+ Con người: đẹp tự nhiên trong những công việc hằng ngày: cần mẫn, tỉ mỉ, khéo léo, tài hoa, nhanh nhẹn, chăm chút... •Mùa thu:Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy
Trang 1VIỆT BẮC
Trang 2- Mùa đông:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
=> Màu sắc đối lập xanh -
Trang 3+ Con người: đẹp tự nhiên trong những công việc hằng ngày: cần mẫn, tỉ mỉ, khéo léo, tài hoa, nhanh nhẹn, chăm chút
Trang 4•Mùa hạ:
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
+ Thiên nhiên: kh«ng gian rùc rì víi mµu vµng cña rõng ph¸ch vµ mu«n vµn tiÕng ve kªu tronng t¸n l¸ + Con người: hình ảnh cô
em gái hiện lên xiết bao thơ mộng, lãng mạn trong công việc lao động hàng ngày giản dị: hái măng
Trang 6•Mùa thu:
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
+ Thiên nhiên: Nói rõng như ®ược t¾m trong ¸nh tr¨ng xanh huyÒn ¶o lung linh dÞu m¸t
+ Con người: Gi÷a kh«ng gian vang lªn tiÕng h¸t ©n t×nh s©u nÆng, thuû chung.
Trang 7Bức tranh tứ bình về bốn mùa đạt đến độ hài hòa cân xứng, quấn quít giữa một câu tả cảnh với một câu tả người, làm cho thiên nhiên ấm áp, dồi dào sức sống, mang vẻ đẹp đẫm sắc thái phương đông.
Tình yêu tha thiết của nhà thơ với cảnh, với người Việt Bắc
Trang 8c Nhớ Việt Bắc anh hùng trong kháng chiến:
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
… Nhớ từ Cao – Lạng , nhớ sang Nhị Hà…
- Câu 1-6: Thiên nhiên Việt
Bắc như có linh hồn là nhờ tác
giả sử dụng phép nhân hóa
Núi rừng Việt Bắc tươi đẹp đã
Trang 9Rừng che bộ đội
Rừng vây quân thù
Trang 10Phủ Thông Sông Lô
Trang 11Phố Ràng Đèo Giàng
Trang 12* Việt Bắc trong khỏng chiến
+ Cuộc kháng chiến toàn dân trong sức mạnh kết hợp của con
ng ười (ng ười dân Việt Bắc ,ng ười cán bộ kháng chiến, bộ
đội, dân công) và thiên nhiên (rừng cây, núi đá, khe suối …) ).
Trang 13+ Khí thế ra trận: hào hùng, mạnh mẽ (qua các phụ âm rung, từ
láy: đêm đêm, rầm rập, rung, trùng trùng …) trong không ),
gian đầy âm thanh, ánh sáng “Dân công đỏ đuốc … lửa bay” lửa bay”.
Trang 14+ Chiến thắng náo nức lòng dân, bộ đội, toả rộng khắp đất n ước từ c từ các địa danh: Đồng Thỏp,An Khờ,Việt Bắc,đốo De,Nỳi Hồng…Tin
vui dồn dập, náo nức qua một loạt các địa danh trăm miền bắt đầu
từ Việt Bắc toả đi khắp nơi rồi lại bay về Việt Bắc.
Trang 15An Khê Hoà Bình
Trang 16Đồng Tháp Điện Biên
Trang 17Phủ Thông Núi Hồng
Trang 18Mười sáu câu cuối: Lòng biết ơn Đảng, Bác và Việt Bắc.
Trang 19+ Nơi gửi gắm niềm tin, nuôi chí bền trong chiến đấu.
Trang 20+ Việt Bắc còn là trái tim, đầu não của cuộc kháng chiến, là nơi các chủ trương của Đảng và Chính phủ toả
đi khắp nước, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng:
Điều quân chiến dịch Thu - Đông… các khu…”
Trang 22Chiến dịch Thu - Đông
Trang 23Việt Bắc là niềm tin, là hi vọng, niềm
mong đợi của cả dân tộc, của những con người Việt Nam yêu nước vì Việt Bắc có Bác Hồ, có Chính phủ sống và làm việc:
Trang 24 Việt Bắc trở thành biểu tượng của niềm tin CM, tượng trưng
cho sức mạnh kháng chiến, sức mạnh của toàn dân tộc.
Trang 26- Sử dụng hình thức tiểu đối của ca dao: vừa nhấn
mạnh ý vừa tạo ra nhịp thơ cân xứng, uyển chuyển, làm cho lời thơ dễ nhớ, dễ thuộc, thấm sâu vào tâm tư:
+ “Nhìn cây nhớ núi/nhìn sông nhớ nguồn”
+ “Bâng khuâng trong dạ / bồn chồn bước đi”
+ “Trám bùi để rụng,/ măng mai để già”
+ “Nông thôn phát động,/ giao thông mở đường.”
Trang 27+ Cũng là thứ ngôn ngữ giàu nhạc điệu:
“Chày đêm nện cối đều đều suối xa”
“Đêm đêm rầm rập như là đất rung”
Trang 28- Sử dụng nhuần nhuyễn phép trùng điệp của ngôn ngữ dân gian:
+ “Mình về, mình có nhớ ta”
“Mình về, có nhớ chiến khu”
+ “Nhớ sao lớp học i tờ”
“Nhớ sao ngày tháng cơ quan”
“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều”
tạo giọng điệu trữ tình tha thiết, ngọt ngào, như đưa ta vào thế giới của kỷ niệm và tình nghĩa thuỷ chung.