1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sự ra đời của Đảng Cộng Sản VN

45 414 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 399 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã nêu tấm gương sáng ngời về sự giải phong dân tộc bị áp bức-> làm cho phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản phương Tây và phong trào giải phón

Trang 1

Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam

Những thành tựu khoa học kỹ thuật đạt được trong thế kỷ 19 với việc

áp dụng máy móc, kỹ thuật vào sản xuất đã làm cho năng suất lao động ngày càng cao, của cải ngày càng nhiều, trong khi nguyên nhiên liệu ngày càng cạn kiệt, thị trường tiêu thụ hạn hẹp Các quốc gia tư bản phương Tây buộc phải đem quân đi xâm chiếm các quốc gia phong kiến phương Đông nhằm tìm kiếm mở rộng thị trường, khắc phục những hậu quả của khủng hoảng sản xuất thừa

Tuy nhiên, nhu cầu thị trường của các nước đế quốc không ngừng tăng lên, trong khi thị trường không những không tăng lên lại còn ngày càng thu hẹp lại do hầu hết các thuộc địa đều có chủ Và thế là các nước đế quốc lao vào cuộc chiến giành giật thị trường, khu vực ảnh hưởng Mâu thuẫn đế quốc-

đế quốc dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ

- Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ năm 1914

Chiến tranh thế giới thứ nhất là kết quả tất yếu của những mâu thuẫn không thể điều hoà giữa các nước đế quốc

Chiến tranh diễn ra từ tháng 8/1914 đến tháng 11/1918, là một trong những cuộc chiến tranh quyết liệt, có quy mô to lớn nhất trong lịch sử nhân loại tính đến thời điểm đó Chiến trường chính của Thế chiến I bao trùm khắp châu Âu và ảnh hưởng ra toàn thế giới, lôi kéo 32 cường quốc châu Âu và Bắc Mỹ vào vòng chiến với số người chết là 10 triệu người và bị thương lên tới trên 20 triệu người Sức tàn phá và ảnh hưởng cả về vật chất và tinh thần cho nhân loại là hết sức sâu sắc và lâu dài

Mặc dù địa bàn chính của Thế chiến I là châu Âu nhưng ảnh hưởng của

nó lan rộng đến hầu khắp các quốc gia trên thế giới Những quốc gia tham chiến trong Thế chiến I cũng đồng thời là những quốc gia đế quốc có nhiều thuộc địa nhất Để gia tăng tiềm lực chiến tranh, các đế quốc này càng đẩy mạnh việc khai thác, bóc lột thuộc địa, huy động sức người, sức của từ thuộc địa cho cuộc chiến tranh đế quốc Cũng vì thế mà mâu thuẫn tư sản - vô sản,

Trang 2

thuộc địa - đế quốc càng trở nên sâu sắc và đã tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh ở các nước nói và các dân tộc thuộc địa nói riêng phát triển mạnh

mẽ Trong các cuộc đấu tranh của vô sản chống tư sản, giai cấp công nhân đã chứng tỏ mình là lực lượng cách mạng triệt để nhất, tiên tiến nhất, là giai cấp trung tâm của thời đại Học thuyết thiên tài của Mác cũng chỉ ra rằng: giai cấp công nhân muốn thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình là người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản thì phải lập ra được chính đảng của mình Và thực tế cũng đã chứng minh điều này bằng thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 dẫn đến sự ra đời của Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới

- Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917

Xét trên bình diện lịch sử toàn thế giới, Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga, cuộc cách mạng gắn liền với tên tuổi của Lênin vĩ đại, là một sự kiện lớn nhất trong thế kỷ XX Xét từ góc độ nghiên cứu của Lịch sử Đảng, sự kiện này đánh dấu sự khởi đầu một thời đại mới trong lịch sử nhân loại - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới với vai trò tích cực của giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong của mình là Đảng cộng sản

Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã nêu tấm gương sáng ngời về

sự giải phong dân tộc bị áp bức-> làm cho phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản phương Tây và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa ở phương Đông có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống

kẻ thù chung là CNĐQ-> Điều này có tác động rất lớn đến cách mạng Việt Nam

Trước chiến tranh thế giới thứ nhất chỉ có một Đảng cách mạng ở Nga

và một số nhóm cánh tả trong các Đảng xã hội dân chủ thì sau cách mạng tháng Mười, nhiều Đảng cộng sản được thành lập (Đảng cộng sản Đức, Đảng cộng sản Hungari, Đảng cộng sản Mỹ…) và nhiều nhóm xã hội dân chủ đã chuyển sang lập trường cộng sản Sự ra đời của một loạt các Đảng cộng sản là tiền đề cho sự ra đời của Quốc tế cộng sản năm 1919

- Quốc tế cộng sản ra đời 1919

Ngay từ năm 1914 tức là sau khi Quốc tế II bị phá sản, Lênin đã nhận thức rõ sự cần thiết phải thành lập một tổ chức quốc tế mới của phong trào công nhân Quốc tế III- Quốc tế cộng sản được thành lập năm 1919 nhằm tiếp tục truyền bá chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân, phát triển và củng cố

Trang 3

các đảng kiểu mới của giai cấp vô sản để có đủ sức tổ chức, lãnh đạo một cao trào cách mạng mới Quốc tế III cũng đặt ra cho mình nhiệm vụ đấu tranh chống mọi khuynh hướng của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh Quốc tế III trong quá trình hoạt động từ 1919-

1943 đã tiến hành 7 kỳ đại hội và đã thực hiện nghiêm túc mục tiêu được đặt

ra khi thành lập Đại hội II Quốc tế cộng sản năm 1920 đã nhất trí thông qua Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin Luận cương đã vạch ra con đường đấu tranh cho các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, đồng thời chỉ ra sự phối hợp hành động giữa phong trào công nhân quốc tế và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở từng nước

Với sự ra đời của Quốc tế cộng sản, từ đây, giai cấp vô sản, phong trào công nhân quốc tế và phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa theo khuynh hướng cách mạng vô sản đã có bộ tham mưu chiến đấu của mình để thống nhất hành động chống CNĐQ

Tất cả những đặc điểm trên của tình hình thế giới đều có tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến Việt Nam

Trang 4

Như chúng ta đã đề cập, cùng với sự ra đời của chủ nghĩa đế quốc, các nước đế quốc đi thôn tính các quốc gia nhỏ yếu phương Đông, biến các quốc gia này thành thuộc địa Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ khi bị Pháp xâm chiếm năm 1858 Và sự tăng cường xâm lược và áp bức của chủ nghĩa đế quốc thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa đã làm thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh giành độc lập dân tộc ở các quốc gia.

Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, Việt Nam không tham chiến, nhưng Pháp là nước đang trực tiếp đô hộ Việt Nam lúc đó lại có mặt ngay từ những ngày đầu nổ ra cuộc chiến Vì vậy mà cuộc chiến này cũng ảnh hưởng đến tình hình Việt Nam, thể hiện qua việc Pháp tăng cường áp bức, bóc lột tại Việt Nam để tăng cường tiềm lực cho Pháp trong cuộc chiến này

Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi chỉ ra cho cách mạng Việt Nam con đường giải phóng dân tộc, đồng thời cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh giành độc lập của cả dân tộc Việt Nam

Quốc tế cộng sản ra đời năm 1919 cũng tạo điều kiện thuận lợi để truyền bá chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam để tiến tới thành lập Đảng Cũng nhờ sự giúp đỡ của Quốc tế cộng sản, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc của Việt Nam có điều kiện đi 28 nước, 4 châu lục, nhờ đó có cái nhìn tổng để so sánh, kiểm chứng, vận dụng chủ nghĩa Mác vào điều kiện Việt Nam (về điểm này chúng ta sẽ nghiên cứu cụ thể hơn ở những phần sau)

2 Hoàn cảnh trong nước

Trang 5

Việt Nam là quốc gia có vị trí chiến lược quan trọng trong khu vực Đông Nam Á Việt Nam được ví như cái ban công nhìn ra biển Thái Bình Dương Chiếm được Việt Nam sẽ là điều kiện thuận lợi để nghĩ tới việc khống chế toàn bán đảo Đông Dương, cũng có thể làm bàn đạp tấn công lên phương Bắc để tiếp cận quốc gia có diện tích khổng lồ là Trung Quốc, hoặc tiến ra biển, thâu tóm các quốc gia Đông Nam Á hải đảo, khống chế tuyến thông thương quốc tế bằng đường biển đi qua khu vực này Không những thế, Việt Nam còn là vùng đất trù phú, có nhiều tài nguyên thiên nhiên quý với trữ lượng lớn, có thể đáp ứng cho nhu cầu nguyên, nhiên liệu để phát triển các ngành công nghiệp của các nước tư bản phương Tây.

Đó cũng là lý do để Pháp vượt qua khoảng cách xa xôi hàng ngàn km tới xâm lượcvViệt Nam Ngày 1/9/1858, tại cửa biển Đà Nẵng, thực dân Pháp

nổ phát súng đầu tiên xâm lược nước ta Vua quan nhà Nguyễn chống cự một cách yếu ớt và từng bước đầu hàng giặc

Ngày 06/6/1884, với việc ký kết Hiệp ước Patơnốt, triều Nguyễn đã hoàn toàn dâng nước ta cho Pháp Việt Nam từ một quốc gia phong kiến trở thành đất bảo hộ của Pháp, thành nước thuộc địa nửa phong kiến

Sau khi đánh chiếm nước ta, Pháp từng bước thiết lập bộ máy thống trị

ở Việt Nam, thực hiện chính sách khai thác thuộc địa hết sức hà khắc

a Xã hội Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp

Chính sách thống trị khai thác thuộc địa của Pháp ở Việt Nam

- Về chính trị: Pháp thực hiện chính sách chuyên chế, thể hiện ở:

+ Bộ máy đàn áp nặng nề: Mọi quyền hành thâu tóm trong tay các viên

quan cai trị người Pháp, biến vua quan Nam triều thành bù nhìn, tay sai Pháp

đã tước bỏ mọi quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn nhưng vẫn lợi dụng triệt để bộ máy cai trị của chế độ phong kiến nhằm phục vụ cho sự áp bức, bóc lột nhân dân ta Ví dụ như ở Trung kỳ chúng vẫn duy trì sự trị vì của triều đình phong kiến nhà Nguyễn nhưng mọi quyền hành đều nằm trong tay khâm sứ người Pháp

Pháp cũng xây dựng hệ thống quân đội, cảnh sát, hệ thống tòa án nhà tù dầy đặc, chúng mua chuộc dụ dỗ tay sai, lợi dụng gia đình địa chủ phong kiến

ở các vùng nông thôn nhằm củng cố uy quyền và địa vị của chúng

+ Thi hành chính sách chia để trị

Trang 6

Đối với Việt Nam, chúng chia nước ta thành 3 kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) với 3 chế độ khác nhau:

Nam kỳ dưới chế độ trực trị (thống sứ) Trung kỳ dưới chế độ bảo hộ (khâm sứ)

Bắc kỳ giữa 2 chế độ đó (thống đốc)

Đối với Đông Dương, chúng chia thành 5 xứ ( Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam

kỳ, Lào, Miên) thuộc Pháp

⇒ Mục đích là:- Chia rẽ sự đoàn kết thống nhất của dân tộc Việt Nam

- Làm suy yếu lực lượng dân tộc ta

- Xóa tên 3 nước trên bán đảo Đông Dương khỏi bản đồ thế giới

Khi đánh giá chính sách này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: chủ nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi cái châm ngôn “chia để trị” của nó Chính vì thế mà một nước An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói, đã chia

5 sẻ 7 Lợi dụng một cách xảo trá sự chia cắt ấy người ta hy vọng làm nguôi được tình đoàn kết, nghĩa đồng bào trong lòng người An Nam và tạo ra những mối xung khắc giữa anh em ruột thịt với nhau Sau khi đẩy họ chống lại nhau, người ta bị ghép một cách giả tạo các thành phần ấy lập nên liên bang gọi là

“Liên bang Đông Dương” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H,

1995, Tr116)

-> Tất cả những âm mưu về chính trị của đế quốc Pháp đã làm cho nước Việt Nam từ một xã hội phong kiến độc lập trở thành một xã hội thuộc địa nửa phong kiến

- Về kinh tế:

+ Chúng thực hiện chính sách độc quyền về kinh tế tức là độc quyền

kinh doanh một số ngành công nghiệp nặng, độc quyền khai thác các mỏ có trữ lượng lớn, độc quyền xuất nhập khẩu, độc quyền muối, rượu Pháp chỉ cho phát triển một số ngành kinh tế nhằm phục vụ cho việc khai thác thuộc địa của chúng Khai khoáng là ngành được chú trọng đầu tư, đặc biệt là khai thác than rồi đến thiếc, kẽm, vàng Ngành công nghiệp nặng được đầu tư gấp hơn 6 lần so với nông nghiệp vì đây là lĩnh vực đầu tư ít vốn, chỉ cần sử dụng nhân công rẻ trong nước, nguyên, nhiên liệu chỉ cần đào lên, mang bán nên thu được lợi nhuận rất nhanh Phát triển công nghiệp nặng ở thuộc địa cũng sẽ không cạnh tranh, làm ảnh hưởng đến sự phát triển công nghiệp ở chính quốc

Trang 7

Ngoài ra chúng còn đầu tư vào các lĩnh vực khác như giao thông vận tải, nông nghiệp nhưng tất cả đều phục vụ cho việc khai thác, bóc lột sức người sức của của nhân dân ta Ví dụ như giao thông vận tải đầu tư tuyền đường nối các trung tâm kinh tế, các khu vực khai thác nguyên liệu phục vụ khai thác bóc lột

và mục đích quân sự

=> từ đây quan hệ kinh tế nông nghiệp dần dần bị phá vỡ hình thành một số trung tâm công nghiệp, trung tâm kinh tế mới: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Bến Thuỷ

+ Pháp còn du nhập phương thức bóc lột tư bản chủ nghĩa, duy trì phương thức bóc lột phong kiến, thậm chí còn kết hợp cả 2 phương thức bóc lột này nhằm thu được lợi nhuận lớn nhất Với rất nhiều thủ đoạn, mánh khoé như sưu cao, thuế nặng chúng đã cướp đoạt của nông dân hàng trăm ngàn ha đất -> đầu thế kỷ XX ở Nam kỳ đã xuất hiện rất nhiều tên điền chủ lớn Bởi vậy vào năm 1914 ở Nam kỳ đã có thể xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, mang lại cho bọn tư bản Pháp mối lợi khổng lồ

+ Thực hiện chính sách thuế khoá trực thu và gián thu => từ đó đem lại những khoản thu không lồ cho ngân sách của Pháp

=> Kinh tế què quặt, càng què quặt càng phụ thuộc

- Về văn hoá:

Khác với những luận điệu ban đầu mà Pháp đã rêu rao "khai hoá văn minh cho người An Nam" thì chúng đã thực hiện chính sách ngu dân -> làm cho dân ta ngu đi để dễ bề cai trị Với chính sách văn hoá nô dịch, Pháp không chủ trương mở trường dạy học cho dân chúng để gây tâm lý tự ti, vong bản Chúng cho du nhập và tạo mọi điều kiện để văn hoá phương Tây chế ngự dân ta và loại bỏ dần Hán học và Nho học Đồng thời chúng cũng dung túng cho các tệ nạn xã hội như nghiện thuốc phiện, rượu, cờ bạc hay những hủ tục mê tín dị đoan, du nhập văn hoá đồi truỵ vào Việt Nam, cấm mọi hình thức văn hoá tiến bộ của thế giới du nhập vào Việt Nam

=> Từ những chính sách khai thác thống trị về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội đã làm cho xã hội Việt Nam chuyển biến sâu sắc

Trang 8

Sự chuyển biến về kinh tế - xó hội ở Việt Nam

* Về kinh tế:

Tiờu cực: Việc duy trỡ cựng lỳc 2 phương thức sản xuất phong kiến và

tư bản chủ nghĩa đó đem lại những mún lợi kếch xự cho đế quốc Phỏp nhưng lại làm cho nền kinh tế Việt Nam bị kỡm hóm, phỏt triển lệ thuộc chặt chẽ vào kinh tế Phỏp, tài nguyờn thiờn nhiờn của đất nước bị khai thỏc với cường độ lớn

Tớch cực: Khi người Phỏp đến qua 2 cuộc khai thỏc thuộc địa diện mạo kinh tế chuyển biến sõu sắc

- Cấu trỳc nền kinh tế Việt Nam phỏt triển theo hướng hiện đại Trước

khi Phỏp đến xõm lược, nền kinh tế nụng nghiệp của Việt Nam luụn mang tớnh chất độc canh, tự cung tự cấp thỡ nay thế độc canh bị phỏ vỡ, thay vào đú

Chính sách của thực dân Pháp

Kinh tế Văn

hoá - xã

hội

Chính trị

Lạc hậu, phụ thuộc

Bóp nghẹt

Xã hội thuộc địa nửa phong kiến

Trang 9

là sự xuất hiện của nhiều cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày như cao su,

cà phê, ca cao thế tự cung tự cấp cũng bị phá vỡ Cùng với đó là việc

- Các ngành nghề mới ra đời:

# Công nghiệp nặng: xuất hiện nhiều nhà máy thuỷ điện, sản xuất xi

măng Tuy nhiên công nghiệp nặng dưới thời Pháp phát triển không cân đối, chủ yếu là sự phát triển của các ngành công nghiệp khai khoáng

# Công nghiệp nhẹ: sự ra đời của nhiều nhà máy dệt, may, chè, đường

# Giao thông vận tải: có sự phát triển của nhiều loại hình giao thông

thuỷ, bộ, đường sắt, chẳng hạn ở thời kỳ này, tuyến đường sắt Đông Dương

đã được hoàn thành một số đoạn, đường quốc lộ xuyên Việt cũng được hoàn tất (Tuyến đường sắt Hà Nội- Sài Gòn (1730km), Hải Phòng- Lào Cai (387km)

- Thương nghiệp: có sự phát triển cả về nội thương và ngoại thương

với sự ra đời của một hệ thống chợ với nhiều cấp độ Nếu như dưới thời Nguyễn, ngoại thương không phát triển do chính sách bế quan toả cảng, trọng nông ức thương thì trong thời kỳ thống trị của Pháp tại Việt Nam, hoạt động ngoại thương phát triển mạnh mẽ, chủ yếu là hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá giữa Việt Nam và Pháp

- Bên cạnh đó, ngành tài chính ngân hàng cũng hết sức phát triển, đưa

tới việc hình thành một hệ thống ngân hàng, đứng đầu là Ngân hàng Đông Dương

Đó là những nét tiêu biểu cho sự chuyển biến về kinh tế ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

* Về xã hội:

- Tính chất xã hội thay đổi: Việt Nam từ một nước phong kiến thuần

tuý trở thành một quốc gia thuộc địa nửa phong kiến

Thế nào là phong kiến? Thuộc địa? Thuộc địa nửa phong kiến?

Trang 10

Dưới xã hội thuộc địa nửa phong kiến, XH VN có những mau thuẫn cơ bản nào cần giải quyết?

- Mâu thuẫn xã hội thay đổi: Trong xã hội phong kiến Việt Nam trước

đây chỉ tồn tại 1 loại mâu thuẫn, đó là mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến Sau khi Pháp xâm lược, trong lòng xã hội Việt Nam xuất hiện thêm những mâu thuẫn mới, trong đó nổi bật lên là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp xâm lược và bọn tay sai phản động Mâu thuẫn này ngày càng sâu sắc và cùng với mâu thuẫn vốn đang tồn tại làm cho tình hình càng trở nên căng thẳng

- Kết cấu xã hội thay đổi: Cùng với sự thay đổi mâu thuẫn xã hội là sự

thay đổi kết cấu xã hội Ngoài 2 giai cấp địa chủ phong kiến và nông dân đã tồn tại từ lâu trong lòng xã hội Việt Nam thì từ khi Pháp thống trị Việt Nam, kết cấu giai cấp có sự phân hoá sâu sắc (5 giai cấp) Mỗi giai cấp có địa vị kinh tế và thái độ chính trị khác nhau đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam

+ Giai cấp địa chủ phong kiến: Trước khi Pháp xâm lược giai cấp địa

chủ luôn là giai cấp thống trị xã hội, đảm đượng vai trò dựng nước và giữ nước Khi Pháp xâm lược, giai cấp địa chủ phong kiến dần dần dâng nước ta cho thực dân Pháp bằng những bản hàng ước và hiệp ước bán nước Và giai cấp này nhanh chóng trở thành tay sai đắc lực cho thực dân Pháp, dựa vào Pháp để bóc lột nhân dân ta Tuy nhiên, dưới sự hậu thuẫn của Pháp, giai cấp địa chủ ngày càng phát triển về số lượng, xuất hiện nhiều địa chủ giàu có hơn nhưng cũng tàn ác hơn.Ví dụ ở Trung kỳ có 350 đại địa chủ có từ 50 mẫu trở lên, chiếm 1,4% tổng số chủ ruộng và 10% diện tích đất canh tác, Nam kỳ có

2449 đại địa chủ có từ 100- 500 ha đất, 244 đại địa chủ có trên 500ha Mặt khác, trong cơ cấu hương thông (hội đồng kỳ mục, hội đồng tộc biểu, xã trưởng, tổng lý…) giai cấp địa chủ chiếm đa số Sự câu kết giữa địa chủ phong kiến và đế quốc càng gia tăng trong quá trình tổ chức cai trị của người Pháp đối với nhân dân Việt Nam Song, do chính sách cai trị phản động của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ bị phân hoá thành 3 bộ phận:

Đại địa chủ - quyền lợi gắn bó với đế quốc Pháp

Trung và tiểu địa chủ - có tinh thần dân tộc, không chịu nỗi nhục mất nước, có mâu thuẫn với CNĐQ nên cũng tham gia đấu tranh chống thực dân

và bọn phan động tay sai Tuy nhiên, do đặc điểm giai cấp này phần lớn có

Trang 11

quyền lợi gắn liền với quyền lợi của đế quốc nên giai cấp địa chủ phong kiến không thể lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

+ Giai cấp nông dân: chiếm vị trí đông đảo nhất trong xã hội, khoảng

90% dân số Họ phải chịu cảnh áp bức một cổ hai tròng: vừa chịu sự áp bức bóc lột của thực dân, vừa chịu sự áp bức bóc lột của phong kiến Ruộng đất của nông dân bị chúng tước đoạt Chính sách độc quyền kinh tế, mua rẻ bán đắt, tô cao thuế nặng, chế độ cho vay nặng lãi của đế quốc và phong kiến đã đẩy người nông dân vào cảnh:

Nửa đêm thuế giục trống dồnSân đình máu chảy, đường thôn lính đầyNhư vậy người nông dân đã bị bần cùng hoá, bị tước đoạt ruộng đất, bị mất nhà cửa, lâm vào cảnh đói rét, buộc phải tha hương cầu thực và họ không còn con đường nào khác là:

Bán thân đổi mấy đồng xuThịt xương vùi gốc cao su mấy tầng

( tức là phải đi phu mỏ, đi phu đồn điền)

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất giai cấp nông dân bị phân hoá thành 3

Giai cấp nông dân Việt Nam dù rất giàu lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, dù là lực lượng rất cách mạng, sẵn sàng đứng dậy đấu tranh song giai cấp nông dân không thể lãnh đạo cách mạng vì không đại biểu cho phương thức sản xuất riêng biệt, không có vị trí chính trị độc lập, không có hệ tư tưởng độc lập Do đó, giai cấp nông dân không tự giải phóng mình được Họ chỉ có thể phát huy khả năng và sức mạnh khi có một lực lượng tiên tiến lãnh đạo

+ Giai cấp tư sản: hình thành trong quá trình khai thác thuộc địa của

thực dân Pháp Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Việt Nam mới chỉ

Trang 12

là tầng lớp nhỏ bé Sau chiến tranh, tư sản Việt Nam đã thành giai cấp rõ rệt

Ra đời từ xã hội thuộc địa nửa phong kiến nên giai cấp tư sản hầu như không

có những tiền đề kinh tế từ trước Họ phải trải qua một thời gian dài để tích luỹ vốn, kinh nghiệm kinh doanh, sản xuất -> Nhìn chung số lượng tư sản Việt Nam không nhiều, thế lực kinh tế nhỏ bé, chính trị yếu đuối nên ngay khi

ra đời họ đã bị phân hoá thành 2 bộ phận: tư sản mại bản và tư sản dân tộc

Trong đó:

+ Tư sản mại bản: có quyền lợi gắn liền với đế quốc ⇒ ôm chân đế

quốc, nên cũng như giai cấp địa chủ họ là đối tượng của cách mạng Tư sản mại bản là tư sản lớn, có quyền lợi kinh tế gắn liền với đế quốc bao thầu những công trình xây dựng của chúng ở nước ta, có nhiều đồn điền lớn hoặc nhiều ruộng đất cho phát canh thu tô Vì quyền lợi kinh tế và chính trị gắn liền với đế quốc thực dân, nên tư sản mại bản là tầng lớp đối lập với dân tộc

+ Tư sản dân tộc: chủ yếu kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp,

thương mại và cả tiểu thủ công nghiệp Họ luôn bị tư sản Pháp và người Hoa cạnh tranh chèn ép Cho nên nếu xét về mối quan hệ với đế quốc Pháp họ vừa

có mâu thuẫn dân tộc, vừa có mâu thuẫn về quyền lợi với bọn đế quốc Pháp

và phong kiến nên họ có tinh thần chống đế quốc và phong kiến Vì vậy họ có thể trở thành một lực lượng cách mạng trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc

Song, tư sản dân tộc có tính 2 mặt, họ vẫn có bóc lột giai cấp nên rất sợ bất cứ phong trào đấu tranh nào của quần chúng, đồng thời có lập trường cải lương chủ yếu là đấu tranh kinh tế nên khi Pháp nhượng cho một số quyền lợi

là dễ dàng thoả hiệp -> lập trường chính trị phản động

=> Mặc dầu có tinh thần cách mạng dân tộc dân chủ nhưng họ là bạn đồng minh có điều kiện của cách mạng

+ Giai cấp tiểu tư sản Việt Nam: bao gồm nhiều bộ phận khác nhau:

tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công,viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên giữa các bộ phận đó có khác nhau về kinh tế và cách sinh hoạt, nhưng nhìn chung địa vị kinh tế của họ là bấp bênh, luôn bị đe doạ phá sản, bị đế quốc và phong kiến khinh rẻ và bóc lột nặng nề Cho nên họ có mâu thuẫn với đế quốc phong kiến, hăng hái cách mạng Đặc biệt là tầng lớp trí thức, họ luôn tha thiết muốn bảo vệ những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, khôi phục những giá trị tinh thần cao quý của con người Việt Nam bị bón đế quốc, phong kiến chà đạp Họ tỏ ra nhạy cảm với thời cuộc, dễ tiếp thu cái mới tiến

Trang 13

bộ Khi được thức tỉnh, họ đóng vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của quần chúng Tiểu tư sản là một lực lượng cách mạng quan trọng.

+ Giai cấp công nhân: là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác

thuộc địa của Pháp và nằm trong những mạch máu kinh tế quan trọng Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp, giai cấp công nhân Việt Nam

đã hình thành Đến cuộc khai thác thuộc địa lần hai, công nhân đã phát triển nhanh chóng về số lượng, từ 10 vạn (1914) lên 22 vạn (1929), trong đó có hơn 53.000 công nhân mỏ và 81.200 công nhân đồn điền

Giai cấp công nhân Việt Nam tuy con trẻ, số lượng chỉ chiếm khoảng 1% dân số, trình độ thấp, nhưng sống khá tập trung tại các thành phố, các trung tâm công nghiệp Họ có những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế:

Đồng thời còn có những điểm riêng như:

- Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc

- Chịu ba tầng áp bức bóc lột (phong kiến, địa chủ, tư sản)

- Có quan hệ máu thịt với nông dân

- Kế thừa truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc

Như vậy, giai cấp công nhân Việt Nam là động lực cách mạng mạnh

mẽ và quan trọng nhất Khi được tổ chức lại, được trang bị lý luận tiên phong

- chủ nghĩa Mác - Lênin, thì giai cấp công nhân sẽ trở thành giai cấp lãnh đạo của cách mạng Việt Nam

Không chỉ vậy, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời khi phong trào cách mạng thế giới phát triển rất mạnh mẽ, vì vậy giai cấp công nhân Việt Nam có điều kiện thuận lợi để kế thừa nhiều thành tựu của cách mạng thế giới (nhất là Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại) Trong bối cảnh lịch sử đó uy thế chính trị của giai cấp công nhân ở Việt Nam càng được nâng cao

=> Với những đặc điểm và tố chất như vậy giai cấp công nhân Việt Nam hoàn toàn xứng đáng bước lên vũ đài chính trị, sớm giành được và giữ vững vai trò lãnh đạo duy nhất đưa cách mạng Việt Nam giành độc lập, tự do cho dân tộc tiến tới xây dựng thành công CNXH.

Trang 14

==> Như vậy, dưới chính sách cai trị, bóc lột của thực dân Pháp đã làm cho kết cấu giai cấp - xã hội ở Việt Nam bị phân hoá sâu sắc và ngay trong từng giai cấp cũng đã có sự phân hoá rõ rệt.

Tóm lại, từ sự chuyển biến sâu sắc về kinh tế, văn hoá, xã hội như vậy

đã khẳng định Việt Nam từ một đất nước phong kiến thuần tuý đã trở thành một xã hội thuộc địa Tuy đế quốc Pháp vẫn duy trì một phần tính chất phong kiến nhưng khi nước ta đã trở thành một nước thuộc địa thì tất cả mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở Việt Nam đều bị đặt trong quỹ đạo chuyển động xã hội của nó

=> Từ những đặc điểm về kinh tế, xã hội như vậy cộng với truyền thống yêu nước anh hùng đã có rất nhiều phòng trào yêu nước nổ ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau

b Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20

Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản

Mặc dù triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã ký hiệp ước Harmand

1883 và Hiệp ước Patơnôt 1884 đầu hàng thực dân Pháp nhưng phong trào đấu tranh chống xâm lược Pháp của nhân dân Việt Nam vẫn diễn ra mạnh mẽ Dưới sự lãnh đạo của các sỹ phu yêu nước, các phong trào đấu tranh theo khuynh hướng phong kiến vẫn diễn ra trong hoàn cảnh mới (đấu tranh theo khuynh hướng hệ tư tưởng phong kiến là những phong trào đấu tranh nếu giành được thắng lợi sẽ xây dựng thể chế chính trị phong kiến như trước khi thực dân Pháp xâm lược- theo mô hình các triều đại phong kiến trước đây)

Tiêu biểu cho những phong trào đấu tranh theo hệ tư tưởng phong kiến có: -> Phong trào Cần Vương (1885- 1896)

-> Khởi nghĩa Yên Thế (1885- 1913)

* Phong trào Cần Vương (1885- 1896)

Phong trào phát triển qua 2 giai đoạn:

+ giai đoạn 1: có vua (1885- 1888)

Khi Pháp xâm lược trong triều đình Nguyễn có nhiều phe phái, phái chủ chiến mặc dù có những khó khăn nhưng không nản chí Đại biểu cho phái chủ chiến là Phan Đình Phùng, Ông Ích Khiêm, Trần Xuân Soạn và đứng đầu

Trang 15

là tướng Tôn Thất Thuyết Họ đã đưa vua Hàm Nghi (một vị vua yêu nước) lên ngôi 1884 Sau đó phái chủ chiến và hoàng tộc nhanh chóng thông qua một kế hoạch táo bạo là đánh úp quân Pháp ở đồn Mang Cá và toàn bộ khu vực kinh thành.

7/1885 Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn nổ súng đánh úp đồn Mang Cá -> tiêu diệt được một số tên Pháp và hàng chục quân lính Nhưng do

sự chuẩn bị chưa kỹ càng nên khi quân Pháp đánh phản công thì quân ta đã bị thiệt hại lớn Tướng Tôn Thất Thuyết đưa vua rời kinh thành chạy trốn ra Quảng Trị Tại đây vua Hàm Nghi đã hạ chiếu Cần Vương lần thứ nhất (phong trào phò vua cứu nước) Trước tình hình đó đế quốc Pháp nhanh chóng đưa Đồng Khánh lên làm vua bù nhìn ở Huế Vua Hàm Nghi liền ra chiếu Cần Vương lần thứ hai nêu rõ âm mưu của Pháp và cảnh cáo thế lực đầu hàng của Đồng Khánh-> Phong trào đã nhanh chóng lan nhanh khắp Bắc

Kỳ và Trung Kỳ Sau đó đếm 1/11/1888 vua Hàm nghi bị giặc bắt và bị đày

đi Angiêri Nhưng phong trào Cần Vương vẫn phát triển mạnh sang giai đoạn tiếp theo trong gần 8 năm

+ Giai đoạn 2: (1888- 1896)

Giai đoạn này mặc dù điều kiện kháng chiến càng ngày càng khó khăn,

số lượng các cuộc khởi nghĩa có giảm bớt nhưng lại tập trung thành những trung tâm kháng chiến lớn Tiêu biểu là 3 phong trào: Khởi nghĩa Ba Đình, Khởi nghĩa Bãi Sậy và Khởi nghĩa Hương Khê

Khởi nghĩa Ba Đình (Thanh Hoá) do Phạm Bành và Đinh Công Tráng lãnh đạo Hai ông chủ trương cho xây dựng chiến luỹ ở Ba Đình (Nga Sơn, Thanh Hoá) Sau đó Đế quốc Pháp đã tổ chức cuộc tấn công dài ngày (3000 tên lính) Cứ điểm Ba Đình bị san phẳng Khởi nghĩa Ba Đình thất bại là do cách đánh quá lỗi thời, lạc hậu, thêm vào đó lực lượng lại không cân sức

Khởi nghĩa Bãi Sậy (Hưng Yên) do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo Ông chủ trương dùng vùng đất lau sậy sẵn có của thiên nhiên để sử dụng lối đánh

du kích Tuy nhiên dù không có nhiều trận đánh lớn như ở Ba Đình nhưng

Trang 16

cũng đã gây cho thực dân Pháp nhiều tổn thất Phong trào cuối cùng cũng bị thất bại.

Khởi nghĩa Hương Khê (Hà Tĩnh) do Phan Đình Phùng lãnh đạo Thời gian tồn tại của cuộc khởi nghĩa này kéo dài 11 năm trải dài qua 2 giai đoạn Đây là cuộc khởi nghĩa có quy mô rất rộng lớn Bắt đầu nổ ra ở ngay làng mà Phan Đình Phùng sinh sống (Đông Thái- Đức Thọ) với quy mô làng- liên làng- liên huyện- liên tỉnh Ông xây dựng lực lượng chặt chẽ cả về quân đội

và hậu cần

Về quân đội: ông chủ trương xây dựng 3 thứ quân:

Quân TW: do ông và tướng Cao Thắng trực tiếp chỉ huy

Quân ở địa phương: có 15 quân thứ: tiến hành 15 khởi nghĩa nhỏ

-> Phong trào dần dần bị thất bại Phan Đình PHùng tạ thể ở núi Quạt (Hà Tĩnh), các bộ tướng của ông cũng bị giặc bắt và xử tử tại Huế Đầu 1896 những tiếng súng cuối cùng của phong trào Cần Vương chấm dứt

Cùng thời gian diễn ra phong trào Cần Vương còn có cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế (Bắc Giang) diễn ra từ 1884- 1915 do cụ Hoàng Hoa Thám chỉ huy Cụ Hoàng Hoa Thám vốn xuất thân từ tầng lớp bần cố nông, là người anh hùng của núi rừng Yên Thế đã phát động được nông dân vừa chống Pháp vừa chống bọn phong kiến địa phương Đế quốc Pháp đã nhiều lần tổ chức những cuộc tấn công vào đại bản doanh của nghĩa quân nhưng mãi đến

1923 khi cụ Hoàng Hoa Thám mất phong trào mới bị thất bại

Trang 17

Sự thất bại của phong trào Cần Vương và khởi nghĩa Yên Thế đã khẳng định sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra.

Các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến dưới sự lãnh đạo của các sỹ phu yêu nước đã bị thất bại hoàn toàn Nhưng đầu thế kỷ XX các

sỹ phu yêu nước lại chuểyn sang đấu tranh theo khuynh hướng dân chủ tư sản? Do 2 yếu tố:

Bên trong: Do sự phân hoá giai cấp dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp -> tác động đến tư tưởng của các sỹ phu yêu nước

Bên ngoài: đầu thế kỷ XX, sách báo Pháp và một số sách báo phương Đông (Trung Quốc, Nhật Bản) vào Việt Nam khá nhiều Bởi vậy kéo theo cả

hệ tư tưởng tư sản ở phương Đông và phương Tây vào Việt Nam -> tác động trực tiếp đến tư tưởng của các sỹ phu yêu nước

Một vấn đề nữa chúng ta cần phải quan tâm đó là: trong các hình

thái kinh tế- xã hội có giai cấp thì tư tưởng tư sản ban đầu là tư tưởng tiến bộ

hơn so với hệ tư tưởng phong kiến trước nó với quan điểm về tự do, bình đẳng… Nhưng đó chỉ là quan điểm bề nổi vì trong cách mạng dân chủ tư sản quy tụ tập trung những thành phần giai cấp tư sản tiến bộ của quần chúng đánh đổ chế độ quân chủ Nhưng khi nó đã thắng rồi thì nó quay trở lại chế

độ cai trị cũ, thay thế hình thức áp bức bóc lột này bằng hình thức áp bức bóc lột khác Những hành động đó của giai cấp tư sản đã trái ngược với những tư tưởng tốt đẹp trước đó Bởi vậy, tư tưởng tư sản đã trở thành tư tưởng phản

động trên thế giới Tuy nhiên, ở Việt Nam do hạn chế về mặt lịch sử và giai cấp nên đầu thế kỷ XX hệ tư tưởng dân chủ tư sản mới được các sỹ phu yêu nước biết đến dù trên thế giới nó đã là tư tưởng lỗi thời, phản động

Phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản

Về mặt tư tưởng, các sỹ phu yêu nước ở Việt Nam đầu thế kỷ XX có sự phân hoá thành 2 xu hướng:

Trang 18

Một bộ phận đặt vấn đề đánh đuổi đế quốc Pháp, giành độc lập dân tộc, khôi phục chủ quyền quốc gia bằng biện pháp đấu tranh vũ lực, bao động cách mạng Đại biểu là Phan Bội Châu.

Một bộ phận khác lại coi duy tân và cải cách là giải pháp để tiến tới khôi phục độc lập Đại biểu là Phan Chu Trinh

Các phong trào tiêu biểu:

- Phong trào Đông Du (1906- 1908) với xu hướng bạo động

Phong trào này do Phan Bội Châu khởi xướng Ông chủ trương dùng bạo lực cách mạng để đánh đuổi Pháp đem lại độc lập dân tộc

1904 Phan Bội Châu thành lập tổ chức Duy Tân hội ở Quảng Nam Ông chọn Cường Để là cháu đích tôn 5 đời của vua Gia Long làm hội chủ Ông chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài (chủ yếu là Nhật Bản) để đánh đuổi Pháp Nếu giành được thắng lợi sẽ thiết lập một nhà nước theo mô hình quân chủ lập hiến giống Nhật Bản

1905 Phan Bội Châu sang Nhật cầu viện Cũng trong thời gian này ông

đã viết rất nhiều sách báo gửi về Việt Nam để tố cáo tội ác của thực dân Pháp, đồng thời thức tỉnh, cổ vũ tinh thần yêu nước của đồng bào (nhất là tầng lớp thanh niên) Sau đó ông đưa rất nhiều thanh niên Việt Nam yêu nước sang học tập ở các trường của Nhật để đào tạo cán bộ cho cuộc bạo động về sau

9/1908 đế quốc Pháp cấu kết với Nhật trục xuất toàn bộ số lưu học sinh Việt Nam ở Nhật-> phong trào Đông du tan rã Phan Bội châu sang Xiêm chờ thời cơ

Sau đó, 1912, tại Quảng Châu, do ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng Tân Hợi (Trung Quốc) Phan Bội Châu tiến hành thành lập Việt Nam Quang Phục Hội với ý định tập hợp lực lượng rồi kéo quần về nước tiến hành vũ trang bạo động với tôn chỉ: “Đánh đuổi quân Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập Cộng hoà dân quốc Việt Nam”

Công việc của tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội ?

Tiến hành những cuộc ám sát, đối tượng ám sát là tướng tá Pháp và tay sai; chỉ huy những cuộc bạo động ở Huế và Thái Nguyên=> đều thất bại Vì

Trang 19

đế quốc Pháp đã khủng bố rất dã man Việt Nam Quang Phục Hội dần dần cũng bị tan rã Nhiều người trong tổ chức của Hội bị địch bắt, bản thân cụ Phan Bội Châu sau một thời gian sống ở Trung Quốc cuối cùng bị thực dân Pháp đưa về nước 1925.

=> Con đường cứu nước của Phan Bội châu đã không thành công mặc

dù cụ đã nhìn thấy muốn cứu nước phải có lực lượng, phải xây dựng sự đồng tâm hiệp lực của đồng bào cả nước Cụ cũng thấy được tầm quan trọng của sự viện trợ quốc tế nhưng nếu có thoát khỏi quan niệm “đồng văn, đồng chủng” thì cụ cũng chưa thể nhìn thấy đâu là lực lượng có thể tranh thủ được Tư tưởng của cụ là muốn lợi dụng mâu thuẫn giữa bọn đế quốc để giành độc lập nhưng chính cụ và tổ chức của cụ đã bị sự câu kết giữa chúng làm cho phong trào thất bại

Sự nghiệp cách mạng của Phan Bội Châu trải qua nhiều bước thăng trầm, đi từ lập trường quân chủ lập hiến của Duy Tân hội đến con đường dân chủ tư sản (được thể hiện ở chủ trương Dân chủ cộng hoà của Quang phục hội) nhưng cuối cùng đều thất bại và đi vào con đường bế tắc Mặc dù đầu những năm 20 của thế kỷ XX Phan Bội châu đã tìm đến nguồn sáng của cách mạng tháng Mười Nga khi giao thiệp với sứ quan Nga ở Bắc Kinh nhưng ý tưởng về đưa người sang đào tạo ở Nga và cải tổ đảng của mình chưa kịp thực hiện thì ông đã bị đế quốc Pháp đưa về giảm lỏng ở Huế cho đến lúc mất Song với tấm lòng yêu nước và ý chí quýet tâm đánh đuổi giặc Pháp xâm lược ông vẫn là tấm gương yêu nước trong lịch sử dân tộc

- Phong trào Duy Tân (1906- 1908) tiêu biểu cho xu hướng cải cách

Phong trào đúng như tên gọi của nó, cụ Phan Chu Trinh đã chủ trương hợp tác với Pháp để duy tân (đổi mới) đất nước Ông coi quan điểm bạo động

là chết, cầu viện là ngu xuẩn

Mục đích của phong trào là cải cách văn hoá xã hội, phê phán xã hội phong kiến, động viên lòng yêu nước của nhân dân, đả kích bọn vua quan phong kiến thối nát Đề xướng tư tưởng dân chủ tư sản với phương pháp: khai dân trí, chân dân khí và hậu dân sinh

Trang 20

Khai dân trí: ông chủ trương mở các trường học để mở mang dân trí-> đầu thế kỷ XX nhiều trường học đã được mở, học sinh đi học không mất tiền học phí Trường học điển hình cho phong trào này là trường Đông Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can là hiệu trưởng và các lớp học được phân theo lứa tuổi.

Chấn dân khí: nâng cao lòng yêu nước, lòng tự tôn tự hào dân tộc Ông

đã viết rất nhiều sách để thể hiện tư tưởng này, các tác phẩm đều mang ý nghĩa đánh thức hồn dân tộc và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

Hậu dân sinh: Cải thiện đời sống của nhân dân, nhân dân phải có nghề nghiệp Ông phát động phong trào lập nghiệp Ông lập ra các hội buôn bán, những hợp tác xã, những công ty để vừa sản xuất vừa buôn bán Quan niệm

“phi thương bất phú” trở nên phổ biến ở thời kỳ này

=> Mục đích của những phương pháp này của ông là phát triển kinh tế,

xã hội theo hướng TBCN trong khuôn khổ hợp pháp-> dân giàu, nước mạnh buộc thực dân Pháp phải trao trả lại độc lập cho dân tộc Việt Nam

1906 Phan Chu Trinh cùng với nhóm sỹ phu yêu nước tiến bộ lãnh đạo cuộc vận động Duy Tân ở Trung Kỳ Nhưng phong trào này đã bị thực dân Pháp đàn áp Phan Chu Trunh bị bắt và kết án 6 năm tù ở Côn Đảo

Năm 1911 Đế quốc Pháp đưa Phan Chu Trình sang sống ở Paris Trong 14năm sống ở Pháp ông vẫn kiên trì đường lối cải lương, kêu gọi dân quyền, dân sinh, dân trí, phản đối vũ trang bạo động

1925 ông về nước Một năm sau đó ông bị ốm nặng và mất ở Sài Gòn năm 1926

-> Phan Chu Trinh là một nhà yêu nước nhiệt thành, cuộc đời hoạt động cách mạng của ông đã góp phần thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam, đả phá tư tưởng phong kiến lạc hậu, phê phán tệ tham nhũng và sự cai trị hà khắc của thực dân Pháp, đòi cải cách thuế khoá, phát triển công nghệ, phát triển nghề nông, nghề thủ công…, đòi mở rộng quyền dân chủ, tự

do báo chí, ngôn luận… chủ trương mở trường học theo kiểu mới, dạy chữ quốc ngữ và các môn học mới thay cho các môn Nho học cũ, cải cách lối

Trang 21

sống, bỏ kiểu ăn mặc cũ, vận động cắt tóc ngắn, để răng trắng, bài trừ mê tín

dị đoan… Mặc dù thất bại nhưng cuộc vận động Duy Tân đã đáp ứng phần nào nguyện vọng của quần chúng bị áp bức nô dịch, vì vậy được nhân dân hưởng ứng và phát triển thành phong trào rộng lớn

=> Do những hạn chế nhất định nên Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và các sỹ phu yêu nước đầu thế kỷ XX đã không giành thắng lợi với các phong trào của mình và đều bị đế quốc Pháp đàn áp dễ dàng Sự thất bại này đã khẳng định con đường cứu nước theo lập trường dân chủ tư sản thực chất đã lỗi thời

- Sau Chiến tranh thế giới I, mặc dù còn nhiều hạn chế về số lượng, tiềm lực kinh tế, chính trị nhưng với tinh thần dân tộc và chịu ảnh hưởng của

tư tưởng dân chủ tư sản từ bên ngoài dội vào nên phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản dân tộc và tiểu tư sản diễn ra sôi nổi như: phong trào tẩy chay

tư sản người Hoa; phong trào chấn hứng nội hoá, bài trừ ngoại hoá; phong trào chống độc quyền xuất nhập khẩu ở cảng Sài Gòn…

Từ trong phong trào đấu tranh, các tổ chức đảng phái ra đời:

+ Đảng Lập hiến (1923) do Bùi Quang Chiêu thành lập

Về tổ chức Đảng này chưa được xây dựng thành hệ thống

Hoạt động của Đảng chỉ trên các diễn đàn báo chí, diễn thuyết trong các cuộc tranh cử vào hội đồng thuộc địa, hội đồng thành phố (tức là đấu tranh trong khuôn khổ cho phép của đế quốc)

Mục đích là đòi Pháp ban hành một cải cách về quyền tự do dân chủ, một chế độ tự trị trong khuôn khổ chế độ thực dân…

Lập trường của họ là chủ nghĩa quốc gia cải lương nên khi được Pháp ban bố một ít quyền lợi thì Đảng Lập hiến ngả hẳn sang lập trường chính trị phản động, gắn bó với thực dân Pháp, chống phá cách mạng

Ngoài ra trong thời kỳ này cũng có nhiều tổ chức Đảng ra đời như Đảng Thanh niên, Đảng Thanh niên cao vọng, Việt Nam nghĩa đoàn, An Nam độc lập

Trang 22

+ Cuối những năm 20 của thế kỷ XX đã xuất hiện một trong những tổ chức có tôn chỉ, mục đích, hoạt động theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đó là Việt Nam Quốc dân Đảng (12/1927) do Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu đứng đầu Đây là tổ chức chính trị tiêu biểu nhất cho khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam cuối những năm 20.

Thành phần chủ yếu: trí thức, viên chức, học sinh, những người lao động tự do, binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp…

Về tổ chức: có 4 cấp: Tổng bộ

Kỳ bộTỉnh bộChi bộTrong mấy năm tồn tại, Việt Nam Quốc dân Đảng đã nhiều lần thay đổi chính cương, điều lệ và tôn chỉ hoạt động

Khi thành lập tổ chức: mục đích của Đảng là trước làm cách mạng quốc gia, sau làm cách mạng thế giới

1928 tôn chỉ của Đảng được xác định là chủ nghĩa xã hội dân chủ

1929 tôn chỉ của Đảng được thay bằng 3 tư tưởng trong cuộc cách mạng tư sản Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái

Đầu 1930 tư tưởng của Đảng mô phỏng không đầy đủ theo chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc

Sau 2 năm tồn tại, Việt Nam Quốc dân Đảng đã xây dựng và phát triển được nhiều cơ sở, chủ yếu là ở Bắc Kỳ Đầu 1929 Đảng lấy ám sát, khủng bố

cá nhân để kích động phong trào cách mạng Điển hình là vụ ám sát thành công tên trùm mộ phu Ba Danh làm nức lòng các tầng lớp nhân dân và khiến Pháp hoảng sợ, tức tối, triển khai kế hoạch khủng bố, bắt bớ những người yêu nước -> Đảng bị tổn thất rất nặng nè Trong tình hình đó lẽ ra những người lãnh đạo Đảng phải khôi phục lực lượng, chờ thời cơ thuận lợi để tiền hành những trận chiến đấu mới thị họ lại quyết định dốc toàn bộ lực lượng vào trận chiến đấu cuối cùng với tư tưởng: Không thành công thì cũng thành nhân

Ngày đăng: 07/11/2015, 19:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w