1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

English (Tg: Nguyễn Thị Lê Dung)

13 250 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 156 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chính là các học viên chỉ chăm chú vận dụng kiến thức vào học điểm ngữ pháp, áp dụng làm bài tập, phát triển kiến thức ngôn ngữ là chủ yếu chứ chưa thực sự phát triển được kỹ năng

Trang 1

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRONG DẠY VÀ HỌC MÔN TIẾNG ANH 9

Ở TRƯỜNG THCS I SÔNG ĐỐC

Phần I ĐẶT VẤN ĐỀ :

Theo xu hướng hiện đại hóa ngày nay, việc đổi mới phương pháp dạy học là điều tất yếu Đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới cách đánh giá học sinh hiện nay đang là vấn đề cấp bách Đòi hỏi người giáo viên phải nắm bắt thực tế và vận dụng vào từng đối tượng học sinh cụ thể để có một phương pháp vừa mang tính thực tiễn, vừa phù hợp với tình hình chung của giáo dục Tiếng Anh bây giờ không còn là khái niệm

xa lạ gì với mọi người mà đang trở thành là một môn học phổ biến đang được mọi người coi trọng và ngày càng đăng ký học thêm nhiều

Tuy nhiên việc học Tiếng Anh vẫn còn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của thế giới Lý do chính là các học viên chỉ chăm chú vận dụng kiến thức vào học điểm ngữ pháp, áp dụng làm bài tập, phát triển kiến thức ngôn ngữ là chủ yếu chứ chưa thực sự phát triển được kỹ năng giao tiếp trong khi học Tiếng Anh Trong khi đây là một yếu

tố hết sức quan trọng khi phát triển một thứ tiếng nước ngoài nào đó không chỉ riêng Tiếng Anh mà cũng là đặc trưng chung và khó khăn chung khi học tiếng nước ngoài Yêu cầu đầy đủ của một thứ tiếng nước ngoài là phát triển kỹ năng giao tiếp và kiến thức ngôn ngữ Kỹ năng giao tiếp là các kỹ năng nghe, nói, đọc, và viết Kiến thức ngôn ngữ là các bài tập, từ vựng, điểm ngữ pháp, cấu trúc …… để trở thành người thành thạo một ngôn ngữ khác theo tôi cần hội tụ những yếu tố đó

Nhưng thực tế hiện nay tại trường THCS I Sông Đốc học sinh học tiếng Anh chỉ tập trung vào việc đọc bài và làm bài tập phát triển - chủ yếu ở kiến thức ngôn ngữ, vì thế thực trạng hiện nay học sinh không có khả năng giao tiếp tốt được đây là một hạn chế khó có thể khắc phục

Cụ thể khi dạy học ở khối lớp 9, trong quá trình dạy tôi thường dùng các mệnh lệnh đơn giản như : open your book (mở sách ra), go to the board ( lên bảng), ask and answer the questions (hỏi và trả lời câu hỏi)…

Hoặc tôi thường hỏi một số câu hỏi về bản thân các em như : What’s your name ? (Bạn tên gì) How old are you ? ( Bạn bao nhiêu tuổi) Where do you live ? (bạn sống ở đâu )… Thực sự điều làm tôi hết sức ngỡ ngàng là các em học sinh đã học đến lớp 9 rồi mà không thể trả lời đầy đủ được những câu hỏi đó, nếu có cũng trả lời sai Thế còn những học sinh lớp 6, 7, 8 thì như thế nào ? Chính vì điều này đã làm tôi trăn trở, tôi nghĩ rằng cần phải có một vài phương pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế này Vì

thế tôi đã tìm tòi một số Biện pháp để phát triển kỹ năng giao tiếp trong khi dạy và

học tiếng Anh để học sinh không chỉ nắm bắt được kiến thức đã học mà còn có thể áp

dụng được kiến thức đó ngày càng tốt hơn trong thực tế cuộc sống

Trang 2

Phần II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :

1/ Sự cần thiết phải phát triển kỹ năng giao tiếp:

Theo nhu cầu thế giới hiện nay, muốn phát triển trước hết phải hòa nhập Muốn hòa

nhập phải giao tiếp tốt Tiếng Anh là thứ tiếng được cả thế giới lựa chọn xem đó là ngôn ngữ chung Bốn kỹ năng giao tiếp của Tiếng Anh là : nghe (listening) , nói

( speaking), đọc ( reading ) và viết ( writing ) Thông thường kỹ năng đọc và viết chỉ

áp dụng vào việc đọc hiểu và làm bài tập Tính giao tiếp ở hai kỹ năng này không phát

huy cụ thể và mang tính thực tiễn Phát triển kỹ năng giao tiếp ở đây chủ yếu là nghe,

nói Trong phạm vi khả năng có hạn, tôi chỉ tập trung vào sự phát triển kỹ năng nghe,

nói của học sinh trong quá trình dạy và học bộ môn Tiếng Anh.

Tôi nghĩ rằng nếu quá trình học tập của học sinh chỉ mang tính lý thuyết thôi thì chưa đủ để đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu mà phương pháp đổi mới đã quy định Một học sinh có thể làm bài tập tốt, đạt điểm cao trong các bài kiểm tra Nhưng lại không thể nghe, diễn tả và áp dụng được kiến thức đó vào những tình huống trong giao tiếp thì không thể gọi là học tốt được Muốn hiểu được người khác phải giao tiếp Giao tiếp thông thường điều cần thiết là phải sử dụng được những mẫu câu cơ bản

Ví dụ : Hỏi và trả lời về tên tuổi, địa chỉ, sở thích, gia đình …

(Ex) : What’s your name ? My name is ………

How old are you ? I’m ………… years old

Where do you live ? I live in ………

How many people are there in your family ?

There are …… people in my family

Yêu cầu cao hơn nữa, học sinh còn có thể sử dụng kiến thức ngôn ngữ của mình thông qua kỹ năng nghe, nói để giao tiếp với người nước ngoài và thể hiện được khả năng của mình.Vì thế, phát triển kỹ năng giao tiếp là điều hết sức cần thiết khi học bất

kỳ một thứ tiếng nước ngoài nào đó Cụ thể ở đây là dạy và học bộ môn tiếng Anh

2/ Yêu cầu giao tiếp trong dạy và học ở bộ môn Tiếng Anh:

Theo chuẩn kiến thức của Bộ GD & ĐT đã ban hành thì học sinh lớp hết lớp 8 phải

có khả năng sử dụng những kiến thức tiếng Anh đã học trong phạm vi chương trình để:

Nghe :

- Nghe hiểu được nội dung chi tiết các đoạn độc thoại hoặc hội thoại trong phạm vi các nội dung chủ điểm đã học trong chương trình

- Hiểu được các lời độc thoại hoặc đối thoại có độ dài khoảng 80 – 100 từ ở tốc

độ tương đối chậm

Nói :

- Hỏi – đáp, miêu tả, kể, giải thích về các thông tin liên quan cá nhân, các hoạt

Trang 3

- Thực hiện một số chức năng giao tiếp cơ bản: thông báo, trình bày, diễn đạt lời đề nghị, chấp nhận hoặc từ chối lời đề nghị, diễn đạt lời hứa, …

Đối với các khối lớp 6, 7 về yêu cầu cũng không có gì thay đổi Tuy nhiên về trình

độ diễn giải và khả năng dùng từ đơn giản hơn chỉ ở mức độ khoảng 40 – 80 từ, đồng thời nội dung bài có liên quan đến chủ điểm chương trình

2.1Về cơ bản ở bộ môn tiếng Anh gồm có các phần sau :

- Kiến thức ngôn ngữ: điểm ngữ pháp, cấu trúc, từ vựng, lưu ý …

- Kỹ năng giao tiếp: nghe, nói, đọc, viết

2.2 Mục tiêu cần đạt :

* Học sinh có khả năng vận dụng kiến thức Sau khi được học vào làm bài tập Nắm được kiến thức đã học, học sinh có thể làm bài tập thay thế tương tự

Ví dụ : khi học Bài 3 - phần speak (Trang 24, English 9)

Hai học sinh đóng vai học sinh A và học sinh B hỏi – trả lời một số thông tin về quê quán, nơi ở, khoảng cách và cuộc sống của người dân ở địa phương theo thông tin

đã cho sẵn Sau đó chuyển sang hỏi và trả lời về thông tin chính bản thân các em

- Where is your home village ? ( Quê bạn ở đâu )

- How far is it from the city ? ( Cách thành phố bao xa )

- How can you get there ? ( Bạn đến đó bằng cách nào )

- How long does it take to get there ? ( Bạn mất bao nhiêu thời gian )

- What do people do for a living in your home village ? (Cuộc sống người dân )

* Học sinh có thể chuyển khả năng nhận thức của mình vào giao tiếp thực tế Giao tiếp với bạn cùng lớp, giao tiếp với Giáo viên, giao tiếp với xã hội …

Ví dụ: khi học Bài 6 - phần speak (Trang 49, English 9)

Sau khi học xong bài về chủ điểm môi trường học sinh có thể áp dụng hỏi và trả lời, hoặc thuyết phục người khác về việc bảo vệ môi trường (lấy thực tế xã hội để chứng minh) dùng lý lẽ và gợi ý đã cho, đồng thời mở rộng để tạo sự lôi cuốn người khác đồng tình với ý kiến của mình Dựa vào mẫu câu có sẵn, học sinh thay thế những thông tin khác

- I think you should use banana leaves to wrap food.

- Won’t you go to school or go to work by bike ?

- How about using public buses instead of motorbikes ?……

Học sinh phải kết hợp được kiến thức ngôn ngữ (từ, cấu trúc …) và kiến thức xã hội thông qua kỹ năng nghe, nói để giao tiếp tốt

3/ Thực trạng giao tiếp của học sinh:

Trang 4

Tầm quan trọng của giao tiếp là vậy Thế nhưng thực trạng hiện nay, việc học sinh không thể trả lời những câu hỏi về bản thân, gia đình, những dạng câu hỏi, bài tập đơn giản đang là một thực tế đáng quan tâm

Lấy ví dụ cụ thể ở lớp 9A1 Khi vào bài học tôi thường hỏi một số câu hỏi bằng tiếng Anh để trả bài cũ, hoặc gợi ý bài học mới, từ vựng mới nhưng phần lớn là tôi phải dùng song ngữ - nửa tiếng Việt, nửa tiếng Anh, thậm chí chuyển hoàn toàn yêu cầu đó sang tiếng Việt nhưng học sinh cũng trả lời chưa hoàn chỉnh được Bởi lẽ nghe

đã khó nói tiếng Anh còn khó hơn Trong khi đáng lý ra khả năng đó học sinh đã được rèn luyện từ các lớp dưới Tuy nhiên, không phải vì thế mà việc học tập của các em không tốt Nhiều em cũng đạt được kết quả cao trong học tập bộ môn tiếng Anh Nhưng số lượng trên cũng không nhiều lắm Việc phát huy khả năng giao tiếp của các

em còn hạn chế

Không những thế, một số em còn không có khả năng đưa ra ý tưởng để trả lời Bản thân các em nói tiếng Việt còn chưa chính xác, còn dùng nhiều ngôn ngữ địa phương huống chi là tiếng Anh Vì vậy giáo viên truyền đạt được ý đồ bài học rất khó khăn cũng như là hướng dẫn các em luyện tập tốt

Điều gây khó khăn cho giáo viên là nếu để tiết học đó hoạt động bằng các mệnh lệnh bằng tiếng Việt thì các em sẽ hiểu được và thực hiện nhanh chóng những yêu cầu của giáo viên Nhưng học sinh sẽ dần bị ảnh hưởng từ tiếng mẹ đẻ khó có thể học tiếng Anh tốt được Trong khi các hoạt động ở trên lớp đa số là phải dùng ngôn ngữ, yêu cầu, mệnh lệnh chính là tiếng Anh.Vì làm như thế bài học sẽ sinh động, đa dạng hơn

và đáp ứng đúng đổi mới phương pháp dạy và học tiếng Anh

Tuy nhiên do tình hình thực tế của xã hội, địa phương và trường, lớp ở trường THCS I Sông Đốc, và qua thực tế việc học tập của học sinh lớp 9 thì thực hiện được những yêu cầu trên là không phải dễ

4/ Nguyên nhân không thể phát triển khả năng giao tiếp trong dạy và học bộ môn Tiếng Anh:

Một số nguyên nhân, yếu tố dẫn đến việc chưa phát huy được kỹ năng giao tiếp trong quá trình dạy và học tiếng Anh:

4.1 Đối với giáo viên:

Nguyên nhân chính là hiện nay trong khi thực hiện các hoạt động dạy và học trên lớp, một số giáo viên rất ngại sử dụng tiếng Anh Lý do là lo sợ học sinh không hiểu và thực hiện được yêu cầu của mình Không những thế thời lượng tiết dạy chỉ có 45’, Giáo viên không thể truyền đạt sâu sắc được nội dung của bài học Mặt khác cũng do trình độ một số giáo viên còn hạn chế trong kỹ năng nghe và nói Vì thế, dần dần khả năng nghe, nói của học sinh bị hạn chế Học sinh không thể giao tiếp tốt tiếng Anh

trong khi đang học nghe, nói môn tiếng Anh.

Giáo viên chưa thực sự tạo được môi trường thuận lợi, và khuyến khích học sinh phát huy khả năng trình bày quan điểm của mình trước lớp

Trang 5

Giáo viên còn mang tính áp đặt khi học sinh nói Học sinh chỉ nói được dựa vào thông tin có sẵn chứ chưa mang tính sáng tạo trong luyện tập

Phần lớn các hoạt động thiết kế cho giáo viên chứ chưa thực sự hướng vào hoạt động học tập của học sinh

4.2 Đối với học sinh:

Việc ảnh hưởng từ tiếng mẹ đẻ là điều không thể tránh khỏi khi học tiếng Anh Ảnh hưởng từ tiếng địa phương, nhất là học sinh ở vùng Nam Bộ này Tôi nhận thấy học sinh còn phát âm chưa chuẩn xác mặc dù tôi đã hướng dẫn rất cặn kẽ trong quá trình nói

Ví dụ: - game /geim/ (n) trò chơi

tạm đọc theo tiếng việt là gem nhưng học sinh lại đọc là rem …

Một số từ khác: good morning, pray ………

Học sinh thường ngại nói Không có ý tưởng để nói, không có tài liệu tham khảo

khi đưa ra vấn đề học sinh không biết phải nói như thế nào Thiếu vốn từ, nghèo thông tin học sinh không thể nói những gì muốn nói Một số học sinh còn thụ động và lười học Không chuẩn bị bài cũ ở nhà, vào lớp lười phát biểu, không chú ý học

Học sinh không có cơ hội giao tiếp và thể hiện mình trước lớp Không được giao tiếp tiếng Anh trực tiếp với người bản xứ, không học được kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ

cử chỉ của họ (Một số học sinh có điều kiện rèn luyện ở ngoài thì có thể nghe, nói tốt hơn) Phần lớn học sinh chỉ học được kỹ năng giao tiếp trên sách vở

4.3 Một số nguyên nhân khác :

Tình hình địa phương, trường lớp, gia đình chưa tạo điều kiện cho các em

Ở địa phương không có các hình thức giao lưu, hoạt động giải trí, hoạt động xã hội thiết thực để học sinh thể hiện được khả năng của mình

Ở trường thiếu trang thiết bị hiện đại, phòng chức năng riêng cho việc dạy và học ngoại ngữ Đặc biệt hiện nay băng, đài thiếu đang là vấn đề đáng lo ngại nhất Đôi khi Giáo viên đọc luôn phần bài học mà lý ra là học sinh phải nghe qua băng, đài

Đặc trưng của tiếng Anh là càng nghe, nói nhiều càng tốt vì thế phải để cho học sinh tự do luyện tập Nhưng nếu tự do thực hành sẽ ảnh hưởng đến lớp khác Vì thế học sinh ngày càng nhút nhát hơn trong khi thực hành nghe, nói.(Đây là những thực tế khách quan)

Bên cạnh đó một số gia đình cũng chưa quan tâm và tạo điều kiện học tập cho các

em Ví dụ như: mua sắm sách vở, trang bị băng, đài; tạo điều kiện cho các em học thêm, giao tiếp thêm ở bên ngoài…

Trên đây chính là những nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp của học sinh Muốn khắc phục những hạn chế trên phải có một số biện pháp cụ thể và thực tế đối với các em học sinh lớp 9

Trang 6

5/ Một số giải pháp phát triển kỹ năng giao tiếp (nghe, nói) khi dạy và học Tiếng Anh:

Có thể liệt kê một số phương pháp phát triển kỹ năng nghe, nói trong hoạt động dạy và học trên lớp như sau:

• Giáo viên thường xuyên nói tiếng Anh trong khi dạy và học, sử dụng các

mệnh lệnh bằng tiếng Anh tạo thói quen, phản xạ trong giao tiếp

Ex: open your book, go to the board, listen and repeat, ……

Học sinh nghe và hiểu được giáo viên đang yêu cầu mình phải thực hiện hành động gì Làm vậy để tạo cho học sinh luôn có tâm thế nghe và nói tiếng Anh ở mọi thời điểm, mọi lúc, mọi nơi Điều đơn giản là học tiếng Anh thì phải sử dụng nó để luyện tập và thực hành

• Gv chỉ nói tiếng Việt khi cần giải thích những vấn đề khó, những từ trừu tượng Ex: rain (mưa); distance (khoảng cách); science (khoa học) …

Dùng hành động, ngôn ngữ cử chỉ (Body language) để học sinh đoán và thực

hiện được yêu cầu Đồng thời lớp học sẽ sôi nổi hơn Học sinh sẽ chú ý hơn vào hành động của giáo viên khi hướng vào nội dung bài học

Ex: play volleball, play soccer, listen to the tape ………

Giáo viên khi giới thiệu một số môn thể thao nên dùng cử chỉ hoạt động môn thể thao

đó qua hành động giả Đá chân : bóng đá, đánh tay : môn bóng chuyền… Hoặc khi yêu cầu học sinh nghe băng, Gv chỉ vào đài …

• Gv nên làm một số đồ dùng dạy học, hoặc sử dụng tranh, ảnh, vật thật… và thường xuyên sử dụng chúng để dễ dàng gợi ý cần nói

Ex: khi giới thiệu các trang phục trong Bài 2: Clothing (TA 9) giáo viên sử dụng

tranh có sẵn hoặc một số trang phục các nước, được sưu tầm ở sách báo để học sinh nói phong phú hơn và sôi nổi hơn

Hoặc Gv có thể dùng các mô hình tự làm để minh họa cho nội dung bài học Làm cho tiết học sống động hơn

• Gv để học sinh tự do luyện tập Khuyến khích học sinh nói ra ý tưởng của các

em Khuyến khích các em ít nói và nhút nhát Không cắt lời các em mà nhẹ nhàng giải thích sau khi các em trình bày xong vấn đề Có thái độ khen ngợi kịp thời

• Gv luôn tạo điều kiện để học sinh có cơ hội thể hiện mình trước lớp Mạnh dạn trình bày quan điểm của mình trước lớp

Ex: In my opinion ……

I think ……….

I suggest ………….

Trang 7

• Gv cần phải thiết kế các hoạt động chủ yếu hướng vào học sinh để học sinh tự phát huy tính tích cực, chủ động khi học kiến thức ngôn ngữ và thực hành luyện tập

- Gv có thể lựa chọn các thủ thuật phù hợp với cách kiểm tra mức độ nghe, nói của học sinh hoặc sử dụng các trò chơi để huy động sự tham gia học tập tích cực của học sinh khi thực hành luyện tập nghe, nói:

Ex: Brainstorming, Dictation, Jumbled words, Naughts and crosses ……

- Gv yêu cầu học sinh hoạt động cặp, nhóm, làm các dạng bài tập liên hệ thực tế,

mở rộng …

Lấy ví dụ một bài tập trong Bài 6 (Tiếng Anh 9) trang 48

1 group 1

2 group 1

3 group 1

4 Mr Jones

5 Mrs Smith

6 Mr Brown

a/ collect all the bags and take them to the garbage dump

b/ check among the rocks

c/ provide a picnic lunch for everyone

d/ give out the bags

e/ check the sand

f/ walk along the shore

Theo bảng bài tập trên, học sinh hoạt động cặp, nhóm để tìm ra đáp án Đồng thời dựa vào thông tin có sẵn dùng kiến thức ngôn ngữ của mình để nói lại các hoạt động, công việc mà các nhân vật trong bài đang thực hiện Gv không áp đặt đáp án, do đó học sinh có nhiều cách khác nhau để nói

• Giúp đỡ các em học sinh còn nói kém Ra yêu cầu cụ thể và bài tập, câu hỏi đơn giản đối với các em Gv nên đưa ra các ý tưởng, thông tin để học sinh nói Đưa ra các mẫu câu cơ bản … Lưu ý cho học sinh về ngữ điệu, cách diễn tả Mở rộng đề tài, kiến thức xã hội và thông tin đối với các em khá, giỏi Kết hợp với gia đình và nhà trường tạo điều kiện cho các em học tập tốt

Đối với em yếu – Trung bình, giáo viên hỏi một số câu đơn giản, thông dụng

Ex: What do you usually do in the evening ?

Which sports do you play ?

How often do you listen to music ?

Đối với học sinh khá – giỏi, giáo viên có thể yêu cầu nâng cao hơn

Ex: Which sports do you play ? Why do you play soccer ?

How many people are there in your family ? Talk about your family …

Trang 8

Do you like wearing Ao dai ? Why ? or Why not ?

What do people do for a living in your village ?

• Yêu cầu các em rèn luyện nghe, nói tại lớp và luyện tập thêm ở nhà Thường xuyên xem các chương trình trên TV Nghe băng, đài …… bằng tiếng Anh để nâng cao khả năng giao tiếp của các em

Tóm lại, có rất nhiều cách để giáo viên thiết kế các hoạt động trong quá trình dạy và học tiếng Anh Tuy nhiên giáo viên có thể lựa chọn những phương pháp phù hợp nhất

và hiệu quả nhất đối với từng đối tượng học sinh cụ thể

6/ Ví dụ một số tiết dạy cụ thể về phát triển kỹ năng giao tiếp:

6.1.Tôi xin đưa ra các bước tóm tắt giáo án của một tiết dạy kỹ năng nói

Unit 5 - English 9 – speak (Trang42)

a/ Warm – up (vào bài):

- Giáo viên vào bài bằng cách hỏi một số câu hỏi:

Do you like watching TV ? (Em thích xem ti vi hay không ?)

Which programs do you like watching ? Why? (Chương trình nào các em thích xem nhất ? tại sao?)

You like music, don’t you? (Các em thích xem ca nhạc phải không ?)

- Từ đó giáo viên đi vào bài học một cách tự nhiên và thoải mái Vừa gây hứng thú cho học sinh trong khi nghe và trả lời thông tin, giới thiệu được nội dung bài nói về các chương trình ti vi,

b/ Pre – speaking (trước khi nói):

- Giáo viên giải thích bài đối thoại Học sinh nghe băng và luyện tập theo cặp,

đồng thời giới thiệu từ mới, cấu trúc mới

You like watching TV, don’t you?

You don’t like watching TV, do you?

c/ While – speaking (trong khi nói):

- Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào bài đối thoại vừa mới luyện tập để làm những bài đối thoại tương tự

Now make similar dialogues Talk about the programs you like and dislike.

DAILY TELEVISION GUIDE

Thursday, oct 16

8.30 Folk Music 9.15 Documentary: 6.00 Football: Newcastle

Trang 9

Dien bien phu Battle vs Southampton 10.00 Cartoon: Tom &

Jerry

13.00 Learning English Through songs

11.30 Children’s Corner

18.15 Literature & Art 14.00 Health for

Everyone

15.15 Film: Being a Mother (Viet Nam)

to Plant Pear Trees

21.00 Songs I Love

20.00 Safe Traffic News 21.30 Wildlife World 22.00 Sports: English

Badminton 21.30 Dramma: Love and

Life

22.15 Weather Forecast 23.30 English News

- Như vậy sau khi giải thích nội dung chương trình ti vi vủa các đài VTV 1, 2, 3 Giáo viên yêu cầu học sinh thực hành nghe, nói – hỏi, trả lời về các chương trình các

em thích xem và không thích xem

Ex: A: You like watching ………., don’t you, B?

B: Not really Some …… are …… , and I don’t like

watching …… I prefer …………

A: I ………… I love watching …… and …………

B: But you watch ………., don’t you?

A: ………… It’s ………

B: I enjoy ……… You don’t like …………, do you?

A: ………

- Tuy nhiên, đó chỉ là phần gợi ý yêu cầu học sinh thực hành Giáo viên có thể cho học sinh luyện tập hỏi và trả lời theo cách hiểu của các em chứ không áp đặt học sinh trả lời theo mẫu

d/ Post – speaking (sau khi nói):

- Củng cố nội dung bài vừa luyện tập, giáo viên có thể yêu cầu học sinh mở rộng thêm các chương trình mà các em xem trên ti vi hằng ngày (kỹ thuật số, chương trình địa phương ) Giáo viên lưu ý hình thức vấn đáp Giáo viên hỏi một số câu hỏi Học sinh nghe (listen) - trả lời, hoặc nói lại những sở thích của mình (speak)

Trang 10

Ex: Which programs do you like watching?

I like watching Sports

You like Weather Forecast, don’t you?

Yes, I like And I enjoy Music, too

You don’t like watching Dramma, do you ?

I think it’s very boring I prefer Viet Nam films

6.2 Các bước tóm tắt giáo án của một tiết dạy kỹ năng nghe

Unit 2 - English 9 – Listen (Trang 16)

a/ Warm – up:

Giáo viên vào bài bằng cách hỏi một số câu hỏi:

Which clothes do you like wearing?

Do you like wearing jeans ?

What do you usually wear on the weekend ?

What is your favorite type of clothing ? Why ? …

Từ đó giáo viên đi vào giới thiệu nội dung bài sắp học nói về việc đi lạc của bé gái

tên Mary You will hear a public announcement about a lost little girl called Mary

Listen and check the letter of the correct picture to show what Mary is wearing.

b/ Pre – listening:

Giáo viên yêu cầu học sinh nhìn vào sách look at the pictures on page 16 can

you guess what clothes Mary is wearing ?, giáo viên giải thích tên gọi của một số loại

quần áo trong sách bằng tiếng Anh, và yêu cầu học sinh lưu ý cách thức làm bài tập Ex: blue shorts, long/ short sleeved white/ pink blouse, brown shoes …

c/ While – listening:

Giáo viên có thể đưa ra sơ đồ để học sinh đoán được tiến trình sự việc, và quần

áo Mary đang mặc khi đi lạc Kết hợp với các tranh vẽ được dán trên bảng

Ex: A little girl missing 20 minutes ago near …… she is … She has a ……… She is wearing ……… and ……… …… Học sinh trao đổi đáp án với bạn của mình và đưa đáp án (nói hoặc điền vào sơ đồ)

d/ Post – listening:

Giáo viên có thể yêu cầu học sinh nói lại tiến trình sự việc sau khi đã điền đầy

đủ thông tin thiếu vào sơ đồ (lưu ý thêm một số thông tin cá nhân của Mary)

Ex: She is 3 years old.

She may be carrying a large doll …

Ngày đăng: 13/11/2015, 05:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w