Leukemia là nhóm bệnh máu của hệ thống tạo máu, gặp ở mọi lứa tuổi với biểu hiện bệnh rất đa dạng, tỷ lệ mắc bệnh ngày càng cao.
Trang 1MỞ ĐẦU
Leukemia là nhóm bệnh máu của hệ thống tạo máu, gặp ở mọi lứa tuổi
với biểu hiện bệnh rất đa dạng, tỷ lệ mắc bệnh ngày càng cao Ở Mỹ, Hàng năm
có 30.800 người được chẩn đoán mắc bệnh leukemia và nó cướp đi sinh mạng
của khoảng 21.700 người [27] Tại Việt Nam, tuy chưa có nghiên cứu nào tiến
hành đầy đủ về dịch tễ học của bệnh leukemia cấp trên toàn quốc nhưng theo
tổng kết tại Viện Huyết học-Truyền máu thì thấy bệnh gặp tỷ lệ cao nhất
(32,1%) [2] trong số các bệnh máu gặp tại đây Đặc trưng của bệnh là sự tăng
sinh không kiểm soát được của một hoặc vài dòng tế bào non (blast), bắt đầu và
chủ yếu tại tuỷ xương Các khối tế bào này gây tổn thương các cơ quan tạo máu,
hệ thống miễn dịch và một số cơ quan khác, nhanh chóng đe dọa đến sức khỏe
và tính mạng của người bệnh
Việc điều trị bệnh leukemia đạt hiệu quả cao đòi hỏi phải có sự phân loại
và chẩn đoán chính xác các thể bệnh Những nghiên cứu đầu tiên về bệnh
leukemia bắt đầu từ đầu thế kỷ XIX, và cho đến nay, trên thế giới đã có rất
nhiều nghiên cứu về vấn đề phân loại và chẩn đoán bệnh Cùng với sự tiến bộ
của khoa học, bệnh leukemia đã được nghiên cứu và phân loại từ cấp độ phân tử,
nhờ đó việc điều trị leukemia cấp đã có những tiến bộ rõ rệt
Một trong những phương pháp mới nhất bước đầu được áp dụng để
nghiên cứu bệnh leukemia chính là proteomic Đây là một phương pháp hữu
dụng trong việc phân tích hệ protein của một cơ thể sinh vật, mang lại nhiều ứng
dụng quan trọng trong sinh học, y học, dược học và trong nghiên cứu cơ chế các
quá trình sinh học của cơ thể Với kỹ thuật proteomics người ta đã nghiên cứu
chỉ thị sinh học của nhiều loại bệnh khác nhau, đặc biệt là các bệnh ung thư như
ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư thanh quản, ung thư phổi, ung thư
gan, ung thư buồng trứng…
Trong khuôn khổ luận văn này, tôi đã tiến hành đề tài nghiên cứu:
Trang 2“Bước đầu phân tích proteomics tế bào bệnh leukemia” nhằm mục tiêu
tách các tế bào bạch cầu của bệnh nhân bị bệnh leukemia và phân tách các
protein của chúng phục vụ cho nghiên cứu proteome bệnh leukemia
Trang 3CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN 1.1 Khái quát về bệnh leukemia
1.1.1 Leukemia là gì?
Leukemia là một dạng ung thư liên quan đến hệ thống tạo máu của cơ thể,
bao gồm hệ bạch huyết và tủy xương, được đặc trưng bởi sự tăng sinh ác tính
của các các dòng tế bào máu, đặc biệt là bạch cầu
Leukemia chiếm khoảng 2% tổng số các bệnh ung thư[6] Nam giới
dường như mắc leukemia nhiều hơn phụ nữ và người da trắng mắc bệnh nhiều
hơn các nhóm chủng tộc người khác Người trưởng thành bị leukemia tấn công
và phát triển nhiều hơn 10 lần so với trẻ em Leukemia gặp ở hầu hết các lứa
tuổi trưởng thành Khi leukemia diễn biến ở trẻ em, nó thường xảy ra nhất ở độ
tuổi dưới 4 Riêng tại Mỹ năm 2008, theo tính toán có khoảng 44 270 người
(25180 nam và 19090 nữ) được chuẩn đoán leukemia và nó sẽ cướp đi sinh
mạng của 21700 người 11% số người mắc bệnh ở độ tuổi dưới 20 [18]
1.1.2 Nguyên nhân gây bệnh leukemia
Cho tới nay nguyên nhân gây leukemia vẫn chưa được làm sáng tỏ Tuy
nhiên, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh đến 4 nhóm nhân tố chính có thể gây ra
bệnh leukemia:
- Các bức xạ tự nhiên và nhân tạo
- Một vài dạng chất hóa học như các hóa chất nhómAlkyl
- Một số dạng virus: HTLV1, 2 gây leukemia dòng T lympho
- Các yếu tố di truyền: các dạng bất thường ở nhiễm sắc thể như chuyển
đoạn, thiếu hoặc thừa nhiễm sắc thể,…
Cũng giống như các bệnh ung thư khác, leukemia là kết quả từ các đột
biến ADN trong quá trình nguyên phân Các đột biến này gây hoạt hóa các gen
ung thư hoặc bất hoạt các gen triệt tiêu u bướu, làm hỏng quá trình phá hủy tế
bào chết cũng như quá trình biệt hóa và phân bào Những đột biến này có thể
Trang 4phát sinh một cách ngẫu nhiên hoặc là kết quả của việc phơi nhiễm bức xạ hoặc
hợp chất gây ung thư và những chất ảnh hưởng đến bộ máy di truyền Virus
cũng có liên quan đến một vài dạng leukemia Bệnh thiếu máu Fanconi cũng là
một tác nhân dẫn đến sự hình thành bệnh leukemia dòng tủy [24]
Do chưa tìm được nguyên nhân của bệnh, người ta không có bất cứ biện
pháp nào để có thể phòng bệnh
1.1.3 Phân loại bệnh leukemia
Leukemia được chia làm 2 loại là Leukemia cấp (Acute leukemia - AL) và
Leukemia kinh (Chronic leukemia – CL) Leukemia cấp là sự tăng sinh của các
tế bào non, đôi khi một số tế bào đã biệt hóa, còn leukemia kinh là sự tăng sinh
của các tế bào trưởng thành hơn hoặc đã biệt hóa
Dựa vào nguồn gốc của tế bào ác tính thuộc dòng lympho hay dòng tủy,
người ta chia thành leukemia cấp dòng lympho (acute lymphocytic leukemia,
ALL), leukemia cấp dòng tủy (acute myelocytic leukemia, AML), leukemia kinh
dòng lympho (Chronic lymphocytic leukemia-CLL) và leukemia kinh dòng tủy
(Chronic myelocytic leukemia - CML) Nhờ những đặc điểm về hình thái học,
hóa học tế bào, phương pháp miễn dịch sử dụng kháng thể đơn dòng để xác định
dấu ấn màng tế bào (CD), di truyền tế bào, sinh học phân tử, người ta phân loại
leukemia cấp dòng tủy thành 8 thể từ Mo đến M7 và leukemia dòng lympho
thành 3 thể L1, L2, L3
Ngoài ra còn một số thể khác như Leukemia tế bào gốc sinh máu chưa
biệt hóa, Leukemia tế bào hỗn hợp (Mixed Leukemia): tủy lai với lympho, tủy
lai với tế bào diệt tự nhiên (NK), tủy lai T hoặc B lympho
Trang 5Hình 1 Sơ đồ phân loại bệnh leukemia
1.1.3.1 Leukemia cấp
Đặc điểm của leukemia cấp là sự tăng sinh tế bào non chưa trưởng thành
(immature hemopoietic), tủy xương có ≥ 30% tế bào non (blast) trong tổng số
các tế bào có nhân Các tế bào máu non sinh sản nhanh chóng trong tủy xương,
chúng lấn át các tế bào bình thường, gây ức chế tạo hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu,
đôi khi có thể lan ra các cơ quan khác (hiện tượng thâm nhiễm hay xâm lấn)
Leukemia cấp được chia làm hai nhóm chính
* Leukemia cấp dòng lympho xảy ra phổ biến ở trẻ em và người mới
trưởng thành Theo thống kê ở Mỹ năm 2008 có 5430 người mắc ALL trong đó
61% ở dưới độ tuổi 20 [18]
ALL xảy ra khi các tế bào tạo máu sơ cấp gọi là nguyên bào lympho tăng
sinh mà không phát triển thành các tế bào máu bình thường Những tế bào bất
thường này lấn át các tế bào máu khỏe mạnh Chúng có thể tập trung lại trong
các hạch bạch huyết và gây ra sưng tấy Tỷ lệ sống sót đối với bệnh biến thiên
theo lứa tuổi, 85% ở trẻ em và 50% ở người lớn[14]
Leukemia
Leukemia kinh
(CL)
Leukemia cấp (AL)
Leukemia cấp dòng tủy (AML)
Leukemia cấp dòng lympho (ALL)
Leukemia kinh
dòng tủy
(CML)
Leukemia kinh dòng lympho (CLL)
Trang 6Dựa vào hình thái và hóa học tế bào (hệ thống phân loại FAB), ALL được
chia thành 3 thể khác nhau[5]:
+ L1: Tế bào tương đối đồng nhất về mặt hình thái, đó là các tế bào nhỏ,
kích cỡ tương đối đồng đều, tỷ lệ nhân và nguyên sinh chất rất hẹp
+ L2: Hình thái tế bào to nhỏ khác nhau, tỷ lệ nhân, nguyên sinh chất
không đồng đều, nhân có biểu hiện không thuần nhất
+ L3: Tế bào ác tính cao: to, nhân có nhiều hốc (vacuole)
Dựa vào dấu ấn miễn dịch của màng tế bào, ALL được phân loại theo
HLA-DR, TdT, CD19 HLA-DR, TdT, CD19, Ig trong bào tương
HLA-DR, TdT, CD19, CD10 (CALLA)
HLA-DR, TdT, CD19, Ig trên bề mặt tế bào
TdT, CD3, CD7 TdT, CD3, CD&, CD1a/2
* Leukemia cấp dòng tủy là dạng leukemia cấp phổ biến nhất ở người
trưởng thành, tỷ lệ mắc bệnh tăng dần theo tuổi Ở Mỹ, tử vong do AML chiếm tỷ
lệ 1,2% trong tổng số các ca tử vong vì ung thư [16] AML xảy ra khi các tế bào
Trang 7non tăng sinh quá mức nhưng không hoặc kém biệt hóa để phát triển thành tế bào
máu bình thường Các nguyên tủy bào non chất đầy trong tủy xương và cản trở sự
sản sinh của các tế bào máu khỏe mạnh bình thường Điều này dẫn tới thiếu máu
(không có đủ tế bào hồng cầu), chảy máu và thâm tím (do thiếu các tế bào tiểu
cầu, yếu tố giúp tạo thành cục máu đông) và thường xuyên bị nhiễm trùng vì
không có đủ các tế bào bạch cầu làm nhiệm vụ bảo vệ Tỷ lệ sống sót trong 5 năm
của bệnh nhân mắc AML là 40% [9]
Dựa vào hình thái và hóa học tế bào (FAB), AML được chia thành 8 thể
khác nhau [5]
+ M0: Tế bào tủy không biệt hóa hoặc biệt hóa rất ít, phản ứng PO+ <3%
+ M1: Tế bào tủy biệt hóa rất ít, phản ứng PO+ >3%
+ M2: Tế bào tủy đã biệt hóa một phần, phản ứng PO+ >20%
+ M3: Tế bào biệt hóa ở giai đoạn tiền tủy bào – gọi là leukemia cấp tiền
Trang 8+ Dòng tủy chung: M0, M1-M3 CD33+, CD34
+ Dòng hạt/mono: M4 CD33+, CD14+, CD13, CD11+,
+ Dòng tủy mono: M5 CD14+, CD33+
+ Dòng hồng cầu M6 Glycophorin –A, CD71
+ Dòng mẫu tiểu cầu: M7 CD41, CD61
Hiện nay, hệ thống phân loại của tổ chức y tế thế giới (WHO) cũng được
khuyến cáo sử dụng và thêm vào đó các dữ liệu về mặt lâm sàng cũng như các
đặc tính sinh học đáng quan tâm như hình thái học, hoá học tế bào, kiểu hình
miễn dịch, di truyền tế bào và sinh học phân tử Việc phân chia các phân nhóm
cũng dựa vào sự khác biệt các thông số chẩn đoán và xác định các bệnh nhân
phù hợp hơn với các phương pháp điều trị đặc biệt
1.1.3.2 Leukemia kinh
Leukemia kinh phân biệt với Leukemia cấp là cơ thể sản sinh quá nhiều tế
bào máu gần trưởng thành, chúng phát triển theo các con đường khác nhau
nhưng thường không thực hiện chức năng giống như các tế bào máu trưởng
thành Leukemia kinh thường phát triển chậm hơn và ít biểu hiện rầm rộ hơn
leukemia cấp Có hai dạng leukemia kinh chủ yếu:
- Leukemia kinh dòng lympho thường gặp ở những người trên 55 tuổi Tỷ
lệ người mắc bệnh này cao nhất là ở độ tuổi từ 60 đến 70 tuổi Ở CLL, các tế
bào ác tính trong tủy xương là tế bào thuộc lympho Những tế bào bất thường
này không có khả năng chống lại sự nhiễm trùng như các tế bào bình thường Ở
CLL, các tế bào ung thư có trong tủy xương, máu, lách và hạch bạch huyết,
chúng gây ra lách to, hạch to Tỷ lệ sống sót trong 5 năm của bệnh nhân mắc
CLL là 75% [18]
- Leukemia kinh dòng tủy hay gặp nhất ở độ tuổi từ 25 đến 60 tuổi Ở
CML, các tế bào ác tính là tế bào thuộc dòng tủy Các tế bào CML thường chứa
một dạng bất thường trong mã di truyền gọi là nhiễm sắc thể Philadelphia Tuy
Trang 9nhiên, bệnh này không di truyền Leukemia kinh dòng tủy có thể được chữa khỏi
bằng việc cấy ghép tủy xương Tỷ lệ sống sót trong 5 năm của bệnh nhân mắc
CML là 90% [20]
Ngoài ra còn có Leukemia tế bào tóc (Hairy cell leukemia - HCL) HCL
đôi khi được coi là một dạng của CLL, tuy nhiên nó không hoàn toàn giống
những đặc điểm của CLL Khoảng 80% những người bị bệnh này là nam giới và
chưa có một trường hợp nào xảy ra ở trẻ em Tỷ lệ sống của bệnh này trong 10
năm là từ 96-100% [12]
1.1.4 Triệu chứng của bệnh leukemia
Các biểu hiện ban đầu của leukemia cũng giống như triệu chứng của cảm
cúm hay các bệnh thông thường khác, bao gồm 4 hội chứng chủ yếu:
- Hội chứng nhiễm trùng: sốt, mệt mỏi, đau khớp, thường xuyên nhiễm
trùng
- Hội chứng thiếu máu: da xanh, đau đầu, chóng mặt, chảy máu hay sưng
tấy ở răng, lợi
- Hội chứng xuất huyết ở da, niêm mạc, cơ khớp, chậm lành các vết
thương, chảy máu mũi hay thường xuyên bị bầm tím
- Hội chứng hạch: hạch to, lách to, gan to, cảm thấy đầy bụng, chướng
bụng
1.4.5 Chẩn đoán bệnh leukemia
Bác sỹ có thể không phát hiện ra leukemia nếu chỉ dựa trên những triệu
chứng của bệnh nhân Tuy nhiên, qua quá trình khám sức khỏe, bác sỹ có thể
phát hiện ra rằng bệnh nhân có hạch bạch huyết nổi lên hay hiện tượng tăng kích
thước của gan hoặc lách Việc chẩn đoán có thể trở nên rõ ràng hơn khi các xét
nghiệm máu định kỳ (đặc biệt là đếm tế bào máu) cho kết quả khác thường
Bệnh nhân được chỉ định tiến hành lần lượt các xét nghiệm cho đến khi xác định
chính xác thể bệnh mắc phải Các xét nghiệm bao gồm: huyết đồ, tủy đồ, sinh
Trang 10thiết tủy, hóa học tế bào, miễn dịch tế bào và di truyền tế bào Dựa vào đó, bác
sĩ đưa ra phác đồ điều trị thích hợp cho từng bệnh nhân
Huyết đồ là xét nghiệm cho phép xác định số lượng các tế bào máu và các
thành phần liên quan của máu ngoại vi: hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu, hàm
lượng huyết sắc tố, tỷ lệ hồng cầu trên thể tích máu toàn phần, phản ánh tình
trạng thiếu máu hoặc cô đặc máu (hematocrit) Huyết đồ được tiến hành nhằm:
- Sàng lọc những bệnh lý đặc trưng bởi những thay đổi nghiêm trọng về
số lượng tế bào máu (ví dụ trong các bệnh nhiễm trùng, một số bệnh ung thư, ở
các bệnh nhân tiếp xúc với hóa chất độc hại…)
- Theo dõi diễn biến của một số bệnh như: bệnh leukemia, u bạch huyết,
các bệnh liên quan tới máu, bệnh mạn tính…
- Theo dõi tác dụng phụ của một số thuốc có khả năng ức chế hoạt động
của tủy xương Điều này đặc biệt quan trọng đối với những bệnh nhân bị một số
bệnh ung thư (nhất là ung thư máu, u bạch huyết), và những người phải dùng
hóa trị liệu hoặc xạ trị Nếu số lượng tế bào máu giảm xuống mức quá thấp, bác
sĩ sẽ cho bệnh nhân nhập viện ngay vì lúc này họ rất dễ bị nhiễm trùng, chảy
máu hoặc bị các biến chứng nghiêm trọng khác, gây nguy hiểm cho tính mạng
Ở bệnh nhân leukemia cấp, huyết đồ thể hiện tình trạng giảm 1-3 dòng tế
bào của máu ngoại vi và xuất hiện bạch cầu non trong công thức bạch cầu Các
chỉ số hồng cầu máu ngoại vi thường cho thấy một tình trạng thiếu máu bình sắc
hồng cầu bình thường không hồi phục Số lượng bạch cầu có thể từ dưới 1G/l
cho đến trên 200G/l Đa số các bệnh nhân có số lượng bạch cầu khoảng từ
5-30G/l [4][1] Tủy đồ của bệnh nhân leukemia cấp thường cho thấy một tình
trạng tủy giàu tế bào Tuy nhiên trong những trường hợp leukemia thứ phát tủy
thường nghèo tế bào hoặc có mật độ bình thường Các dòng tế bào tạo máu bình
thường trong tủy bị thay thế bởi những tế bào non ác tính Các tế bào này phải
chiếm một tỷ lệ ≥30% các tế bào có nhân trong tủy thì mới có thể xác định chẩn
đoán là leukemia Bên cạnh đó có thể quan sát thấy sự trưởng thành không bình
Trang 11thường của các dòng tế bào còn lại, thể Auer trong bào tương của tế bào
leukemia, đặc biệt trong các trường hợp leukemia cấp dòng tủy
Ở bệnh nhân leukemia kinh dòng tủy, huyết đồ thể hiện tình trạng thiếu
máu (thường là nhẹ hoặc vừa) bình sắc, kích thước hồng cầu bình thường Số
lượng bạch cầu tăng cao (thường trên 50-80G/l), gặp đủ các tuổi của dòng bạch
cầu hạt trong công thức bạch cầu máu ngoại vi, tỷ lệ tế bào blast hoặc nguyên
tủy bào và tiền tủy bào dưới 15%, tăng tỷ lệ bạch cầu đoạn ưa acid và bạch cầu
đoạn ưa base, số lượng tiểu cầu tăng trên 400G/l Tủy đồ thường giàu tế bào, số
lượng tế bào tủy trên 100G/l, tăng sinh dòng bạch cầu hạt đủ các lứa tuổi, tỷ lệ
dòng bạch cầu hạt/dòng hồng cầu trên 10:1 (tỷ lệ bình thường là 3-4:1), tỷ lệ tế
bào blast hoặc nguyên tủy bào và tiền tủy bào dưới 15% [4]
Ở bệnh nhân CLL, huyết đồ thể hiện sự tăng các tế bào thuộc dòng
lympho trưởng thành về số lượng, có khi tăng trên 5G/l thậm chí tăng hơn
500G/l, số lượng hồng cầu giảm, tiểu cầu giảm, dòng bạch cầu hạt giảm nặng
Xét nghiệm tủy cho thấy tế bào thuộc dòng lympho xâm lấn, lán át toàn bộ tủy,
các tổ chức mỡ bị lấn át
1.2 Proteomics
1.2.1 Proteomics là gì
Từ "proteome" được cấu thành từ "protein" và "genome" Proteome của
cơ thể sinh vật là tập hợp của tất cả các loại protein được sản xuất trong suốt
cuộc đời chúng, cũng giống như khái niệm "genome" để chỉ tập hợp của các loại
gen Thời kỳ “proteome” bắt đầu từ năm 1994 bởi Mark Wilkins và cộng sự ở
Macqarie University tại Sydney, Australia, và nó bao hàm tất cả những protein
trong tế bào, mô, hay cơ quan [17]
Proteomics là môn khoa học rộng lớn nghiên cứu protein sản phẩm của
gen, không chỉ là tất cả các protein của một tế bào nào đó, mà còn là tập hợp của
tất cả các dạng, những protein đã được cải biến, những tương tác giữa chúng,
cấu trúc không gian và cả những phức hệ cao hơn của protein Nghiên cứu
Trang 12proteomics thường được coi như là bước tiếp theo trong quá trình nghiên cứu hệ
thống sinh học
Vì sao phải nghiên cứu hệ protein? Việc giải mã hoàn chỉnh hệ gen người
là một bước tiến lớn của nền khoa học nhưng đồng thời cũng đặt ra một thực tế
là thông tin di truyền của bộ gen người cho biết không đầy đủ chức năng của nó
Ở mức độ phiên mã, mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể trong nghiên
cứu mức độ biểu hiện, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều vấn đề không thể
giải quyết được như: sau dịch mã, đa số các protein bị biến đổi hóa học bởi các
quá trình cải biến, các tương tác protein-protein, các phản ứng với gốc
cacbonhydrat, gốc photphat Những biến đổi này đóng vai trò chủ yếu trong việc
kích hoạt chức năng của protein Kết quả là từ một gen ban đầu có thể tìm thấy
sự đa dạng về biểu hiện, cấu trúc, và chức năng dưới nhiều loại protein khác
nhau Có nhiều nghiên cứu cho thấy, ở người có 25.000 gen đã được nhận diện
nhưng có khoảng lớn hơn 500.000 protein được tạo ra từ các gen đó [17] Điều
này là tăng thêm phần khó khăn với những thay đổi do sự tác động cơ học, sự
cải biến của các protein (các quá trình glycosyl hóa, phosphory hóa) và sự biến
tính của protein Như vậy, mức độ biểu hiện gen không phản ánh đúng về số
lượng protein có hoạt tính trong tế bào Ngoài ra, theo các kết quả nghiên cứu thì
chỉ có khoảng 2% số bệnh tật đã biết được xác định là do các sai lệch về gen: ví
dụ như ở bệnh bạch cầu cấp dòng tủy, thể M2 là do chuyển đoạn nhiễm sắc thể
số 8 và nhiễm sắc thể số 21 hoặc thể M3 là sự chuyển đoạn nhiễm sắc thể số 15
và nhiễm sắc thể số 17, 98% số bệnh còn lại cần được làm sáng tỏ ở mức tương
tác protein hay còn gọi là mạng lưới protein Do đó cần xác định cấu trúc không
gian ba chiều của những protein này, từ đó cho thấy việc nghiên cứu hệ protein
người là cần thiết
Các nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm đến proteomics bởi vì nó
mang lại những hiểu biết về thế giới sinh học nhiều hơn so với những hiểu biết
về cấu trúc cơ thể cũng như là hệ gen Từ khi protein đóng vai trò trung tâm
trong cơ thể sống thì proteomics chính là công cụ hữu hiệu trong việc khám phá
Trang 13ra các chỉ thị sinh học (biomarkers), nhằm nhận diện các loại bệnh khác nhau
Cơ thể con người thậm chí có thể có đến trên 2 triệu loại protein, mỗi loại đóng
một vai trò khác nhau Tính chất không đồng nhất giữa các loại protein đã cho
thấy sự đa dạng của protein không thể giải thích và mô tả hoàn toàn thông qua
quá trình phân tích hệ gen Do đó proteomics được sử dụng hữu hiệu hơn trong
việc nghiên cứu tế bào và các loại mô
1.2.2 Proteomics và chỉ thị sinh học
Một trong những ứng dụng quan trọng của proteomics là sử dụng các
protein đặc hiệu làm các chỉ thị sinh học trong chẩn đoán bệnh Một số kỹ thuật
cho phép kiểm tra quá trình sinh ra của các protein trong suốt quá trình hình
thành của từng loại bệnh, từ đó có thể chẩn đoán các loại bệnh rất nhanh chóng
Các kỹ thuật này bao gồm Western blot, nhuộm mô hóa miễn dịch, hấp phụ
miễn dịch liên kết enzyme (enzyme linked immunosorbent assay-ELISA) hoặc
khối phổ Theo đó có một vài loại bệnh mà những chỉ thị sinh học có thể nhận ra
một cách dễ dàng để chẩn đoán bệnh
Ở người bị bệnh Alzheimer, sự tăng lên của β-Secretase tạo nên
amyloid/beta-protein, chúng tập hợp tạo thành mảng trong não bệnh nhân, gây
ra chứng mất trí Tấn công vào enzyme này làm giảm amyloid/beta-protein và
làm chậm tiến trình của bệnh Để xác định sự tăng của amyloid/beta-protein,
người ta đã áp dụng kỹ thuật nhuộm hóa mô miễn dịch (immunohistochemical
staining), trong đó kháng thể được gắn vào amyloid/beta-protein có mặt trong
các mô[15]
Đau tim là căn bệnh thường được đánh giá bằng một vài loại protein chỉ
thị sinh học Các protein chuẩn làm chỉ thị cho các bệnh tim mạch bao gồm
interleukin-6, interleukin-8, serum amyloid A protein, fibrinogen, và troponins
cTnI cardiac troponin I sẽ tăng lên và tập trung trong vòng từ 3 đến 12 giờ trước
khi những triệu chứng ban đầu khi bị đau tim xuất hiện và có thể dự đoán trước
nhiều ngày sau khi có cơn nhồi máu cơ tim cấp tính Có rất nhiều thương phẩm
Trang 14đã được sản xuất và được dùng trong bệnh viện như là những phương thức chính
để kiểm tra chứng nhồi máu cơ tim cấp
Phân tích proteomics của tế bào thận và tế bào ung thư thận đã được tiến
hành hứa hẹn tạo ra chỉ thị sinh học cho các tế bào ung thư biểu mô ở thận và
phát triển thành bộ kit thử để kiểm tra bệnh Ở các bệnh liên quan đến thận,
nước tiểu là một nguồn chỉ thị sinh học đầy tiềm năng Gần đây, người ta đã
nghiên cứu được các polypeptides trong nước tiểu có thể là những chỉ thị sinh
học của các bệnh liên quan đến thận, cho phép người ta có thể phân tích, chẩn
đoán bệnh một vài tháng trước khi xuất hiện các triệu chứng của bệnh [22]
Việc nắm được thông tin của hệ proteome, cấu trúc và chức năng của từng
protein và phức hệ tương tác protein-protein sẽ quyết định đến việc phát triển
các kỹ thuật chẩn đoán hữu hiệu cũng như những phương pháp chữa trị bệnh
trong tương lai
1.2.3 Một số kỹ thuật quan trọng sử dụng trong Proteomics
Proteomics phát triển dựa trên sự tiến bộ của rất nhiều công nghệ
- Kỹ thuật điện di một chiều và hai chiều :
Điện di là hiện tượng dịch chuyển của các vật thể mang điện tích dưới tác
động của điện trường Điện di hay điện di trên gel áp dụng trong sinh học phân
tử là một kĩ thuật để phân tích các phân tử ADN, ARN hay protein dựa trên các
đặc điểm vật lý của chúng như kích thước, hình dạng hay điểm đẳng điện
(isoelectric point) Kĩ thuật này hoạt động nhờ vào lực kéo của điện trường tác
động vào các phân tử tích điện và kích thước lỗ của thể nền (gel) Các phân tử
được phân tách khi di chuyển trong gel với vận tốc khác nhau phụ thuộc vào sự
khác nhau của lực điện trường tác động lên chúng (nếu các phân tử tích điện
khác nhau), kích thước của phân tử so với kích thước lỗ của gel và hình dạng, độ
cồng kềnh của phân tử Điện di protein thường sử dụng là điện di trên gel
acrylamide có SDS (SDS-PAGE), hoặc điện di 2 chiều (2-DE)
Trang 15Phương pháp nền tảng trong nghiên cứu proteomics là điện di hai chiều
(2-DE), cho đến nay vẫn được coi là phương pháp không thể thay thế trong việc
mô tả thành phần protein (hệ proteome) của một cơ thể 2-DE được giới thiệu
lần đầu tiên vào năm 1975 bởi Klose và O'Farrell [19] Kỹ thuật này cho phép
phân tích và nhận rõ ràng đến hàng nghìn protein trong một bản gel điện di,
trong đó các protein được phân tách dựa trên hai đặc tính là điểm đẳng điện và
khối lượng phân tử
Ứng dụng của điện di hai chiều là phân tách phức hệ protein hỗn hợp và
phân tích sự cải biến protein sau khi phiên mã Điện di hai chiều còn cho ta biết
những thông tin có giá trị về đặc tính phân tử protein, mối quan hệ giữa điểm
đẳng điện (pI) của protein và khối lượng phân tử
- Các phần mềm phân tích ảnh
Các phần mềm phân tích ảnh điện di có khả năng định lượng và tự động
nhận ra các điểm của protein trong gel mẫu Mặc dù các phần mềm này chưa
thật hoàn hảo nhưng kết hợp với năng lực xử lý và kinh nghiệm người sử dụng,
các phần mềm này đều cho những kết quả rất tốt
- Sắc ký lỏng đa chiều (Multidimentional Liquid
Chromatography-MDLC)
Mặc dù điện di hai chiều có nhiều ưu điểm như đã trình bày ở trên nhưng
phương pháp này còn có hạn chế là: khó phát hiện các protein có hàm lượng
thấp, có điểm đẳng điện quá thấp hoặc quá cao cũng như các protein không hòa
tan là thành phần cấu trúc của màng Một phương pháp khác cho phép khắc
phục những nhược điểm ấy là kỹ thuật sắc ký đa chiều (MDLC) MDLC cho
phép phân tích hiệu quả các thành phần protein phức tạp, trong đó mỗi hỗn hợp
protein có thể giảm độ phức tạp qua một loạt cột sắc ký lỏng khác nhau Dựa
vào số lần mẫu được tiến hành phân tích qua sắc ký mà người ta chia thành sắc
ký lỏng một chiều, hai chiều (2DLC) (kết hợp sắc ký trao đổi ion hoặc sắc ký ái
lực và sắc ký pha đảo), hoặc ba chiều
Trang 16- Khối phổ
Phương pháp khối phổ xuất hiện từ những năm đầu của thế kỉ XX do
Thomson và các nhà khoa học khác tìm ra từ năm 1912 [17] Nó đóng vai trò
quan trọng trong việc xác định cấu trúc của những phân tử nhỏ Sau đó, phương
pháp này cũng được cải tiến để ứng dụng trong nghiên cứu sinh học đặc biệt là
xác định cấu trúc của các đại phân tử như protein Proteomics dựa trên nguyên
lý khối phổ đã trở thành một môn khoa học thật sự nhờ các dữ liệu về trình tự
gen và genome cùng với nhiều thành tựu kỹ thuật vượt bậc trong nhiều lĩnh vực
khác, trong đó đặc biệt phải kể đến sự phát triển của những phương pháp ion
hóa protein Các kỹ thuật này là những kỹ thuật không thể thiếu được để diễn
giải những thông tin được mã hóa trong hệ genome Cho đến nay những phân
tích về protein (trình tự bậc 1, những biến đổi sau phiên mã, dịch mã hoặc tương
tác giữa protein-protein v.v.) bằng khối phổ không chỉ thành công với những
nhóm protein có chức năng riêng biệt, mà cả với phức hệ protein được biểu hiện
trong tế bào
Trong những năm gần đây, khối phổ (MS) đã trở thành công cụ được lựa
chọn để hoàn thiện phân tích những mẫu protein Khối phổ là một phương pháp
kỹ thuật ở đó đo được 2 đặc tính: tỷ lệ khối lượng/điện tích của phân tử ở dạng
ion hóa (m/z); và số lượng những ion biểu hiện cho mỗi giá trị m/z Một cách
đơn giản, kỹ thuật phân tích này làm cho từng phân tử protein tách khỏi nhau
thành các peptid nhỏ và phát tán rộng như một đám mây gồm các ion mang điện
tích và di chuyển tự do Phương pháp phổ biến để xác định khối lượng của các
ion này - là gia tốc chúng trong buồng chân không, để đo được thời gian bay
(Time of Flight - TOF) của chúng Chúng "đạt tới mục tiêu" trong một trật tự
được xác lập, một phần bởi điện tích và một phần bởi khối lượng của chúng
Những ion nhanh nhất là những ion nhẹ nhất và có điện tích lớn nhất Sản phẩm
cuối cùng là một phổ khối lượng hay đồ thị với một loạt những đỉnh nhọn, mỗi
một đỉnh tiêu biểu cho ion hoặc chất mang những mảnh protein có mặt trong
Trang 17mẫu thử đã cho Chiều cao của đỉnh và khoảng cách giữa chúng là dấu hiệu của
mẫu và cung cấp đầu mối để nhận dạng chúng
1.3 Proteomics trong nghiên cứu bệnh leukemia
Với những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị bệnh leumkemia, tỷ lệ bệnh
nhân tử vong đã giảm và tỷ lệ bệnh nhân sống sót cũng tăng ở cả người trưởng
thành và trẻ em trong tất cả các thể bệnh Tuy nhiên vẫn có tới 21790 người chết
ở Mỹ vào năm 2007 vì loại bệnh máu ác tính này Với các thể bệnh leukemia, tỷ
lệ sống sót chỉ chỉ hơn 50% Mặc dù tỷ lệ tử vong ở trẻ em từ 0-14 tuổi mắc
leukemia đã giảm đến 70% qua ba thập kỷ nhưng bệnh này vẫn gây ra nhiều cái
chết hơn bất cứ bệnh ung thư nào khác đối với trẻ em Mỹ Ước tính đã có 515 trẻ
em chết vì leukemia tại Mỹ năm 2007[18] Do đó, việc điều trị bệnh leukemia vẫn
luôn là một trong những thách thức to lớn của nền y học hiện đại
Mục tiêu của việc điều trị là làm giảm hoàn toàn các triệu chứng, bệnh lý
của bệnh và bệnh nhân trở lại sức khỏe bình thường với các tế bào máu và tủy
bình thường Đối với bệnh leukemia cấp, sự lui bệnh hoàn toàn (không có các
biểu hiện về bệnh trong máu và tế bào) trong 5 năm liên tục là dấu hiệu chứng tỏ
bệnh đã được chữa trị Các báo cáo gần đây cho thấy càng ngày càng có nhiều
bệnh nhân leukemia đã lui bệnh hoàn toàn ít nhất sau 5 năm khi họ chẩn đoán
phát hiện bệnh
Để nâng cao khả năng chẩn đoán và đẩy lui bệnh, ngày càng có nhiều
phương pháp mới được áp dụng trong nghiên cứu leukemia Phương pháp quan
sát kiểu nhân đã cung cấp các thông tin quan trọng nhất trong chẩn đoán ở AML
trưởng thành Ngoài ra, bằng việc sử dụng các phân tích trên nhiễm sắc thể thấy
rằng xấp xỉ 50% số bệnh nhân AML không có các bất thường nhiễm sắc thể [13]
Đối với các bệnh nhân AML này, các phương pháp di truyền phân tử trở thành
yếu tố quan trọng chính Liệu pháp miễn dịch cung cấp cơ hội loại bỏ các tế bào
miễn dịch còn sót lại trong quá trình lui bệnh và có thể giảm đáng kể hay thậm
chí loại trừ rủi ro của sự tái phát Trong suốt 20 năm qua, y học đã có sự cải tiến
đáng kể trong khả năng đánh giá xác định các kháng nguyên ung thư Phân tích
Trang 18huyết thanh qua các ngân hàng biểu hiện cADN tái tổ hợp cho phép việc nhận
dạng các kháng nguyên liên kết với leukemia dựa vào việc nhận ra chúng bằng
các phản ứng dịch thể nhưng cũng đưa ra một chứng minh rằng những kháng
nguyên này được nhận biết bằng các tế bào T CD4+ và CD8+ cũng tốt như tế bào
B Gần đây, kỹ thuật vi chuỗi phản ứng (microarray), phân tích đa hình
nucleotide đơn (SNPs) và điện di hai chiều cho phép chúng ta phân tích sâu rộng
về sự khác biệt về gen, ARN và protein giữa bệnh nhân và các mẫu đối chứng
bình thường
Hiện nay, với việc áp dụng các kỹ thuật proteomics trong phân tích
leukemia người ta đã đi sâu vào nghiên cứu leukemia theo nhiều con đường và
mục đích khác nhau Tất cả các nghiên cứu này hướng tới mục đích cuối cùng là
làm tăng hiệu quả điều trị bệnh leukemia
Các nghiên cứu proteomics bệnh leukemia thường dựa trên một trong hai
nguồn nguyên liệu chính là huyết tương và tế bào bệnh nhân
1.3.1 Phân tích proteomics trong huyết tương bệnh nhân leukemia
Huyết tương (plasma) là phần dịch lỏng màu vàng nhạt còn lại sau khi
máu đã loại bỏ các tế bào máu Một người trưởng thành chứa khoảng 2,5 lít
huyết tương với gần 250gram protein Hàm lượng protein trong huyết tương
thay đổi từ 60-80mg/ml Dịch huyết tương có tính lỏng, keo nhớt, có tỷ trọng
1,0510,005, pH=7,3-7,4, ở 370C, áp suất thẩm thấu trong khoảng 7,2-8,1
Người ta ước lượng có khoảng từ 1000 đến 2000 protein khác nhau có mặt trong
huyết tương tại một thời điểm nhất định, phần lớn trong số chúng là các protein
có nồng độ rất thấp (<1ng/ml) Các protein trong huyết tương thay đổi khác
nhau về số lượng và nồng độ, nó được coi là hệ protein phức tạp nhất ở người
Huyết tương cũng được coi là hệ protein hoàn thiện nhất, chứa một loạt các
protein khác nhau, là mẫu proteome hàng đầu được dùng cho chẩn đoán y học
Những hiểu biết hệ protein huyết tương rất quan trọng về mặt lâm sàng, cung
cấp những thông tin chắc chắn thúc đẩy nhanh quá trình phát hiện bệnh
Trang 19Một số protein có hàm lượng cao (>mg/ml) như albumin thông thường
thay đổi từ 35-50 mg/ml (chiếm từ 50-70%), do sự tổng hợp hàng ngày của gan
(12g) và có chu kỳ sống là 21 ngày nên nó được coi là chỉ thị của bệnh sơ gan
hay bệnh suy dinh dưỡng Các protein có hàm lượng thấp (<ng/ml) chỉ chiếm
1% hàm lượng protein tổng số, như interleukin 6 thông thường thay đổi trong
khoảng 0-5 pg/ml được coi là chất chỉ thị có độ nhạy cao trong quá trình viêm,
nhiễm vi sinh vật
Hiện nay hơn 22 triệu lít huyết tương của người đã được xử dụng trên
toàn thế giới thông qua quá trình phân đoạn trong mỗi một năm nhằm tạo ra các
protein điều trị bệnh cho hơn một triệu người
Những hiểu biết về hệ protein trong huyết tương mang lại những thông tin
quan trọng về nhiều quá trình sinh học diễn ra trong cơ thể Bất cứ một thay đổi
nào của các protein huyết tương cũng sẽ là dấu hiệu của tình trạng bệnh lý như:
ung thư, tiểu đường, tim mạch v.v Do đó việc nhận dạng các protein, peptid
trong huyết tương có thể cung cấp nhiều thông tin mà cơ thể phản ứng với
những thay đổi này Phân tích và so sánh các thành phần protein trong huyết
tương của người ở trạng thái bình thường và bị bệnh có thể giúp cho các nhà
nghiên cứu hiểu rõ hơn các sự cố trong tế bào dẫn đến bệnh lý, đồng thời đưa ra
phương pháp chẩn đoán mới, nhanh và có hiệu quả Một trong những động lực
khi nghiên cứu hệ protein là khám phá ra những chỉ thị sinh học, những protein
này có thể là đích tác động của thuốc chữa bệnh và chúng sẽ có một vai trò quan
trọng đối với sự phát triển những liệu pháp chữa trị mới Đã có nhiều nghiên cứu
chứng minh rằng protein huyết tương có thể là các chỉ thị sinh học đủ tin cậy
trong chẩn đoán một số bệnh như: ung thư buồng trứng (CA 13-5), ung thư
tuyến tiền liệt (PAP), ung thư gan (-fetoprotein), và các bệnh về tim mạch
(C-ractive protein) [11] Mặc dù qua nhiều thập kỉ nghiên cứu nhưng mới chỉ có
một lượng nhỏ các loại protein được sử dụng cho mục đích chẩn đoán
Bệnh leukemia là một bệnh liên quan trực tiếp đến hệ thống máu trong cơ
thể, do đó, rõ ràng việc lựa chọn hệ protein huyết tương làm đối tượng nghiên
Trang 20cứu bệnh leukemia là một việc tất yếu, hứa hẹn đem lại nhiều thành quả quan
trọng trong việc nghiên cứu leukemia nói chung Trên đối tượng là huyết tương
của các bệnh nhân leukemia kinh dòng lympho (CLL), năm 2003, Cochran và
cộng sự đã phân tích proteomics các phân nhóm CLL với các gen Ig VH đột biến
và không đột biến [8] Phân tích hệ protein của 12 bệnh nhân CLL với 6 trường
hợp có đột biến và 6 trường hợp không đột biến trên chuỗi nặng Ig bằng cách sử
dụng điện di hai chiều và khối phổ Kết quả là họ đã tìm ra một số protein biểu
hiện khác biệt giữa mẫu có đột biến và không có đột biến Nồng độ của protein
F-actin-capping tiểu đơn vị , protein 14-3-3 và tiền chất protein gắn laminin
tăng lên ở CLL đột biến so với thể không đột biến Ngoài ra, nucleophosmin chỉ
xuất hiện dưới dạng một vài spot protein ở CLL thể đột biến mà không phát hiện
thấy trên mẫu không đột biến Điều này có thể được giải thích rằng một số dạng
cải biến sau dịch mã của nucleophosmin biến đổi giữa hai nhóm này Kết quả
này cho thấy phân tích proteomics huyết tương có thể bổ sung các phương pháp
trong việc nhận dạng protein, các protein này có thể có vai trò quan trọng trong
việc xác định sự khác biệt về sinh học và trong chẩn đoán giữa các phân nhóm
CLL
1.3.2 Phân tích proteomics tế bào bệnh nhân leukemia
Wang và các cộng sự (2004) đã tiến hành nghiên cứu proteomics dòng tế
bào leukemia (K562/CR3) bằng việc sử dụng điện di không dòng kết hợp với
sắc ký lỏng và khối phổ LC/MS [28] Các tế bào được dung giải đã được phân
tách thành 96 phân đoạn bằng điện di không dòng, sau đó được chạy qua SDS-
PAGE và những phân đoạn hiện băng được chạy tiếp qua LC/MS Trong 96
phân đoạn đó có 35 phân đoạn pH từ 4,75 đến 9,6 được lựa chọn để xác định và
đã nhận dạng được 736 protein khác nhau
Cũng vào năm 2004, Cui và cộng sự đã tiến hành phân tích proteomics tế
bào bệnh nhân leukemia cấp nhằm tìm hiểu sâu hơn về hệ thống phân loại chúng
[10] Hệ thống phân loại của Pháp-Mỹ-Anh (FAB) về leukemia cấp với các khác
biệt di truyền đóng vai trò quan trọng trong điều trị và chẩn đoán bệnh Tuy
Trang 21nhiên, việc mô tả và xác định các phân tử protein khác nhau phân biệt giữa các
phân nhóm của hệ thống phân loại leukemia cấp vẫn chưa rõ ràng Nghiên cứu
được thực hiện trên 61 bệnh nhân leukemia cấp đã được phân loại theo hệ thống
FAB Các protein của những tế bào leukemia lấy từ các bệnh nhân này được
phân tách bằng điện di hai chiều và các spot protein có biểu hiện khác nhau
được nhận dạng bằng khối phổ Nhóm nghiên cứu này đã thành công trong việc
mô tả các protein khác biệt giữa các nhóm và các phân nhóm theo phân loại
FAB, bao gồm leukemia cấp dòng tủy, các phân nhóm của nó (M2, M3 và M5)
và leukemia cấp dòng lympho Họ đã nhận được kết quả đồng nhất giữa các mẫu
thuộc cùng một phân nhóm và sự khác biệt rõ rệt với tất cả các phân nhóm khác
Một nhóm protein biểu hiện với hàm lượng cao hơn ở M2 và M3 so với các
phân nhóm khác cũng được xác định Cũng trong nghiên cứu này, các protein
liên quan dòng tủy Mrp 8 và Mrp 14 lần đầu tiên được đưa ra để đánh dấu sự
khác biệt của AML và phân biệt AML với ALL Protein sốc nhiệt 1 (HSP 1) và
một số protein khác biểu hiện tăng ở ALL được tìm thấy đóng vai trò quan trọng
trong việc phân biệt ALL với AML Protein NM23-H1 có biểu hiện mạnh ở tất
cả các phân nhóm trừ dạng M3a có thể có ích trong chẩn đoán Những kết quả
nghiên cứu này liên quan đến việc mô tả các con đường biểu hiện gen bất
thường trong phát sinh bệnh leukemia có thể làm cho việc xác định ở mức độ
phân tử hệ thống phân loại FAB được dễ dàng
Năm 2005, Rezaul và nhóm nghiên cứu đã phân tích hệ protein ty thể từ
các tế bào T bệnh nhân leukemia [21] Với 40 g protein tinh sạch từ ty thể,
nhóm nghiên cứu đã xác định được 227 protein ty thể đã được biết đến và thêm
453 protein được coi là protein liên kết với ty thể Phân tích 60 g protein ty thể
xác định được 466 protein được biết đến là có chức năng tham gia vào các quá
trình khác nhau như hô hấp, chu trình tricarboxylic acid (chu trình TCA),
chuyển hóa amino acid và nucleotide, đường phân, stress bảo vệ chống oxy hóa,
tập trung ty thể, vận chuyển các phân tử, sinh tổng hợp protein, điều khiển chu
trình tế bào và rất nhiều các quá trình khác trong tế bào
Trang 22Với một nghiên cứu tương tự, năm 2006, López-Pedrera và nhóm nghiên
cứu của mình đã tiến hành phân tích những thay đổi trong biểu hiện protein ở
các tế bào leukemia cấp dòng tủy bằng các kỹ thuật proteomics nhằm đi sâu vào
chẩn đoán sớm chính xác hơn bệnh ung thư này Bẩy protein được xác định có
thay đổi đáng kể trong hầu hết các tế bào nguồn AML phân tích trong mối tương
quan với các tế bào máu đơn nhân bình thường: alpha-enolase, RhoGD12,
annexin A10, catalase, peroxiredoxin 2, tromomyosin 3 và lipocortin (annexin
1) Các protein khác biệt này đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các
chức năng tế bào như thủy phân glycogen, ngăn chặn khối u, apoptosis, hình
thành mạch, di căn và chúng có thể tạo ra tiến triển bất lợi cho bệnh Trong
nghiên cứu này, áp dụng phân tích proteomics lần đầu tiên xác định các protein
mới không những giúp ích cho chẩn đoán mà còn được sử dụng như là các dấu
chuẩn sinh học của bệnh, vì thế cung cấp các đích mới quan trọng cho các liệu
pháp dựa trên cơ chế sinh bệnh của AML
1.3.3 Nghiên cứu proteomics bệnh leukemia ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, phương pháp proteomics đã bắt đầu được áp
dụng trong việc nghiên cứu bệnh leukemia ở Việt Nam Năm 2005, Trịnh Hồng
Thái và cộng sự đã áp dụng kỹ thuật điện di hai chiều kết hợp với khối phổ để
phân tích proteomics huyết tương người bị bệnh leukemia cấp dòng tủy [25]
Bằng việc so sánh các bản gel điện di hai chiều, nhóm nghiên cứu đã nhận ra 12
protein biểu hiện khác nhau trong đó có các protein là chất phản ứng pha cấp và
một số là chất chỉ thị ung thư Trong số các protein này có enzyme ADN
topoisomerase được biểu hiện tăng lên ở người bị leukemia cấp dòng tủy,
enzyme này đã được chứng minh có liên quan tới sự chuyển vị nhiễm sắc thể
8;21 trong bệnh này Tiếp theo nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã phân tách
được trung bình 600 spot protein trên các bản gel điện di huyết tương các thể
bệnh leukemia cấp dòng tủy Phân tích so sánh đã chỉ ra được 2 protein chỉ xuất
hiện ở người bình thường mà không có ở các bản gel bệnh, 4 spot protein chỉ có
mặt trên các bản gel bệnh mà không tìm thấy trên mẫu đối chứng
Trang 23Để mở rộng đối tượng nghiên cứu trên các thể bệnh leukemia, năm 2007
Trịnh Thị Thanh Hương và Trịnh Hồng Thái đã công bố kết quả phân tích
proteomics huyết tương người bệnh leukemia cấp dòng lympho [3] Trong kết
quả này, sự khác biệt trong biểu hiện protein giữa mẫu đối chứng và các thể
bệnh cũng được phát hiện Tất cả các kết quả trên của nhóm nghiên cứu này
nhằm chỉ ra sự khác biệt trong biểu hiện protein ở huyết tương bệnh nhân, tìm ra
các marker sử dụng trong chẩn đoán bệnh Các công trình nghiên cứu trên đang
tiếp tục và mở rộng đối tượng, hứa hẹn nhiều kết quả khả quan, ứng dụng thiết
thực trong sinh, y, dược học