất đai nghèo chất dinh dưỡng, thiếu vốn để đầu tư sản xuất, thường thiếu nước tưới vào mùa khô, kỹ thuật canh tác của người dân chưa cao, nên năng suất chỉ đạt từ 3,5 – 4,5 tấn/ha Ngô lai sử dụng giống DK 888, LVN10 năng suất chỉ đạt từ 0,7- 4,2 tấn/ ha Đậu xanh đạt từ 0,5- 0,8 tấn/ ha Cây công nghiệp chủ yếu trồng điều bằng hạt do không đủ vốn để đầu tư trồng điều ghép nên năng suất rất thấp và không ổn định 0,3 - 0,8tấn/ha Ngoài ra còn một số nguyên nhân dẫn đến năng suất không cao là do bị mất mùa bởi điều kiện bất thuận lợi của thiên nhiên, sâu bệnh phá hoại nhiều, thiếu lao động, thiếu vốn đầu tư, chưa lựa chọn được cơ cấu cây trồng phù hợp đã hạn chế hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn Năm
2008, ước tính lương thực bình quân đầu người khoảng 600kg thóc/người/năm
Tình hình chăn nuôi trên địa bàn các thôn buôn khá phát triển, đặc biệt là nuôi gia súc Trung bình ở các buôn mỗi hộ có nuôi từ 1 – 1,5 con trâu và 2 – 3 con bò Các thôn buôn đều không có bãi chăn thả gia súc, chủ yếu là thả trâu bò vào rừng để tận dụng nguồn cỏ tự nhiên dưới tán rừng, trong các khu vực DNN Chăn nuôi gia súc là nguồn thu nhập rất quan trọng, đặc biệt là ở 2 buôn Đrăng Phok và Trí B, hiệu quả là nhờ vào việc bán trâu bò tạo ra được nguồn thu nhập lớn, có được vốn để thực hiện các việc quan trọng như làm nhà cửa, mua xe, máy móc, cưới xin,… Tình hình dịch bệnh gia súc cũng xảy ra khá thường xuyên trong những năm gần đây, thường gặp là các
Trang 36bệnh lở mồm, long móng, tụ huyết trùng Địa phương cũng đã có chỉ đạo thực hiện một
số đợt tiêm phòng các bệnh này Ngoài ra các thôn đều có chăn nuôi heo và gia cầm, nhưng với số lượng không lớn, mục đích chính vẫn để sử dụng trong lễ hội và làm thức
ăn trong gia đình
Cho đến nay nguồn thu các sản phẩm từ rừng tại ba buôn cũng còn khá phong phú, đặc biệt là buôn Đrăng Phok, do ở sâu trong vùng lõi nên nhiều người dân có thu nhập quan trọng từ việc đánh bắt cá trên sông Srêpok, chủ yếu thực hiện vào mùa khô,
có những hộ thu được hàng trăm ngàn đồng mỗi ngày từ nguồn lợi này Ngoài ra, trong năm người dân ở các buôn đều có thu hoạch các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ trong rừng khộp của vườn quốc gia, phổ biến như chai cục để bán (5.000đ/kg), nấm, măng, rau rừng chủ yếu để ăn; bẫy bắt các loại thú nhỏ trong rừng cũng còn phổ biến và rất khó kiểm soát, đây cũng là nguồn thu quan trọng của người dân buôn Đrăng Phok, các loại thú đó là heo rừng, mang, nai, rùa, ba ba, tê tê, kỳ đà, rắn các loại, chồn, nhím, tắc kè, một số loài chim như nhồng, bìm bịp, vẹt, gà rừng, đa đa,… Các sản phẩm động vật này chủ yếu để bán, tạo ra nguồn thu cho các hoạt động chi tiêu hàng ngày trong đời sống người dân
Tại ba thôn buôn hiện nay có một số dự án được hỗ trợ nhằm mục đích phát triển kinh tế và cải thiện chất lượng cuộc sống người dân Đáng kể như dự án HIPHER,
hỗ trợ mỗi hộ 2 con bò giống để nuôi, sau khi hộ nuôi đã có được bò con thì chuyển giao các bò giống mẹ cho hộ khác Ngoài ra các buôn có dự án hỗ trợ xây dựng giếng nước sạch (của DANIDA), xây dựng hố xí ba ngăn của Uỷ ban Dân tộc Trung ương, nhưng nhìn chung hiệu quả đạt ở mức thấp
Cơ sở hạ tầng của các thôn đã có sự phát triển, như 100% người dân có sử dụng điện lưới, đã có đường cấp phối hoặc đường nhựa đến thôn, thôn có trường mẫu giáo, một số lớp học của bậc tiểu học Tuy nhiên còn thiếu các công trình nước sạch, nhiều
hộ chỉ sống bằng nước sông không bảo đảm vệ sinh, thiếu nhà vệ sinh,…
Trang 373.2 GIẢ ĐỊNH NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài cần có một số giả định nghiên cứu quan trọng như sau:
- Cộng đồng dân tộc bản địa có kiến thức bản địa về tài nguyên sinh vật của DNN và phân bố các khu vực DNN tự nhiên đang được sử dụng bởi từng buôn
- Các chính sách hài hòa giữa quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học với sử dụng bền vững của cộng đồng dân tộc thiểu số sẽ được phát triển trong các khu vực bảo tồn
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Ứng với từng mục tiêu nghiên cứu, đề tài có các nội dung nghiên cứu sau:
i Thu thập thông tin về kinh tế xã hội của các địa phương sinh sống bên trong và ven ranh giới VQGYD có khả năng sử dụng các vùng DNN bên trong VQG
ii Xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ các vùng DNN tự nhiên bên trong VQGYD, nơi các cộng đồng tiếp cận và sử dụng
iii Ước lượng đa dạng tài nguyên sinh vật các vùng DNN mà cộng đồng đang tiếp cận sử dụng
iv Phát hiện các mức độ sử dụng các tài nguyên sinh vật ở các vùng DNN bởi người dân địa phương trong và xung quanh VQGYD
v Phân tích mối quan hệ giữa kinh tế hộ với sử dụng tài nguyên DNN Phát hiện các nhân tố ảnh hưởng đến chiều hướng tác động của cộng đồng đến DNN
vi Xây dựng các biện pháp nhằm giảm thiểu tác động trên cơ sở có sự tham gia của cộng đồng Kiến nghị các hoạt động sinh kế thay thế hoặc đồng quản lý cho người dân địa phương
Trang 383.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp khung logic được thiết kế và sử dụng để làm cơ sở xây dựng nội dung phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, xác định các phương pháp nghiên cứu cho từng nội dung Khung sẽ thể hiện tính hệ thống của nghiên cứu:
• Cần có phương pháp, công cụ và cách tiếp cận phù hợp để thực hiện được các nội dung và triển khai các hoạt động nghiên cứu
Kết quả sẽ đạt được khi các nội dung được thực hiện với các giả định là đúng, những kết quả đạt được sẽ góp phần đạt được mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Bảng 3.5 Khung logic nghiên cứu (Phạm vi đất ngập nước: Bàu và trảng)
Mục tiêu nghiên
cứu
Nội dung nghiên cứu (Hoạt động nghiên cứu)
Phương pháp nghiên
cứu
Vật liệu, phương tiện
Kết quả
1 Xác định được
mối quan hệ giữa
nhu cầu sinh kế
tế xã hội
- Xác định các thôn buôn chính có liên quan đến sử dụng DNN – VQG, xã Chọn 3 thôn/buôn (Drăng Phok, Trí B, N’Drếch B)
- Thu thập số liệu thứ cấp về kinh tế xã hội các buôn đã chọn + buôn vùng đệm
Số liệu thông tin kinh tế xã hội của các thôn buôn lựa chọn có liên quan đến sử dụng DNN
1.2 Xây dựng cơ
sở dữ liệu và bản đồ các vùng DNN nơi các cộng đồng sử dụng
- Vẽ bản đồ có sự tham gia của người dân về các khu vực DNN đang được sử dụng bởi từng thôn/buôn trong vùng đệm và loại sản phẩm
Mỗi thôn buôn 1 bản
đồ
Bản đồ UTM, giấy kính trong, bút màu, cồn, bông gòn, la bàn, ,…
Cơ sở dữ liệu và bản đồ các vùng DNN trong VQGYD: Vị trí, diện tích, thay đổi nước theo mùa, sinh cảnh động thực vật chính
Trang 39Mục tiêu nghiên
cứu
Nội dung nghiên cứu (Hoạt động nghiên cứu)
Phương pháp nghiên
cứu
Vật liệu, phương tiện
Kết quả
Phân tích ảnh viễn thám và GIS
Bản đồ hiện trạng của vườn Các cơ sở dữ liệu, bản đồ, ảnh của nghiên cứu
đã có Khảo sát thực địa, số
hóa khu vực ngập nước với cơ sở dữ liệu sản phẩm sử dụng bởi cộng đồng
GPS khoanh
vẽ diện tích
Bổ sung cơ sở dữ liệu về sản phẩm vào bản đồ
1.3 Ước lượng đa dạng tài nguyên sinh vật các vùng DNN mà cộng đồng đang tiếp cận sử dụng
Điều tra đa dạng sinh vật ở các vùng đất ngập nước có sự tham gia của người dân
Đối với thực vật: Sử dụng ô mẫu 10x10m, 1 ô/bàu trảng
Đối với động vật: Sử dụng ô dạng dải 10x2m
để điều tra dấu vết động vật, 1 ô/bàu trảng
GPS Phiếu điều tra
Cơ sở dữ liệu đa dạng sinh vật ở các vùng DNN
1.4 Phát hiện các mức độ sử dụng tài nguyên sinh vật ở các vùng DNN bởi người dân địa
Phương pháp 5W+1H Ao, thẻ màu Thông tin chung về
tài nguyên DNN từ kinh nghiệm của người dân
Ma trận về sản phẩm từ DNN: Loại, tầm quan trọng, mức độ sử dụng
Ao, thẻ màu Các nhóm sản
phẩm và tầm quan trọng, mức độ sử
Trang 40Mục tiêu nghiên
cứu
Nội dung nghiên cứu (Hoạt động nghiên cứu)
Phương pháp nghiên
cứu
Vật liệu, phương tiện
Kết quả
phương Phỏng vấn 1
nhóm/buôn
dụng của cộng đồng
Ma trận đánh giá nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ DNN của từng thôn buôn Phỏng vấn 1 nhóm/buôn
Ao, thẻ màu Lượng hóa nhu cầu
sử dụng các sản phẩm từ DNN của từng thôn buôn từng năm và 5 năm 1.5 Phân tích mối
quan hệ giữa kinh tế hộ với
sử dụng tài nguyên DNN
Phát hiện các nhân tố ảnh hưởng đến chiều hướng tác động của cộng đồng đến DNN
Phân tích kinh tế hộ, giá trị thu nhập từ DNN Phỏng vấn 2 nhóm kinh tế hộ nghèo
và thoát nghèo ở 3 thôn buôn Tổng số 25 hộ
Phiếu điều tra kinh tế hộ
Lượng hóa giá trị kinh tế của sản phẩm từ DNN trong kinh tế hộ
Mô hình hồi quy đa biến y = f(x i ), trong đó y: Thu nhập hộ từ DNN, x i : Các nhân tố kinh tế hộ, tài nguyên DNN
Phần mềm Statgraaphics Ceturion
Mô hình với nhân
tố ảnh hưởng với mức ý nghĩa thống
kê P < 0,05