1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước trong hệ sinh thái rừng khộp và đời sống của các cộng đồng thiểu số ở vườn quốc gia yok đôn, tỉnh đắk lắk

128 653 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước trong hệ sinh thái rừng khộp và đời sống của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở vườn quốc gia yok đôn, tỉnh đắk lắk
Tác giả Phan Thị Bảo Chi
Người hướng dẫn PGS. TS. Bảo Huy, TS. Trần Triết
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh - Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Sinh thái học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 3,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHAN THỊ BẢO CHI MỐI QUAN HỆ GIỮA TÀI NGUYÊN ĐẤT NGẬP NƯỚC TRONG HỆ SINH THÁI RỪNG KHỘP VÀ ĐỜI SỐNG CỦA CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VƯỜN QUỐC GIA YOK ĐÔN, TỈNH ĐĂK LĂK Chuyên ngàn

Trang 1

                                   

PHAN THỊ BẢO CHI

MỐI QUAN HỆ GIỮA TÀI NGUYÊN ĐẤT NGẬP NƯỚC TRONG HỆ SINH THÁI RỪNG KHỘP VÀ ĐỜI SỐNG CỦA CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VƯỜN QUỐC GIA YOK ĐÔN, TỈNH ĐĂK LĂK

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số: 60 42 60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS TS BẢO HUY

2 TS TRẦN TRIẾT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2010

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn:

³ Hội Sếu Quốc tế (ICF) và Quỹ Học bổng Nagao đã hỗ trợ kinh phí trong quá trình thực hiện đề tài

nhiên, ĐH Quốc gia TP.HCM đã giúp đỡ, động viên và đóng góp ý kiến trong suốt quá trình làm luận văn nói riêng và quá trình làm việc tại bộ môn nói chung

Nguyên đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

nghiên cứu đã hỗ trợ, tham gia và tạo điều kiện

³ Bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và hết lòng giúp đỡ

Xin được gửi lời tri ân đến:

³ PGS TS Bảo Huy và TS Trần Triết đã tận tình dạy dỗ, hướng dẫn và truyền thụ kiến thức

³ Gia đình đã hết lòng ủng hộ, khích lệ và tin tưởng

Tp.Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2010

Phan Thị Bảo Chi

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

TÓM TẮT ii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH x

Chương 1 GIỚI THIỆU 1.1 Mở đầu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Về lý luận 3

1.2.2 Về thực tiễn 3

1.3 Ý nghĩa 3

Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Khái quát về đất ngập nước 4

2.2 Tình hình nghiên cứu đất ngập nước và mối quan hệ của tài nguyên đất ngập nước với các cộng đồng dân tộc địa phương trên thế giới 5

2.2.1 Tình hình quản lý bảo tồn đất ngập nước trên thế giới 5

2.2.2 Một số nghiên cứu trên thế giới về bảo tồn và phát triển bền vững đất ngập nước có sự tham gia của cộng đồng dân tộc địa phương 6

2.3 Tình hình nghiên cứu đất ngập nước và mối quan hệ giữa cộng đồng dân tộc địa phương ở Việt Nam với tài nguyên đất ngập nước 7

2.3.1 Tình hình nghiên cứu đất ngập nước ở Việt Nam 7

2.3.2 Nghiên cứu về cộng đồng dân tộc thiểu số và mối quan hệ giữa sinh kế với quản lý bảo tồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Tây Nguyên, đặc biệt là VQGYD 9

Trang 4

Chương 3 ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 13

3.1.2 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 13

3.1.2.1 Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên của VQGYD 13

3.1.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội, văn hóa của cộng đồng dân tộc ở VQGYD và khu vực nghiên cứu 16

3.2 Giả định nghiên cứu 24

3.3 Nội dung nghiên cứu 24

3.4 Phương pháp nghiên cứu 25

3.4.1 Phương pháp luận và cách tiếp cận nghiên cứu 30

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 30

3.4.2.1 Phương pháp thu thập thông tin kinh tế xã hội về dân cư sinh sống bên trong và ven ranh giới có khả năng sử dụng các vùng đất ngập nước bên trong VQGYD 30

3.4.2.2 Phương pháp xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ các vùng đất ngập nước tự nhiên mà cộng đồng tác động bên trong VQGYD 31

3.4.2.3 Phương pháp ước lượng tài nguyên đất ngập nước 32

3.4.2.4 Phương pháp đánh giá mức độ quy mô sử dụng tài nguyên ở các vùng đất ngập nước bởi người dân địa phương trong và xung quanh VQGYD 32

3.4.2.5 Phương pháp phân tích mối quan hệ giữa kinh tế hộ với tài nguyên đất ngập nước 34

3.4.2.6 Phương pháp xây dựng các biện pháp giảm thiểu tác động và hài hòa giữa bảo tồn với sinh kế trên cơ sở có sự tham gia của cộng đồng 35

Trang 5

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Phân bố và quy mô các vùng đất ngập nước trong hệ sinh thái

rừng khộp 36

4.2 Đa dạng sinh vật ở vùng đất ngập nước 45

4.2.1 Danh mục các loài thực vật đất ngập nước 46

4.2.2 Danh mục các loài động vật đất ngập nước 50

4.3 Mức độ sử dụng tài nguyên sinh vật ở các vùng đất ngập nước bởi cộng đồng dân cư 55

4.3.1 Tầm quan trọng và mức độ sử dụng các sản phẩm từ các vùng đất ngập nước đối với cộng đồng 55

4.3.2 Nhu cầu sử dụng các sản phẩm đất ngập nước của cộng đồng 60

4.4 Sự liên quan giữa kinh tế hộ và sử dụng tài nguyên đất ngập nước 64

4.4.1 Cơ cấu kinh tế hộ và thu nhập từ tài nguyên đất ngập nước 64

4.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập từ đất ngập nước của cộng đồng 73

4.5 Giải pháp hài hòa giữa bảo tồn tài nguyên đất ngập nước và sinh kế cộng đồng 78

4.5.1 Quan điểm hài hòa và chia sẻ trong bảo tồn tài nguyên đất ngập nước trên thế giới và ở Việt Nam 78

4.5.2 Các sản phẩm từ đất ngập nước có thể thay thế, không thể thay thế đối với cộng đồng và giải pháp 79

Chương 5 KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 5.1 Kết luận 85

5.2 Kiến nghị 87

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Gồm những taxon được quy định là hạn chế khai thác,

sử dụng vì mục đích thương mại Những taxon có giá trị về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng

Danh sách các loài động vật có nguy cơ bị diệt vong của Hiệp hội Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới năm 2007

NĐ 32/2006/NĐ-CP : Nghị định của Chính phủ ngày 30/3/2006 quy định về

quản lý động vật, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Sơ đồ phương pháp nghiên cứu 29

Hình 4.1 Vị trí các vùng đất ngập nước cộng đồng tiếp cận được vẽ bởi cộng đồng buôn Đrăng Phok 36

Hình 4.2 Tổng số bàu trảng và diện tích đất ngập nước ở 3 buôn nghiên cứu 40

Hình 4.3 Bản đồ phân bố đất ngập nước ở ba buôn khảo sát 41

Hình 4.4 Bản đồ phân bố đất ngập nước buôn Drăng Phok 42

Hình 4.5 Bản đồ đất ngập nước buôn Trí B 43

Hình 4.6 Bản đồ phân bố đất ngập nước buôn N’Drếch B 44

Hình 4.7 Cơ sở dữ liệu đất ngập nước trong GIS 45

Hình 4.8 Số loài thực vật từ đất ngập nước theo công dụng trong đời sống cộng đồng 59

Hình 4.9 Bình quân thu nhập của các nhóm kinh tế hộ/năm 65

Hình 4.10 Bình quân thu nhập từ đất ngập nước của các nhóm kinh tế 66

Hình 4.11 Tỷ lệ cơ cấu thu nhập của các nhóm kinh tế hộ ở các buôn 69

Trang 8

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH

1 Phan Thị Bảo Chi (2006), Hệ côn trùng thủy sinh ở suối Cát, huyện Bảo

Lâm, tỉnh Lâm Đồng (Insecta) Họ Limnocentropodidae, bộ Trichoptera,

Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia

Tp HCM

2 Phan Thị Bảo Chi (2010), Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước trong

hệ sinh thái rừng khộp và sinh kế của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Vườn

quốc gia Yok Đôn, tỉnh Đăk Lăk, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông

thôn số 4/2010

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thống kê giá trị sử dụng tài nguyên thực vật tại VQGYD 15 Bảng 3.2 Tổng hợp tình hình kinh tế xã hội của ba buôn thôn nghiên cứu 18 Bảng 3.3 Thành phần kinh tế hộ theo chuẩn nghèo nhà nước tại các buôn

nghiên cứu 21 Bảng 3.4 Dân số, thành phần dân tộc các buôn nghiên cứu 21 Bảng 3.5 Khung logic nghiên cứu (Phạm vi đất ngập nước: Bàu và trảng) 25 Bảng 3.6 Các buôn vùng đệm và vùng lõi VQGYD được chọn làm điểm

nghiên cứu 31 Bảng 4.1 Các bàu trảng ngập nước cộng đồng ba buôn Drăng Phok, Trí B và

N’Drếch B tiếp cận khai thác sử dụng sản phẩm 37 Bảng 4.2 Danh mục thực vật đất ngập nước 46 Bảng 4.3 Danh mục động vật đất ngập nước 51 Bảng 4.4 Danh sách các loài thú tại các bàu trảng được đánh giá theo SĐVN,

NĐ 32 và IUCN 55

Bảng 4.5 Danh sách các loài thuộc các nhóm tài nguyên quan trọng và sử dụng nhiều

bởi cộng đồng 56 Bảng 4.6 Số loài thực vật từ đất ngập nước theo công dụng trong đời sống

cộng đồng 58 Bảng 4.7 So sánh số lượng loài động thực vật có trong bàu trảng và sử dụng

bởi cộng đồng 60 Bảng 4.8 Nhu cầu sử dụng các sản phẩm đất ngập nước quan trọng đối với

đời sống cộng đồng trong 1 năm 61 Bảng 4.9 Tổng hợp khối lượng các loại sản phẩm từ đất ngập nước

các buôn sử dụng trong 1 năm 64 Bảng 4.10 Bình quân thu nhập chung và thu nhập từ đất ngập nước của hộ 65 Bảng 4.11 Cơ cấu thu nhập của các nhóm kinh tế hộ trong một năm 68

Trang 10

Bảng 4.12 Bình quân thu nhập/năm theo 2 nhân tố nhóm kinh tế và mức độ tác

động vào các vùng đất ngập nước 71

Bảng 4.13 Kết quả phân tích phương sai 2 nhân tố (Mức độ tác động và Nhóm kinh tế hộ) 1 lần lặp về các loại thu nhập 72

Bảng 4.14 Mã hóa các biến số và thu nhập từ đất nhập nước của hộ 75

Bảng 4.15 Các sản phẩm từ đất ngập nước có thể thay thế được 80

Bảng 4.16 Các sản phẩm từ đất ngập nước chưa thể thay thế ở ba buôn 80

Trang 11

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

Trang 12

1.1 MỞ ĐẦU

Mâu thuẫn của việc bảo tồn nghiêm ngặt với chia sẻ bình đẳng các nguồn tài nguyên thiên nhiên theo nhu cầu sử dụng của con người luôn là vấn đề được quan tâm Mâu thuẫn này càng trầm trọng trong bối cảnh dân số gia tăng và nguồn tài nguyên thiên nhiên càng cạn kiệt, suy thoái Các nguồn tài nguyên bị thoái hóa, cạn kiệt là do

sự sử dụng bất hợp lý của con người Hệ sinh thái đất ngập nước (DNN) ở vườn Quốc gia Yok Đôn (VQGYD) không là ngoại lệ, việc quy hoạch phát triển đời sống của cộng đồng dân tộc địa phương ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển bền vững các vùng DNN

tự nhiên này

Các kiểu hệ sinh thái DNN chính có trong VQGYD bao gồm sông, suối, bàu và trảng trong đó có 181 bàu với tổng diện tích xấp xỉ 100 ha [1] Các bàu nước này chỉ chiếm một phần rất nhỏ nhưng lại có vai trò quan trọng như là nơi cư trú, phân bố của các loài động, thực vật Ngoài ra, bàu nước cũng là nơi cung cấp thức ăn và nước uống duy trì chức năng hoạt động cho cả hệ sinh thái lớn trong cả mùa mưa và mùa khô, đặc biệt trong mùa khô kéo dài của rừng khộp

Cộng đồng dân tộc địa phương tác động trực tiếp lên các bàu nước thông qua các hoạt động đánh bắt cá, săn thú, chăn thả gia súc, thu hái rau xanh hay cây thuốc và trồng trọt Phần lớn người dân ở đây là các dân tộc ít người, chủ yếu là các dân tộc Mơ Nông, Ê Đê, Gia Rai và Lào, tập trung sinh sống ở vùng lõi và vùng đệm của VQGYD [5] Nhìn chung, mỗi cộng đồng và mỗi dân tộc đều có những vốn kiến thức kinh nghiệm khá phong phú và khác nhau trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên

Nhiều công trình nghiên cứu về các cộng đồng dân tộc ít người ở khu vực Tây Nguyên Việt Nam được thực hiện, nhưng hầu hết tập trung vào nghiên cứu vấn đề quản lý rừng dựa vào cộng đồng Riêng ở khu vực VQGYD, các nghiên cứu về kiểm

Trang 13

kê, khảo sát hệ sinh thái DNN lại được chú trọng, mà ít chú ý quan tâm đến việc sử dụng và sự tác động vào hệ sinh thái DNN của các cộng đồng dân tộc bản địa Cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào về quản lý bền vững các vùng DNN tại VQGYD trong khi đời sống cộng đồng dân tộc vùng đệm và vùng lõi vẫn còn khó khăn và áp lực này có chiều hướng gia tăng Câu hỏi được đặt ra là với sự tác động liên tục của người dân, cùng với sự mất dần hệ động, thực vật thì hệ sinh thái DNN ở VQGYD sẽ tồn tại được trong thời gian bao lâu và ảnh hưởng của nó đến sự bền vững của hệ sinh thái rừng khộp trong vườn quốc gia cũng như tác động của nó đến sinh kế cộng đồng như thế nào

Để trả lời câu hỏi trên, đề tài “Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước

trong hệ sinh thái rừng khộp và đời sống của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở vườn quốc gia Yok Đôn, tỉnh Đăk Lăk” được thực hiện nhằm phát hiện các hình thức và quy mô sử dụng các vùng DNN tự nhiên của cộng đồng, mối quan hệ của nó với tài nguyên DNN làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp giảm thiểu tác động cũng như hỗ trợ cho bảo tồn bền vững dựa vào cộng đồng

Trang 14

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Xác định được mối quan hệ giữa nhu cầu sinh kế của cộng đồng với nguồn tài nguyên sinh vật các vùng DNN

- Đề xuất được các biện pháp hài hòa giữa quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học với

sử dụng bền vững của cộng đồng dân tộc thiểu số ở các vùng DNN trong hệ sinh thái rừng khộp thuộc khu vực VQGYD.

1.3 Ý NGHĨA

Kết quả của đề tài sẽ cung cấp các thông tin cần thiết cho việc thiết kế các chương trình đầu tư lớn hơn nhằm tăng cường việc bảo tồn tài nguyên DNN và cải thiện sinh kế của người dân địa phương hiện đang sử dụng các vùng DNN của

VQGYD

Trang 15

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trang 16

2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẤT NGẬP NƯỚC

Đất ngập nước bao gồm các hệ sinh thái tiếp giáp giữa các sinh cảnh trên cạn và các vực nước sâu Hệ sinh thái đất ngập nước chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên thiết yếu cho hoạt động của con người và góp phần duy trì nhiều chức năng quan trọng của môi trường [16] Có nhiều định nghĩa về đất ngập nước nhưng định nghĩa của Công ước Ramsar được công nhận rộng rãi hơn cả Theo công ước này, đất ngập nước là các vùng đầm lầy, đất than bùn hoặc vực nước, tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, nước tĩnh hay nước chảy, nước ngọt, lợ hay mặn, kể cả vùng biển có độ sâu không vượt quá 6 mét lúc thủy triều thấp

Như vậy, đất ngập nước rất đa dạng nhưng nhìn chung chúng cùng có những đặc điểm chung sau:

- Ngập nước thường xuyên hoặc một thời kỳ nhất định trên bề mặt hoặc ẩm trong đới rễ

- Có đặc điểm thổ nhưỡng đặc trưng (thổ nhưỡng trầm thủy)

- Có mặt các loài thực vật thủy sinh hoặc thực vật ái thủy

Với khoảng 7-9 triệu km2, các vùng DNN chiếm 4% - 6% diện tích bề mặt trái đất nhưng DNN lại đóng một vai trò quan trọng về kinh tế và môi trường DNN có những lợi ích sau đây:

- Điều hòa và kiểm soát lũ lụt

- Cung cấp nước cho nguồn nước ngầm

- Ổn định vùng bờ và có tác động bảo vệ, che chắn

- Duy trì trầm tích của dòng nước, cung cấp chất dinh dưỡng cho các vùng khác

- Điều hòa sự biến đổi khí hậu

- Làm trong sạch nguồn nước

- Số lượng loài hiện diện tuy không nhiều nhưng mức độ đặc sắc cao

- Nguồn cung cấp nước sinh hoạt dùng trong nông nghiệp của con người

Trang 17

- Nguồn cung cấp các nguyên vật liệu cho con người

- Là nơi du lịch, giải trí

- Ngoài ra, các vùng DNN còn có các đặc tính đặc biệt về di sản văn hoá của loài người; các vùng DNN có liên quan đến tín ngưỡng và vũ trụ, hình thành nên nguồn khát vọng thẩm mỹ, tạo ra các vùng sinh cảnh của đời sống hoang dã, cũng như tạo cơ sở cho các truyền thống quan trọng địa phương

Theo bảng phân loại DNN của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN – 1990), DNN Việt Nam có thể chia làm ba hệ lớn đó là DNN ven biển, DNN nội địa, và DNN nhân tạo Ba hệ lớn này bao gồm 12 phụ hệ: Biển, cửa sông, đầm phá, hồ nước mặn ven biển, sông, hồ, đầm lầy, vùng nuôi trồng thủy sản, đất nông nghiệp, nơi khai thác muối, đất đô thị, đất công nghiệp

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐẤT NGẬP NƯỚC VÀ MỐI QUAN HỆ

CỦA TÀI NGUYÊN ĐẤT NGẬP NƯỚC VỚI CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC ĐỊA PHƯƠNG TRÊN THẾ GIỚI

2.2.1 Tình hình quản lý bảo tồn đất ngập nước trên thế giới

Các vùng DNN hiện nay bị giảm sút diện tích và thoái hóa rất nhanh, xảy ra ở nhiều nước trên thế giới nhưng tập trung nhiều nhất ở những nước đang phát triển Nguyên nhân chủ yếu là do sức ép khai thác tài nguyên, mở rộng đất sản xuất, định cư và

ô nhiễm nguồn nước [16] Chính vì vậy, nhiều tổ chức, nhiều quốc gia trên thế giới chú trọng đến việc nghiên cứu, quản lý, phục hồi và bảo tồn các vùng DNN trên thế giới Công ước Ramsar, công ước quốc tế về bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý các vùng DNN, đã thúc đẩy sự phát triển các phương pháp kiểm kê DNN; đáng chú ý là chương trình kiểm kê DNN trên thế giới và chương trình kiểm kê DNN Châu Á [3] với mục đích xác định hiện trạng các vùng DNN trong thế kỷ XXI và xây dựng cơ sở dữ liệu kiểm kê DNN một cách toàn diện Ngoài ra, còn có nhiều chương trình bảo tồn DNN của các tổ

Trang 18

chức như International Union for the Conservation of Natural and Natural Resources (IUCN), Wetlands International,…

Khu vực hạ lưu sông Mê Kông bao gồm Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam cũng đã phối hợp với nhau cùng quản lý hệ sinh thái DNN và bảo tồn đa dạng sinh học của sông Mê Kông

2.2.2 Một số nghiên cứu trên thế giới về bảo tồn và phát triển bền vững đất ngập

nước có sự tham gia của cộng đồng dân tộc địa phương

Công ước Ramsar đã chỉ rõ tầm quan trọng của cộng đồng dân tộc địa phương đối với việc quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững các vùng DNN; trong đó, sự giao tiếp (Communication), trình độ học vấn (Education) và khả năng nhận thức cộng đồng (Public Awareness) là ba vấn đề quan trọng nhất, được gọi tắt là CEPA - công cụ hướng dẫn cụ thể cách tiếp cận với cộng đồng [31] Như vậy với CEPA, ngoài việc nâng cao giáo dục, nhận thức cho cộng đồng địa phương về vai trò của DNN trong bảo tồn các hệ sinh thái, bảo vệ môi trường thì vấn đề giao tiếp, tiếp cận với cộng đồng để cùng phân tích, phát hiện vấn đề và tìm ra giải pháp đồng thuận là rất quan trọng, hơn là sử dụng các biện pháp cưỡng chế, hành chính

Một nghiên cứu điển hình của Silima (2007) sử dụng công cụ CEPA để đánh giá

sự tham gia của cộng đồng dân tộc địa phương trong việc bảo tồn và sử dụng bền vững

hồ Fundudzi ở Nam Phi Nghiên cứu cho thấy hoạt động giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về ý nghĩa của việc bảo tồn mang tính quyết định đến sự tham gia lâu dài và

có hiệu quả của cộng đồng địa phương Cộng đồng địa phương phải tham gia vào tất cả các giai đoạn của chương trình bao gồm việc lên kế hoạch, thực hiện và giám sát Các mâu thuẫn xảy ra trong quá trình thực hiện sẽ được giảm thiểu khi có sự thống nhất về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia [34]

Trang 19

Nghiên cứu khác của Peterson (2008) thảo luận về sự bảo tồn kiến thức bản địa và

sự đổi mới các bộ luật quốc tế cho phù hợp với người dân địa phương trong việc bảo tồn, quản lý và sử dụng bền vững các vùng DNN nội địa Đối với người dân, nguồn tài nguyên nước nội địa mang ý nghĩa thiêng liêng, chất lượng nước ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và sự thịnh vượng của cộng đồng Khi chất lượng nước suy giảm thì cộng đồng địa phương là thành phần chủ yếu tham gia vào các hoạt động bảo vệ Vì vậy, các bộ luật quốc tế phải được xây dựng dựa trên kiến thức bản địa về sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên DNN nói riêng [30]

2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐẤT NGẬP NƯỚC VÀ MỐI QUAN HỆ

GIỮA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM VỚI TÀI NGUYÊN ĐẤT NGẬP NƯỚC

2.3.1 Tình hình nghiên cứu đất ngập nước ở Việt Nam

Việt Nam là một trong những nước phong phú về tài nguyên DNN với gần 10 triệu hecta [2] Trong đó, DNN nước ngọt chiếm khoảng 10% diện tích của các vùng DNN toàn quốc Cũng như nhiều nước trên thế giới, DNN Việt Nam đang trong xu hướng giảm sút về diện tích và chất lượng bởi sức ép dân số, áp lực khai thác, thiếu sự kết hợp giữa chiến lược phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên, sinh thái môi trường ngập nước Nhận thức được tầm quan trọng của DNN, Chính phủ Việt Nam đã tham gia vào Công ước Ramsar từ năm 1989 Nhiều biện pháp quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên DNN được thực hiện Các chương trình, chính sách và dự án tiêu

tồn và Phát triển bền vững các vùng DNN”; Chương trình Bảo tồn đa dạng sinh học và

Sử dụng bền vững DNN sông Mê Kông (MWBP); Quyết định 25/2000/QĐ-TTG về

“Bảo vệ và Phát triển những vùng DNN ven biển miền Nam Việt Nam”;…

Nhiều chương trình quốc gia về bảo tồn DNN được tiến hành tại các vùng DNN quan trọng như VQG Xuân Thủy, VQG Cát Tiên, VQG Tràm Chim, VQG U Minh

Trang 20

Thượng và các Sân Chim ở Đồng bằng Sông Cửu Long Nhiều vùng DNN của Việt Nam được công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới như Cần Giờ, Quần đảo Cát Bà [16]

• Nghiên cứu trong nước về bảo tồn và phát triển bền vững DNN có sự tham gia

của cộng đồng dân tộc địa phương:

Dự án bảo tồn DNN Phú Mỹ thuộc tỉnh Kiên Giang là dự án đầu tiên ở Việt Nam kết hợp bảo tồn thiên nhiên, xóa đói giảm nghèo và duy trì văn hóa Dự án thực hiện thông qua một mô hình kinh doanh sáng tạo, liên kết cộng đồng dân tộc địa phương

nhằm bảo vệ môi trường sống của loài Sếu đầu đỏ Grus antigone và giúp người dân sử

dụng cỏ bàng để có thu nhập cao hơn Dự án đã giúp nâng cao chất lượng hệ sinh thái cho cộng đồng dân cư, cho các loài sếu và những loài khác của vùng DNN (Nguồn: Thông cáo báo chí ICF)

• Một số nghiên cứu về DNN tại VQGYD, tỉnh Đăk Lăk:

Tuy chiếm một diện tích nhỏ nhưng DNN là một kiểu hệ sinh thái rất đặc sắc và

có tầm quan trọng to lớn trong VQGYD, nơi hệ sinh thái rừng khộp rất đặc thù, khô hạn trong mùa mưa, thiếu nước trong mùa khô Vì vậy, DNN trong hệ sinh thái rừng khộp đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn các loài động thực vật

Nghiên cứu của Nguyễn Thọ (2004) là nghiên cứu đầu tiên về kiểm kê các loại DNN tại VQGYD Trên cơ sở bản đồ nền, kết quả giải đoán ảnh kết hợp với thông tin thu thập ngoài thực địa, bản đồ DNN VQGYD với tỉ lệ 1/50.000 được thành lập Tác giả chia DNN thành 4 kiểu và 9 đơn vị trong đó có 65,9 km sông; 1145,7 km suối; 16,81 ha bàu và 180 ha trảng Ngoài ra, một số đặc trưng của môi trường tự nhiên như đất, nước được xác định và sự khác nhau về hệ thực vật ở các kiểu DNN được thảo luận Trong nghiên cứu này, tác giả cũng đã nêu ra một số nguyên nhân dẫn đến sự tác động của người dân lên các vùng DNN và đề xuất một số biện pháp nhằm ngăn chặn tình trạng

Trang 21

này; tuy nhiên, những nguyên nhân và biện pháp giải quyết chưa được tập trung khảo sát

mà chỉ là ý kiến chủ quan của tác giả [14]

Nghiên cứu của Nguyễn Hoài Bão (2006) đã chia DNN ở VQGYD thành 2 lớp (DNN tự nhiên và DNN nhân tạo); 6 lớp phụ (bàu, trảng, sông, suối, hồ, ruộng rẫy) và 12 kiểu (bàu ngập thường xuyên và theo mùa, trảng cỏ, trảng cây gỗ, lòng sông, doi cát và ghềnh đá, ven sông, suối ngập thường xuyên và theo mùa, ven suối, hồ, ruộng rẫy) Khảo sát chi tiết hơn về các bàu, tác giả đã ghi nhận 181 bàu, với tổng diện tích xấp xỉ 100 ha; trong đó có 116 bàu được đo đạc ngoài thực địa Nghiên cứu này cũng lần đầu tiên ghi

nhận bằng chứng để khẳng định có sự làm tổ và sinh sản của Sếu đầu đỏ Grus antigone

sharpii ở Việt Nam Sinh cảnh làm tổ của Sếu đầu đỏ là các bàu ngập nước tự nhiên ở

giữa hệ sinh thái rừng khô cây họ Dầu [1]

2.3.2 Nghiên cứu về cộng đồng dân tộc thiểu số và mối quan hệ giữa sinh kế với

quản lý bảo tồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Tây Nguyên, đặc biệt là VQGYD

Khái niệm về Cộng đồng: Là cộng đồng dân cư thôn, làng, buôn Khái niệm này

còn có thể hiểu mở rộng là các nhóm hộ/dòng họ cùng chung sống trong một thôn làng,

có các quan hệ huyết thống hoặc có truyền thống quản lý chung một phần tài nguyên đất, rừng Khái niệm cộng đồng này tuân theo định nghĩa “cộng đồng dân cư” trong điều 9 của Luật Đất đai (2003) [9]

Hàng loạt các nghiên cứu về cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực Tây Nguyên đã được công bố Kết quả của những nghiên cứu này được coi như bài học kinh nghiệm và tạo tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo trên cơ sở phát triển cộng đồng gắn liền với mục tiêu bảo tồn nói riêng và phát triển cộng đồng vì mục đích nâng cao cuộc sống cộng đồng nói chung

Trang 22

• Nghiên cứu của dự án PARC Yok Đôn (2004) bước đầu tìm ra được phương pháp tiếp cận với cộng đồng đa sắc tộc tại địa phương, đó là phương pháp phát triển cộng đồng tổng hợp trên cơ sở đánh giá nhu cầu có sự tham gia Phương pháp này lần đầu tiên được triển khai nhằm đưa các hoạt động phát triển cộng đồng phù hợp với mục tiêu bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên VQGYD [17]

• Những nghiên cứu về thực vật thân gỗ và lâm sản ngoài gỗ của Bảo Huy và cộng

sự đã cho thấy kiến thức sinh thái địa phương thực sự tồn tại và rất phong phú, các cộng đồng có những kinh nghiệm truyền thống và kiến thức có ý nghĩa trong quản lý sử dụng tài nguyên rừng và đất rừng Đặc biệt là quản lý và sử dụng lâm sản ngoài gỗ Dựa vào kiến thức bản địa, nhóm nghiên cứu sưu tầm được 207 bài thuốc với 172 loài cây thuốc theo 18 nhóm công dụng khác nhau, không những có giá trị về bảo tồn tài nguyên mà còn đóng góp vào phát triển thực vật cây thuốc phục vụ dân sinh kinh tế [6], [7], [10]

• Qua đánh giá kinh tế hộ và hiện trạng lâm nghiệp ở khu vực Tây Nguyên của Bảo Huy và cộng sự (2005) cho thấy rừng đóng vai trò quan trọng trong sinh kế người nghèo vùng cao Qua đó, ba mục tiêu cải thiện sinh kế và tám giải pháp giảm nghèo được đưa ra Đối với Tây Nguyên, để tạo ra sinh kế bền vững cho cộng đồng thông qua quản lý tài nguyên cần quan tâm các yếu tố: i) Làm thế nào cộng đồng có thể tiếp cận và hưởng lợi một cách bình đẳng đối với tài nguyên rừng và đất, ii) Nâng cao năng lực quản lý, tổ chức và ra quyết định của cộng đồng trong sản xuất, kinh doanh từ trồng, chăm sóc rừng cho đến thu hái và chế biến, iii) Yếu

tố tài chính bao gồm tiếp cận vốn, tín dụng, tổ chức quản lý nguồn vốn trong hộ cũng như cộng đồng là quan trọng để nâng cao hiệu quả đầu tư cho lâm nghiệp [8], [15]

Trang 23

Các nghiên cứu trên chú trọng việc thu hút sự tham gia của cộng đồng trong quản

lý, bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng, tài nguyên sinh vật và tài nguyên DNN của VQGYD Các vấn đề kể trên cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các thành phần tham gia như Ban Quản lý VQGYD, các nhà nghiên cứu khoa học và cộng đồng dân tộc địa phương; trong đó, cộng đồng dân tộc địa phương đóng vai trò chủ đạo trong việc chủ động quản lý và bảo tồn VQGYD

Tổng quan vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy:

- Tài nguyên DNN nói chung có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường sinh thái và cung cấp sinh kế cho nhiều cộng đồng dân cư Do vậy bảo tồn bền vững tài nguyên này là mối quan tâm chung của thế giới trong đó có Việt Nam Điều này thể hiện qua các công ước quốc tế

- Phương pháp tiếp cận trong bảo tồn tài nguyên DNN cần có những cải tiến thay đổi cho phù hợp với các nhân tố xã hội Trong đó sự tham gia của cộng đồng trong việc quản lý và chia sẻ bền vững các nguồn tài nguyên DNN ở các khu bảo tồn, vườn quốc gia cần được quan tâm

Tuy nhiên nghiên cứu về mối quan hệ giữa tài nguyên DNN với sinh kế cộng đồng, đặc biệt là ở VQGYD chưa được đề cập và làm rõ Một số vấn đề sau đây cần được tiếp tục nghiên cứu:

- Sự phong phú về tài nguyên sinh vật ở các vùng đất ngập nước trong hệ sinh thái rừng khộp, vai trò sinh thái của nó trong hệ thống bảo tồn?

- Mức độ phụ thuộc của cộng đồng bản địa với tài nguyên sinh vật DNN? Các hình thức, mức độ sử dụng của cộng đồng?

Trang 24

- Mối quan hệ giữa nhu cầu và khả năng cung cấp của tài nguyên sinh vật DNN? Khả năng phục hồi của DNN? Khả năng suy thoái nếu không được quản lý và kiểm soát?

- Giải pháp hài hòa trong bảo tồn và phát triển sinh kế, sử dụng kiến thức bản địa trong quản lý DNN?

Vì vậy đề tài nghiên cứu này được đặt ra và cố gắng đóng góp một phần trong việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu nói trên

Trang 25

CHƯƠNG 3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU NỘI DUNG NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 26

3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài được triển khai với đối tượng và phạm vi nghiên cứu cụ thể như sau:

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi tiếp cận nghiên cứu được xác định như sau:

- DNN trong hệ sinh thái rừng khộp của VQGYD: Nghiên cứu các khu vực DNN

tự nhiên là bàu, trảng và hiện đang bị tác động bởi người dân địa phương Tài nguyên

đa dạng sinh vật ở DNN được tập trung nghiên cứu về thực vật và động vật

- Nhóm cộng đồng tác động đến sinh cảnh DNN: Đây là các thôn, buôn nơi cư trú

của cộng đồng dân tộc bản địa đại diện ở khu vực vùng đệm và vùng lõi của VQGYD

Có 3 cộng đồng thôn buôn vùng đệm và vùng lõi VQG tham gia vào nghiên cứu bao gồm: buôn vùng lõi Buôn Drăng Phok thuộc xã Krông Na và hai buôn vùng đệm: Buôn Trí B thuộc xã Krông Na và Buôn N’Drếch B thuộc xã Ea Huar, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk Cả ba buôn được lựa chọn nghiên cứu theo tiêu chí ở ba cấp độ: Tiếp cận tác động cao, tác động trung bình và tác động thấp đến tài nguyên của vườn

3.1.2 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Khu vực nghiên cứu là các vùng đất ngập nước trong diện tích của VQGYD và các buôn đại diện ở vùng đệm và vùng lõi VQG

3.1.2.1 Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên của VQGYD

VQGYD có tổng diện tích là 115.545 ha nằm trong ranh giới hành chính tỉnh Đăk Lăk, hệ sinh thái đặc trưng chủ yếu là rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới (rừng khộp) với hệ thực vật gồm 566 loài thuộc 109 họ và 290 chi [13] Hệ động vật bao gồm: 74 loài thú, 245 loài chim, 48 loài bò sát, 16 loài ếch nhái, 78 loài cá và 65 loài bướm với nhiều loài thú quan trọng được liệt kê trong danh sách các loài bị đe dọa trên toàn cầu

Trang 27

VQGYD là nơi bảo tồn hệ sinh thái rừng khộp, rừng khô cây họ Dầu, cùng với

các hệ sinh thái rừng bán thường xanh và các kiểu sinh cảnh sông suối, ngập nước

• Địa hình, địa mạo: VQGYD nằm trên địa hình tương đối bằng phẳng, nghiêng

từ đông sang tây, độ cao trung bình 150m - 200m so với mặt nước biển, chia thành các dạng địa hình như:

− Địa hình đồi và núi thấp: phân bố rải rác trên diện tích VQGYD

− Địa hình dốc tụ: phân bố dọc bờ sông Srêpok và các suối lớn trong vùng

• Thổ nhưỡng: gồm bốn loại đất chính với tỷ lệ % về diện tích như sau:

− Nhóm đất Feralit đỏ vàng trên đá phiến: 2,5%

− Nhóm đất vàng nhạt trên đá cát kết: 64,7% (lớn nhất)

− Nhóm đất xám: 26,4%

− Đất dốc tụ thuộc nhóm đất nâu vàng trên đá Bazan: 6,4%

• Khí hậu, thủy văn: Khu vực VQG mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4-10, gió hướng Tây Nam Mùa khô từ tháng 11-3, gió hướng Đông Bắc Lượng mưa bình quân năm từ 1.500-1.600 mm Nhiệt độ trung bình 25.5 oC Hệ thống sông suối của VQGYD nằm trong lưu vực sông

Mê Kông, với nhánh Srêpok (Đăk Krông) chảy qua VQG dài 60 km Sông có nhiều thác nghềnh và liên kết với hệ thống suối dày đặc

• Thảm thực vật và các đặc trưng về đa dạng sinh học

VQGYD là một trong những VQG đa dạng về các kiểu hệ sinh thái bao gồm sáu kiểu hệ sinh thái chính [12], trong đó ba kiểu hệ sinh thái chính phổ biến nhất có thể kể:

− Hệ sinh thái rừng kín rụng lá – rừng khộp

− Hệ sinh thái rừng kín nửa rụng lá

− Hệ sinh thái rừng kín thường xanh

Trang 28

Sự đa dạng về các kiểu sinh cảnh này đã tạo ra sự đa dạng và phong phú về hệ động vật và thực vật ở đây

VQGYD là một trong bảy trung tâm đa dạng thực vật có tầm quan trọng quốc tế trong bảo tồn hệ sinh thái rừng khộp độc đáo Vì vậy, thành phần thực vật của VQG chủ yếu là những loài đại diện cho hệ sinh thái này Theo thống kê, thực vật của VQG

có khoảng 566 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 290 chi và 108 họ [13]

Tài nguyên thực vật của VQG không chỉ đa dạng về thành phần mà còn đa dạng

về giá trị sử dụng Việc tìm hiểu và làm sáng tỏ công dụng của các loài thực vật không chỉ định hướng cho việc khai thác và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thực vật

mà còn có ý nghĩa cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học của VQG

Bảng 3.1 Thống kê giá trị sử dụng tài nguyên thực vật tại VQGYD

Nguồn: Số liệu thu thập tại VQGYD năm 2008

Các nghiên cứu về hệ động vật của VQGYD cho thấy hệ động vật ở đây rất đa dạng và phong phú, bao gồm 77 loài thú, 250 loài chim, 48 loài bò sát, 16 loài lưỡng

cư, 78 loài cá, 65 loài bướm cùng với hàng trăm loài côn trùng khác [18], [19], [20], [21], [22], [23], [24], [25], [26], [27], [28], [29] Nhiều loài động vật được đánh giá là

quý hiếm như Voi Châu Á Elephas maximus, Vượn đen má hung Hylobates gabriellae,

Bò tót Bos gaurus, Tê tê Manicus javanica, Báo lửa Catopuma temminckii, Báo hoa mai Panthera pardus, Rái cá lông mượt Lutrogale perspicillata, Cầy mực Arctictis

Trang 29

binturong, Nai cà tông Cervus eldii, Công Pavo muticus, Gà lôi hông tía Lophura diardi, Quắm lớn Pseudibis gigantea, Sếu đầu đỏ Grus antigone

3.1.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội, văn hóa của cộng đồng dân tộc ở VQGYD và khu vực nghiên cứu

Đặc điểm chung về kinh tế xã hội, văn hóa của các cộng đồng dân tộc ở VQGYD

Dân cư tập trung sinh sống ở vùng đệm; tuy nhiên, theo quy hoạch mở rộng từ năm 2002, có một buôn dân cư hiện đang sinh sống ở vùng lõi Đây là khu vực cư trú lâu đời của các cộng đồng dân tộc bản địa ở Tây Nguyên, cộng đồng người Kinh và một số dân tộc thiểu số khác như Tày, Nùng, Mường, H’mông chỉ đến đây trong vài thập kỷ qua Hoạt động chính của các buôn ở đây là canh tác cây ngắn ngày; trong đó người dân bản địa có truyền thống canh tác lúa nước, nương rẫy xen với canh tác các loại hoa màu và thu hái các loại sản phẩm rừng Việc mở rộng canh tác theo hướng thâm canh, chú trọng cây công nghiệp vẫn theo hướng tự phát, chưa theo quy hoạch, bị tác động bởi giá cả thị trường Kinh tế vẫn còn chậm phát triển, vẫn còn mang tính tự cung tự cấp ở các thôn buôn vùng sâu vùng xa Cho đến nay đã có nhiều chương trình quốc gia đầu tư cho việc phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, hỗ trợ xóa đói giảm nghèo,

hỗ trợ vật tư sản xuất nông nghiệp nhưng điều kiện lưu thông hàng hóa, giao lưu văn hóa, giáo dục, y tế vẫn còn nhiều hạn chế

Vùng đệm VQGYD được xác định gồm 7 xã thuộc 3 huyện: xã Cư M’Lan, xã

Ea Bung thuộc huyện Ea Súp; xã Krông Na, xã Ea Wer, xã Ea Huar thuộc huyện Buôn Đôn, xã Ea Pô và xã Đăk Win thuộc huyện Cư Jút Tổng dân số vùng đệm vào khoảng 32.232 người trong tổng số 6.977 hộ dân, mật độ dân số bình quân khoảng 36 người/km2 Cộng đồng dân tộc bản địa chủ yếu là người M’nông, Ê đê, Lào Tình hình kinh tế xã hội ở các xã rất khác nhau, tuy nhiên rừng vẫn ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người dân trong vùng

Trang 30

Cộng đồng dân tộc bản địa truyền thống tại các buôn vẫn còn giữ được những nét văn hóa đặc trưng của vùng Tây Nguyên về sinh hoạt cộng đồng, cấu trúc nhà cửa, trang phục, cồng chiêng… Sinh hoạt và sản xuất phụ thuộc phần lớn vào rừng và thiên nhiên với các tập quán săn bắt, thu hái sản phẩm rừng phục vụ cho đời sống, chăn thả rông,… [11]

Bên cạnh đó, tình trạng di dân tự do đã làm thay đổi căn bản cấu trúc dân tộc ở nông thôn, hình thức sống cộng cư, xen cài giữa nhiều dân tộc trong một cộng đồng đã trở nên phổ biến; do đó, giữa các dân tộc luôn có sự giao thoa văn hóa, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau [4]

Đời sống của cộng đồng dân tộc bản địa chủ yếu dựa vào canh tác cây ngắn ngày như trồng cây lương thực trên các nương rẫy, canh tác lúa nước ở các khu vực ven sông và một số vùng DNN trong VQGYD Một số hộ dân tộc địa phương còn chăn nuôi trâu bò và dê thả tự do trong rừng Đa số các hộ dân tộc bản địa thường trồng cây công nghiệp như điều, cà phê; cây ăn quả ở đất vườn hộ với quy mô nhỏ, không thâm canh, năng suất thấp [11]

Thu nhập của hộ gia đình tại các buôn vùng đệm và vùng lõi VQGYD còn thấp chủ yếu từ các nguồn như nông nghiệp, lâm nghiệp, DNN, chăn nuôi và các nguồn khác như làm thuê, dịch vụ, dệt thổ cẩm, Các nguồn thu này đa số một phần sử dụng trong gia đình, một phần bán ra thị trường

Theo chuẩn nghèo nhà nước năm 2007 về thu nhập của hộ thoát nghèo là trên 200.000 đồng/khẩu/tháng, tỷ lệ hộ nghèo tại các xã vùng đệm vẫn còn cao, chiếm trên 40%

Hệ thống giao thông tại các buôn phát triển khá tốt, các đường tỉnh lộ, liên xã đã dần được nâng cấp, nhựa hóa Hầu hết các buôn thôn vùng đệm đều có điện lưới phục

vụ sinh hoạt và sản xuất Hệ thống nước sạch cũng được hỗ trợ xây dựng ở buôn N’Drếch B; các buôn khác chủ yếu sử dụng nước giếng tự đào hoặc nước sông, nước suối để sinh hoạt

Trang 31

Mỗi xã đều có trạm y tế, ở mỗi buôn mạng lưới y tá cộng đồng chủ yếu là người dân tộc tại chỗ

Tại các buôn thôn đều có trường tiểu học, xã có trường phổ thông trung học cơ

sở và huyện có trường phổ thông trung học Bên cạnh đó, mỗi xã có một bưu điện văn hóa, là nơi người dân trao đổi thông tin, liên lạc, và tham khảo các tài liệu, sách báo nâng cao kiến thức

Thị trường ở các buôn chưa phát triển, các cộng đồng mới chỉ dừng ở mức tự cung tự cấp Đầu vào cho sản xuất sinh hoạt là các vật liệu để trồng trọt, lương thực thực phẩm được bán tại các chợ xã, huyện Đầu ra cho sản phẩm được trao đổi ngang giá hoặc bán cho tư thương tại buôn, từ các chợ xã, huyện đến mua Các sản phẩm được lấy từ rừng, các vùng DNN trong VQGYD một phần dùng để phục vụ đời sống sinh hoạt của gia đình, một phần được bán ra ngoài thị trường tại các điểm thu mua nông lâm sản trong thôn buôn

Đặc điểm về kinh tế xã hội, văn hóa của các cộng đồng dân tộc ở ba thôn buôn nghiên cứu:

Ba thôn buôn cộng đồng dân tộc vùng đệm và vùng lõi VQG tham gia vào nghiên cứu bao gồm: buôn Drăng Phok thuộc xã Krông Na và 2 buôn vùng đệm: Buôn Trí B thuộc xã Krông Na và Buôn N’Drếch B thuộc xã Ea Huar, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk Bảng 3.2 tổng hợp về đặc điểm tình hình kinh tế xã hội và sử dụng tài nguyên của 3 buôn được khảo sát nghiên cứu

Bảng 3.2 Tổng hợp tình hình kinh tế xã hội của ba buôn thôn nghiên cứu

Trang 32

Thông tin Buôn Đrăng Phok Buôn Trí B Buôn N’Drếch B

tác (ha)

2007: 31,8ha

- Cây ngắn ngày Lúa nước 1 vụ: 46 ha;

Rẫy (bắp, lang): 139ha (46 ha không làm), hiện còn 93 ha đang làm)

Lúa 2 vụ: 1,2ha; 1 vụ:

10ha

Hoa mùa: 16 ha Lúa 1 vụ: 2,5 ha Lúa 2 vụ: 0,7 ha

- Cây dài ngày Điều: vườn hộ khoảng 3

20 ha x 127 hộ = 2540ha 24 hộ x 30ha = 720ha

Không có đất chăn thả riêng Một số hộ nuôi trâu bò thả tự do vào trong vùng lõi VQG

Thả tự nhiên trong VQG

- Số lượng các loại Trâu 117 con

Bò 163 con Heo 96 con Gia cầm 316 con

150 trâu

300 bò Gia cầm khoảng 1000 con – các hộ nuôi để ăn

để dùng

Chai cục, măng, nấm,

cá, săn bắt thú nhỏ (thỉnh thoảng mới đi, ở suối Ea Klô, Ea Kên) Thu nhập bình quân

đầu người/tháng

-năm

Dưới 200.000/người/tháng Các dự án liên quan:

(Mô tả, thời gian,

có vôi, hiện vẫn dùng nước sông

- Dự án HIPHER: hỗ trợ

hộ nghèo nuôi bò (2 con/hộ trong 3 năm trả lại 2 bê để chuyển giao cho hộ khác)

- HIPHER: hỗ trợ nuôi

bò, 28 hộ nuôi; 2 con bò/hộ (2007)

Trang 33

Thông tin Buôn Đrăng Phok Buôn Trí B Buôn N’Drếch B

Không có

Thị trường các sản

phẩm nông lâm

nghiệp (Mô tả địa

điểm, loại mua bán,

- Lâm sản: chai cục:5.000d/kg, măng:1.000d/kg (năm 2008: 3.000đ/kg), tê tê:

0,9-1 triệu/kg, ba ba:

200.000đ/kg, kỳ đà:150.000đ/kg, rắn hổ mang và hổ trâu:

80.000-200.000đ/kg, thỏ: 80.000đ/con, mang: 80.000đ/kg, nai:

50.000đ/kg, heo rừng:

100.000đ/kg, chồn:140.000đ/kg, nhím:80.000đ/kg, (300.000đ/bao tử nhím), khỉ:50.000đ/kg, ếch:30.000đ/kg, tắc kè:

140.000đ/kg, tắc kè hoa:180.000đ/kg, cá lăng:120.000d/kg, cá mõm trâu/úc:

80.000đ/kg, cá lóc:30.000đ/kg, nhồng:

400.000đ/con, bìm bịp:

50.000đ/con, vẹt lào:400.000đ/cặp, gà rừng:100.000đ/kg, đa đa: 30.000đ/kg

- Người dân ít biết

- Giá một số loại (2008):

Lúa: 2500đ/kg, 3500đ/kg, điều 10 – 15000đ/kg, gạo từ

Bắp-7000 – 11000đ/kg, cá lóc: 45000đ/kg, rùa khép 75000đ/kg, ếch 6000đ/kg, măng 1000đ/kg, chai cục 5000đ/kg, kì đà 130.000đ/kg, ba ba 80.000đ/kg

- Giá các sản phẩm giống như ở buôn Trí

B

Cơ sở hạ tầng (Mô

tả điện đường

trường trạm, thủy

lợi, nước sinh

- Đường nhựa đến thôn

- 100% hộ sử dụng điện lưới

- Đang làm đập thủy lợi

- Đường nhựa đến thôn,

có ít đoạn đường cấp phối ngắn

Trang 34

Thông tin Buôn Đrăng Phok Buôn Trí B Buôn N’Drếch B

hoạt,…) dẫn nước về ruộng 3

vụ

- Nước sinh hoạt: sông + nước giếng đào (dân tự đào)

- Trường cấp I: từ lớp mẫu giáo đến lớp 5 (6 lớp)

- Thủy lợi chưa có,

- Nước sinh hoạt hầu hết dùng nước sông

- Có nhà cộng đồng

Bảng 3.3 Thành phần kinh tế hộ theo chuẩn nghèo nhà nước tại các buôn nghiên cứu

Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)

Nguồn: Số liệu thu thập tại các buôn nghiên cứu năm 2008

Bảng 3.4 Dân số, thành phần dân tộc các buôn nghiên cứu

Xã, thị trấn Buôn thôn Số hộ Số khẩu Thành phần dân tộc bản địa

Krông Na Drăng Phok 87 345 Ê đê, M'nông, Kinh, Nùng

Trí B 130 614 Ê đê, M'nông, Jrai, Lào, Kinh

Ea Huar N'Drếch B 32 171 Ê đê, M'nông, Kinh

Nguồn: Số liệu thu thập tại các buôn nghiên cứu năm 2008

Hiện nay tại ba buôn nghiên cứu, số hộ trong mỗi buôn dao động từ 32 đến 130

hộ, với số khẩu thay đổi từ 171 đến 614 khẩu, thành phần dân tộc thiểu số tại chỗ chiếm trên 80%, gồm các dân tộc: Mnông, Ê đê, Lào, Nhiều ngôn ngữ khác nhau được sử dụng trong giao tiếp Người Kinh từ các miền đất nước đến định cư và sinh sống, sự giao tiếp khách thập phương đi du lịch tạo sự giao lưu văn hoá, sinh hoạt trong đời sống và lao động sản xuất, người Kinh đã mang đến các kiến thức khoa học kỹ thuật và các tập quán canh tác tiên tiến, áp dụng khoa học kỹ thuật từ vùng đồng bằng đan xen với các phương thức canh tác truyền thống của bà con dân tộc tại chỗ

Trang 35

Phân loại kinh tế hộ dựa theo sự đánh giá của thôn buôn cho thấy, số hộ nghèo

có thu nhập dưới 200.000đ/người/tháng chiếm 30% – 80%, hộ nghèo chủ yếu là người dân tộc thiểu số Các nguồn thu nhập chính của người dân là từ trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt, hái lượm, nhận khoán quản lý bảo vệ rừng của VQGYD, đánh bắt cá, buôn bán, cho thuê đất, ruộng và một ít dịch vụ du lịch,…

Diện tích đất canh tác của các thôn là tương đối thấp so với số khẩu, số liệu trung bình cho thấy chỉ vào khoảng 0,2 ha đất canh tác/khẩu Tình hình trồng trọt một

số loại cây trồng như sau: Lúa 2 vụ chủ yếu sử dụng giống IR64 do trạm khuyến nông huyện cung cấp, nhưng do tại địa phương đất đai nghèo chất dinh dưỡng, thiếu vốn để đầu tư sản xuất, thường thiếu nước tưới vào mùa khô, kỹ thuật canh tác của người dân chưa cao, nên năng suất chỉ đạt từ 3,5 – 4,5 tấn/ha Ngô lai sử dụng giống DK 888, LVN10 năng suất chỉ đạt từ 0,7- 4,2 tấn/ ha Đậu xanh đạt từ 0,5- 0,8 tấn/ ha Cây công nghiệp chủ yếu trồng điều bằng hạt do không đủ vốn để đầu tư trồng điều ghép nên năng suất rất thấp và không ổn định 0,3 - 0,8tấn/ha Ngoài ra còn một số nguyên nhân dẫn đến năng suất không cao là do bị mất mùa bởi điều kiện bất thuận lợi của thiên nhiên, sâu bệnh phá hoại nhiều, thiếu lao động, thiếu vốn đầu tư, chưa lựa chọn được cơ cấu cây trồng phù hợp đã hạn chế hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn Năm

2008, ước tính lương thực bình quân đầu người khoảng 600kg thóc/người/năm

Tình hình chăn nuôi trên địa bàn các thôn buôn khá phát triển, đặc biệt là nuôi gia súc Trung bình ở các buôn mỗi hộ có nuôi từ 1 – 1,5 con trâu và 2 – 3 con bò Các thôn buôn đều không có bãi chăn thả gia súc, chủ yếu là thả trâu bò vào rừng để tận dụng nguồn cỏ tự nhiên dưới tán rừng, trong các khu vực DNN Chăn nuôi gia súc là nguồn thu nhập rất quan trọng, đặc biệt là ở 2 buôn Đrăng Phok và Trí B, hiệu quả là nhờ vào việc bán trâu bò tạo ra được nguồn thu nhập lớn, có được vốn để thực hiện các việc quan trọng như làm nhà cửa, mua xe, máy móc, cưới xin,… Tình hình dịch bệnh gia súc cũng xảy ra khá thường xuyên trong những năm gần đây, thường gặp là các

Trang 36

bệnh lở mồm, long móng, tụ huyết trùng Địa phương cũng đã có chỉ đạo thực hiện một

số đợt tiêm phòng các bệnh này Ngoài ra các thôn đều có chăn nuôi heo và gia cầm, nhưng với số lượng không lớn, mục đích chính vẫn để sử dụng trong lễ hội và làm thức

ăn trong gia đình

Cho đến nay nguồn thu các sản phẩm từ rừng tại ba buôn cũng còn khá phong phú, đặc biệt là buôn Đrăng Phok, do ở sâu trong vùng lõi nên nhiều người dân có thu nhập quan trọng từ việc đánh bắt cá trên sông Srêpok, chủ yếu thực hiện vào mùa khô,

có những hộ thu được hàng trăm ngàn đồng mỗi ngày từ nguồn lợi này Ngoài ra, trong năm người dân ở các buôn đều có thu hoạch các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ trong rừng khộp của vườn quốc gia, phổ biến như chai cục để bán (5.000đ/kg), nấm, măng, rau rừng chủ yếu để ăn; bẫy bắt các loại thú nhỏ trong rừng cũng còn phổ biến và rất khó kiểm soát, đây cũng là nguồn thu quan trọng của người dân buôn Đrăng Phok, các loại thú đó là heo rừng, mang, nai, rùa, ba ba, tê tê, kỳ đà, rắn các loại, chồn, nhím, tắc kè, một số loài chim như nhồng, bìm bịp, vẹt, gà rừng, đa đa,… Các sản phẩm động vật này chủ yếu để bán, tạo ra nguồn thu cho các hoạt động chi tiêu hàng ngày trong đời sống người dân

Tại ba thôn buôn hiện nay có một số dự án được hỗ trợ nhằm mục đích phát triển kinh tế và cải thiện chất lượng cuộc sống người dân Đáng kể như dự án HIPHER,

hỗ trợ mỗi hộ 2 con bò giống để nuôi, sau khi hộ nuôi đã có được bò con thì chuyển giao các bò giống mẹ cho hộ khác Ngoài ra các buôn có dự án hỗ trợ xây dựng giếng nước sạch (của DANIDA), xây dựng hố xí ba ngăn của Uỷ ban Dân tộc Trung ương, nhưng nhìn chung hiệu quả đạt ở mức thấp

Cơ sở hạ tầng của các thôn đã có sự phát triển, như 100% người dân có sử dụng điện lưới, đã có đường cấp phối hoặc đường nhựa đến thôn, thôn có trường mẫu giáo, một số lớp học của bậc tiểu học Tuy nhiên còn thiếu các công trình nước sạch, nhiều

hộ chỉ sống bằng nước sông không bảo đảm vệ sinh, thiếu nhà vệ sinh,…

Trang 37

3.2 GIẢ ĐỊNH NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài cần có một số giả định nghiên cứu quan trọng như sau:

- Cộng đồng dân tộc bản địa có kiến thức bản địa về tài nguyên sinh vật của DNN và phân bố các khu vực DNN tự nhiên đang được sử dụng bởi từng buôn

- Các chính sách hài hòa giữa quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học với sử dụng bền vững của cộng đồng dân tộc thiểu số sẽ được phát triển trong các khu vực bảo tồn

3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Ứng với từng mục tiêu nghiên cứu, đề tài có các nội dung nghiên cứu sau:

i Thu thập thông tin về kinh tế xã hội của các địa phương sinh sống bên trong và ven ranh giới VQGYD có khả năng sử dụng các vùng DNN bên trong VQG

ii Xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ các vùng DNN tự nhiên bên trong VQGYD, nơi các cộng đồng tiếp cận và sử dụng

iii Ước lượng đa dạng tài nguyên sinh vật các vùng DNN mà cộng đồng đang tiếp cận sử dụng

iv Phát hiện các mức độ sử dụng các tài nguyên sinh vật ở các vùng DNN bởi người dân địa phương trong và xung quanh VQGYD

v Phân tích mối quan hệ giữa kinh tế hộ với sử dụng tài nguyên DNN Phát hiện các nhân tố ảnh hưởng đến chiều hướng tác động của cộng đồng đến DNN

vi Xây dựng các biện pháp nhằm giảm thiểu tác động trên cơ sở có sự tham gia của cộng đồng Kiến nghị các hoạt động sinh kế thay thế hoặc đồng quản lý cho người dân địa phương

Trang 38

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp khung logic được thiết kế và sử dụng để làm cơ sở xây dựng nội dung phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, xác định các phương pháp nghiên cứu cho từng nội dung Khung sẽ thể hiện tính hệ thống của nghiên cứu:

• Cần có phương pháp, công cụ và cách tiếp cận phù hợp để thực hiện được các nội dung và triển khai các hoạt động nghiên cứu

Kết quả sẽ đạt được khi các nội dung được thực hiện với các giả định là đúng, những kết quả đạt được sẽ góp phần đạt được mục tiêu nghiên cứu cụ thể

Bảng 3.5 Khung logic nghiên cứu (Phạm vi đất ngập nước: Bàu và trảng)

Mục tiêu nghiên

cứu

Nội dung nghiên cứu (Hoạt động nghiên cứu)

Phương pháp nghiên

cứu

Vật liệu, phương tiện

Kết quả

1 Xác định được

mối quan hệ giữa

nhu cầu sinh kế

tế xã hội

- Xác định các thôn buôn chính có liên quan đến sử dụng DNN – VQG, xã Chọn 3 thôn/buôn (Drăng Phok, Trí B, N’Drếch B)

- Thu thập số liệu thứ cấp về kinh tế xã hội các buôn đã chọn + buôn vùng đệm

Số liệu thông tin kinh tế xã hội của các thôn buôn lựa chọn có liên quan đến sử dụng DNN

1.2 Xây dựng cơ

sở dữ liệu và bản đồ các vùng DNN nơi các cộng đồng sử dụng

- Vẽ bản đồ có sự tham gia của người dân về các khu vực DNN đang được sử dụng bởi từng thôn/buôn trong vùng đệm và loại sản phẩm

Mỗi thôn buôn 1 bản

đồ

Bản đồ UTM, giấy kính trong, bút màu, cồn, bông gòn, la bàn, ,…

Cơ sở dữ liệu và bản đồ các vùng DNN trong VQGYD: Vị trí, diện tích, thay đổi nước theo mùa, sinh cảnh động thực vật chính

Trang 39

Mục tiêu nghiên

cứu

Nội dung nghiên cứu (Hoạt động nghiên cứu)

Phương pháp nghiên

cứu

Vật liệu, phương tiện

Kết quả

Phân tích ảnh viễn thám và GIS

Bản đồ hiện trạng của vườn Các cơ sở dữ liệu, bản đồ, ảnh của nghiên cứu

đã có Khảo sát thực địa, số

hóa khu vực ngập nước với cơ sở dữ liệu sản phẩm sử dụng bởi cộng đồng

GPS khoanh

vẽ diện tích

Bổ sung cơ sở dữ liệu về sản phẩm vào bản đồ

1.3 Ước lượng đa dạng tài nguyên sinh vật các vùng DNN mà cộng đồng đang tiếp cận sử dụng

Điều tra đa dạng sinh vật ở các vùng đất ngập nước có sự tham gia của người dân

Đối với thực vật: Sử dụng ô mẫu 10x10m, 1 ô/bàu trảng

Đối với động vật: Sử dụng ô dạng dải 10x2m

để điều tra dấu vết động vật, 1 ô/bàu trảng

GPS Phiếu điều tra

Cơ sở dữ liệu đa dạng sinh vật ở các vùng DNN

1.4 Phát hiện các mức độ sử dụng tài nguyên sinh vật ở các vùng DNN bởi người dân địa

Phương pháp 5W+1H Ao, thẻ màu Thông tin chung về

tài nguyên DNN từ kinh nghiệm của người dân

Ma trận về sản phẩm từ DNN: Loại, tầm quan trọng, mức độ sử dụng

Ao, thẻ màu Các nhóm sản

phẩm và tầm quan trọng, mức độ sử

Trang 40

Mục tiêu nghiên

cứu

Nội dung nghiên cứu (Hoạt động nghiên cứu)

Phương pháp nghiên

cứu

Vật liệu, phương tiện

Kết quả

phương Phỏng vấn 1

nhóm/buôn

dụng của cộng đồng

Ma trận đánh giá nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ DNN của từng thôn buôn Phỏng vấn 1 nhóm/buôn

Ao, thẻ màu Lượng hóa nhu cầu

sử dụng các sản phẩm từ DNN của từng thôn buôn từng năm và 5 năm 1.5 Phân tích mối

quan hệ giữa kinh tế hộ với

sử dụng tài nguyên DNN

Phát hiện các nhân tố ảnh hưởng đến chiều hướng tác động của cộng đồng đến DNN

Phân tích kinh tế hộ, giá trị thu nhập từ DNN Phỏng vấn 2 nhóm kinh tế hộ nghèo

và thoát nghèo ở 3 thôn buôn Tổng số 25 hộ

Phiếu điều tra kinh tế hộ

Lượng hóa giá trị kinh tế của sản phẩm từ DNN trong kinh tế hộ

Mô hình hồi quy đa biến y = f(x i ), trong đó y: Thu nhập hộ từ DNN, x i : Các nhân tố kinh tế hộ, tài nguyên DNN

Phần mềm Statgraaphics Ceturion

Mô hình với nhân

tố ảnh hưởng với mức ý nghĩa thống

kê P < 0,05

Ngày đăng: 03/10/2014, 22:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Thống kê giá trị sử dụng tài nguyên thực vật tại VQGYD - Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước trong hệ sinh thái rừng khộp và đời sống của các cộng đồng thiểu số ở vườn quốc gia yok đôn, tỉnh đắk lắk
Bảng 3.1 Thống kê giá trị sử dụng tài nguyên thực vật tại VQGYD (Trang 28)
Bảng 3.2 Tổng hợp tình hình kinh tế xã hội của ba buôn thôn nghiên cứu - Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước trong hệ sinh thái rừng khộp và đời sống của các cộng đồng thiểu số ở vườn quốc gia yok đôn, tỉnh đắk lắk
Bảng 3.2 Tổng hợp tình hình kinh tế xã hội của ba buôn thôn nghiên cứu (Trang 31)
Bảng 3.4 Dân số, thành phần dân tộc các buôn nghiên cứu - Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước trong hệ sinh thái rừng khộp và đời sống của các cộng đồng thiểu số ở vườn quốc gia yok đôn, tỉnh đắk lắk
Bảng 3.4 Dân số, thành phần dân tộc các buôn nghiên cứu (Trang 34)
Bảng 3.5 Khung logic nghiên cứu (Phạm vi đất ngập nước: Bàu và trảng) - Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước trong hệ sinh thái rừng khộp và đời sống của các cộng đồng thiểu số ở vườn quốc gia yok đôn, tỉnh đắk lắk
Bảng 3.5 Khung logic nghiên cứu (Phạm vi đất ngập nước: Bàu và trảng) (Trang 38)
Hình 3.1 Sơ đồ phương pháp nghiên cứu - Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước trong hệ sinh thái rừng khộp và đời sống của các cộng đồng thiểu số ở vườn quốc gia yok đôn, tỉnh đắk lắk
Hình 3.1 Sơ đồ phương pháp nghiên cứu (Trang 42)
Bảng 3.6 Cỏc buụn vựng đệm và vựng lừi VQGYD được chọn làm điểm nghiờn cứu - Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước trong hệ sinh thái rừng khộp và đời sống của các cộng đồng thiểu số ở vườn quốc gia yok đôn, tỉnh đắk lắk
Bảng 3.6 Cỏc buụn vựng đệm và vựng lừi VQGYD được chọn làm điểm nghiờn cứu (Trang 44)
Hình 4.1: Vị trí các vùng đất ngập nước cộng đồng tiếp cận được vẽ bởi cộng đồng buôn  Đrăng Phok - Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước trong hệ sinh thái rừng khộp và đời sống của các cộng đồng thiểu số ở vườn quốc gia yok đôn, tỉnh đắk lắk
Hình 4.1 Vị trí các vùng đất ngập nước cộng đồng tiếp cận được vẽ bởi cộng đồng buôn Đrăng Phok (Trang 50)
Bảng 4.1 Các bàu trảng ngập nước cộng đồng ba buôn Drăng Phok, Trí B và N’Drếch B  tiếp cận khai thác sử dụng sản phẩm - Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước trong hệ sinh thái rừng khộp và đời sống của các cộng đồng thiểu số ở vườn quốc gia yok đôn, tỉnh đắk lắk
Bảng 4.1 Các bàu trảng ngập nước cộng đồng ba buôn Drăng Phok, Trí B và N’Drếch B tiếp cận khai thác sử dụng sản phẩm (Trang 51)
Hình 4.2: Tổng số bàu trảng và diện tích đất ngập nước ở 3 buôn nghiên cứu - Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước trong hệ sinh thái rừng khộp và đời sống của các cộng đồng thiểu số ở vườn quốc gia yok đôn, tỉnh đắk lắk
Hình 4.2 Tổng số bàu trảng và diện tích đất ngập nước ở 3 buôn nghiên cứu (Trang 54)
Hình 4.3 Bản đồ phân bố đất ngập nước ở ba buôn khảo sát - Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước trong hệ sinh thái rừng khộp và đời sống của các cộng đồng thiểu số ở vườn quốc gia yok đôn, tỉnh đắk lắk
Hình 4.3 Bản đồ phân bố đất ngập nước ở ba buôn khảo sát (Trang 55)
Hình 4.4 Bản đồ phân bố DNN buôn Drăng Phok - Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước trong hệ sinh thái rừng khộp và đời sống của các cộng đồng thiểu số ở vườn quốc gia yok đôn, tỉnh đắk lắk
Hình 4.4 Bản đồ phân bố DNN buôn Drăng Phok (Trang 56)
Hình 4.5 Bản đồ DNN buôn Trí B - Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước trong hệ sinh thái rừng khộp và đời sống của các cộng đồng thiểu số ở vườn quốc gia yok đôn, tỉnh đắk lắk
Hình 4.5 Bản đồ DNN buôn Trí B (Trang 57)
Hình 4.6 Bản đồ phân bố DNN buôn N’Drếch B - Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước trong hệ sinh thái rừng khộp và đời sống của các cộng đồng thiểu số ở vườn quốc gia yok đôn, tỉnh đắk lắk
Hình 4.6 Bản đồ phân bố DNN buôn N’Drếch B (Trang 58)
Hình 4.7 Cơ sở dữ liệu DNN trong GIS - Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước trong hệ sinh thái rừng khộp và đời sống của các cộng đồng thiểu số ở vườn quốc gia yok đôn, tỉnh đắk lắk
Hình 4.7 Cơ sở dữ liệu DNN trong GIS (Trang 59)
Bảng 4.2 Danh mục thực vật đất ngập nước và vùng phụ cận - Mối quan hệ giữa tài nguyên đất ngập nước trong hệ sinh thái rừng khộp và đời sống của các cộng đồng thiểu số ở vườn quốc gia yok đôn, tỉnh đắk lắk
Bảng 4.2 Danh mục thực vật đất ngập nước và vùng phụ cận (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w