1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề cương NLCNMac Lênin

8 229 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 106,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, VI.Lenin định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người

Trang 1

Câu 1:Định nghĩa vật chất của Lê-nin và ý nghĩa của định nghĩa ?

1.Nêu định nghĩa vật chất của VI Lênin

Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, VI.Lenin định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

2 Phân tích nội dung định nghĩa

- “Phạm trù triết học” là khái niệm chung nhất, rộng lớn nhất, để phân biệt vc trong triết học với vật chất trong khoa học tự nhiên Vật chất là một phạm trù rộng lớn nhất, khái quát nhất, không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong khoa học cụ thể hay trong đời sống hàng ngày Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học dùng để chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi; còn các đối tượng, các dạng vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn, có sinh ra và mất đi để chuyển hóa thành cái khác Vì vậy, định nghĩa vật chất không thể đồng nhất với một vật thể nào đó hay một thuộc tính nào đó của vật chất Do đó, phải định nghĩa vật chất với một phương pháp riêng: đối lập vật chất với ý thức để định nghĩa vật chất, ý thức Thuộc tính chung và phổ biến nhất của vật chất là thực tại khách quan, đối lập với nó (tức thực tại chủ quan) là ý thức

- Là “thực tại khách quan”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” là thuộc tính cơ bản nhất của vật chất

“Khách quan”, theo Lenin, là “cái đang tồn tại độc lập với loài người và với cảm giác con người” Trong đời sống xã hội, vật chất “theo ý nghĩa là tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức xã hội của con người” Về mặt nhận thức luận, “vật chất không có nghĩa gì khác hơn thực tại khách quan, tồn tại độc lập với ý thức con người

và được ý thức con người phản ánh” Vật chất là vô cùng, vô tận, có vô vàng những thuộc tính khác nhau, song mọi dạng cụ thể, mọi đối tượng của vật chất đều có thuộc tính ấy - tồn tại khách quan Đó cũng là tiêu chuẩn phân biệt cái gì thuộc về vật chất, cái gì không thuộc về vật chất, cả trong tự nhiên và trong đời sống xã hội Vì vậy, tất cả những gì tồn tại độc lập với ý thức con người đều là những dạng khác nhau của vât chất Như thế, những quy luật kinh tế xã hội, những quan hệ sản xuất của xã hội tuy không tồn tại dưới dạng vật thể, cũng không có khối lượng, năng lượng, không có cấu trúc lý - hóa nhưng chúng tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào cảm giác con người nên chúng là vật chất, nhưng là loại vật chất ở dạng xã hội Qua thuộc tính này của vật chất cho ta

+khẳng định vật chất có trước, cảm giác, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức

- “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh”: thế giới vật chất tuy tồn tại độc lập với ý thức con người, nhưng sự tồn tại đó không phải là trừu tượng, mà là sự tồn tại hiện thực, cụ thể, cảm tính Khi một dạng vật chất cụ thể nào đó tác động đến con người

sẽ gây ra những cảm giác và đem lại cho con người sự nhân thức, sự phản ánh về chúng Như vậy, dù thế giới vật chất vô cùng và đa dạng, con người vẫn có khả năng nhận thức được, chỉ có cái con người chưa nhận thức được chứ không thể không nhận thức được

3 ý nghĩa phương pháp luận.

- Định nghĩa vật chất của Lênin đã bao quát cả hai mặt vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật biện chứng, thừa nhận trong nhận thức luận thì vật chất là tính thứ nhất, và con người có thể nhận thức được thế giới vật chất Như vậy, định nghĩa vật chất của Lênin đã bác bỏ thuyết không thể biết, khắc phục được tính chất siêu hình, trực quan trong các quan niệm về vật chất

- Định nghĩa vật chất của Lênin còn chống lại các quan điểm duy tâm về vật chất, tạo cơ sở lý luận để khắc phục quan điểm duy tâm về đời sống xã hội

- Định nghĩa vật chất của Lênin còn có vai trò định hướng cho sự phát triển của nhận thức khoa học

Câu 2:Nguồn gốc bản chất của ý thức ?

1.Nguồn gốc của ý thức

a Nguồn gốc tự nhiên

Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên nhất là sinh lý học thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc con người

Bộ óc con người hiện đại là sản phẩm của quá trình tiến hoá lâu dài về mặt sinh vật - xã hội và có cấu tạo rất phức tạp, gồm khoảng 14 - 15 tỷ tế bào thần kinh Các tế bào này tạo nên nhiều mối liên hệ nhằm thu nhận, xử

lý, dẫn truyền và điều khiển toàn bộ hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài thông qua các phản xạ có điều kiện và không điều kiện

Hoạt động ý thức con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người Sự phụ thuộc của ý thức vào hoạt động của bộ óc thể hiện ở chỗ khi bộ óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn Ý thức

là chức năng của bộ óc người, là hình ảnh tinh thần phản ánh thế giới khách quan; nhưng ý thức không diễn ra ở đâu khác ngoài hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người

Trang 2

Ngược lại, chủ nghĩa duy tâm tách rời ý thức ra khỏi hoạt động của bộ óc, thần bí hoá hiện tượng tâm lý, ý thức Còn chủ nghĩa duy vật tầm thường lại đồng nhất vật chất với ý thức

Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc người mà không có sự tác động của thế giới bên ngoài để bộ óc phản ánh lại tác động đó thì cũng không thể có ý thức

Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất Phản ánh là năng lực giữ lại, tái hiện lại của

hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác

Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của vật chất cũng phát triển từ thấp đến cao với nhiều hình thức khác nhau

- Phản ánh vật lý: Là hình thức phản ánh đơn giản nhất ở giới vô sinh, thể hiện qua các quá trình biến đổi cơ, lý, hoá

- Phản ánh sinh học trong giới hữu sinh cũng có nhiều hình thức khác nhau ứng với mỗi trình độ phát triển của thế giới sinh vật:

+ Tính kích thích: Thể hiện ở thực vật, động vật bậc thấp, đã có sự chọn lọc trước những tác động của môi trường

+ Tính cảm ứng: Thể hiện ở động vật bậc cao có hệ thần kinh, xuất hiện do những tác động từ bên ngoài lên cơ thể động vật và cơ thể phản ứng lại Nó hoàn thiện hơn tính kích thích, được thực hiện trên cơ sở các quá trình thần kinh điều khiển mối liên hệ giữa cơ thể với môi trường thông qua cơ chế phản xạ không điều kiện

+ Tâm lý động vật: Là hình thức cao nhất trong giới động vật gắn liền với các quá trình hình thành các phản xạ

có điều kiện, thông qua các cảm giác, tri giác, biểu tượng ở động vật có hệ thần kinh trung ương

- Phản ánh ý thức: Gắn liền với quá trình chuyển hoá từ vượn thành người Đó là hình thức phản ánh mới, đặc trưng của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc con người

Như vậy, sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người là nguồn gốc tự nhiên của ý thức

b Nguồn gốc xã hội

Để ý thức có thể ra đời, những nguồn gốc tự nhiên là rất cần thiết nhưng chưa đủ Điều kiện quyết định cho sự

ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội, thể hiện ở vai trò của lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội

- Lao động đem lại cho con người dáng đi thẳng đứng, giải phóng 2 tay Điều này cùng với chế độ ăn có thịt đã thực sự có ý nghĩa quyết định đối với quá trình chuyển hoá từ vượn thành người, từ tâm lý động vật thành ý thức Việc chế tạo ra công cụ lao động có ý nghĩa to lớn là con người đã có ý thức về mục đích của hoạt động biến đổi thế giới

- Trong quá trình lao động, con người tác động vào các đối tượng hiện thực, làm chúng bộc lộ những đặc tính

và quy luật vận động của mình qua những hiện tượng nhất định Những hiện tượng đó tác động vào bộ óc con người gây nên những cảm giác, tri giác, biểu tượng Nhưng quá trình hình thành ý thức không phải là do tác động thuần túy tự nhiên của thế giới khách quan vào bộ óc con người, mà chủ yếu là do hoạt động lao động chủ động của con người cải tạo thế giới khách quan nên ý thức bao giờ cũng là ý thức của con người hoạt động xã hội Quá trình lao động của con người tác động vào thế giới đã làm cho ý thức không ngừng phát triển, mở rộng hiểu biết của con người về những thuộc tính mới của sự vật Từ đó, năng lực tư duy trừu tượng của con người dần dần hình thành và phát triển

- Lao động ngay từ đầu đã liên kết con người lại với nhau trong mối liên hệ tất yếu, khách quan Mối liên hệ đó không ngừng được củng cố và phát triển đến mức làm nảy sinh ở họ một nhu cầu "cần thiết phải nói với nhau một cái gì đó", tức là phương tiện vật chất để biểu đạt sự vật và các quan hệ của chúng Đó là ngôn ngữ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Theo Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng; không có ngôn ngữ thì con người không thể có ý thức

Như vậy, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội Ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội

2 Bản chất của ý thức

- Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Tuy nhiên, không phải cứ thế giới khách quan tác động vào bộ óc người là tự nhiên trở thành ý thức Ngược lại, ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới, do nhu cầu của việc con người cải biến giới tự nhiên quyết định và được thực hiện thông qua hoạt động lao động Vì vậy, ý thức là cái vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”

Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra những cái không có trong thực tế Ý thức có thể tiên đoán, dự báo về tương lai, có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng và

có tính khái quát cao

Trang 3

Tuy nhiên, sáng tạo của ý thức là sáng tạo của phản ánh, bởi vì ý thức bao giờ cũng chỉ là sự phản ánh tồn tại.

- Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên về bản chất là có tính xã hội

Câu 3:Muối quan hệ vật chất và ý thức ,ý nghĩa phương pháp luận?(liên hệ bản thân )

3 Mối quan hệ và Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.

Khi thừa nhận vật chất tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức, quyết định ý thức thì sự nhận thức thế giới không thể xuất phát từ ý thức con người, mà phải xuất phát từ thế giới khách quan Trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan

Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, lấy ý chí áp đặt cho thực tế vì nh¬ư vậy sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí

Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật đồng thời vạch rõ sự tác động trở lại vô cùng to lớn của ý thức đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Quan hệ giữa vật chất và ý thức là quan hệ hai chiều Không thấy điều đó sẽ rơi vào quan niệm duy vật tầm thường và bệnh bảo thủ, trì trệ trong nhận thức và hành động

Nói tới vai trò của ý thức thực chất là nói tới vai trò của con người, vì ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực cả Do đó, muốn thực hiện tư tưởng phải sử dụng lực lượng thực tiễn Nghĩa là con người muốn thực hiện quy luật khách quan thì phải nhận thức, vận dụng đúng đắn những quy luật đó, phải có ý chí và phương pháp để tổ chức hành động Vai trò của ý thức là ở chỗ chỉ đạo hoạt động của con người, có thể quyết định làm cho con người hành động đúng hay sai, thành công hay thất bại trên cơ sở những điều kiện khách quan nhất định Do đó, con người càng phản ánh đầy đủ, chính xác thế giới khách quan thì càng cải tạo thế giới có hiệu quả Vì vậy, phải phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động, cải tạo thế giới khách quan

Trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, chúng ta đã phạm sai lầm trong việc xác định mục tiêu và b¬ước đi

về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế, nóng vội muốn xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, vi phạm nhiều quy luật khách quan Cương lĩnh Đại hội VII đã chỉ rõ:"Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan" Từ đó rút ra bài học quantrọng là: "Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan"

Câu 1: Sản xuất hàng hóa là gì? Phân tích điều kiện ra đời và ưu thế của sản xuất hàng hóa?

Sản xuất hàng hóa:là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm để trao đổi hoặc bán trên

thị trường

Điều kiện ra đời của sản xuất HH:

+Phân công lao¬ động xã hội: là sự phân chia lao động xã hội thành từng nhóm, từng bộ phận, từng ngành nghề khác nhau để chuyên môn hoá người sản xuất để thiết lập quan hệ trao đổi Là nguyên nhân sâu xa cho sự

ra đời của sản xuất hàng hoá Do phân công lao động xã hội, mỗi người chỉ sản xuất ra một hoặc một vài thứ nhất định nhưng nhu cầu của họ cần nhiều thứ => họ cần trao đổi với nhau => giữa họ có mối quan hệ phụ thuộc nhau

+ Sự tách biệt về kinh tế giữa các người sản xuất:¬ với nhau, khởi đầu là tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất Công hữu về TLSX: là chế độ chiếm hữu tư nhân nhỏ về TLSX do đó, sản phẩm sản xuất ra thuộc quyền chiếm hữu của các cá nhân trong XH => người khác muốn sở hữu sản phẩm của họ phải thông qua trao đổi mua bán Là nguyên nhân trực tiếp khiến cho việc trao đổi sản xuất mang hình thức trao đổi hàng hoá

Ưu thế của sản xuất HH:

Sản xuất¬ phát triển không ngừng: Trong nền sản xuất hàng hoá thì quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lực mang tính chất hạn hẹp, khép kín của từng gia đình, cơ sở, địa phương mà nó được mở rộng dừa trên nhu cầu và nguồn lực của xã hội , quốc gia, quốc tế Điều đó lại tạo điều kiện cho việc ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ và quá trình sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển

Sản xuất phải năng động sáng tạo, thường xuyên cải tiến kỹ¬ thuật và quản lý: Trong nền sản xuất hàng hoá,

sự tác động của những quy luật vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hoá như quy luật giá trị, cung cầu, quy luật cạnh tranh buộc người sản xuất hàng hoá phải luôn năng động, nhạy bén, biết tính toán, hợp lý hóa sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiều quả kinh tế làm cho chi phí sản xuất thấp, đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng

Thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các địa phương¬ trong nước và quốc tế: Trong nền sản xuất hàng hoá,

sự phát triển của sản xuất, sự mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước không chỉ làm cho đời sống vật chất và đời sống tinh thần ngày càng được nâng cao

Câu 2: Khái niệm hàng hóa Trình bày 2 thuộc tính của hàng hóa? 2 mặt của LĐSXHH ? Lượng giá trị của hàng hóa, các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa?

1.Khái niệm hàng hóa: Hàng hoá là sản phẩm của lao động, có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người

thông qua trao đổi, mua – bán

Trang 4

2.Hai thuộc tính của hàng hóa:

Giá trị sử dụng : là Công¬ dụng đó nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người

- Công dụng của HH làm cho nó có giá trị sử dụng, giá trị sử dụng được phát hiện dần trong quá trình phát triển của khoa học, kĩ thuật và lực lượng sản xuất

- Giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên của HH

- Giá trị sử dụng là nội dung vật chất của của cải

- Giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn

Giá trị hàng¬ hoá: Muốn hiểu được giá trị của hàng hoá phải đi từ giá trị trao đổi Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ

lệ về lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi với giá trị sử dụng khác

- Giá trị của hành hóa là hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất hàng hóa

- Giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa

- Giá trị được biểu hiện qua giá trị trao đổi

- Giá trị là phạm trù lịch sử,chỉ có trong sản xuất hành hóa

Hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa:

+Lao¬ động cụ thể: là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề

nghiệp chuyên môn nhất định Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, đối tượng riêng, phương pháp riêng, phương tiện riêng và kết quả riêng

- Lao động cụ thể Mang tính lao động tư nhân

- Lao động cụ thể là 1 trong 2 nhân tố tạo thành giá trị sử dụng (GTSD = vật chất+LĐCT )

- Lao động cụ thể là phạm trù vĩnh viễn

+ Lao động trừu tượng: là sự hao phí sức lực của con¬ người nói chung, không kể các hình thức cụ thể của

nó Trừu tượng hóa lao động cụ thể mọi hàng hóa đều là sản phẩm của lao động trừu tượng ( Lao động chung đồng nhất của con người)

- Lao động trừu tượng mang tính lao động xã hội

- Lao động trừu tượng là nhân tố duy nhất tạo ra giá trị

- Lao động trừu tượng là phạm trù lịch sử

+Lượng giá trị của hàng hóa:

Khái niệm¬ lượng giá trị: là thời gian lao động để sản xuất hàng hóa Không đo bằng thời gian lao động cá biệt của riêng người sản xuất mà đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết

Khái niệm Thời gian lao động xã hội cần thiết: là thời gian¬ cần thiết cho bất cứ lao động nào tiến hành với 1 trình độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình, trong những điều kiện bình thường so với hoàn cảnh xã hội nhất định

+Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa:

1 Năng suất lao động: là năng lực sản xuất của người lao động được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong 1 đơn vị thời gian hoặc số lượng lao động hao phí để sản xuất ra 1 đơn vị sản phẩm.(NSLĐ có 2 loại: NSLĐ cá biệt và NSLĐ xã hội)

2 Cường độ lao động: là mức độ khẩn trương, căng thẳng của lao động Khi cường độ lao động tăng thì lượng hao phí trong cùng 1 đơn vị thời gian tăng và lượng sản phẩm được tạo ra tương ứng còn lượng giá trị của 1 đơn vị sản phẩm không đổi

3 Mức độ phức tạp của lao động: LĐ giản đơn và LĐ phức tạp

Lao động giản đơn: là sự hao phí lao động 1 cách giản đơn mà bất kỳ¬ 1 người bình thường nào có khả năng lao động cũng có thể làm được

Lao động¬ phức tạp: là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện

Câu 5: Phân tích nội dung (yêu cầu), tác dụng của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn Những biểu hiện của quy luật này trong các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản?

1 Quy luật giá trị là quy luật giá trị cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất

và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở giá trị hàng hoá của nó, tức là trên cơ sở hao phí lao động XH cần thiết

Trong sản xuất, quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức hao phí lao động XH cần thiết Còn trong trao đổi hay lưu thông thì phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá Trao đổi mua bán hàng hoá phải thực hiện với giá cả bằng giá trị Giá cả hàng hoá trên thị trường

có thể bằng hoặc dao động lên xuống xung quanh giá trị hàng hoá nhưng xét trên phạm vi toàn XH thì tổng giá

cả bằng tổng giá trị

Trang 5

2 Trong nền sản xuất hàng hoá, quy luật giá trị có ba tác động sau:

+điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá Khi một hàng hoá có giá cả cao hơn giá trị, bán có lãi, người sản

xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư tư liệu sản xuất và sức lao động, đồng thời những người sản xuất các hàng hoá khác có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này Còn nếu mặt hàng đó có giá cả thấp hơn giá trị, bị lỗ vốn thì người sản xuất phải thu hẹp sản xuất hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác Như vậy, quy luật giá

trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp

ứng nhu cầu xã hội Đồng thời, nó còn thu hút hàng hoá từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, góp phần làm cho hàng hoá giữa các vùng có sự cân bằng nhất định

+Quy luật giá trị cũng kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng xuất lao động, hạ giá

thành sản phẩm Bởi vì trong sản xuất hàng hoá, để tồn tại và có lãi, mọi người sản xuất đều phải tìm làm cho

mức hao phí lao động cá biệt của mình thấp hơn hoặc bằng mức lao động xã hội cần thiết Cuộc canh tranh

càng khiến cho những người sản xuất tích cực cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động mạnh mẽ hơn Mọi người sản xuất đều làm như vậy sẽ làm cho năng suất lao động của toàn xã hội tăng lên, sản xuất ngày càng phát triển

Tuy nhiên, quy luật giá trị cũng tự phát phân hoá người sản xuất ra thành người giàu và người nghèo

Người sản xuất nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động XH cần thiết sẽ thu được nhiều lãi và giàu lên, mở rộng sản xuất, thậm chí trở thành ông chủ thuê nhân công Còn những người sản xuất

có mức hao phí lao động cá biệt cao hơn mức hao phí lao động XH cần thiết sẽ thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phá sản và trở thành công nhân làm thuê

Vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực Chúng ta cần phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó

3 Trong giai đoạn sản xuất tư bản chủ nghĩa tự do cạnh tranh, giá trị hàng hoá

trở thành giá cả sản xuất Giá trị là cơ sở của giá cả sản xuất Khi giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất thì quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất

Còn trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, do nắm được vị trí thống trị trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông, các tổ chức có khả năng định ra giá cả độc quuyền Giá cả độc quyền là giá cả hàng hoá có sự chênh lệch rất lớn so với giá cả sản xuất Tuy nhiên, cơ sở của giá cả độc quyền vẫn là giá trị và tổng giá cả độc quyền vẫn bằng tổng giá trị Khi đó, quy luật giá trị biểu hiện ra thành quy luật giá cả độc quyền

Khái niệm của giá trị thặng dư -nguồn gốc của giá trị thặng dư ?

Định nghĩa :

Giá trị thặng dư được Marx xem là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hóa và số tiền nhà tư bản bỏ ra Trong quá trình kinh doanh, nhà tư bản bỏ ra tư bản dưới hình thức tư liệu sản xuất gọi là tư bản bất biến và bỏ ra tư bản

để thuê mướn lao động gọi là tư bản khả biến Tuy nhiên, người lao động đã đưa vào hàng hóa một lượng giá trị lớn hơn số tư bản khả biến mà nhà tư bản bỏ ra Phần dư ra đó gọi là giá trị thặng dư

ví dụ như sau để giải thích: Giả sử một người lao động trong một giờ làm ra được giá trị sản phẩm là 1000 đồng Đến giờ thứ hai trở đi, trên cơ sở sức lao động đã bỏ ra ở giờ thứ nhất, người lao động đó sẽ làm ra được

1100 đồng Số tiền chênh lệch đó chính là giá trị thặng dư sức lao động Để hiểu bản chất và nguồn gốc của giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản.,

ta hãy xét một ví dụ

Giả sử để chế tạo ra 1 kg sợi, nhà tư bản phải bỏ ra 28.000 đơn vị tiền tệ bao gồm 20.000 đơn vị tiền tệ mua 1

kg bông, 3.000 đơn vị cho hao phí máy móc và 5.000 đơn vị mua sức lao động của công nhân điều khiển máy móc trong 1 ngày (10 giờ) Giả định việc mua này là đúng giá trị Đồng thời giả định, mỗi giờ lao động, người công nhân tạo ra 1.000 đơn vị giá trị mới kết tinh vào trong sản phẩm

Vậy bằng lao động cụ thể, người công nhân đã chuyển giá trị của bông và hao mòn máy móc vào trong sợi và bằng lao động trừu tượng của mình, mỗi giờ công nhân lại tạo thêm một lượng giá trị mới là 1.000 đơn vị Nếu chỉ trong vòng 5 giờ, công nhân đã kéo xong 1kg sợi thì giá trị 1kg sợi là:

- Giá trị của 1 kg bông = 20.000 đơn vị

- Hao mòn máy móc = 3.000 đơn vị

- Giá trị mới tạo ra (trong 5 giờ lao động, phần này

vừa đủ bù đắp giá trị sức lao động) = 5.000 đơn vị

Vậy tổng cộng giá trị của 1 kg sợi là 28.000 đơn vị

Trang 6

Tuy nhiên, do nhà tư bản đã thuê người công nhân trong 10 giờ nên trong 5 giờ lao động tiếp theo, nhà tư bản không phải bỏ ra 5.000 đơn vị mua sức lao động nữa mà chỉ cần bỏ ra 20.000 đơn vị tiền tệ để mua thêm 1kg bông, 3.000 đơn vị cho hao mòn máy móc, tức là với 23.000 đơn vị tiền tệ, nhà tư bản có thêm được 1kg sợi Như vậy trong một ngày lao động, nhà tư bản bỏ ra 51.000 đơn vị tiền tệ để thu được 2 kg sợi Trong khi đó, giá trị của 2 kg sợi là: 28.000 2 = 56.000 đơn vị tiền tệ Do đó, nhà tư bản thu được 1 phần giá trị dôi ra, tức là giá trị thặng dư, bằng 5.000 đơn vị tiền tệ

Từ ví dụ trên, ta thấy giá trị thặng dư chính là phần giá trị mới do lao động của công nhân tạo ra ngoài sức lao động, là kết quả lao động không công của công nhân cho nhà tư bản Chú ý rằng, phần lao đông không công đó trở thành giá trị thặng dư vì nó thuộc sở hữu của nhà tư bản chứ không phải là của người lao đông Sở dĩ nhà tư bản chi phối được số lao động không công ấy là vì nhà tư bản là người sở hữu tư liệu sản xuất

Đặc trưng ,Tính tất yếu của việc xây dựng nền dân chủ XHCN(liên hệ thực tế đơn vị công tác )xây dựng nhà nước trong sạch vũng mạnh?

\Tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa là một tiến trình lịch sử lâu dài,khó khăn và gian khổ với mục đích cuối cùng là bảo đảm thành công sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong tiến trình đó tất yếu xuất hiện các vấn

đề kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội cần phải được giải quyết một cách khoa học trên lập trường thế giới quan

và phương pháp luận của chủ nghĩa Lênin, vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin trong các điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia, dân tộc ở những thời kỳ nhất định Đó là những vấn

đề kinh tế - xã hội có tính quy luật trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa

a Khái niệm :NN XHCN Mác-Lênin cho rằng, nhà nước là công cụ chuyên chính củamột giai cấp, nó ra đời

không phải để điều hoà mâu thuẫn giai cấp mà do mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà.NN XHCN là tổ chức của giai cấp công nhân thực hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội; làmột tổ chức chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng dựa trên cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội; là nhà nước kiểu mới, thay thế cho nhà nước

tư sản, nhờ kết quả của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa; là hình thức chuyên chính vô sản được thực hiện trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức cơ bản nhất của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hóa xã hội của nhân dân, được thực hiện thông qua hai chức năng chủ yếu là chức năng thống trị giai cấp và chức năng xã hội

b.Đặc trưng của nhà nước xã hội chủ nghĩa : Quản lý dân cư trên một vùng lãnh thổ nhất định; có một hệ

thống các cơ quan quyền lực chuyên nghiệp mạng tính cưỡng chế đối với mọi thành viên trong xã hội;hình thành hệ thống thuế khóa để duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước.Tuy nhiên, nhà nước xã hội chủ nghĩa mang bản chất của giai cấp công nhân, còn có một số đặc trưng sau:

Một là, nhà nước xã hội chủ nghĩa không phải là công cụ đàn áp mộtgiai cấp nào đó mà là thực hiện một chính sách giai cấp vì lợi ích của tất cả những người lao động nhưng đồng thời duy trì vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với nhà nước

Hai là, nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ của chuyên chính giai cấp nhưng vì lợi ích của tuyệt đại đa số nhân dân, trấn áp những kẻ chống đối phá hoại sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa

Ba là, nhà nước xã hội chủ nghĩa coi mặt tổ chức xây dựng là đặc trưng cơ bản của chuyên chính vô sản

Bốn là, nhà nước xã hội chủ nghĩa nằm trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ, đảm bảo cho nhân dân tham gia quản lý nhà nước,quản lý xã hội

Năm là, nhà nước xã hội chủ nghĩa là kiểu nhà nước đặc biệt, nhà nước không còn nguyên nghĩa mà là “nửa nhà nước”, nhà nước tự tiêu vong khi cơ sở kinh tế xã hội cho sự tồn tại của nhà nước không còn nữa Chức năng và nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa Nhà nước xã hội chủ nghĩa có hai chức năng cơ bản là trấn áp

và tổ chức xây dựng:

Trang 7

-Chức năng bạo lực: Chức năng bạo lực tức là nhà nước sử dụng các công cụ như luật pháp và các công cụ

bạo lực để đập tan sự phản kháng của kẻ thù chống lại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước, giữ vững an ninh xã hội Chức năng bạo lực là chứcnăng truyền thống của nhà nước nhưng đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa,chức năng bạo lực không phải là chức năng căn bản và quan trọng nhất

Chức năng tổ chức xây dựng: Chứcnăng tổ chức xây dựng chính là việc nhà nước sử dụng công cụ luật pháp

và kinh tế, tổ chức để tập hợp lực lượng của xã hội nhằm sáng tạora xã hội mới

Thực hiện chức năng đối ngoại nhằm mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau vì sự phát triển và tiến bộ xã hộiđối với nhân dân các nước trên thế giới Nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa

Từ hai chức năng trên, nhà nước xã hội chủ nghĩa có những nhiệm vụchính là: Quản lý kinh tế, xây dựng và phát triển kinh tế; cải thiện không ngừng đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; quản lý văn hóa - xã hội, xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, thực hiện giáo dục đào tạo con người phát triển toàn diện, chăm sóc sức khỏe nhân dân

c Tính tất yếu của việc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

Nhà nước là công cụ để giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sửcủa mình là xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản do đógiai cấp công nhân tất yếu phải xây dựng nhà nước mình, chỉ có như vậymới thực hiện được chuyên chính vô sản, trấn áp được các thế lực thù địchchống phá sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa.Sự cần thiết phải xác lập chuyên chính vô sản, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa còn xuất phát từ thực tiễn của thời kỳ quá độ Đó là thời kỳ còn tồn tại các giai cấp bóc lột, nhiều xu hướng chính trị vận động khác nhau trong đó có xu hướng chống chủ nghĩa xã hội do đó cần phải có nhà nước đểtrấn áp, lôi kéo các lực lượng xã hội vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.Để mở rộng dân chủ đối với các tầng lớp nhân dân cũng đỏi hỏi phảicủng cố nhà nước vững mạnh và có thiết chế nhà nước phù hợp do đó quátrình xây dựng nhà nước

xã hội chủ nghĩa là quá trình tất yếu gắn với quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

Tóm lại, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một quá trình tất yéu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã

hội, của quá trình vận động biến dân chủ từ khả năng trở thành hiện thực, để nền dân chủ “ngày càng tiến tới cơ

sở hiện thực, tới con người hiện thực và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân

Làm thế nào để xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh ?

Hồ Chí Minh cho rằng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh là một quá trình đấu tranh gian khổ, phải huy động sức mạnh tổng hợp.đào tạo ,bồi dưỡng nhân tài,nhất tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, viên chức nhà nước có đủ đức và tài

Đội ngũ cán bộ viên chức này phải có trình độ văn hóa, thông thạo chuyên môn, nghiệp vụ, biết quản lý nhà nước; có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, người cán bộ phải có cả đức lẫn tài, đức và tài đều quan trọng, trong đó đức là gốc Thực tiễn cho thấy, người có đức mà không có tài thì không thể hoàn thành được nhiệm vụ; người

có tài mà không có đức thì có khi sử dụng “cái tài” ấy cho mưu đồ xấu xa, đen tối Nhân dân phải lựa chọn người có tài và có đức ngay khi bầu vào cơ quan quyền lực nhà Bác nói: “Làm việc bây giờ là hy sinh, phấn đấu quên lợi ích riêng mà nghĩ lợi ích chung Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu” Đồng thời, phải thường xuyên nâng cao nhận thức chính trị, trình độ văn hóa, hiểu biết pháp luật của người dân, tạo điều kiện để họ tham gia giám sát, phê bình nhà nước

2 Tăng cường pháp luật đi đôi với giáo dục đạo đức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân

Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, mọi công dân phải sống và làm việc theo luật pháp Quyền tự do, dân chủ của người dân được luật pháp quy định và bảo đảm; người dân thực hiện quyền tự do dân chủ của mình trong khuôn khổ luật pháp Hồ Chí Minh nói: “Pháp luật của ta là pháp luật thực sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền

tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động Nhân dân ta hiện nay có tự do, tự do trong kỷ luật Mỗi người có

tự do của mình, nhưng phải tôn trọng tự do của người khác Người nào sử dụng quyền tự do của mình quá mức

mà phạm đến tự do của người khác là phạm pháp”

Bên cạnh việc đề cao pháp luật, Bác Hồ luôn chú trọng giáo dục đạo đức, kêu gọi mọi người tự giác ngăn ngừa cái sai, cái ác, cái xấu, phấn đấu hành động vì cái đúng, cái thiện, cái đẹp; đặc biệt là phải thường xuyên trau

Trang 8

dồi đạo đức cao nhất của người cán bộ trong hệ thống chính trị là: trung với Đảng, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân

3 Kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; làm trong sạch nhà nước Chủ tịch Hồ Chí Minh xem tham nhũng, lãng phí, quan liêu là “giặc nội xâm”, “bạn đồng minh” của thực dân phong kiến và kêu gọi mọi người chống nó như đánh giặc trên mặt trận Người viết: “Nếu chiến sĩ và nhân dân ta ra sức chống ngoại xâm

và quên chống giặc nội xâm, như thế chưa làm tròn nhiệm vụ của mình”

Đó là quan điểm của Người về xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu quả là điều rất bổ ích và cần thiết

Ngày đăng: 10/11/2015, 01:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w