Trên cơ sở đó làm rõ một số vấn đề về mối quan hệ giữa chính trị với kinh tế trong cuộc sống đổi mới ở nước ta.. chính trị với KT là 2 lĩnh vực quan trọng nhất của đời sống XH, mối quan
Trang 1Câu hỏi: Đ/c hãy phân tích quan điểm
cơ bản của CN Mác-Lênin về mối quan
hệ giữa chính trị với kinh tế Trên cơ sở
đó làm rõ một số vấn đề về mối quan hệ
giữa chính trị với kinh tế trong cuộc
sống đổi mới ở nước ta
Bài làm
Khi nói đến 1 quốc gia không
thể không nói đến chế độ chính trị của
nước đó, bên cạnh đó nền KT của nước
đó luôn luôn tồn tại song trùng chế độ
chính trị chính trị với KT là 2 lĩnh vực
quan trọng nhất của đời sống XH, mối
quan hệ giữa chúng tác động trực tiếp
đến quá trình phát triển của XH lòai
người đất nước ta đang trong thời kì
quá độ lên CNXH cần phải nắm vững
mối quan hệ biện chứng giữa chính trị
với KT theo quan điểm của
CN.Mác-Lênin để vận dụng đúng đắn vào công
cuộc đổi mới đất nước
I/ khái niệm về chính trị và kT:
Chính trị là phạm vi hoạt động
gắn liền với quan hệ giữa các giai cấp,
các tập đoàn, các đảng phái chính trị,
các dân tộc, các quốc gia mà hạt nhân
của nó là vấn đề giành giữ và sử dụng
quyền lực nhà nước
Chính trị thật chất là quan hệ
về lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm
trước hết và cơ bản là lợi ích KT Giải quyết những quan hệ lợi ích này trực tiếp quyết định tới động lực của sự phát triển KT Do vậy, từ góc độ quan hệ với
KT, vấn đề chính trị thực chất là vấn đề động lực của sự phát triển KT
Kinh tế, đó là toàn bộ các lĩnh vực, các ngành khác nhau của một nền
KT quốc dân, mà cơ sở của nó là những quan hệ KT cơ bản: Quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức và quản lí sản xuất, quan hệ phân phối Đó cũng chính là cơ sở KT của một chế độ XH nhất định KT còn thể hiện 1 tính chất đặc trưng đó là tính hiệu quả, sự tiết kiệm trong quá trình sản xuất kinh doanh
ii/ Mối quan hệ giữa KT và chính trị:
Quan hệ giữa chính trị với KT
là mối quan hệ biện chứng luôn luôn có
sự tác động qua lại lẫn nhau, Lênin đã khẳng định: Khi giai cấp công nhân trở thành giai cấp cầm quyền, chính trị khi
đó là chính trị ngay trong lĩnh vực KT;
chính trị lớn nhất lúc này là xây dựng nhà nước về KT Để hiểu rõ mối quan
hệ giữa chính trị và KT với góc độ chính trị học ta xem xét vai trò, vị trí của từng nhân tố đó
Theo quan điểm của CN Mác-Lênin cơ sở hạ tầng qyu định cấu trúc và tính chất của kiến trúc thượng tầng vì vậy KT và chính trị là 2 nhân tố cơ bản thuộc cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng nên có thể khẳng định rằng: KT quyết định chính trị Đó là sự khẳng định về lí luận còn trong thực tiễn: Quan
hệ SX như thế nào sẽ quy định một thể chế chính trị tương ứng
Kinh tế là nền tảng của hình thái
KT-XH, của các thể chế chính trị cho nên các quan hệ KT quy định các mối quan
hệ chính trị -XH, quy định địa vị chính trị của các giai cấp trong XH
* Vai trò của chính trị đối với KT:
Chính trị tác động trở lại KT một cách toàn diện; từ quan hệ của các lĩnh vực cơ bản của chính trị như đường lối chính sách, tổ chức, thiết kế chính trị tác động đến toàn bộ nền KT nói chung hoặc tác động đến các lĩnh vực
KT cơ bản của nền KT quốc dân Sự tác động của chính trị với KT có thể khái quát ở một số nội dung sau:
Thứ nhất, chính trị định
hướng cho KT phát triển Có thể nói rằng bất cứ một nền KT nào cũng điều
nếu không định hướng thì mục tiêu KT, lợi ích KT của giai cấp sẽ không được thực hiện, cũng như KT sẽ phát triển tự
do vô tổ chức sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống XH Do đó bất cứ chính trị của giai cấp cầm quyền nào cũng phải làm nhiệm vụ định hướng KT
Thứ hai, chính trị lựa chọn mô
hình phát triển KT một mô hình KT được xác định đúng, phù hợp là điều kiện hết sức quan trọng cho sự phát triển
XH và tăng trưởng KT Đồng thời nó còn đảm bảo tốt nhất cho việc hiện thực hoá lợi ích KT của giai cấp Chính trị có khả năng nhận thức đầy đủ các điều kiện như: Thực trạng KT, tài nguyên, con người lao động và cả các điều kiện về chính trị, XH, lịch sử
Thứ ba, chính trị điều tiết tốc
độ phát triển KT Với một tốc độ phát triển KT phù hợp là điều hết sức cần thiết cho sự phát triển chung của một chế độ XH- thậm chí là sự sống còn của chế độ XH ấy Nếu KT trì trệ, chậm phát triển, chính trị phải tác động thông qua đường lối, chủ trương, chính sách KT hoặc các biện pháp kích cầu khác để KT
có độ tăng trưởng hợp lý Hoặc trong trường hợp KT tăng trưởng quá nhanh
Trang 2không phù hợp với sự phát triển XH thì
chính trị cũng phải có sự điều tiết cần
thiết bởi sự phát triển không phù hợp
giữa KT với XH thường dễ dẫn đến sự
bất ổn về chính trị Vì vậy chính trị can
thiệp vào KT mà cụ thể là tốc độ phát
triển là hết sức cần thiết, nó cũng liên
quan trực tiếp đến lợi ích KT của giai
cấp
Thứ tư, vai trò của chính trị tác
động lên các chủ thể KT Chính trị của
giai cấp cầm quyền không thể không tác
động vào các chủ thể KT Bởi sự tác
động này sẽ tạo điều kiện cho các chủ
thể KT phát triển và trong đó sẽ góp
phần mang lại lợi ích lớn nhất cho giai
cấp cầm quyền
Thứ năm, vai trò của chính trị
trong việc quản lí chính trị -XH, con
người trong các cơ sở sở sản xuất Nói
đến sản xuất, đến các hoạt động KT là
nói đến con người, mà nói đến con
người là nói đến vấn đề chính trị -XH
Do đó một trong những vấn đề quản lí
sản xuất, quản lí kinh tế là quản lí con
người, quản lí XH- chính trị Vấn đề
quản lí này nhằm đem lại điều kiện tốt
để kinh tế phát triển
Trong mỗi quan hệ chính trị
với KT thì chính trị bị quyết định bởi
KT Nhưng chính trị lại có tính độc lập tương đối của nó vì vậy chính trị đã tác động trở lại KT, chính trị thực sự đã trở thành động lực của quá trình phát triển
KT Tuy nhiên cũng phải lưu ý rằng:
trong nhiều trường hợp dù đã có quyết sách chính trị đúng đắn nhưng trình độ năng lực, tổ chức chỉ đạo thực tiễn, phương thức hoạt động của hệ thống chính trị không vươn tới ngang tầm nhiệm vụ chính trị đề ra, thì chính trị vẫn có thể cản trở KT hoặc để KT phát triển chệch hướng, trái với đường lối chính trị đã lựa chọn Vì thế chính trị phải tự đổi mới, phải có cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động, thiết chế vận hành phù hợp với cơ sở kinh tế
Iii/ mối quan hệ giữa chính trị với KT trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay:
Trước đại hội đảng tòan quốc lần thứ VI (1986), trong công cuộc cM xhcn Đảng ta đã chủ quan, nóng vội mắc phải nhiều sai lầm về một số vấn đề có tính chiến lượt như: Mô hình KT công nghiệp hoá, hợp tác hoá, cải tạo XHCN… chúng ta xác định sai lầm bước đi, không tập trung phất triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ mà thiên về công nghiệp nặng, ham làm nhanh làm
nhiều, không tận dụng và phát triển lực lượng sản xuất đã có, cải tạo ồ ạt, nhanh chóng xoá bỏ các thành phần KT tư nhân để xác lập 1 cách phổ biến hình thức sở hữu tập thể và toàn dân dối với TLSX ngay cả khi LLSX còn thấp kém… duy trì quá lâu mô hình KT tập trung quan liêu bao cấp đã đưa đến sự trì trệ và khủng hoảng về KT
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI đã đánh giá thực trạng tình hình đất nước thẳng thắn chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm những khó khăn về KT và đời sống nhân dân Đảng đã đề ra đường lối đổi mới đúng đắn nhờ đó nền KT dần dần ổn định và phát triển, trong quá trình đổi mới Đảng ta đã khẳng định:
1/ Giải quyết tương quan giữa đổi mới KT và đổi mới chính trị:
Trong đổi mới Đảng ta xác định lấy đổi mới KT làm trọn tâm và tuỳ theo yêu cầu đổi mới KT mà từng bước đổi mới về chính trị Chủ trương đổi mới
KT là chuyển từ nền KT tập trung quan liêu bao cấp, căn bản dựa trên sở hữu toàn dân và tập thể sang nền KT hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng; chuyển từ một nền
KT cơ bản là khép kín tự cung, tự cấp sang nền KT mở, kết hợp tăng trưởng
KT với công bằng XH, bảo vệ môi trường sinh thái và từng bước đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN
Về đổi mới chính trị chúng ta đổi mới hệ thống chính trị trên cơ sở đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động của
hệ thống chính trị nhằm tăng cường vai trò lãnh đao của Đảng, hiệu lực quản lí của nhà nước phát huy quyền làm chủ của nhân, có nghĩa là tăng cường sức mạnh và hiệu lực của chuyên chính vô sản, làm cho các tổ chức trong hệ thống chính trị hoạt động năng động và có hiệu quả
2/ Định hướng XHCN nhưng với nền KT hàng hoá nhiều thành phần:
- Nhất quán phát triển KT hàng hoá nhiều thành phần là phù hợp quy luật vận động khách quan của lịch sử CNXH là hình thái KT-XH cao của lịch
sử phát triển XH loài người và có khả năng dung nạp nên KT hàng hoá nhiều thành phần
- Đảng ta chủ trương nền KT hàng hóa nhiều thành phần định hướng XHCN có nghĩa là mục tiêu CNXH phải
Trang 3giữ vững CNXH phải tiếp cận nền KT
hàng hoá nhiều thành phần mới phát huy
được tiềm năng của XH, tính năng động
sáng tạo của các thành phần KT và phù
hợp qui luật phát triển chung
3/ KT hàng hoá nhiều thành
phần luôn đặc dưới sự lãnh đạo của
Đảng:
Khi chuyển sang nền KT theo
cơ chế thị trường với nhiều thành phần
KT thì có nhiều người cho rằng nền KT
nhiều thành phần tất yếu phải có đa
thành phần trong chính trị Điều này
được Đảng ta lý giải là phát triển nền
KT hàng hoá nhiều thành phần theo định
hướng XHCN thì trong nền KT ấy, KT
quốc doanh phải được sắp xếp, chấn
chỉnh và hoạt động có hiệu quả để nắm
được những ngành những lĩnh vực then
chốt và qua đó giữ vai trò chủ đạo trong
nền KT chi phối các thành phần KT
khác
Đi vào đổi mới tư duy KT
Đảng ta cho rằng mục tiêu căn bản cải
tạo XHCN là tìm ra những hình thức KT
phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất; nhờ vậy
cho phép giải phóng được tối đa mọi
năng lực sản xuất, có được 1 nền KT
phát triển năng động và hiệu quả cao
mang lại hạnh phúc ấm no cho mọi tầng lớp nhân dân…và đó chính là n hiệm vụ chủ yếu của thời kỳ quá độ
4/ KT hàng hoá nhiều thành phần nhưng luôn luôn bảo đảm sự lảnh đạo quản lý của nhà nước:
Để gữ vững định hướng XHCN trong điều kiện nền KT nhiều thành phần phải có nhà nước mạnh mới có thể làm hạn chế những khuyết tật vốn có của nền KT thị trường Đây là một nguyên tắc, lịch sử cho thấy nhà nước quản lí điều hành làm cho nền KTXH ổn định, nếu không nó sẽ thành 1 nền
KT-XH vô tổ chức, vô kỉ luật Vì vậy, để giữ vững ổn định XH và nền KT luôn phát triển nhà nước phải tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần KT thông qua các chính sách, công cụ quản lí ở phạm vi vĩ mô nền KT
5/ Cần phải đổi mới hệ thống chính trị cho phù hợp đổi mơí KT:
- Đổi mới, chỉnh đốn Đảng, tăng cường và nâng cao năng lực của tổ chức cơ sở Đảng và Đảng viên: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ đời sống KT XH phù hợp với yêu cầu và quy luật khách quan của nền KT
- Đổi mới bộ máy nhà nước và hướng tới là xây dựng nhà nước pháp quỳên xhcn, nghĩa là nhà nước quản lí điều hành XH bằng pháp luật là làm cho
bộ máy nhà nước đủ mạnh để lãnh đạo toàn bộ nền KT quốc dân Nhà nước đủ mạnh thì sẽ đủ sức điều khiển bánh xe
KT thị trường đi theo quỹ đạo XHCN và tiến lên CNXH, CNCS mang lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho toàn dân tộc
Đồng thời với việc đổi mới hệ thống chính trị là phải luôn giữ vẵng và
ổn định chính trị, là nhân tố quyết định
để tiếp tục đổi mới KT theo định hướng XHCN
Kết Luận:
Tóm lại, mối quan hệ biện chứng giữa KT với chính trị có vai trò quan trọng trong sự nghiệp đổi mới đất nước ta hiện nay Do đó các cấp lãnh đạo cần nắm vững mối quan hệ trên, một mặt đổi mới KT một mặt bảo đảm
ổn định chính trị Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Đảng ta khẳng định tiếp tục xây dựng nền KT hoàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng XHCN Bên cạnh đó cần tập trung coi trọng công tác giáo dục, đào tạo cán bộ có năng lực và trình độ từng
bước đổi mới hệ thống chính trịh cho phù hợp với quá trình đổ mới KT