Bơ là sản phẩm chế bíến từ chất béo của sữa.hàm lượng chất béo trong bơ rất cao và chiếm trung bình 80% khối lượng sản phẩm
Trang 1GVBM : Nhóm thực hiện:
Lê Ngọc TuấnNguyễn Hoàng AnhNguyễn Văn CảnhLê Hoàng Việt
Trang 2Lịch sử hình thành công nghệ
Bơ là sản phẩm chế bíến từ chất béo của sữa.hàm lượng chất béo trong bơ rất cao và chiếm trung bình 80% khối lượng sản phẩm.Cĩ nhiều phương pháp khác nhau để phân loại bơ
Theo Bylund Gosta(1995),dựa vào quy trình sản xuất,người ta chia bơ thành hai nhĩm chính:
Bơ ngọt(sweet cream butter) hay bơ khơng lên men:trong quy trình sản xuất bơ khơng cĩ quá trình lên men lactic được thực hiện nhờ nhĩm vi khuẩn lactic
Bơ chua(sour cream butter)hay bơ lên men (cultured cream butter):Quá trình lên men lactic được thực hiện sau quá trình thanh trùng nguyên liệu cream trong quy trình sản xuất nhằm tạo ra hương vị đặc trưng cho sản
Trang 3 Vịệc sản xuất bơ bắt đầu được công nghiệp hóa kể từ khi Gustaf
de Laval phát minh ra thiết bị chất béo-cream vào năm 1879.Bên cạch đó quá trình thanh trùng nguyên liệu cream được thực hiện
từ những năm 1880 đã cải thiện đáng kể chất lượng sản phẩm Đến năm1890, người ta bắt đầu sử dụng canh trường vi khuẩn lactic thuần khiết trong sản xuất bơ lên men.
Trước thế kỷ 19,người ta sản xuất bơ từ nguyên liệu váng sữa.Váng sữa thường có độ chua cao do quá
trình tách váng sữa từ sữa tươi được thực hiện nhờ
phương pháp thủ công.Người ta để lắng sữa chua
trong thùng chứa và sự tách pha diễn ra nhờ sự chênh lệch về tỷ trọng giữa chất béo và sữa gầy Thời gian tách pha kéo dài nên hệ vi sinh vật nhiễm trong sữa
sẽ lên men làm tăng giá trị độ chua của sữa gầy và váng sữa,khi đó bơ thành phẩm sẽ có cấu trúc và
hương vị không ổn định
Trang 4 Ngoài ra người ta có thể phân loại bơ dựa vào lượng muối
Trang 5– Cream
Nguyên liệu chính trong sản xuất bơ là cream Các
nhà máy sản xuất bơ cĩ thể thu cream từ nguyên liệu sữa tươi bằng phương pháp li tâm hoặc thu mua cream từ các nhà máy chế biến sữa khác Trên thị trường hiện nay hàm lượng chất béo trong cream thường dao động trong khoảng 35-40%
Nguyên liệu trong sản xuất
bơ
Trang 6 Để đánh giá chất lượng cream, người ta dựa vào ba nhóm chỉ tiêu; cảm quan, hoá lí và vi sinh.
-Trong nhóm chỉ tiêu cảm quan, mùi và vị cream là hai chỉ tiêu quan trọng nhất.cream không được có mùi lạ đặc biệt là mùi
ôi do chất béo bị oxy hóa
-Đối với các chỉ tiêu lí hóa, ngòai hàm lượng chất béo, người
ta thường quan tâm đến chỉ số iốt của cream Nếu chỉ số iôt quá cao (lớn hơn 42) bơ thành phẩm sẽ có cấu trúc rất mềm Ngược lại nếu chỉ số iốt quá thấp (nhỏ hơn 28) bơ sẽ cứng và khó quết lên bánh khi sử dụng
Ngoài ra, với sản phẩm bơ lên men, nguyên liệu cream không được chứa các chất kháng sinh và không được nhiễm các chất tẩy rửa công nghiệp Nhưng chất này sẽ ức chế sự hoạt động của vi khuẩn lactic và kéo dài thời gian lên men Hơn nữa, hàm lượng trao đổi chất do giống vi khuẩn tạo ra sẽ
không cân đối và ảnh hưởng không tốt đến hương vị của sản phẩm
Trang 7 -Hàm lượng VSV trong cream càng thấp càng tốt Người
ta thường chú ý đến nhóm vi khuẩn ưa lạnh vì chúng có khả năng sinh tổng hợp enzime lipase chịu nhiệt trong quá trình thanh trùng cream, hầu hết các VSV bị tiêu diệt Nhưng
Lipase từ vi khẩn ưa lạnh có thể giữ được hoạt tính ở 100oC Enzime này xúc tác quá trình thủy phân chất béo, làm thay đổi thành phần chất béo trong nguyên liệu Giải pháp khắc phục hiện tượng này là phải thanh trùng sữa tươi khi mới
nhập về nhà máy và bảo quản ở nhiệt độ thấp (2-4oC) trước khi đem vào chế biến Chế độ thanh trùng là 63-650 trong 15 giây Khi đó nhóm VSV lạnh-nguồn lipase chịu nhiệt đã tiêu diệt hoàn toàn Nêu các nhà máy sản xuất không có điều kiện thanh trùng ngay sữa tươi thu mua thì phải tiến hành làm lạnh
và bảo quản sữa ở 1-4oC Trong thời gian tối đa 24 giờ tiếp theo, ta phải thực hiện quá trình thanh trùng sữa
Trong trường hợp nhà máy mua cream có chất lượng không tốt như cream có độ chua cao (15-200D) thì cần tiến hành xử lí cream trước khi đưa vào sản xuất bơ.Một trong
những phương pháp xử lí thông dụng là rửa cream bằng
nước sạch với tỉ lệ cream/nước là1/2(v/v) Sau đó, người ta tiến hành li tâm để tách nước Ngoài ra ta còn có thể sử dụng phương pháp trung hòa để làm giảm độ chua của nguyên liệu cream Hóa chất thường dùng là CaO, Ca(OH) 2…
Trang 8– Vi sinh vật:
Trong sản xuất bơ lên men, ngươi ta sử dụng vi khuẩn lactic
LD Thường gặp nhất là Streptococcus diacetylactic và
Leuconostoss citrovorum Trong quá trình lên men, ngoài acid
lactic, chúng sinh tổng hợp các hợp chất dễ bay hơi aldehyde acetic, diacetyl,acetoin… Các hợp chất này sẽ tạo cho sản phẩm bơ hương vị đặc trưng
Trang 9– Các phụ gia:
Chất màu: màu sắc của bơ do các hợp chất carotenoides
có trong cream nguyên liệu quyết định Thông thường vào mùa đông hàm lựơng các hợp chất trên trong sữa giảm so với mùa hè nên bơ thành phẩm có màu nhạt hơn Người ta cho phép sử dụng một số chất màu thực phẩm trong sản xuất
bơ Ví dụ như ở Pháp, các chất màu có nguồn gốc thiên
nhiên sau đây được sử dụng:
Chất chống Ôxy hóa: Phổ biến nhất là gallat propyle,
gallat octyl, gallat dodecyle, butyl hydroxy anisol (BHA) hoaec butyl hydroxy toluen (BHT) Hàm lượng sử dụng không được quá 1.01%
Trang 10 Các gia vị khác: để đa dạng hoá các sản phẩm bơ trên thị
trường, nhà sản xuất có thể sử dụng một số gia vị khác Việc lựa chọn gia vị phụ thuộc thị hiếu người tiêu dùng và quy định của mỗi nước Ví dụ: ở Pháp, người ta cho sử dụng
nhũng gia vị như tiêu, tỏi, mùi tây, củ đinh hương…trong sản xất bơ
Trang 11Quy trình coâng ngheä
I. Quy trình công nghệ sản xuất bơ lên men:
Cream Thanh trùng
Cấy Giống
Lên men và xử lý nhiệt-lạnh
Tạo hạt bơ(churning) và
xử lý
Bao gói
Bơ lên men
Vi khuẩn lactic
Nhân giống
Muố i
Bao bì
Sữa bơ (Buttermilk )
Hình 3.28 Sơ đồ qui trình công nghệ sản xuất bơ lên men
Trang 12A. Thanh trùng:
Mục đích của quá trình thanh trùng là tiêu diệt VSV và ức
chế hoạt tính các enzyme trong cream Nhiệt độ thanh trùng cần sử dụng là 90÷95oC trong thời gian 15÷20giây Nếu
cream có chất lượng tốt, người ta thường gia nhiệt nhanh nguyên liệu đến 95oC rồi làm nguội ngay
Nếu tăng nhiệt độ và thời gian thanh trùng thì hiệu quả
của quá trình sẽ tăng Tuy nhiên cream sẽ có mùi nấu và ảnh hưởng xấu đến chất lượng bơ thành phẩm
Trong trường hợp cream có mùi lạ, người ta sử dụng
phương pháp bài khí trong điều kiện chân không để tách các cấu tử dễ bay hơi ra khỏi cream Quá trình bài khí sẽ được kết hợp thực hiện cùng với quá trình thanh trùng
cream Đầu tiên cream sẽ được bơm vào thiết bị trao đổi nhiệt dạng bảng mỏng để gia nhiệt lên 78oC Tiếp theo,
cream được đưa vào bồn chân không để thực hiện quá
trình bài khí Áp lực chân không cầu được hiệu chỉnh sao cho nhiệt độ sôi của cream trong bồn dao động quanh giá trị 62oC Khi đó, các cấu tử dễ bay hơi sẽ được tách ra khỏi cream Cuối cùng cream được đưa trở lại hệ thống trao đổi nhiệt bảng mỏng để gia nhiệt tiếp lên đế 95oC rồi làm nguội
Ở châu Âu ,vào mùa hè sữa tươi thường có mùi hành do
Trang 13B. Cấy giống vi sinh vật
Các nhà máy sản xuất bơ có thể sử dụng sinh khối vi khuẩn lactic dưới dạng sấy thăng hoa do các hãng chuyên sản xuất giống vinh vật cung cấp Nếu không, họ có thể tự nhân giống
để phục vụ sản xuất
Môi trường nhân giống phổ biến nhất là sữa gầy.Trước khi nhân giống, sữa gầy được thanh trùng ở 90-95oC trong thời gian 15÷30 phút Ta sử dụng phương pháp nhân giống theo nhiều cấp để có đủ tế bào vi khuẩn cấy vào cream
Quá trình nhân giống được thực hiện ở 20oC.Thời gian nhân giống cho mỗi cấp từ 7÷10 giờ Canh trường vi sinh vật thu vào có độ chua 18÷20oSH, số lượng tế bào có thể lên
đến109 tế bào/ml Những sản phẩm trao đổi chất quan trọng nhất của vi khẩn trong canh trường là acid lactic, diacetyl và acid acetic Chung sẽ ảnh hưởng đến hương vị bơ thành
phẩm
Lượng giống VSV cấy vào cream trong sản xuất bơ phụ
thuộc vào chỉ số iod của ngyuên liệu và nhiệt độ lên men Tỷ
lệ giống cấy thường khoảng 1-7% (v/v)
Trang 14C. Lên men và xử lý nhiệt-lạnh:
Quá trình lên men và xử lý nhiệt lạnh diễn ra song song
Quá trình lên men được thực hiện trong thiết bị hình trụ, có
cánh khuấy và bộ phận hiệu chỉnh nhiệt độ Vi khuẩn lactic
sẽ sinh tổng hợp acid lactic và sản phẩm trao đổi chất tạo
độ chua và hương vị đặc trưng cho cream
Sau quá trình lên men, độ chua phần không béo trong
cream cần đạt giá trị xung quanh 360SH, hàm lượng
diacetyl trong cream khoảng 1.0-1.5ppm
Mục đích của quá trình xử lý nhiêt-lạnh là kết tinh một
lựợng chất béo trong cream
Thông thường người ta phụ thuộc vào chỉ số iod của cream
để chọn chế độ xử lý nhịệt-lạnh tối ưu Khi đó bơ thành
phẩm sẽ không có cấu trúc quá cứng hay quá mềm
Trang 15Bảng chế độ xử lý nhiệt-lạnh và giống cấy cho quá trình lên men
cream tương ứng vói chỉ số iod khác nhau của nguyên liệu
(Bylund Gosta,1995).
Chỉ số iod Chế độ xử lý nhiệt lạnh (0C) Lượng giống cấy (%v/v)
<2828-2930-3132-3435-3738-39
>40
8-21-208-21-168-20-136-19-126-7-116-15-1020-8-11
12-355675
Trang 16 Trong quá trình thanh trùng cream, tất cả dầu béo đều ở trạng thái lỏng Khi làm nguội cream xuống 40oC, một số phân tử béo bắt đầu kết tinh Nếu ta làm nguội cream xuống nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ chậm, quá trình kết tinh sẽ kéo dài nhưng các tinh thể béo sẽ lần lượt với độ tinh khiết cao
Trong thực tế sản xuất, ta cần phải rút ngắn thời gian kết tinh chất béo bằng phương pháp làm nguội nhanh
Khi làm nguội nhanh, quá trình kết tinh chất béo trong cream
sẽ diễn ra nhanh Tuy nhiên, trong trường hợp này, một số tinh thể chất béo thu được không đạt độ tinh khiết cao và
được gọi là “tinh thể hỗn hợp” (mixed crytals)
Khi đó tỉ lệ giữa khối lượng chất béo ở thể lỏng so với tổng khối lượng chất béo trong cream sẽ giảm và bơ thành phẩm
có cấu trúc cứng, khó phết lên bánh khi sữ dụng
Để khắc phúc hiện tượng trên, sau khi giảm nhiệt độ cream
để kết tinh một phần chất béo, người ta nâng dần nhiệt độ lên
để các triglycerid có điểm nóng chảy thấp sẽ hóa lỏng và tách
ra khỏi các “tinh thể hỗn hợp” Cuối cùng, tiến hành hạ nhiệt
độ cream nhưng không quá thấp như ở lần hạ nhiệt độ đầu tiên để tái kết tinh chất béo Khi đó một số triglycerid sẽ tiếp tục kết tinh, tuy nhiên độ tinh khiết của các tinh thể trong
cream sẽ tăng, số “tinh thể hỗn hợp giảm” Ta có thể đạt
Trang 17Bảng 3.13 Ảnh hưởng tỷ lệ lượng chất béo lỏng và chất béo rắn trong
cream đến độ cứng của bơ thành phẩm (luquet, 1985)
Lượng chất béo
lỏng
Lượng chất béo rắn(% so với tổng khối lượng chất béo)
Cấu trúc bơ thành
phẩm
85556565÷78
154522÷35
Bơ mềm
Bơ cứng
Bơ có nồng độ cứng vừa phải
Sau cùng, người ta hạ nhiệt độ hỗn hợp xuống 5÷60C và giữ trong khoảng 2 giờ Theo Luquet (1985), giải pháp kỹ thuật này sẽ làm giảm độ tổn thất chất béo theo sữa bơ ở giai đoạn tạo hạt bơ tiếp theo
Trang 18D Tạo hạt bơ (churning) và xử lý:
Quá trình tạo bơ và xử lý có thể thực hiện theo phương pháp
gián đoạn hoặc liên tục với công đoạn sau đây:
Khuấy đảo (churning) hỗn hợp cream có chứa các tinh thể
chất béo để biến chúng thành các tinh thể hạt bơ và sữa
bơ (buttermilk)
Tách sữa bơ để thu nhận các hạt bơ
Xử lý các hạt bơ riêng lẻ để tạo thành một khối kết dính
Bổ sung muối và phân bố đều trong toàn bộ khối bơ
Hiệu chỉnh độ ẩm và phân bố đều trong các hạt nước nhỏ li
ti trong toàn bộ khối sản phẩm
Xử lý chân không để làm giảm lượng khí có trong khối bơ
Trang 19 Phương pháp gián đoạn:
Thiết bị khuấy đảo cream hay còn gọi là thiết bị đánh cream (churn) có những hình dạng khác nhau như hình trụ đứng – đáy côn, hình trụ ngang, hình lập phương, hình chóp…
Hình 3.29 giới thiệu một số kiểu hình thiết bị thường gặp
Trang 20 Khi quá trình tạo bơ kết thúc, hổn hợp trong thiết bị gồm hai phần: các hạt bơ (butter grains) và sữa bơ (buttermilk).
Tiếp theo giai đọan tách sữa bơ ra khỏi thiết bị, người ta
thường dùng nuớc vô trùng để rửa các hạt bơ nhằm lọai bỏ các hợp chất hòa tan trong sữa bơ còn bám trên bề mặt các hạt bơ Sau đó là đến giai đọan tách nước và bổ sung thêm muối.các hạt bơ sẽ được nén ép để tạo thành một khối đồng nhất
Sau cùng là giai đọan làm giảm lượng khí tự do có trong khối bơ(nếu cần)
Trang 22E. Bao gói:
Hiện nay, quá trình bao gói sản phẩm thường được thực hiên trên hệ thống thiết bị tự động làm việc Bơ thường
được tạo hình dạng khối chữ nhật với khối lượng 250g
hoặc 500g Loại bao bì thích hợp nhất là giấy nhôm hoặc hộp plastic do chúng ngăn cản được ánh sáng, ẩm hạn chế tối đa sự tổn thất các cấu tử hương có trong bơ Sản phẩm
bơ bao gói trong giấy nhôm hoặc plastic tiếp tục được xếp vào trong những thùng carton rồi đem bảo quản trong kho lạnh.
Trang 23II. Quy trình công nghệ sản xuất bơ không lên men:
Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất bơ không lên men tương tự như đối với sản phẩm bơ lên men
nhưng đơn giản hơn Ta bỏ qua hai giai đoạn cấy giống
và lên men Như vậy, nguyên liệu cream sau khi qua
thanh trùng sẽ được đem đi xử lý nhiệt lạnh tạo một số tinh thể chất béo và để đạt được tỷ lệ thích hợp giữa
lượng chất béo dạng lỏng và lượng chất béo dạng tinh thể Sau đó, hỗn hợp được dựa vào hệ thống thiết bị hoạt động liên tục để tạo hạt bơ và xử lý bơ thành phẩm
Trang 24Sản phẩm bơ
Người ta đánh giá chất lượng bơ dựa vào các chỉ tiêu cảm quan hĩa lý và vi sinh:
Chỉ tiêu cảm quan: Phổ biến nhất là màu sắc, mùi vị vủa
bơ Ngồi ra, người ta cịn đánh giá cảm quan cấu trúc của sản phẩm (độ cứng, độ dẻo…) bằng cách phết bơ lên bánh rồi quan sát
Chỉ tiêu hĩa lý: Hàm lượng chất béo trong sản phẩm, độ
ẩm, hàm lượng các chất rắn khơng béo, hàm lượng muối, độ chua…
Tùy theo quy định của mỗi nứơc và mỗi cơ sở sản xuất
mà các chỉ tiêu hĩa lý cĩ thể dao động trong những khoảng khác nhau Thơng thường, độ ẩm tối đa trong bơ là 18%,
lượng chất béo tối thiểu 80÷82% Ngồi ra bơ cịn cĩ muối NaCl, protein, các vitamin tan trong chất béo như A, D…
Trang 25 Chỉ tiêu vi sinh: Gồm các chỉ tiêu cơ bản như tổng số vi
khuẩn, nấm men và nấm sợi Trong nhóm vi sinh vật gây
bệnh, người ta quan tâm đến Salmonella và Listeria Chúng không có mặt trong bơ thành phẩm
Bơ thường được bảo quản ở nhiệt độ 5oC Thời gian bảo quản có thể kéo dài vài tháng Theo Vierling (1999) người
ta có thể sử dụng nhiệt độ thấp hơn -15oC để kéo dài hơn
nữa thời gian bảo quản bơ
Trong quá trình bảo quản bơ, một số biến đổi có thể diễn
ra Quan trọng nhất là sự Oxy hóa chất béo tạo nên các hợp chất peroxyde gây mùi khó chịu và làm giảm giá trị dinh