Cùng với quá trình thống nhất đất nước, nghệ thuật thời kì này phát triển rực rỡ và có ảnh hưởng quan trọng trong sự phát triển văn hóa Nhật Bản.Nếu chia thời đại theo sự nắm giữ của chí
Trang 1Văn hóa sơ kì cận thế
の Momoyama là thời đại ngắn nhất trong lịch sử, kéo dài khoảng bốn mươi năm từ cuối thế
kỉ 16 đến đầu thế kỉ 17, tương đương với thời địa phục hưng muộn ở châu Âu Trước thời
kì này là khoảng thời gian đen tối trong lịch sử Nhật Bản với những cuộc chiến tranh liên miên nổ ra giữa các phe phái khác nhau đẻ tranh giành ghế Shogun - tướng quân Đất nước được thống nhất lại bởi ba vị anh hùng là Oda Nobunaga, Toyotomi Hideyoshi và sau đó là Tokugawa Ieyasu Cùng với quá trình thống nhất đất nước, nghệ thuật thời kì này phát triển rực rỡ và có ảnh hưởng quan trọng trong sự phát triển văn hóa Nhật Bản.Nếu chia thời đại theo sự nắm giữ của chính quyền, ta có thể gọi thời Oda Nobumaga và Toyotomi Hideyoshi (nửa sau thế kỷ 16 đầu thế kỉ 17) là thời Azuchi Momoyama (のののの) và thời Tokugawa từ thế kỷ 17 là thời Edo Nhưng về mặt văn hóa sử, từ cuối thế kỷ
16 cho đến những năm Kan-ei (Khoan Vĩnh) giữa thế kỷ 17, khoảng thời gian dài 80 năm này có thể gọi chung là văn hóa thời Momoyama
Phần A Bảng từ mới
2 Bức bích họa ( tranh tường)
3 Văn hóa Nam Man Văn hóa từ nước ngoài vào qua tay
các nhà truyền giáo châu Âu, thương nhân
Trang 230 điêu khắc thiền lan Điêu khắc trên vách, lan can
33 Di tích cung điện Jurakutei
34 Đường môn chùa Daitoku Đường môn = cửa chính
35 Phi vân các chùa Nishi Hongan
36 Điện thờ chính ở đền Tsukubushima
37 Đường môn chùa Nishi Hongan
38 ののの Kiến trúc soin-zukuri Kiến trúc kiểu thư viện
39 Thư viện Samboin chùa Daigo
Trang 377 Sự ảnh hưởng từ Triều Tiên
78 慶長版本 Thời kì Keicho 慶長時間 Khánh trường là niên
hiệu thiên hoàng Go Yozei
79 の Sắc lệnh của thiên hoàng Go- Yojei
thân áo rộng độ chùng của vạt áp nhiều hơn chiều cao của cổ áo lộc
rõ hơn
Trang 4110 Nanban tự Nơi ở của người Kito giáo
117 ののののの Seminario、 Trường sơ cấp trung học
119 ヴァリニャニ Alessandro Valignano Tên đầy đủ ののののののののののの
のののノ giáo sĩ kito giáo
120 キリシタン Các ấn phẩm của kito giáo -
Christian
hay Amakusa のののの
124 Thể chế Mạc phiên Chia đất nước ra làm các phiên
132 Thân vương Toshihito Anh trai thiên hoàng
Go-Yozei.Còn gọi là hoàng tử Hachijo ののの
Trang 5Phần 2: Nội Dung Phấn A: Văn hóa thời kì Momoyama (1568–1603)
Văn hóa thời Momoyama (hay Azuchi Momoyama のののの) được ghép bởi tên hai tòa thành là Azuchi do Oda Nobunaga のののの xây dựng và Fushimi (sau được đổi tên là Momoyama) do Toyotomi Hideyoshi のののの xây dựng
Đặc điểm văn hóa:
• Sự phát triển và mở rộng của văn hóa thị dân và võ sĩ
• Ảnh hưởng của Phật giáo không còn nhiều thay vào đó là tính hiện thực ( văn hóa trần tục)
• Sự ảnh hưởng của Văn hóa Nam man ( chủ yếu là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha)
• Thành được xây ở đồng bằng hay núi thấp
• Bao quanh bởi các hào sâu công sự bằng đất và tường thành cao, có các thiên thủ các ( tòa gác cao 3 đến 5 tầng) canh gác bảo vệ thành
• Ngoài tính chất thành trì thì thành quách thời kì này còn xây dựng kiểu soin-zukuri (kiến trúc kiểu thư viện), đồng thời thành cũng là nơi cư trú của dân cư
• Trang trí bên trong bằng các bức bình phong hay bích họa lớn có màu
sắc đậm, điêu khắc thấu điêu trên các vách hay tường
1.1.1 Một số thành quách tiêu biểu
Thành Azuchi
Thời gian xây dựng từ năm 1576 đến năm 1579
Vị trí phía bờ hồ Biwa, tỉnh Omi ( ngay thuộc tỉnh Shiga)
Nobunaga định xây thành thật gần Kyoto để ông có thể quan sát xem
có ai muốn tiến tới kinh đô không Thành nằm ngoài kinh đô nên cũng
tránh được hỏa hoạn và giao tranh Vị trí này cũng khá có lợi thế về
mặt chiến lược, kiểm soát tuyến đường giao thông liên lạc giữa các
địch thủ lớn của ông là gia tộc Uesugi ở phía Bắc, gia tộc Takeda ở phía Đông và gia tộc Mōri ở phía Tây Thành có quy mô lớnvới tường thành dày từ 5,5 đến 6,5m; xây chủ yếu bằng đá Tường thành làm từ các khối đá lớn khít chặt với nhau mà không cần dùng đến vữa; thành có tháp cao 7 tầng, 42m
Thành Osaka
Thời gian: xây dựng năm 1583 – 1585, tại Osaka
Trang 6thành Osaka ở tỉnh Osaka được Toyotomi xây dựng với đội thợ hai, ba chục nghìn người làm cật sức suốt hai năm trời mới hoàn thành thì năm 1615 bị đốt cháy khi Toyotomi bị lật đổ; được xây dựng lại nhưng đến 1665 tháp chính một lần nữa bị thiêu Những gì còn lại đến 1868 cũng bị thiêu rụi Tháp chính thành Osaka hiện nay được xây lại vào năm
1931 bằng bê-tông cốt thép
Thành nằm trên khu đất chỉ rộng 60000 km2,xây trên hai bệ đá cao tựa vào hai vách tường đá dựng đứng, bao quanh bởi hai con hào Kiến trúc lâu đài trung tâm có 5 tầng ở phía ngoài và 8 tầng ở phía trong, và được xây trên một tảng đá cao để bảo vệ người trong thành chống lại những kẻ tấn công dùng kiếm
Thành Fushimi
Thời gian: xây dựng từ 1592 đến 1594 tại Kyoto
Thành xây bởi 20.000 đến 30.000 người với dự định được làm nơi hòa
đàm giữa Hideyoshi với sứ thần Trung Quốc để kết thúc Cuộc chiến bảy
năm ở Triều Tiên, nhưng một trận động đất đã phá hủy hoàn toàn lâu đài
chỉ hai năm sau khi hoàn thành Nó được xây dựng lại ngay sau đó, và
được đặt dưới quyền của Torii Mototada, một thuộc hạ của Tokugawa
Ieyasu Năm 1623, lâu đài bị dỡ bỏ, và rất nhiều phòng và tòa nhả của nó được ghép vào các đền chùa và lâu đài khắp Nhật Bản
Điện Jurakutei
Thời gian xây dựng: 1586 – 1587, tại Kyoto
Jurakudai hay Jurakutei (Tụ Lạc Đệ) là một dinh thự xa hoa xây dựng
theo lệnh của Toyotomi Hideyoshi Vị trí của nó ngày nay nằm trên nền
cung điện hoàng gia thời Heian
Hideyoshi chuyển đến Jurakudai từ thành Osaka sau khi hoàn thành,
ngay sau chiến thắng trước gia tộc Shimazu ở Kyushu Ông lấy đây làm
đầu não cho sự thống trị của mình Năm 1595, khi Hidetsugu – cháu trai của Hideyoshi
mổ bụng tự sát, Jurakudai bị tháo dỡ, nhiều phần được mang đến để xây dựng lâu đài Fushimi
Thiên thủ các thành Matsumoto
Matsumoto được xây dựng năm 1504 tại Nagano,
Tokyo
Thành được mệnh danh là “Thành Quạ” vì màu đen
của đồ gỗ Điểm thu hút của lâu đài này nằm ở sự
tương phản đen- trắng, khác biệt với kiểu phủ màu
trắng toàn phần của các lâu đài khác Tòa tháp chính
cao 6 tầng trong kiến trúc đẹp, được xem là một trong những lâu đài cổ
kính nhất Nhật Bản
Trang 7Ngự điện Ninomaru thành Nijo 二条城二の丸御殿
Ngự điện Ninomaru rộng 3300 mét vuông bao gồm năm tòa nhà riêng biệt
kết nối nhau và được xây dựng gần như hoàn toàn bằng Hinoki (cây bách
hội) Điện Niromaru gồm 5 toà nhà khác nhau, nằm zig-zag theo dạng "chim
bay", tổng cộng 33 phòng.Trang trí bao gồm số lượng lớn các lá vàng và các
chạm khắc gỗ tỉ mỉ , với dự định gây ấn tượng cho các vị khách về sức mạnh và sự giàu
có của các tướng quân Các cánh cửa trượt và tường của mỗi phòng đều được trang trí bằng tranh tường của các họa sĩ của trường Kano
Thành Himeji ののの ( lâu đài hạc trắng の)
Himeji nằm ở Himeji, tỉnh Hyōgo, cùng với thành Matsumoto và thành
Kumamoto hợp thành cái gọi là "Ba tòa thành quý của quốc gia (tiếng
Nhật: 三大条条城, "tam đại quốc bảo thành")".Thành là một khu phức
hợp gồm 83 toà nhà bằng gỗ tọa lạc trên một khu vực đồi núi bằng phẳng,
được sơn phủ một lớp màu trắng tinh xảo bên ngoài
1.1.2 Một số di tích
Một số di tích của Jurakutei: Đường môn chùa Daitoku
và Phi Vân Các chùa Nishi Honganの
Một số di tích thành Fushimi: bản điện đền
Tsukubushima都久夫須磨神社本殿 và thư môn chùa
Nishi Hongan西本願寺書門
1.2 Kiến trúc soin-zukuriののの
Kiến trúc soin-zukuri thời kì này phát triển rực rỡ, các căn
phòng kiểu này được trang trí lộng lẫy, trong đó phòng quan
trọng nhất là jodan – no –ma là nơi tiếp kiến
Trong kiến trúc này bao gồm: phòng cao bậc, gian hậu toko
no ma, tủ ngăn chigai dama, giá án thư shoin gamae, cửa lùa vẽ tranh
fusuma, diềm trang trí ramma,bốn ván lùa lớn chokai kazari ( có thể
không có).Sàn đơn giản, trải chiếu tatami, dải hành lang rộng hiro-en
hay irigawa trông ra vườn
Tiêu biểu là Sanboin ở chùa Daigoののののののののの và thư viện chùa Nishi Hongan 西本願寺書院鴻の間
1.3 Kiến trúc trà thấtのの
Phòng trà Myokian妙の案茶室(Taian のの) được cho là do
Sen no Rikyu dựng năm 1582 tại Yamasaki, Kyoto
Trang 8Đặc điểm:
Những tảng đá để bước chân lên được sắp xếp theo lỗi tự nhiên, không theo một quy tắc nào , xây dựng chủ yếu bằng tre hay thân cây, tường bằng đất khô, lối vào nhỏ đến mức phải cúi người hay bò vào, cửa sổ đơn giản, trần làm bằng lau sậy hay tre, mái lợp bằng rơm rạ
Bên trong bố trí đơn giản với chiếu tatami, cửa shoji, không gian được thu nhỏ từ bốn chiếu rưỡi đến chỉ còn một chiếu rưỡi
2. Hội họa
Thời kì này không quá quan tâm nhiều đến yếu tố Phật giáo như trước mà chủ yếu trang trí lộng lẫy để thể hiện quyền lực và sự giàu có của mình Do đó các bức bình phong hay bích họa lớn được vẽ công phu, tinh tế là đặc trưng tiêu biểu của thời kì này.
2.1. Phái họa Kanou
Bước vào thời đại này, phái Kanou đã cố gắng tổng hợp chủ nghĩa màu sắc của tranh Yamato cùng với chủ nghĩa cấu thành của tranh mực nước, đã phát huy cách vẽ hoạt bát tươi sáng đầy sức sống, thoát khỏi cách thức giữa chừng mất hồn Tranh phái Kanou có những cấu đồ to lớn từ trước đến nay không có trong tranh Nhật bản luôn luôn có đặc sắc phong nhã, tế nhị Phái Kanou nhờ đó đã được chính quyền mạc phủ Tokugawa bảo hộ và các họa sĩ của phái này được coi như là họa sĩ của tướng quân
2.1.1.Họa sĩ Kanou Eitoku 狩野条特(1543-1590).
Eitoku đã đưa phong cách đơn sắc Kano trình bày hình ảnh cây
lá trổ hoa, chim muông, và tre phát triển xa hơn phong cách
mang tính trang trí, với bố cục phức tạp hơn nhiều, ít để lại chỗ
trống trong tranh, không bị ảnh hưởng bởi ngọn bút vẽ và màu
vàng nhạt lờ mờ được tô điểm trên bầu trời hậu cảnh, thiên về
trang trí nhưng tương đối giản dị Bút pháp của Eitoku khỏe
khoắn với cách thẻ hiện mãnh liệt thể hiện tinh thầnh thượng võ
của thời kì này Vào năm 1576, Oda Nobunaga phong cho ông là
người đứng đầu trong những họa sĩ sáng tạo những hình thức
trang trí phong phú của Lâu đài Azuchi, một chức vụ đã mang lại cho Eitoka một thẩm quyền chưa từng có trước đây đối với những họa sĩ của những trường phái khác
Tác phẩm tiêu biểu : Bình phong Rakuchuu Rakugaizu洛中洛外
条条風 miêu tả phong cảnh Kyoto; bình phong Hinokizu のののの;
bình phong gập Karajishiのののののの
2.1.2 Kanou Sanraku 狩野条落 (1559-1653)
Sanraku sáng tạo những tranh họa đơn sắc và nhiều màu Nét đặc
trưng gò bó, tinh vi của Sanraku, tương phản với những phong cách
táo bạo, mạnh mẽ của Eitoku và Tohaku , ông kết hợp kiểu bố cục mà
người ta thường gặp ở tranh họa đơn sắc với phong cách trang trí màu sắc mới Những
Trang 9cành hoa mẫu đơn duyên dáng và tinh xảo hài hòa với thân cây và những tảng đá mạnh
mẽ, những kiểu cách này theo đúng quy ước hơn là những hình dáng đồ sộ được mô tả bởi hai họa sĩ đi trước
Tác phẩm tiêu biểu: hay Tùng ưng đồ (Tranh tùng và chim ưng);
Tranh hoa mẫu đơn
2.1.3.Một số họa sĩ khác trường phái Kano
Kano Naganobu : ののののののの bình phong gập chơi
đùa dưới bóng hoa
Kano Hideyori :
Kano Yoshinobu : のののののの bình phong gập miêu tả
những người thợ thủ công
2.2. Phái Hasegawa
Người lập ra phái tranh Hasegawa Tohaku ののののの ưu thích
vẽ tranh đơn sắc lẫn tranh màu trang trí, những tranh đơn sắc
(đen trắng) của ông, chẳng hạn như bức tranh nổi
tiếng Khỉ và rừng thông ở Ryusen-an thuộc đền thờ Myoshin, Kyoto
Tác phẩm tiêu biểu: bức họa trên cửa phòng của viện Chishaku gồm tranh hoa anh đào
và tranh rừng tùng
2.3. Phái Kaihoku
Người lập ra trường phái này là Kaiho Yusho (1533 – 1615) Lúc
đầu học với Kano Eitoku nhưng về sau ông thích bút pháp của
Lang Kai thời Tống ở Trung Quốc, cuối cùng ông lập riêng một
bút pháp gọi là Kaihoku Ông hầu như nổi danh về tranh vẽ cảnh
vật, hoa lá và động vật
Tác phẩm tiêu biểu: のののの Bình phong sơn thủy
Thời kỳ Momoyama có thể được xem như là một đoạn nhạc mở đầu chói lọi đối với thành quả của phong cách trang trí Nhật Bản Các họa sĩ thời kỳ Momoyama và những môn đệ của họ trong thời kỳ Edo nhanh chóng thiết lập một phong cách lộng lẫy và phức tạp khó phát triển xa hơn Những thị hiếu thẩm mỹ đổi thay cũng đòi phải có một tính cách khác biệt Sự lộng lẫy không chút ngượng ngùng của phong cách Momoyama có thể làm hài lòng giai cấp cầm quyền, giai cấp quý tộc, những thương nhân tham vọng và giàu có, và những nghệ nhân thời kì này.
3. Thủ công nghiệp
Đặc điểm chính : sự ảnh hưởng của nghệ thuật Triều Tiên do các tù binh bắt được trong hai lần tiến hành bởi Toyotomi Hideyoshi 1592-1593 và 1594-1596 Sắc lệnh đó được ban hành bởi Thiên hoàng Go-Yozei ののののの( niên hiệu Khánh Trường 慶長 trị vì 1586 – 1611)
3.1.Sơn mài
Đồ sơn thời kì này phóng khoáng và độc đáo về bố cục
cũng như cách dùng sơn vàng, thể hiện phong vị rực rỡ và
Trang 10hoa mĩ đương thời, tiêu biểu cho đồ sơn vàng thời kì này là bộ dụng cụ sơn vàng ở chùa Kodai, Kyoto
3.2.Gốm
Nghề gốm sứ thời kì này đạt đến đỉnh cao về cả kĩ thuật làm gốm cũng như nghệ thuật biểu hiện cũng là thời kì các dụng cụ gốm sứ dành cho trà đạo được sản xuất Các Daimyo thời bấy giờ rất yêu thích các loại vật dụng trà, chén, lọ làm làm bằng gốm với phong cách độc đáo Gốm thời kì này chủ yếu có kĩ thuật được truyền lại bởi những người thợ Triều Tiên bị bắt
Gốm sản xuất tại Chosa, Satsuma nay thuộc tỉnh Kagoshima , Gốm
có loại menののん đen và men trắng cao cấp ののの
Gốm Hagi ở Nagano nay thuộc tỉnh Yamaguchi Làng nghề Hagi (1615 - 1867)
Sản xuất ở Nagasaki
Matsuga Shigenobu1(1549-1614 Daimyo thứ 4 của Hirado) đã đưa 2 thợ gốm
Triều Tiên là Kyokan (1556−1643) và Koraibaba (1567−1672) từ Pusan đến tỉnh
Tochigi Sau khi đến Hirado, họ đã xây dựng các lò sản xuất ở đảo Hirado
Gốm có lớp men mỏng, trang trí các họa tiết một cách tinh xảo, những họa tiết
trang trí được khắc tinh tế, mảnh mai và một màu trắng hoàn hảo
Sản xuất tại Chikuzen nay là Fukuoka
Nguồn gốc của gốm Takatori đến từ Triều Tiên còn gọi là Hachizan, người
đưa gốm đến Nhật Bản Kuroda Josui, là một người lính phục vụ địa phương,
sau khi cuộc xâm lược của Hideyoshi Triều Tiên vào cuối thế kỷ 16 Gốm
Takatoriyaki là một trong 7 loại gốm lớn của Nhật Bản với hình dạng tinh tế
đi đôi với men rất chất lượng của nó
3.3 Nhộm, dệt
Nghề nhuộm là Nishijin oriののの(vải thêu kim tuyến)
3.4 Sứ
Sứ aritaののの(tên gọi khác là Imari-yaki) Người ta nói rằng, vào năm 1616 Ri San-pei, の
のの một người làm đồ gốm Nhật Bản đến từ Triều Tiên đã phát hiện ra một lớpのcao lanh được tích tụ lâu năm tại Izumiyama ở Arita ở bắc Kyushu ( hiện nay là Arita tỉnh Saga) và
đã làm ra các mảnh sứ đầu tiên tại Nhật Bản bằng cách sử dụng nguyên liệu này Với sự 1
Trang 11phát hiện loại đá sứ này, sản xuất gốm sứ nhanh chóng phát triển tại
Arita Đây là loại sứ xanh trắng đầu tiên ở Nhật Bản
3.5 Sự du nhập của máy in từ Triều Tiên
Sau cuộc xâm lược Triều Tiên, quân lính của Toyotomi Hideyoshi
(1536-1598) đã mang về nhiều chiến lợi phẩm, trong số đó có những khuôn chữ
in Hideyoshi đã dâng những bộ chữ này cho thiên hoàng và thiên hoàng đã truyền sử dụng những bộ chữ này để in các tác phẩm cổ điển Trung Hoa Ngoài ra, thiên hoàng cũng đã đặt làm một bộ khuôn chữ mới bằng gỗ để in một loạt các “ấn phẩm hoàng gia” Những tác phẩm cổ điển Trung Hoa (1597-1603), những sách này đã trở thành những sách đẹp nhất từng được in ở Nhật Bản
A.2 Nghệ thuật
Đặc điểm chung: Đây là thời kì phát triển bởi tầng lớp thị dân và võ sĩ mới , chủ yếu tập trung ở các đô thị như Kyoto, Osaka,Sakai (nay thuộc nam Osaka), Hakata (nay thuộc Fukuoka).
1. Trà đạo
Rikyū sinh tại Sakai Cha ông là chủ nhà kho tên là Tanaka Yōhei ののののの, mẹ ông tên
là Tomomi Tayuki のののの Tên thuở nhỏ của ông là Yoshiro
Khi còn trẻ, Rikyū học trà đạo với Kitamuki Dochin, và được pháp sư Dairin Soto ở đền thờ Nanshuji tại Sakai đặt tên là Sōeki 19 tuổi, ông bắt đầu học trà đạo với Takeno Jo Rikyu cũng trải qua khóa học Zen ở Daitoku-ji
Năm 58 tuổi, Rikyu trở thành trà sư cho Oda Nobunaga và, sau khi Oda chết thì cho Toyotomi Hideyoshi Hideyoshi đã ra lệnh cho ông phải mổ bụng tự sát Ông tự sát tại dinh thự Jurakudai tại Kyoto vào 28 tháng 2, 1591
Đóng góp:
• Người cũng góp công trong việc phát triển nguyên tắc thẩm mỹ “wabi” trong trà đạo, đề cao sự đơn giản, mộc mạc Ông chính thức đưa tư tưởng và những lời huấn thị của ông vào các trường dạy trà đạo gọi là Senke-ryu (ののの, "Trà đạo dòng Sen")
• chủ trì một lễ trà đạo lớn và quan trọng do Hideyoshi tổ chức tại Kitano năm 1587
• phát triển nhiều dụng cụ dùng cho trà đạo, bao gồm bình hoa, muỗng xúc trà, và nắp tre, vẫn được sử dụng cho đến ngày nay trong nghệ thuật trà đạo, là người đi tiên phong trong việc dùng Raku bát uống trà (chawan) và thích sử dụng các đồ dùng đơn giản, mộc mạc của Nhật, thay vì những đồ dùng Trung Quốc đắt tiền vẫn thịnh hành khi đó
Ngoài Sen no Rykyu thì có hai trà sư nổi tiếng khác thời kì này là Imai Sokyu のの
の và Tsuda Sogyu のののの
1.2.Trà sư Oda Nagamasu ( のののののChức điền Trường ích, 1547–1622)