Những lớp người có đức, có tài, có sức khoẻ để góp phần xây dựng nước nhà như lời Bác dạy trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường năm 1945: "Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp ha
Trang 1Buôn ma thuột, ngày 10 tháng 10 năm 2010
Phần I: Mở đầu
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đảng ta, dân tộc ta coi trọng sự nghiệp giáo dục - đào tạo là sự nghiệp cách mạng cực kỳ quan trọng, Nghị quyết Trung ương II khoá VIII đã khẳng định:
"Giáo dục là quốc sách hàng đầu" Giáo dục làm nhiệm vụ hết sự vẻ vang, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Những lớp người
có đức, có tài, có sức khoẻ để góp phần xây dựng nước nhà như lời Bác dạy trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường năm 1945:
"Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam
có được sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu ".
Vì vậy giáo dục - đào tạo là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Giáo dục phổ thông, trong
đó giáo dục ở bậc THCS có một vị trí hết sức quan trọng, bởi vì hết bậc tiểu học học sinh bước sang một giai đoạn mới, có nhiều thay đổi về môi trường: Thầy, cô mới và được nhiều thầy, cô dạy trong một buổi học Phương pháp dạy cũng khác hơn so với bậc tiểu học Tâm lý của các em cũng có sự thay đổi, các em đang tập làm người lớn, muốn bắt chước người lớn Chính vì vậy giáo viên phải nắm được tâm lý học sinh và có phương pháp giáo dục phù hợp để vừa truyền thụ kiến thức cho các em, vừa có tác dụng giáo dục hình thành nhân sách cho các em qua mỗi bài học, mỗi tiết dạy Nghị quyết TW II khoá VIII đã nêu "giáo viên là nhân tốt quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh" Sản phẩm của giáo dục là con người có đủ trình độ và năng lực để chinh phục và cải tạo thiên nhiên, bắt thiên nhiên phải phục vụ con người và cải tạo xã hội ngày càng tốt đẹp hơn
Năng lực của người thầy có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học; Năng lực con người trong lĩnh vực giáo dục quyết định giá trị nhân cách của lớp người được giáo dục Người thầy quyết định chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục, lao động sáng tạo của nghề dạy học là yếu tố quan trọng nhất trong sự hình thành chất lượng của tay nghề thầy giáo, cô giáo Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục – đào tạo Mỗi giáo viên đều phải xác định được vai trò và nhiệm vụ của mình Nâng cao ý thức trách nhiệm, không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực, để góp phần mình vào sự nghiệp giáo dục - đào tạo, để đào tạo ra những lớp ngườicó đủ đức, đủ tài, có sức khoẻ để nối tiếp những lớp người đi trước xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc
“ Có đức mà không có tài là người vô dụng
Có tài mà không có đức thì làm việc gì cũng khó ”
Vì vậy cần phải xây dựng đội ngũ giáo viên nói chung và giáo viên bậc THCS nói riêng, trước hết là những người có đạo đức, trình độ và năng lực Đó là nhiệm vụ hết sức quan trọng của ngành giáo dục - đào tạo và các cấp quản lý lãnh đạo Là
Trang 2một giáo viên trực tiếp giảng dạy trên lớp hàng ngày, tôi nhận thấy việc hình thành
và phát triển nhân cách cho học sinh vùng đồng bào dân tộc là vấn đề thường xuyên phải quan tâm Hơn nữa việc giáo dục học sinh thuộc vùng kinh tế khó khăn, vùng đồng bào dân tộc tiểu số (với gần 50% HS dân tộc trong một lớp) có ý thức về đạo đức lối sống và phương pháp học tập là việc cựu kỳ khó và gian nan Tôi đã có nhiều suy nghĩ trăn trở, đặc biệt chú ý quan sát, nghiên cứu việc hình thành và phát triển nhân sách học sinh ở trường THCS Hàm Nghi vùng đồng bào dân tộc địa bàn xã Cưêbur
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
1 Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh vùng dân tộc thiểu số trong trường THCS Hàm Nghi
- Nghiên cứu một số giải pháp trong việc xây dựng và hình thành nhân sách cho học sinh THCS vùng đồng bào dân tộc
2 Phạm vi nghiên cứu:
* Giả thiết khoa học và thực tiễn:
Việc giáo dục phát triển nhân sách cho con người cần phải có thời gian thường xuyên và liên tục Chính vì vậy việc hình thành nhân cách cho học sinh vùng dân tộc cần phải được tiến hành liên tục trong nhiều năm, theo kết quả khảo sát qua các khoá học tôi đã đi sâu nghiên cứu đề tài này và đánh giá kết quả đạo đức học sinh
ở lớp chủ nhiệm và thời gian trực tiếp giảng dạy trên lớp trong những năm học gần đây tại trường THCS Hàm Nghi, xã Cưêbur, thành phố Buôn Ma Thuột
III MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU:
1 Mục đích:
- Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hình thành nhân cách XHCN cho học sinh THCS vùng đồng bào dân tộc Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường
2 Nhiệm vụ
- Tìm hiểu thực trạng công tác thực hiện việc hình thành nhân sách cho học sinh THCS trong phạm vi trường của mình
- Hệ thống một số biện pháp thực hiện có hiệu quả trong việc hình thành nhân cách cho học sinh THCS vùng đồng bào dân tộc
3 Kế hoạch
- Nghiên cứu qua thực tiễn chỉ đạo việc hình thành nhân cách cho học sinh
THCS theo chủ điểm năm học 2009 – 2010 của ngành giáo dục “xây dựng trường
học thân thiện - học sinh tích cực”, “đổi mới quản lí và nâng cao chất lượng
GD ”, “Đến trường không chỉ để học chữ ”.
Trang 3IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 Phương pháp thực tiễn quá trình công tác:
Trong quá trình dạy học ở trên lớp giáo viên có thể quan sát tình hình học sinh với thái độ nghe, nhìn qua quá trình lĩnh hội kiến thức bằng ý kiến xây dựng bài, ghi chép bài, hành vi, cử chỉ và cả sự hứng thú say mê học tập của học sinh trong giờ dạy Tuy nhiên trong quá trình công tác tôi nhận thấy, vẫn còn một bộ phận giáo viên chưa thật tâm huyết với nghề, chỉ rập khuôn theo một khuôn mẫu nhất định mà chưa chú ý quan tâm đến các đối tượng học sinh Chưa tìm tòi nhiều phương dạy học mới kích thích tính tích cực chủ động của học sinh Chưa thật sự quan tâm tìm hiểu đến hoàn cảnh của học sinh, có khi học sinh hỏi một vấn đề gì
đó thì giáo viên lại tỏ ra khó chịu hay trả lời cho học sinh với thái độ thiếu tôn trọng các em, làm cho học sinh không còn dám hỏi khi có điều gì chưa rõ
Hơn nữa việc giáo dục học sinh thuộc vùng kinh tế khó khăn, vùng đồng bào dân tộc tiểu số (với gần 50% HS dân tộc trong một lớp) có ý thức về đạo đức lối sống và phương pháp học tập là việc cực kỳ khó và gian nan Tôi đã có nhiều suy nghĩ trăn trở, đặc biệt chú ý quan sát, nghiên cứu việc hình thành và phát triển nhân sách học sinh ở vùng đồng bào dân tộc địa bàn xã Cưêbur
2 Phương pháp thực tiễn quá trình chủ nhiệm lớp:
Trong quá trình chủ nhiệm lớp tôi nhận thấy thời gian tiếp xúc giữa thầy và trò đây là phương pháp có thể tìm hiểu và điều tra học sinh một cách nhanh nhất
Vì đây là những nguyện vọng và những yêu cầu của các em đối với sự phát triển
và hình thành nhân cách sống đẹp, sống có ích Mặt khác cũng cần có mối quan hệ phối hợp giữa chủ nhiệm với gia đình học sinh và nhà trường cùng với các ban ngành và địa phương một cách thiết thực có hiệu quả Chúng ta phải dành thời gian
để có những buổi nói chuyện, tìm hiểu, nắm bắt tâm tư tình cảm, nguyện vọng của các em Mối quan hệ của các em với bạn bè cùng trang lứa Hơn ai hết GVCN là người gần gũi các em, các em luôn tin tưởng và coi đó là người cha - mẹ mình cần tâm sự Thế nhưng trên thực tế cũng có một bộ phận chủ nhiệm chưa thực sự quan tâm, gần gũi, không phải là điểm tựa tinh thần cho các em
3 So sánh kết quả:
Đây là phương pháp góp một phần nho nhỏ vào thực tế chất lượng giáo dục, xây dựng và hình thành nhân cách cho học sinh vùng dân tộc thiểu số trường THCS Hàm Nghi
- So sánh để thấy rõ việc xây dựng và hình thành nhân cách cho học sinh vùng dân tộc thiểu số có ý nghĩa rất quan trọng trong nhà trường
- So sánh để kiểm ngiệm và đúc rút kinh nghiệm thực tế việc áp dụng đề tài
Phần II: NỘI DUNG
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Trang 4I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 VỊ TRÍ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIÁO DỤC:
- Giáo dục - đào tạo có một tầm quan trọng đặc biệt, bởi giáo dục - đào tạo làm ra sản phẩm là con người có tri thức để xây dựng và bảo vệ đất nước Khi đất
nước mới được giải phóng Bác Hồ đã kêu gọi: "diệt giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại
xâm" Ngày nay Đảng và Nhà nước ta luôn luôn làm theo lời dạy của người Xoá
đói giảm nghèo, xóa nạn mù chữ, đối với giáo dục là đã phổ cập giáo dục rộng khắp trên toàn quốc, tiến tới phấn đấu phổ cập giáo dục ở các bậc học cao hơn Làm được điều đó ngành Giáo dục - đào tạo giữ một vai trò quan trọng, sự nghiệp Giáo dục - đào tạo, khoa học văn hoá nhằm phát huy nhân tố con người và vì con người trong sự nghiệp xây dựng CNXH, bảo vệ Tổ quốc Mặt khác, khoa học giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, là động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới
Đảng ta luôn luôn chú ý đến việc phát triển sự nghiệp Giáo dục - đào tạo, xác định vai trò và nhiệm vụ của ngành Giáo dục - đào tạo, Nghị quyết TW II khoá VIII đã nêu rõ: "Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của ngành giáo dục là nhiệm vụ xây dựng những con người và thế hệ gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
- Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập, thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá, cần phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại, bảo vệ và phát huy những tiềm năng của dân tộc và của con người Việt Nam Vì vậy chúng ta cần có tri thức, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, luôn làm chủ những tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp,
có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có sức khoẻ để kế thừa xây dựng CNXH Vì vậy ngành Giáo dục - đào tạo cần xác định được nhiệm vụ quan trọng của mình, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó để đáp ứng được thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
2 VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC DẠY VÀ HỌC:
- Hoạt động của giáo dục là một hoạt động vô cùng rộng lớn, con người là sản phẩm của Giáo dục - đào tạo Nhân tố con người quyết định sự phát triển của giáo dục, của xã hội, của đất nước Để làm tốt công tác Giáo dục - đào tạo, quản lý giáo dục có tính chất quyết định đến hiệu quả của giáo dục, nhưng công tác quản lý giáo dục lại vô cùng khó khăn và phức tạp Chính vì vậy giáo dục phải có sự phối kết hợp giữa 3 môi trường: Gia đình - nhà trường và xã hội thì mới có thể nâng cao được chất lượng giáo dục
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trang 5Thực tế cho thấy rằng nhà trường muốn làm tốt nhiệm vụ giáo dục thì phải
có đội ngũ giáo viên có đủ năng lực và trình độ, phối hợp với các ban ngành, các tổ chức chính trị xã hội của toàn xã hội Năng lực của đội ngũ, điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học, các trang thiết bị, đồ dùng dạy học Chính là nhờ một phần lớn vào năng lực, trình độ khoa học của những người giáo viên Như triết học Mác – Lê Nin đã khẳng định: "Vai trò to lớn của cá nhân trong tập thể" Vì vậy xây dựng đội ngũ giáo viên trong giáo dục là cả vấn đề hết sức quan trọng trong quá trình dạy học
Đội ngũ giáo viên trường THCS Hàm Nghi có trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ chuẩn, có năng lực sư phạm, có phẩm chất đạo đức, có tác phong mẫu mực, thương yêu học sinh, tôn trọng học sinh và thân thiện gần gũi với học sinh, tiếp nhận và phân tích các nguồn thông tin để có phương pháp thích ứng, phù hợp khi
xử lý tình huống Có ý thức tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao tay nghề và có uy tín với phụ huynh học sinh trong quá trình giáo dục
Chương II: THỰC TRẠNG CỦA TRƯỜNG THCS HÀM NGHI
I Thuận lợi:
Về đội ngũ giáo viên trường THCS Hàm Nghi: luôn giữ tư cách tác phong của nhà giáo, có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn đồng đều, trường lớp ngày một khang trang hơn, cơ sở vật chất dạy và học ngày càng khá đầy đủ hơn so với những năm trước đây Nhìn chung về lĩnh vực giáo dục ngày càng được Cấp uỷ, chính quyền quan tâm hơn
Đại bộ phận cán bộ giáo viên trong trường có tuổi đời trẻ, một đội ngũ có năng lực
và có tinh thần nhiệt huyết cao Đoàn kết nội bộ tốt, tỉ lệ giáo viên trên chuẩn cao: đạt 53 %
- Về phía bản thân được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của BGH và tổ chuyên môn cùng các anh chị em đồng nghiệp Trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, nhiệt tình, tâm huyết với nghề, chịu khó học hỏi nâng cao tay nghề, có trách nhiệm trong công việc Trong công tác chủ nhiệm lớp có uy tín với phụ huynh và học sinh Nghiêm khắc nhưng được nhiều học sinh tin tưởng - quý mến
II Khó khăn:
Xã Cưêbur là một xã vùng ven của thành phố Buôn Ma Thuột, thuộc vùng kinh tế khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều Toàn xã có diện tích tự nhiên
4139 ha, trong đó đất nông nghiệp 2966,5 ha, đất lâm nghiệp 612,48 ha Dân số có
3087 hộ, với 15430 nhân khẩu, có 5 đân tộc sinh sống trên cùng 8 thôn buôn
Trang 6Riêng đồng bào dân tộc tiểu số taị chỗ có 1039 hộ, với 5675 nhân khẩu, chiếm 13,6 % Dân tộc khác 65 hộ, với 321 nhân khẩu Nền kinh tế của một số hộ gia đình còn khó khăn chưa đáp ứng dược nhu cầu thực tế
- Tình hình an ninh chính trị, TTATXH trên địa bàn còn nhiều phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố bất ổn
- Đại bộ phận cán bộ giáo viên trong trường có đời sống kinh tế chưa ổn định, chưa
an tâm công tác
- Số liệu về chất lượng giáo dục 2 mặt của những năm gần đây đối với lớp chủ nhiệm cũng như bộ môn trực tiếp giảng dạy phải tự truy tìm cập nhật Vì dự liệu tại cơ sơ lưu trữ của chuyên môn đã bị vi rút xâm nhập biến mất
- Đối với lớp chủ nhiệm, phần lớn HS vào đầu năm đã có bản chất lì lợm, khó dạy bảo, nhác học, theo đòi những HS hư hỏng đeo đuổi từ những năm học trước
- Đối với phụ huynh và HS: Học sinh chưa thực sự chuyên tâm học tập, còn coi việc học chỉ là để biết chữ mà thôi Các bậc phụ huynh thì coi việc giáo dục con cái là của nhà trường, cứ nghĩ học sinh đến trường, học những gì giáo viên giảng là
đủ rồi mà còn chưa chú ý đến vấn đề tự học của học sinh Một số bộ phận học sinh thì cha mẹ đi làm thuê, em phải làm công việc nhà, chăm sóc em nhỏ… hay làm một công việc gì đó ở ngoài đồng mà đáng lí ra thời gian đó học sinh phải ngồi trên lớp hoặc thảo luận với bạn bè trong những giờ học nhóm
Hầu hết gia đình không có thời gian vì còn bận kiếm kế sinh nhai, lo toan cuộc sống hàng ngày.Chưa quản lí chặt chẽ con cái ngoài giờ học Một bộ phận PHHS đồng bào dân tộc tại chỗ có truyền thống tôn trọng con cái, họ cho rằng con cái “có học thức” và “nó lớn rồi nó tự lo liệu tự vận động, mình không can thiệp
nó đâu” Dẫn đến các HS hư hỏng rủ bè, kéo phái, tụ tập, kích bác, chửi bới thô tục, à dua để đánh nhau, cúp tiết, bỏ giờ, nghỉ học vô lí do
- Tuy nhiên đối với bản thân và đồng nghiệp: Năng lực để tiếp cận, để thăm nắm tình hình, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của học sinh, của nhân dân còn nhiều hạn chế, do bất đồng ngôn ngữ Vì thế chưa thể hiểu hết và hòa nhập được với văn hóa truyền thống dân tộc ở địa phương Cho nên, còn gặp khó khăn trong phát triển công tác giáo dục Mặt khác, bản thân và các giáo viên của trường đều cư trú xa địa bàn công tác từ 5km đến 10km, nên điều kiện đi lại gặp nhiều khó khăn
- Công tác giáo dục: nhìn chung các cấp học, việc duy trì sĩ số đang là một vấn đề trăn trở Trong các giờ học hầu hết đều có học sinh cúp tiết trốn bài, hay ngồi trong lớp nhưng chỉ là sự bắt buộc cuả gia đình hay chỉ vì sợ giáo viên bộ môn đó, chứ không nghĩ là học để làm gì cho tương lai
Chương III : BIỆN CHỨNG TÂM LÍ LỨA TUỔI TÂM LÍ LỨA TUỔI
VÀ ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN
I BIỆN CHỨNG TÂM LÍ LỨA TUỔI TÂM LÍ LỨA TUỔI:
Trang 7Trường THCS Hàm Nghi, là một trường vùng ven của thành phố Buôn Ma Thuột, thuộc vùng kinh tế khó khăn, đa số các em là học sinh dân tộc ít người có trình độ tiếp thu chậm, do vậy bắt đầu từ 11, 12 tuổi vào học lớp 6, lúc này các em đang ở lứa tuổi dậy thì, đang tập làm người lớn và muốn được làm người lớn Mặt khác, các em gặp nhiều thay đổi về môi trường, chuyển sang cấp học mới, tiếp xúc với nhiều thầy cô giáo trong một buổi học và tâm lý của các em cũng có sự phát triển khác biệt ở cấp Tiểu học Đến cuối bậc THCS phần lớn các em đã ở lứa tuổi
15 – 16, thậm chí có em 17 tuổi Ở lứa tuổi này các em có lòng tự trọng cao và đặc biệt ở lứa tuổi 11- 17 là thời kỳ sinh lý thay đổi vì vậy phần nào có ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính cách của các em Giáo viên phải nắm vững tâm lý học sinh và cá tính từng em để hướng các em có được phong cách sống đẹp, tránh những hiện tượng tiêu cực xảy ra vì nếu giáo dục không khéo ở lứa tuổi này các em rất dễ tự
ái, dẫn đến tự ti và tiêu cực, thậm chí có em sẽ mắc bệnh trầm cảm, hiểu lầm những hành động cử chỉ tốt đẹp của thầy – cô giáo và cả những người lớn xung quanh em Đây là giai đoạn các em có nhiều thay đổi về tâm lý
Trong quá trình phát triển tâm lý con người, hòa quyện với nền kinh tế - xã hội phát triển, điều kiện sinh hoạt của các em nâng cao cả vật chất lẫn tinh thần, các em rất nhạy cảm với những thay đổi Do vậy các tổ chức xã hội nói chung và nhà trường nói riêng, đặc biệt là các tổ chức như đoàn - đội và trực tiếp là các thầy
cô giáo phải có phương pháp giáo dục phù hợp để các em có được những hành động đúng đắn trong các hoạt động
Nếu các thầy, cô giáo có phương pháp giáo dục phù hợp thì sẽ khơi dậy ở các em được những phong cách sống đẹp – ý thức trách nhiệm của bản thân và hình thành một nhân cách mạnh mẽ, một nhân cách tốt hướng tới sự phát triển những nét đẹp trong từng cá nhân, tạo ra một lớp người, một thế hệ đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội
Nhưng dù ở lứa tuổi nào, cấp học nào các thầy, cô giáo cũng đã và đang có phương pháp giáo dục phù hợp để phát triển nhân cách cho các em Nhân cách của
cá nhân không sinh ra cùng một lúc với sự ra đời của cá nhân, mà nó được hình thành và phát triển dần dần từ nhỏ đến lớn và cần được bồi đắp trong suốt cả cuộc đời
" Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên"
Vậy là nhân cách đã từng bước phát triển cùng với bản thân mỗi cá thể Nó
là kết quả của cả một quá trình giáo dục, không chỉ trong nhà trường mà còn là của gia đình và xã hội
Theo quan niệm phổ biến hiện nay các thành tố của nhân cách xây dựng nên từ tổng hợp các tính chất, tinh thần, các quá trình nhận thức, các thái độ xúc cảm, tình cảm và hành động
Ta có thể so sánh nhiều học sinh đồng bào ngồi trong lớp chăm chú nghe giảng
và ghi chép bài, khi thầy giáo đặt câu hỏi thì cố gắng suy nghĩ trả lời nhằm vươn
Trang 8tới những gì thuộc về xu hướng tiến bộ của xã hội Ví dụ: như em Kso H’ Yên, Y Khoa Êban, Hồ Thị Nga, Phương Thảo Niê, Đinh Thị Thu Hoài v.v của các khóa 2007- 2008 luôn đạt học sinh khá- giỏi từ lớp 6 đến lớp 9 Còn một bên là một số học sinh chậm tiến cho thấy rõ trong suốt quá trình luôn biểu hiện sự suy thoái nhân cách, lao vào con đường sa ngã, chỉ chuyên nghịch ngợm, cúp tiết trốn bài, không chịu tập trung nghe giảng, khi thầy giáo gọi đến hỏi thì im lặng, có em còn
có thái độ xốc xược với giáo viên Ví dụ: như YzôNaThand (lớp 8B) hay Ywell, Y Nôl (lớp 8A) hay YThông (lớp 6D) hay Nghĩa (lớp 8C) của năm học 2009 – 2010
II ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN:
Sự phát triển của con người không chỉ là quá trình lựa chọn, cải tiến cái tối ưu trong hoạt động của con người nói chung, mà trước hết phải có một quan niệm đúng đắn về vai trò của con người trong phát triển kinh tế - xã hội Đánh giá đúng
vị trí của con người, nhất là giá trị tinh thần, giá trị đạo đức Khái niệm phát triển con người giữ vai trò then chốt trong việc hoạch định "chiến lược Giáo dục – đào tạo con người", hoạch định của đường lối đổi mới là đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
Đó là quan điểm chính để phát triển nhanh và bền vững đất nước Nguồn nhân lực con người giữ một vị trí đặc biệt trong cơ cấu các yếu tố phát triển kinh tế Nguồn nhân lực rất dồi dào, phải tập trung vào chuyển dịch cơ cấu, phân công lao động, giải quyết việc làm, phân bổ nguồn nhân lực, đào tạo lại, đào tạo mới để đáp ứng được với nền khoa học công nghệ mới Trình độ văn hoá, tình độ dân trí có ảnh hưởng tới trình độ nghề nghiệp và năng suất lao động
Phát triển con người là điều kiện cơ bản để phát triển tài năng của từng từng tổ chức và cộng đồng Phát triển Giáo dục – đào tạo, giáo dục từng con người nhằm xây dựng nền móng phát triển nguồn lực lâu dài, đặt con người vào trọng tâm phát triển, xem con người là mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội Lấy văn hoá dân tộc là động lực thúc đẩy sự phát triển, tăng trưởng kinh tế gắn bó với đời sống nhân dân Con người là điều kiện cơ bản để đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Chương IV : MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Trên thực tế, trong một lớp, một trường bao giờ cũng có rất nhiều đối tượng
HS, có em vừa ngoan vừa học giỏi, có em thông minh nhưng nghịch ngợm, lại có những em học chưa tốt, lại thiếu ý thức Thầy, cô nào chẳng thích dạy trò ngoan, chăm chỉ Nhưng, nếu trong lớp còn những HS chậm tiến thì cũng không nên vì bất
kỳ lý do gì mà ghét bỏ hoặc đối xử không công bằng với các em
Trang 9Mọi yếu tố đều có những thế mạnh và hạn chế của nó, nếu các yếu tố của 3 môi trường: nhà trường, gia đình, xã hội đều tác động tới học sinh theo cùng một hướng đúng đắn và thống nhất thì việc hình thành và phát triển nhân cách cho các
em sẽ có hiệu quả cao hơn Nếu các yếu tố đó tác động tới học sinh không đồng
bộ, trái ngược nhau thì sẽ vô hiệu hoá lẫn nhau, ảnh hưởng xấu tới việc hình thành
và phát triển nhân cách cho các em Đặc biệt là sự phối hợp chặt chẽ giữa các GV với nhau trong quá trình đào tạo con người xã hội chủ nghĩa một cách nhịp nhàng đồng nhất
1 Nhà trường và các đoàn thể:
Hiện nay trường THCS Hàm Nghi luôn dựa vào 3 môi trường: Gia đình, nhà trường và xã hội để hình thành nhân cách cho học sinh Tuy nhiên yếu tố chủ lực vẫn là nhà trường và được quan tâm đúng mức Nhà trường cũng đã kết hợp với gia đình thông qua số điện thoại liên lạc, giáo viên chủ nhiệm và các buổi họp phụ huynh để thường xuyên giữa gia đình và nhà trường có sự trao đổi, kết hợp giáo dục học sinh kịp thời Tuy nhiên : Mức độ, tỷ lệ quan tâm tham gia trao đổi, nắm bắt và phản ánh vẫn chưa cao
Trong các hoạt động của nhà trường, hướng các em vào hoạt động trong các
tổ chức có nề nếp như lớp, chi đội, liên đội, chi đoàn Thường xuyên hướng các em vào hoạt động theo các chủ điểm của các phong trào thi đua, có sơ kết, tổng kết và khen - chê đúng mức, kịp thời Động viên, khích lệ các em phát huy tính tích cực, sáng tạo, giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, chuyên cần học tập, tham gia các phong trào văn hóa - văn nghệ thể dục thể thao Mỗi năm nhà trường đều kết hợp với hội đồng Đội, hội khuyến học thành phố tặng học bổng Y Jút, tặng thưởng xe đạp, tặng sách-vở, bàn học cho các em có hoàn cảnh khó khăn nhưng có tinh thần vươn lên trong học tập đạt thành tích cao Hay tặng sổ tiết kiệm cho các em trong chương trình thắp sáng ước mơ ( 16 em với số tiền 8 000 000 đồng ), cũng phần nào động viên các em duy trì và phấn đấu vươn lên trong học tập, là những tấm gương sáng cho một số học sinh chậm tiến noi theo Nhằm hình thành nhân cách cho các em, tạo điều kiện cho nhà trường đạt được mục tiêu trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục toàn diện
2 Giáo viên chủ nhiệm lớp:
- Vào đầu năm học giáo viên chủ nhiệm đã dành 2 – 3 tuần để hoàn thành sơ yếu lý lịch học sinh để nắm vững điều kiện, hoàn cảnh từng em Tìm hiểu kỹ tâm
lý các em để có phương pháp giáo dục, giúp đỡ các em
- Cũng ngay từ đầu năm, giáo viên phải lập danh sách học sinh có đạo đức chưa ngoan và học lực còn yếu, kém ở lớp mình trong năm học trước để nắm rõ các đối tượng học sinh, chú ý quan tâm đặc biệt đến những học sinh này, tìm những lời động viên, kích thích những học sinh đó như thường xuyên khen ngợi khi các em làm việc chung cho lớp, hay trong tuần học đã có ý thức xây dựng bài ở một số môn học
Trang 10- Giáo viên chủ nhiệm phải tìm hiểu từng đối tượng học sinh, thường xuyên theo dõi các em về cả học lực và hạnh kiểm để kịp thời giáo dục, uốn nắn học sinh của mình
Ví dụ 1: Học sinh Y ZôNathand, lớp 8B thích đi học, nhưng đến trường thì
em lại chưa hiểu và hình dung cho việc học của mình nhằm mục đích gì? Chỉ biết đến trường là thoát khỏi lao động mệt nhọc và đến trường để được đi chơi ngao du cùng bạn bè Còn gia đình thì bố mẹ lo việc nương rẫy, bà ngoại và dì bất lực trước
sự giáo dục con cháu nên đành nhờ đến nhà trường Cho rằng em đến trường là bớt
đi ánh mắt nhìn “trợn” lì lợm và đầy sợ hại từ em Thực tế họ không hiểu được mục đích chân lí để giáo dục con cái, nên đến lớp em không chú ý nghe giảng mà trong các giờ học em tỏ ra thiếu tôn trọng giáo viên, em thường xuyên cúp tiết bỏ giờ Kết quả học kì 1 vừa qua học lực em xếp loại yếu
Ví dụ 2: Học sinh Nguyễn Văn Hiệp, lớp 8B(2009 - 2010), vì hoàn cảnh gia
đình mẹ đã mất do tai nạn ô tô cách đây 2 năm khi em bước vào lớp 6, bố đi làm rẫy cả tháng mới về, em ở nhà với bà nội, ít được sự gần gũi chăm sóc của gia đình, chỉ nghe bố điện thoại về nhắc nhở và có lúc quát mắng qua điện thoại ép em phải đi học nhưng không hiểu em cần điều gì ở bố nên đến lớp không chú ý nghe giảng mà chỉ lo nói chuyện, làm mất trật tự trong giờ học, kết quả là học kì 1 học lực em xếp loại yếu, Hạnh kiểm khá
Ví dụ 3: Học sinh Cao Thị Ánh Linh lớp 8E(2006-2007), không thích học
nhưng vì bị gia đình ép buộc đi học nên đến lớp không chú ý nghe giảng mà trong
các giờ học em tỏ ra thiếu tôn trọng giáo viên, kết quả học kì 1 của em: học lực
xếp loại yếu - hạnh kiểm Tb Nhưng qua giáo dục và hình thành nhân cách con
người XHCN em đã hiểu rõ mục đích học tập và nhân cách sống đẹp, sống có ích
Nên học kì 2 và cả năm em được xếp Học lực trung bình, Hạnh kiểm tốt Đó là cả
một quá trình giáo dục và hình thành nhân cách cho học sinh của bản thân cùng với
sự nổ lực và rèn luyện của học sinh
Hay em Nguyễn Thị Hồng Nhung lớp 8E(2006 – 2007), vì hoàn cảnh gia đình bố mẹ đi làm rẫy ở Đắk Ghềnh cả tháng mới về, em ở nhà với hai em nhỏ, ít được sự gần gũi chăm sóc của gia đình Mặt khác bố hay đánh mẹ và các con, có lúc quát mắng dọa nạt sẽ không cho đi học vì không đủ tiền Nhưng không hiểu em cần điều gì ở bố mẹ nên đến lớp không chú ý nghe giảng mà chỉ lo nói chuyện, làm mất trật tự trong giờ học, hết giờ em theo bạn cùng trang lứa ra ngoài phố xá
chơi điện tử hay đi đâu đó để chơi bời chẳng muốn về nhà Kết quả là học kì 1 học
lực của em xếp loại yếu, hạnh kiểm Tb Nhưng qua giáo dục, học kì 2 và cả năm
em được xếp Học lực trung bình, Hạnh kiểm tốt.
*Hướng giải quyết:
- Trước tiên, Giáo viên chủ nhiệm trao đổi với chính học sinh đó để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của học sinh, đồng thời hỏi bạn bè của học sinh
đó về hoàn cảnh gia đình và sinh hoạt của học sinh Từ đó giáo viên tìm hiểu được