Thực tế dạy học cho thấy, việc đưa các văn bản nhật dụng vào Chương trình Ngữ Văn là một việc làm cấp thiết và hợp lí, không chỉ riêng đối với nền giáo dục nước ta mà còn đối với nền giá
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
TRƯỜNG THCS THẠCH LINH
-
-Sáng kiến kinh nghiệm
Đề tài:
Văn bản nhật dụng và cách dạy văn bản nhật dụng
trong Chương trình Ngữ văn 6 - 7
Hà Tĩnh, tháng 04 năm 2011
Trang 2A Đặt vấn đề:
I Cơ sở lí luận:
Chương trình Ngữ Văn được xây dựng theo tinh thần tích hợp Các văn bản được lựa chọn theo tiêu chí kiểu văn bản (Tập làm văn) và tương ứng với kiểu văn bản là thể loại tác phẩm (Văn học) Điều này có nghĩa là việc lựa chọn các văn bản phải căn cứ trước hết vào tính chất tiêu biểu của kiểu văn bản và thể loại tác phẩm, chứ không phải là lựa chọn theo lịch sử văn học Đương nhiên, khi lựa chọn văn bản cũng phải dựa vào các giai đoạn và thời kì của lịch sử văn học, nhưng không quá lệ thuộc vào đó; đặc biệt là không nhằm dạy văn học sử Về phương diện nội dung, ngoài yêu cầu về tính tư tưởng, sự phù hợp với tâm lí lứa tuổi học sinh trong sáng, giản dị còn có một nội dung mà chương trình Ngữ Văn quan tâm là sự cập nhật, gắn kết với đời sống, đưa học sinh trở lại với những vấn đề vừa quen thuộc vừa gần gũi hằng ngày, vừa có ý nghĩa lâu dài, trọng đại mà tất cả chúng ta cùng quan tâm hướng tới Những vấn đề này, "phần cứng" của chương trình có thể chưa đáp ứng hết được Các văn bản nhật dụng đã bổ sung hoàn chỉnh mục đích này
Mặt khác, các nhà biên soạn Chương trình và Sách giáo khoa Ngữ Văn
mới đã nhận định: "Không thể chỉ khoán vấn đề giáo dục môi trường cho
môn Sinh học, giáo dục truyền thống cho môn Lịch sử, giáo dục pháp luật cho môn Giáo dục công dân, Ngữ Văn không thể đứng ngoài cuộc" (Sách
giáo viên Ngữ Văn 6, tập hai) Thực tế dạy học cho thấy, việc đưa các văn bản nhật dụng vào Chương trình Ngữ Văn là một việc làm cấp thiết và hợp
lí, không chỉ riêng đối với nền giáo dục nước ta mà còn đối với nền giáo dục của các nước trên thế giới
Mục đích đưa các văn bản nhật dụng vào Chương trình Ngữ Văn đã rõ, song, vấn đề mới chỉ là lí thuyết Từ lí thuyết đi vào thực hành quả còn nhiều thực tế, vả lại "trăm nghe không bằng một thấy", lí thuyết chưa biến thành thựuc hành Do vậy, khi tổ chức các hoạt động dạy học, cả giáo viên
và học sinh đều thấy lúng túng khi tiếp nhận các văn bản nhật dụng Vấn đề đặt ra ở đây là dạy văn bản nhật dụng như thế nào, bằng phương pháp nào, hướng tiếp cận ra sao? Câu hỏi ấy đang chờ đợi được giải đáp
II Cơ sở thực tiễn:
Khái niệm văn bản nhật dụng tạm dịch từ chữ "Everyday texts" của
tiếng Anh Văn bản nhật dụng không phải là một khái niệm chỉ thể loại, hoặc chỉ kiểu văn bản Nếu các văn bản văn chương nghệ thuật lấy hình thức (kiểu văn bản và thể loại) làm tiêu chí lựa chọn, thì văn bản nhật dụng được lựa chọn theo tiêu chí nội dung Chính vì thế, văn bản nhật dụng có thể thuộc bất cứ kiểu văn bản hoặc bất cứ thể loại nào
Trang 3Nói đến văn bản nhật dụng trước hết là nói đến tính chất của nội dung văn bản Đó là những bài viết có nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống
trước của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như: thiên nhiên,
môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em, ma tuý
Văn bản nhật dụng xuất hiện ở tất cả các lớp bậc THCS với một số nội dung cơ bản như sau:
- Lớp 6: Tập trung vào một số văn bản viết về các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh và thiên nhiên, môi trường
- Lớp 7: Nội dung chính là những vấn đề quyền trẻ em, nhà trường, phụ nữ, văn hoá - giáo dục
- Lớp 8: Tập trung vào các nội dung cơ bản như vấn đề dân số, các tệ nạn xã hội
- Lớp 9: Các văn bản xoay quanh vấn đề quyền sống của con người, vấn đề chống chiến tranh, gìn giữ hoà bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc, vấn
đề hội nhập và phát triển, bảo vệ bản sắc dân tộc
Có thể thấy được tính đồng tâm trong việc sắp xếp chương trình qua hai vòng: vòng I (lớp 6 - 7); vòng II (lớp 8 - 9) Đồng tâm không có nghĩa là sự lặp lại giản đơn tạo nên sự chồng chéo, trùng lặp, mâu thuẫn Đồng tâm là một nguyên tắc sư phạm, vừa phản ánh tính tiếp nối và phát triển của hệ thống tri thức, vừa phản ánh một số quy luật nhận thức theo trình độ và tâm - sinh lí lứa tuổi Ở mỗi vòng, văn bản nhật dụng đều được đưa vào giảng dạy Song về cơ bản, nội dung và cách trình bày đã có sự biến đổi phù hợp các yêu cầu nêu trên Xuất phát từ yêu cầu xây dựng chương trình, GV cũng cần hướng dẫn cho học sinh cách tiếp cận phù hợp với nội dung từng văn bản, để việc dạy học đạt kết qủa tốt nhất
Đề tài này, ngoài mục đích góp phần giải quyết yêu cầu trên đây, còn mong muốn bản thân có cái nhìn đúng đắn trong việc sử dụng các phương pháp dạy học tác phẩm văn chương nói chung, các văn bản nhật dụng nói riêng trong nhà trường phổ thông Xuất phát từ yêu cầu hiểu biết và vận dụng đúng các phương pháp dạy học đối với các văn bản nhật dụng trong
Chương trình Ngữ văn THCS, tôi chọn đề tài: Văn bản nhật dụng và cách dạy văn bản nhật dụng trong Chương trình Ngữ Văn 6 - 7
Tuy nhiên, đề tài này không nhằm thống kê tất cả các văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ Văn THCS mà chỉ đưa ra khảo sát một số văn bản nhật dụng được đưa ra trong Chương trình Ngữ Văn 6 - 7 (vòng I), trên cơ
sở thực tế dạy học trong nhà trường THCS
B Giải quyết vấn đề
I Văn bản nhật dụng và cách dạy văn bản nhật dụng trong Chương trình Ngữ Văn 6 - 7
1 VĂN BẢN NHẬT DỤNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 6 - 7
Trang 4Với định hướng nội dung đã nêu trong Chương trình Ngữ văn, SGK Ngữ Văn 6 - 7 đã lựa chọn các văn bản nhật dụng sau đây:
+ Văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ Văn 6:
- Cầu Long Biên - chứng nhân lịch sử của Thúy Lan
- Bức thư của thủ lĩnh da đỏ
- Động Phong Nha của Trần Hoàng
Ba văn bản trên được học trong tiết Bài 29 học văn bản Cầu Long Biên -
chứng nhân lịch sử (1 tiết) Bài 30 học văn bản Bức thư của thủ lĩnh da đỏ
(2 tiết) Bài 31 học văn bản Động Phong Nha (1 tiết)
Văn bản Cầu Long Biên - chứng nhân lịch sử là một bài bút kí mang nhiều yếu tố hồi kí, đề cập đến ý nghĩa làm chứng nhân lịch sử của cầu Long
Biên Từ đó nâng cao, làm phong phú thêm tâm hồn, tình cảm đối với quê hương, dất nước, đối với các di tích lịch sử
Văn bản Bức thư của thủ lĩnh da đỏ là bức thư trả lời yêu cầu mua đất
của thủ lĩnh người da đỏ Xi-át-tơn đối với Tổng thống Mĩ Phreng-klin Văn bản đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa toàn nhân loại: Con người phải sống hoà hợp với thiên nhiên, phải chăm lo bảo vệ môi trường và thiên nhiên như bảo
vệ mạng sống của chính mình
Văn bản Động Phong Nha được đưa vào chương trình nhằm giúp học
sinh hình dung được vẻ đẹp kì ảo của động Phong Nha và hiểu được vị trí của nó tròn cuộc sống Việt Nam hôm nay và mãi mãi về sau Từ đó, có ý thức tham gia bảo vệ những danh lam thắng cảnh của đất nước
+ Văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ Văn 7:
- Cổng trường mở ra của Lí Lan
- Mẹ tôi (trích Những tấm lòng cao cả) của Ét-môn-đô đơ A-mi-xi
- Cuộc chia tay của những con búp bê của Khánh Hoài
- Ca Huế trên sông Hương của Hà Minh Ánh
Bốn văn bản trên được học trong 5 tiết Bài 1 học hai văn bản: Cổng
trường mở ra và Mẹ tôi (2 tiết) Bài 2 học văn bản Cuộc chia tay của những con búp bê (2 tiết) Bài 28 học văn bản Ca Huế trên sông Hương (1 tiết)
Hai văn bản Cổng trường mở ra của Lí Lan và Mẹ tôi của Ét-môn-đô đơ
A-mi-xi (nhà văn I-ta-li-a) nhằm khai thác những nội dung có liên quan đến vấn đề người mẹ và nhà trường
Văn bản Cuộc chia tay của những con búp bê có đề tài về quyền trẻ em Văn bản cuối là bài báo Ca Huế trên sông Hương, giới thiệu sản phẩm văn
hoá của một địa danh nổi tiếng với con sông thơ mộng
2 CÁCH DẠY VĂN BẢN NHẬT DỤNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 6 - 7
Căn cứ việc sắp xếp các văn bản nhật dụng trong Chương trình Ngữ Văn
6 -7, có thể thấy cách hiểu văn bản văn học trong nhà trường đã có nhiều thay đổi Văn bản văn học không chỉ là những tác phẩm hư cấu, tưởng tượng
Trang 5mà còn là các văn bản dùng ngôn ngữ một cách có nghệ thuật, và văn bản nhật dụng là một điển hình
Bởi vậy, giáo viên - người hướng dẫn cho học sinh cách đọc - hiểu (cách giải mã, cách tiếp cận, cách phân tích, cảm nhận ) các văn bản nhật dụng với tư cách là một văn bản văn học nghệ thuật, đồng thời phải biết đổi mới cách dạy của bản thân; bởi trong "bình cũ" bây giờ đã có "rượu mới", không thể chỉ dạy theo lối mòn như các văn bản khác trước đây Khi dạy các văn bản nhật dụng, giáo viên nên lưu ý đến sự thay đổi, nhằm biến đổi nội dung, cách thức tiếp cận cho phù hợp với đối tượng học sinh Cụ thể, cần chú ý đến một số điểm sau đây:
(a) Giáo viên phải nhận thức được rằng dạy loại văn bản này là "tạo điều kiện tích cực để thực hiện nguyên tắc giúp học sinh hoà nhập với xã hội" nên các đề tài được chọn dĩ nhiên phải có tính chất thời sự, song đó cũng phải là những đề tài có liên quan đến "nhưng vấn đề xã hội có ý nghĩa lâu dài"
Do đó, dạy văn bản nhật dụng, trước hết là phải từ cái trước mắt, có tính cập nhật và thời sự, chỉ ra ý nghĩa lâu dài, muôn thuở; từ cái của một nơi, chỉ ra điều của mọi nơi; từ một phương diện, chỉ ra mối liên quan với nhiều phương diện Do chức năng, đề tài, tính chất của văn bản, giáo viên có quyền và cần cho học sinh liên hệ tới một phạm vi rộng rãi mà không bị gò
bó trong khuôn khổ văn chương
Chẳng hạn, văn bản Bức thư của thủ lĩnh da đỏ là một văn bản nhật dụng
có nội dung hết sức phong phú, có thể khai thác, phân tích rõ để làm rõ ý nghĩa về nhiều mặt: chính trị, xã hội, dân tộc học, triết học Tuy nhiên giáo viên cần lưu ý hướng học sinh đến vấn đề được đặt ra một cách nổi bật nhất, sinh động nhất, có ý nghĩa nhất và cũng dễ tiếp cận nhất là vấn đề quan hệ giữa con người với tự nhiên xét từ góc độ môi trường và sinh thái
Mặt khác, ngay ở Tiểu học, cuốn Khoa học 5, phần I, đã dạy mười bài liền (từ bài 55 đến bài 65) về chủ đề con người, môi trường; phần trọng tâm của môn Sinh học lớp 9 theo Chương trình THCS mới là vấn đề sinh thái và môi trường, rồi môn Giáo dục công dân các khối lớp 6 - 9 cũng đưa ra khá nhiều bài về vấn đề bảo vệ môi trường Vì vậy, khi dạy bài này, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh ô lại những kiến thức của mười bài Khoa học 5 và chuẩn bị tâm thế cho các em học các môn Sinh học lớp 9 và Giáo dục công dân Đây là biểu hiện của phương pháp dạy học theo hướng tích hợp mà mục tiêu Chương trình mới đang hướng đến
Cũng theo xu hướng đó, trong khi dạy văn bản này, giáo viên cũng cần
giải thích cho học sinh hiểu: Vì sao một bức thư nói về việc mua bán đất ở
thế kỉ XIX nhưng đến nay lại được coi là một trong những văn bản hay nhất
về thiên nhiên và môi trường Với vấn đề này, trong quá trình giảng dạy,
giáo viên cần cho học sinh hiểu rõ: Xuất phát điểm của bức thư trước hết
Trang 6vẫn là lòng yêu đất nước quê hương Song cách thể hiện tình yêu đất nước của mỗi dân tộc, thậm chí mỗi tập đoàn, mỗi nhóm người mỗi khác Có người thì đau xót trước cảnh dân chúng bị tàn sát, có người thì đau xót trước tình trạng bnền văn hoá dân tộc bị huỷ hoại Đó là những vấn đề không đặt
ra trong bức thư Khi người da trắng vào châu Mĩ thì người Anh-điêng đang còn ở trình độ bộ lạc, nghĩa là đang sống một cách hoà đồng với tự nhiên, thiên nhiên Thiên nhiên như một bà mẹ hiền chở che họ, cung cấp cho họ tất cả những thứ cần thiết, dù đó chỉ là những yêu cầu tối thiểu Nền cơ khí công nghiệp xâm nhập đã làm đảo lộn tất cả, huỷ hoại gần như hoàn toàn môi trường sống của họ Họ đã ngầm có ý thức phản kháng, chỉ chờ dịp bộc
lộ Và, trả lời yêu cầu mua đất của Tổng thống Mĩ là một cơ hội thuận lợi Chính vì vậy, trong thư, không thấy người viết trả lời có bán hay không, lại càng không nói đến chuyện giá cả, vấn đề chỉ được đặt ra như một giả thiết (nếu nếu ), mà đặt giả thiết chủ yếu là để tạo đà, tạo thế cho việc trình bày quan điểm và bộc lộ tình cảm
Trong thư, vị thủ lĩnh da đỏ không chỉ đề cập đến đất mà còn đề cập đến tất cả các hiện tượng liên quan tới đất - những hiện tượng làm cho đất có giá trị, có ý nghĩa, những hiện tượng tạo nên cái mà hiện nay ta gọi là tự nhiên
và môi trường sinh thái Về điểm này, cần liên hệ với thời điểm nhân loại bước sang thế kỉ XXI, thời điểm mà tài nguyên thiên nhiên đã bị khai thác cạn kiệt, môi trường thiên nhiên đang bị ô nhiễm, bị tàn phá một cách cực kì nghêm trọng Đó là bối cảnh khiến cho bức thư của Xi-át-tơn, vốn xuất phát
từ lòng yêu quê hương đất nước, bỗng trở thành một trong những văn bản có giá trị nhất về thiên nhiên và môi trường Đặc biệt, giáo viên có thể cung cấp thông tin để liên hệ thực tế: Ở Anh, trong vài chục năm lại đây, thanh niên rất thích mặc quần áo may bằng loại vải trên đó có in sẵn bức thư có giá trị này
Đối với một văn bản khác, Cầu Long Biên - chứng nhân lịch sử, giáo
viên cần cho học sinh chỉ ra những sự vật, sự việc đã được ghi lại và ý nghĩư nhân chứng lịch sử của chúng (những năm tháng hoà bình ở miền Bắc sau năm 1954, những năm tháng chống Mĩ cứu nước )
Cần cho học sinh thấy tác giả đã phân biệt chế độ thuộc địa Pháp, động
cơ xây dựng cầu (có cơ sở hạ tầng tốt mới tiến hành được triệt để việc khai thác thuộc địa) với bản thân nền khoa học - kĩ thuật tiên tiến mà nhân dân, các nhà khoa học Pháp bấy giờ đã đạt được Mặt khác, cho học sinh so sánh cầu Long Biên với cầu Thăng Long và Chương Dương để hiểu rõ vì sao tác giả trong đoạn đầu và đoạn cuối đã hai lần nhấn mạnh cầu Long Biên đã "rút
về vị trí khiêm nhường" Từ việc liên hệ thực tế, giáo viên cần khẳng định và nhấn mạnh rằng: Đánh dấu "thành tựu quan trọng trong thời văn minh cầu sắt" cũng là một chuẩn của "chứng nhân lịch sử", song đối với người Hà
Trang 7Nội, đối với nhân dân Việt Nam, những phương diện khác của chứng nhân lịch sử cầu Long Biên còn có ý nghĩa hơn
Nhưng phải thừa nhận rằng tất cả những kiến thức trên đây, không thể đưa hết vào tiết học 45 phút trên lớp Song, giáo viên hoàn toàn có thể cho học sinh liên hệ trực tiếp vấn đề đang học với tình hình địa phương trong các tiết ngoại khoá và khi cần, có thể sử dụng một số giờ dành cho Chương trình địa phương để tiến hành các hoạt động điều tra, thống kế, khảo sát
(b) Phần Chú thích của các văn bản nhật dụng, bên cạnh việc giải nghĩa còn có những thông tin khác về lịch sử, xã hội, chính trị Trong quá trình Đọc - hiểu văn bản, giáo viên nên lưu ý cho học sinh đọc kĩ cả những chú thích đó mới hiểu được một cách đầy đủ, sâu sắc ý nghĩa của văn bản Không phải bao giờ việc tìm hiểu các chú thích này cũng được tiến hành trên lớp Việc đọc, tóm tắt (đối với các văn bản truyện), tìm hiểu chú thích là công việc ở nhà (chuẩn bị bài) của học sinh Nhưng ở lớp, giáo viên cũng nên lưu ý những chú thích khó hay liên quan đến nội dung văn bản
Chẳng hạn, chú thích đầu tiên trong văn bản Động Phong Nha là Đệ nhất kì quan Phong Nha, giúp học sinh hiểu về vị trí, giá trị và ý nghĩa của động Phong Nha Giáo viên cần lưu ý học sinh đọc kĩ chú thích này, cùng với văn bản, để hình dung ra vẻ đẹp kì ảo và giá trị của động, với tư cách là "đệ nhất
kì quan" của đất nước
Ngoài ra, học sinh cần được lưu ý thêm về các chú thích: vân nhũ, ngọc bích, nguyên sinh, huyền bí, kì ảo, tiên cảnh trong văn bản, vì tất cả các chú thích ấy đều hướng đến gợi tả vẻ đẹp và giá trị của động Việc tìm hiểu kĩ các chú thích này, cùng việc khai thác nội dung văn bản sẽ là tiền đề cho học sinh làm tốt bài tập luyện tập sau khi học xong
Dù khai thác theo hướng nào và nhằm mục đích gì, giáo viên cũng phảo hướng học sinh đến chủ đề văn bản Có thể liên hệ việc tìm hiểu chú thích trong văn bản với việc giải nghĩa các ô chữ trong một chướng ngại vật Bởi tất cả các chú thích đều nhằm thể hiện rõ thêm nội dung văn bản, giúp học sinh hình dung về nội dung đó dễ dàng hơn Là người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động dạy học, giáo viên phải là người nắm được yêu cầu này, để tìm ra cho học sinh cách tiếp cận nhanh nhất
(c) Một vấn đề nữa cần lưu ý là: Dù có đề cập vấn đề thời sự bức thiết đến đâu, văn bản nhật dụng được đưa vào Chương trình Ngữ Văn 6 - 7 đều phải đạt một giá trị nghệ thuật nhất định Bởi vậy, nếu chỉ chú ý đến khai thác nội dung nhật dụng, chỉ hướng đến những vấn đề mang tính xã hội cấp thiết thì giá trị văn chương của nó bị hạn chế đi nhiều lắm Một văn bản văn học, trước khi mang tính thời sự của thời đại, tự nó phải có tính chất văn chương đích thực Hoàn toàn có thể dạy các văn bản ấy như một văn bản văn học xét về phương diện phân tích từ ngữ, thủ pháp nghệ thuật cũng như thi pháp thể loại Một văn bản nhật dụng có thể sử dụng nhiều phương thức biểu
Trang 8đạt khác nhau xét trên tổng thể, mỗi văn bản cũng có thể xếp vào những kiểu văn bản khác nhau Vì thế, trong qúa trình đọc hiểu văn bản, giáo viên cần căn cứ vào các nội dung đang học và đã học ở hai phần Tiếng viết và Tập làm văn để xác định trọng điểm phân tích về mặt giá trị nghệ thuật cho phù hợp
Khi tìm hiểu nội dung và đặc điểm nghệ thuật của văn bản Cầu Long Biên -
chứng nhân lịch sử, giáo viên có thể vận dụng hướng khai thác này cho phù
hợp với từng đoạn Chẳng hạn khi tìm hiểu đoạn văn từ "cầu Long Biên khi mới khánh thành" đến "bị chết trong quá trình làm cầu", cần cho học sinh phát hiện được: Trong đoạn văn, không hề có một đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất như ta vẫn thường thấy trong hồi kí; đặc điểm sự vật được trình bày một cách khách quan, như từ điểm nhìn của ngôi thứ ba Đặc biệt, đoạn văn dùng chủ yếu phương thức thuyết minh để nói lên hiểu biết chứ không phải
những cảm nghĩ về cầu Long Biên Nhưng đến đoạn văn sau, từ "Năm 1945" đến "nhưng vẫn dẻo dai, vững chắc", tình cảm của tác giả đã được bộc lộ rõ
ràng và tha thiết hơn Điều này có thể thấy qua hình thức biểu hiện của ngôi
kể (tác giả sử dụng tôi mười lần), qua phương thức biểu đạt, qua cách sử dụng từ ngữ Đặc biệt, trong đoạn văn có sự xuất hiện của một cơ số từ ngữ không nhỏ có sắc thái biểu hiện tình cảm rõ nét (các danh từ, động từ, tính
từ) như: trang trọng, nằm sâu (trong trí óc), (say mê) ngắm, quyến rũ, khát
khao, bi thương, hùng tráng, nhói đau, oanh liệt, oai hùng, thân thương, tả tơi, ứa máu
Trong quá trình tiếp nhận bài học, có thể học sinh sẽ thắc mắc vì sao tác giả lại nói đến chuyện các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô rút lui khỏi Hà Nội năm 1946 sau khi tả cảnh cầu Long Biên những năm tháng hoà bình (sau 1954) Trước tình huống này, giáo viên cũng cần cho học sinh rõ, vì bài văn
có tính chất hồi kí nên một số chỗ được viết theo mạch cảm xúc chứ không nhất thiết phải theo trình tự việc xảy ra trước nói trước, việc sau nói sau Và xét từ góc độ đó, vẫn thấy tính chất liên tục, hợp lí của những hồi ức cụ thể xuất phát từ thời điểm hiện tại
Đặc biệt, trong những sự vật, sự việc được ghi lại, có một bài thơ về cầu Long Biên đã được sử dụng trong SGK và một đoạn thơ đã được phổ nhạc Điều đó vừa chân thực (vì những ấn tượng, cảm nghĩ trực tiếp về cầu ở những thời điểm đó, tác giả chưa thể có), vừa có tác dụng nâng cao ý nghĩa
tư tưởng của bài văn: Ở đây cái Tôi đã hoà quyện với cái Ta; tình cảm quê hương đối với đất nước, đối với các di tích lịch sử của những thế hệ sau đã được bao thế hệ đàn anh nuôi dưỡng Đó cũng chính là một bức thông điệp đầy ý nghĩa mà tác giả muốn gửi tới người đọc
(d) Văn bản nhật dụng dù được hiểu theo ý nghĩa nào cũng đều thuộc
hệ thống văn bản văn học trong nhà trường Phổ thông Chính vì vậy, một
Trang 9định hướng chung mà giáo viên phải quan tâm là đổi mới phương pháp dạy học, trên cơ sở phù hợp với lứa tuổi và trình độ tiếp nhận của học sinh Trong xu thế chung đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường, việc đổi mới hệ thống câu hỏi là khâu quan trọng làm nên thành công của quá trình dạy học Hệ thống câu hỏi trong phần Đọc - hiểu văn bản cần nêu lên được bản chất của việc dạy và học Văn trong trường phổ thông Dạy Văn theo quan niệm mới là dạy cho học sinh cách đọc - hiểu (cách giải mã, cách tiếp cận, cách phân tích, cảm nhận ) một văn bản văn học nghệ thuật nào đó Xuất phát từ quan niệm trên, nội dung và cách thức nêu câu hỏi cho phần Đọc - hiểu văn bản trong SGK Ngữ văn mới đã có sự thay đổi Câu hỏi đã quan tâm đến các yếu tố làm cơ sở khoa học cho việc hiểu tác phẩm, chứ không phải là sự cảm nhận chung chung, chủ quan, cảm tính Như vậy, câu hỏi đã tập trung giúp học sinh tìm ra đúng và phân tích được vai trò của các yếu tố hình thức nghệ thuật (thể loại, kiểu văn bản, nhân vật, cốt truyện, câu chữ, chi tiết, hình ảnh, âm hưởng, nhịp điệu và cách diễn đạt mới lạ, độc đáo ) Nói cách khác hệ thống câu hỏi đã được biên soạn theo tinh thần tích hợp Bởi vậy, trong quá trình dạy văn bản nhật dụng nói riêng và các văn bản văn học nói chung, giáo viên không nhất thiết phải nêu câu hỏi dưới dạng hỏi mà nhiều vấn đề cần được nêu dưới dạng giao việc, bày cách, hoặc đặt học sinh ào tình huống có vấn đề cần giải quyết, tháo gỡ để tự tìm ra kết luận Theo xu hướng đó, loại câu hỏi mở được tăng cường, câu hỏi tái hiện ít đi và câu hỏi đỏi hỏi suy luận, sáng tạo tăng lên Khảo sát các văn bản nhật dụng trong Chương trình Ngữ Văn 6 - 7, ta có thể thấy được điều này
và vận dụng vào bài dạy một cách thích hợp
- Đối với văn bản Ca Huế trên sông Hương, giáo viên có thể nêu câu hỏi để
học sinh trao đổi và trả lời trước khi bắt đầu tiế học nhằm huy động vốn hiểu biết của học sinh về các sản phẩm văn hoá tinh thần của dân tộc
Ví dụ:
? Nêu những hiểu biết về cố đô Huế và một vài đặc điểm tiêu biểu của
xứ Huế? Kể tên một số vùng dân ca nổi tiếng của đất nước?
Hoặc:
? Ca Huế được hình thành từ đâu? Thể điệu ca Huế có đặc điểm gì?
Tại sao nói nghe ca Huế là một thú vui tao nhã?
Đây là câu hỏi yêu cầu hiểu biết của học sinh về văn hoá Huế Vì thế nó không chỉ giới hạn ở kiến thức bài học Học sinh có thể vận dụng các hình thức khác nhau như thảo luận nhóm, tra cứu các tài liệu nói về Huế theo nhóm học tập để có tư liệu đầy đủ và chính xác cho câu hỏi
Giáo viên cũng cần chú ý đưa các câu hỏi mang tính tích hợp với các bài học khác trong chương trình Theo tinh thần tích hợp, có thể có các câu hỏi liên kết các bài học tiếng Việt, Tập làm văn sau hoặc trước bài đang học
- Chẳng hạn, khi dạy bài: Ca Huế trên sông Hương sẽ có câu hỏi:
Trang 10? Kể tên các làn điệu ca Huế, các nhạc cụ được tác giả nhắc tới trong
bài văn?
Khi kể tên và thống kê các làn điệu và các nhạc cụ đó, thực chất học sinh
đã vận dụng biện pháp liệt kê Từ đó, giáo viên có thể chốt ý: Ca Huế đa dạng và phong phú đến nỗi khó có thể nhớ hết tên các làn điệu, các nhạc cụ
và những ngón đàn của các nhạc công Mỗi làn điệu có một vẻ đẹp riêng Ca Huế trở thành một trong những sản phẩm văn hoá độc đáo, đa dạng, phong phú của cố đô Huế Đó chính là tác dụng của biện pháp liệt kê mà chúng ta
sẽ học trong tiết học sau
- Cũng có thể vận dụng tích hợp vào tiến trình bày dạy văn bản: Cầu
Long Biên - chứng nhân lịch sử để cho học sinh thấy tác dụng của biện pháp
nhân hoá trong việc gọi tên cầu Long Biên Tác giả không gọi cầu là vật chứng, hay chứng tích mà gọi là chứng nhân và nhân chứng Cách nhân hoá
đó đã đem lại sự sống, linh hồn cho sự vật vô tri vô giác Cầu Long Biên đã trở thành người đương thời của bao thế hệ, như nhân vật bất tử chịu đựng, nhìn thấy, xúc động trước bao đổi thay, bao nỗi thăng trầm của thủ đô, của đất nước cùng với con người
Còn rất nhiều cách dạy đối với loại văn bản nhật dụng Trong khuôn khổ một đề tài nhỏ, bản thân chỉ muốn đưa ra một số ý kiến về cách dạy văn bản nhật dụng với tư cách là tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông; với
hi vọng trong quá trình dạy học, bản thân có thể tìm ra cho mình nhiều cách dạy hay, nhằm đưa học sinh tiếp nhận chủ động văn bản nhật dụng cũng như các loại văn bản khác
II Kết qủa:
Sau khi áp dụng các phương pháp dạy học loại văn bản nhật dụng trên đây, tôi đã tiến hành khảo sát học sinh hai lớp ở đơn vị (lớp 7A và 7D) bằng
một đề kiểm tra trong vòng 30 phút, đối với văn bản nhật dụng Cuộc chia
tay của những con búp bê:
(*) Đề ra:
Phần I: TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
Khoanh tròn chữ cái đầu ý em cho là đúng nhất?
1 Truyện được kể theo ngôi kể nào?
A Ngôi thứ nhất số ít
B Ngôi thứ ba số ít
C Ngôi thứ nhất số nhiều
D Ngôi thứ ba số nhiều
2 Thông điệp nào được gửi gắm qua câu chuyện?
A Hãy tôn trọng những ý thích của trẻ em
B Hãy để trẻ em được sống trong một mái ấm gia đình
C Hãy hành động vì trẻ em
D Hãy tạo điều kiện để trẻ em phát triển những tài năng sẵn có