Nhà Lý Lý triều, còn được gọi là nhà Hậu Lý để phân biệt với nhà Tiền Lý của Lý Nam Đế là một triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi vua Thái Tổ lên ngôi tháng 10 âm lị
Trang 1MỸ THUẬT THỜI LÝ
Trang 2Cuối thế kỷ thứ 10, nước ta thoát khỏi ách đô hộ phương Bắc Trải qua hai triều Đinh, Lê thống nhất nước nhà và chống tái ngoại xâm, đến thời Lý, nghệ thuật phát triển thăng hoa với bản sắc riêng nhằm hoá giải những ảnh hưởng của Văn hoá Trung Hoa
Hai triều Đinh, Lê đã tạo dựng được một nhà nước có chủ quyền Triều Lý nắm quyền có ý thức phục hưng Văn hoá dân tộc trên tinh thần có sự giao thoa với Văn hoá Chăm - Ấn đã tạo cơ sở cho nghệ thuật tạo hình phát triển Thêm vào
đó, việc Phật giáo trở thành quốc giáo, tăng lữ có vị trí tinh thần trọng yếu đạo Phật được phổ cập đã là nhân tố tác động vào hướng phát triển và phong cách nghệ thuật Việc nước Đại Việt độc lập, tự chủ, đủ sức mạnh chống ngoại xâm, trải qua nhiều năm thái bình thịnh vượng cũng có tác động không nhỏ
Nhà Lý (Lý triều), còn được gọi là nhà Hậu Lý (để phân biệt với nhà Tiền Lý của
Lý Nam Đế) là một triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi vua
Thái Tổ lên ngôi tháng 10 âm lịch năm 1009 sau khi giành được quyền lực từ tay
nhà Tiền Lê và chấm dứt khi vua Lý Chiêu Hoàng, khi đó mới có 8 tuổi bị ép
thoái vị để nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh vào năm 1225 – tổng cộng là
vua Lý Thánh Tông lên ngôi Ở thời này có sự kiện đáng nhớ là việc dời đô từ
Hoa Lư, một nơi xa đồng bằng Bắc Bộ, thưa dân, hiểm trở ra Đại La, rồi đặt tên
Trang 3Từ đời Lý, Nho giáo bắt đầu có địa vị trong xã hội Tuy thế, chế độ giáo dục và thi cử theo tinh thần Nho giáo cũng chỉ mới bắt đầu Số nho sĩ được tạo ra hãy còn quá ít, Phật giáo vẫn chiếm ưu thế và các nhà sư vẫn giữ vai trò quan trọng trong xã hội.
Phật giáo: Phật giáo được truyền bá rộng rãi trong quần chúng và có dấu ấn lên
mọi sinh hoạt văn hóa Nhà vua và tầng lớp quý tộc rất tôn sùng đạo Phật Tất cả tám đời vua nhà Lý, vua nào cũng sùng tín đạo phật
lần đầu tiên nhà Lý đã giữ vững được chính quyền một cách lâu dài đến hơn hai trăm năm, khác với các vương triều cũ trước đó chỉ tồn tại hơn vài chục năm, ngoài ra nhà Lý còn bảo toàn và mở rộng lãnh thổ của mình Trong nước, mặc
Quốc tử giám (1076), và các khoa thi để chọn người hiền tài không có nguồn gốc
để phòng thủ như các triều đại trước
Trang 4NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC
Kiến trúc phát triển mạnh dưới thời nhà Lý và chịu ảnh hưởng của Phật giáo
rất sâu đậm Cung điện, lâu đài, thành quách và chùa tháp được xây dựng với qui mô lớn Thành Thăng Long là một công trình xây dựng lớn trong các triều đại phong kiến Thành gồm hai vòng dài khoảng 25 km Trong hoàng thành có những cung điện cao đến bốn tầng
Trang 5Lý Công Uẩn lên ngôi vua, sáng lập vương triều Lý (1009 - 1225) tại kinh đô
Hoa Lư (Ninh Bình) ngày 2-11 Kỷ Dậu (21 – 11 - 1009) Tháng 7 mùa thu năm
1010, nhà vua dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên là Thăng Long Ngay trong mùa thu năm đó, nhà Lý đã khẩn trương xây dựng một số cung điện làm nơi ở và làm việc của vua, triều đình và hoàng gia Trung tâm là điện Càn
Nguyên, nơi thiết triều của nhà vua, hai bên có điện Tập Hiền và Giảng Võ, phía sau là điện Long An, Long Thụy làm nơi vua nghỉ Đến cuối năm 1010, 8 điện 3 cung đã hoàn thành Những năm sau, một số cung điện và chùa tháp được xây dựng thêm Một vòng thành bao quanh các cung điện cũng được xây đắp trong năm đầu, gọi là Long Thành hay Phượng Thành Đó chính là Hoàng Thành theo cách gọi phổ biến về sau này Thành đắp bằng đất, phía ngoài có hào, mở 4
cửa: Tường Phù ở phía đông, Quảng Phúc ở phía tây, Đại Hưng ở phía nam, Diệu Đức ở phía bắc Trong Long Thành có một khu vực được đặc biệt bảo vệ gọi là Cấm Thành là nơi ở và nghỉ ngơi của vua và hoàng gia Trong đời Lý, các kiến trúc trong Hoàng Thành còn qua nhiều lần tu sửa và xây dựng thêm
Long Thành và Cấm Thành là trung tâm chính trị của Kinh Thành Phía ngoài, cùng với một số cung điện và chùa tháp là khu vực cư trú, buôn bán, làm ăn của dân chúng gồm các bến chợ, phố phường và thôn trại nông nghiệp Một vòng thành bao bọc toàn bộ khu vực này bắt đầu được xây đắp từ năm 1014, gọi là thành Đại La hay La Thành Trong những biến loạn cuối đời Lý, Hoàng Thành bị tàn phá nặng nề Sau khi thành lập, nhà Trần phải đắp lại thành, xây lại các
cung điện, nhưng vị trí, qui mô của Hoàng Thành, thường gọi là Long Phượng Thành, không thay đổi
Trang 6Thời Lê sơ, Hoàng Thành nhiều lần được tu bổ và mở rộng thêm mà trung tâm điểm là điện Kính Thiên dựng năm 1428, xây lại năm 1465 với lan can bằng đá chạm rồng năm 1467 nay vẫn còn trong thành Hà Nội Năm Hồng Đức thứ 21 (1490), vua Lê Thánh Tông định bản đồ cả nước gồm 13 thừa tuyên và phủ Trung Đô tức thành Đông Kinh thời Lê sơ Tập Bản đồ Hồng Đức còn lại đến nay đã qua nhiều lần sao chép lại về sau, nhưng vẫn là tập bản đồ xưa nhất của nước Đại Việt Sang thời Nguyễn, thành Hà Nội do vua Gia Long xây năm
1805 theo kiểu Vauban không những hạ thấp độ cao mà còn thu nhỏ về qui mô
so với Hoàng Thành của Thăng Long xưa Tuy nhiên trục trung tâm Đoan Môn Kính Thiên của Hoàng Thành Thăng Long thời Lê vẫn không thay đổi và trên trục này thêm Cột Cờ, Cửa Bắc thời Nguyễn
Trang 7Bản đồ Thăng Long thời Hồng Đức (1490)
Đường viền đỏ là giới hạn của Cấm Thành Thăng Long Khu vực nằm trong hình vuông viền xanh là số 18 Hoàng Diệu, chỉ cách trục Thần Đạo 87m - Ảnh chụp từ cuốn Hoàng Thành Thăng Long - Quà tặng các đại biểu
quốc tế dự APEC 2006
Trang 8Cửa Bắc của thành Hà Nội thời Nguyễn
(xây trên nền Cửa Bắc thời Lê)
Cột cờ thành Hà Nội thời Nguyễn Quang cảnh trước khi doanh trại binh lính Pháp được
dựng lên xung quanh Vườn hoa Cửa Nam, nơi xưa
kia có tượng "Bà Đầm Xoè"
Trang 9Dấu tích kiến trúc thời Lý - Trần
ở hố D4 - D6 (khu D) Dấu vết nền cung điện thời Lý ở Hố A20
Trang 10Cửa và hệ thống cống thoát nước phía
Đông kiến trúc lớn phía Bắc khu A
Toàn cảnh di tích kiến trúc cung điện khu A1 Toàn cảnh dấu tích kiến trúc thời Lý - Trần - Lê ở hố D2
Dấu vết con đường trải sỏi và hệ thống cống thoát nước của cung điện thời Lý - Trần ở hố B5
Trang 11Kiến trúc thời Lý phục vụ Phật giáo Rất nhiều quốc tự được xây dựng Phong cách thống soái là hoành tráng, đồ sộ Chùa Một Cột (chùa Diên Hựu) được xây
ở Thăng Long với quy mô lớn hơn ngôi chùa đã có trước đó ở Hoa Lư và với sự cách điệu tuyệt diệu Việc xây dựng các chùa tháp rất được coi trọng Năm 1031
Lý Thái Tông cho xây 950 ngôi chùa Năm 1056, Lý Thánh Tông lập chùa Sùng Khánh ở phường Báo Thiên, phải dùng 11 ngàn cân đồng để đúc chuông chùa, năm sau lại dựng Tư Thiên Bảo tháp trước chùa Báo Thiên, cao vài chục
trượng (khoảng 50-60m) và có 30 tầng Ngoài ra còn có nhiều chùa tháp khác cũng đồ sộ và huy hoàng không kém
Chùa Báo Ân và tháp Báo Thiên cao khoảng 70m Chùa Phật Tích - Bắc Ninh, chùa Long Đọi - Hà Nam, chùa Bà Tấm - Hà Nội, chùa Quảng Giáo - Quảng
Ninh đều là những chùa lớn
Kiến trúc chùa tháp thời Lý đều to lớn, cao Các chùa thường nằm trên đỉnh núi cao Cấu trúc và bố cục chùa tháp đơn giản, chỉ gồm một ngôi chùa chính và ngọn tháp lớn có đáy vuông Điều này phản ánh tư tưởng giản dị, phóng khoáng của nguời thời Lý Trang trí tháp chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Chăm, với các hình chim thần (Garuđa), nữ thần đầu nguời mình chim, có lẽ do việc bắt những
tù binh Chăm sau cuộc nam chinh của Lý Thánh Tông Vì thế ấn tượng của ngôi chùa thời Lý rất độc đáo: vừa tôn nghiêm, hùng vĩ, đường bệ bởi không gian và đường sống kiến trúc, vừa phóng khoáng lãng mạn bởi gần thiên nhiên, vừa sinh động, lý thú với các hình trang trí mang hơi hướng Chăm
Trang 12Chùa Một Cột hay Chùa Mật (gọi theo Hán-Việt là Nhất Trụ tháp 一一一 ), còn có
tên khác là Diên Hựu ( 一一 ) hoặc Liên Hoa Đài ( 一一一 , "đài hoa sen"), là một
nhất Việt Nam
Lý Thái Tông (1028-1054) và theo gợi ý thiết kế của nhà sư Thiền Tuệ Vào năm
Quan Âm đặt trên cột như đã thấy trong mộng và cho các nhà sư đi vòng xung quanh tụng kinh cầu kéo dài sự phù hộ, vì thế chùa mang tên Diên Hựu
thức tỉnh người đời) Đây được xem là một trong tứ đại khí - bốn công trình lớn của Việt Nam thời đó - là: tháp Báo Thiên, chuông Qui Điền, vạc Phổ Minh và tượng Quỳnh Lâm "Giác thế chung" đúc xong nặng quá không treo lên được, để dưới mặt đất thì đánh không kêu Người ta đành bỏ chuông xuống một thửa
chuông (chuông ruộng rùa)
Trang 13Đến thế kỷ 15, giặc Minh xâm lược, chiếm thành Đông Quan (Hà Nội) Năm
1426 Lê Lợi đem nghĩa quân Lam Sơn ra đánh, vây thành rất gấp Quân Minh thiếu thon vũ khí đạn dược, tướng Minh là Vương Thông bèn sai nguoi đem
Điền thì không còn nữa
vẫn làm ở nền cũ " Chùa đã qua nhiều đợt tu sửa Đợt sửa chữa lớn vào
nǎm Thiên ứng Chính Bình 18 (1249) gần như phải làm lại toàn bộ Thời Lê, triều đình nhiều lần cho tu sửa, thu nhỏ kích thước đài sen và cột đá Nǎm
1838, tổng đốc Hà Ninh Đặng Vǎn Hoà tổ chức quyên góp thập phương sửa chữa điện đường, hành lang tả hữu, gác chuông và cửa tam quan Nǎm
1852, bố chính Tôn Thất Giao xin đúc chuông mới Nǎm 1864, tổng đốc Tôn Thất Hàm hưng công trùng tu, làm sàn gỗ hình bát giác để đỡ toà sen, chạm trổ thêm công phu tráng lệ Nǎm 1954, trước khi rút khỏi Hà Nội, quân Pháp
đã đặt mìn phá đổ chùa Sau ngày tiếp quản thủ đô, Bộ Vǎn Hoá đã cho tu sửa chùa Một Cột theo đúng kiểu mẫu cũ để lại từ thời Nguyễn
Cạnh chùa Một Cột ngày nay còn có một ngôi chùa có cổng tam quan, với ba chữ "Diên hựu tự", là mot ngôi chùa mới được xây dựng phụ vào với chùa Một Cột, xây khoảng đầu thế kỷ 18
Trang 14Chùa Một Cột -1922
Chùa Một Cột
Trang 15Chuông đồng cổ, một trong những điểm nhấn của chùa Một Cột Điện thờ chính của chùa Một Cột.
Toàn cảnh chùa Một Cột
Trang 16Chùa Phật Tích (Phật Tích tự 一一一 ) còn gọi là chùa Vạn Phúc (Vạn Phúc tự
công nhận là di tích lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng của quốc gia
Theo tài liệu cổ thì chùa Phật Tích được khởi dựng vào năm Thái Bình thứ 4 (
chùa vào thời Lý hiện nay không còn nữa
này, xóm Hỏa Kê (gà lửa) cạnh chùa đổi tên thành thôn Phật Tích
đẹp của cảnh chùa: "Đoái trông danh thắng đất Tiên Du, danh sơn Phật Tích,
ứng thế ở Càn phương (hướng Nam) có núi Phượng Lĩnh bao bọc, phía tả
Thanh Long nước chảy vòng quanh Phía hữu Bạch Hổ núi ôm, trên đỉnh nhà khai bàn đá "
Trang 17Năm 1071, vua Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ "
đóng góp quan trọng trong buổi đầu xây dựng chùa Phật Tích
Vào thời nhà Lê, năm Chính Hòa thứ bảy đời vua Lê Hy Tông, năm 1686, chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn, có giá trị nghệ thuật cao và đổi tên là Vạn Phúc tự
Nhưng rồi vẻ huy hoàng và sự thịnh vượng của chùa Phật Tích cũng chỉ tồn tại sau đó được gần 300 năm Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ và chùa
bị tàn phá nhiều Chùa đã bị quân đội Pháp đốt cháy hoàn toàn vào năm 1947.Khi hòa bình lập lại (1954) đến nay, chùa Phật Tích được khôi phục dần Năm
1959, Bộ Văn hóa cho tái tạo lại 3 gian chùa nhỏ làm nơi đặt pho tượng A-di-đà bằng đá quý giá Tháng 4 năm 1962, nhà nước công nhận chùa Phật Tích là di tích lịch sử-văn hoá
Chùa được kiến trúc theo kiểu "nội công ngoại quốc", sân chùa là cả một vườn hoa mẫu đơn rực rỡ Bên phải chùa là Miếu thờ Đức chúa tức bà Trần Thị Ngọc
Am là đệ nhất cung tần của chúa Trịnh Tráng tu ở chùa này
Cho tới nay, chùa Phật Tích có 7 gian tiền đường để dùng vào việc đón tiếp
Ngôi chùa có kiến trúc của thời Lý, thể hiện qua ba bậc nền bạt vào sườn núi
tảng đá hình khối hộp chữ nhật
Trang 18Bậc thang lên chùa Chùa Phật Tích
Những bệ của các cột đá ở Chùa Phật Tích vào thế kỷ 11
Trang 19Vườn tháp trong chùa Phật Tích
Trang 20CHÙA DẠM Căn cứ vào các thư tịch cổ, chùa Dạm được Vua Lý Nhân Tông
(1072-1127) cho xây dựng vào năm Quang Hựu thứ 2 (1086) Để tiện vận chuyển nguyên vật liệu phục vụ công trình, vua cho đào ngòi Con Tên từ chân núi Lãm Sơn chạy thẳng ra sông Đuống Năm 1087, "Vua ngự đến chùa Lãm Sơn, đến đêm ban yến cho các quan Vua làm 2 bài Lãm Sơn dạ yến" Công trình làm trong
9 năm mới xong Vua ban tên chùa là Cảnh Long Đồng Khánh, lại thân đề biển bằng chữ Triện
Năm Long phù nguyên hóa thứ 5 (1105), vua Lý Nhân Tông cho xây thêm ba tháp
đá nữa Chùa làm xong (1094), Vua ban 300 mẫu ruộng tự điền để nhà chùa có hoa lợi hương khói và 7 gia đình ở mé dưới núi được giao việc chuyên đóng - mở cửa chùa
Chùa đặt ở sườn núi phía nam của dãy Lãm Sơn, chính giữa ngọn cao nhất Núi Rùa làm tiền án, ngòi Con Tên làm Minh Đường bên tả có Thanh Long, bên hữu
có Bạch Hổ chầu về Chùa Dạm hội tụ đủ huyết mạch linh thông theo thuyết
phong thủy
Chùa dựa hẳn vào sườn núi và 4 lớp nền đá trườn theo sườn núi vừa tôn tầm cao công trình vừa tạo dáng vẻ uy nghiêm, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên chung quanh Hơn nữa tránh được nạn lụt lội ở vùng "rốn nước" Quế Võ lắm đồng sâu ruộng trũng
Chiều dài của lớp nền 120 m, rộng 70 m (chùa Phật Tích là 100 m và 60 m)
Tổng cộng diện tí c h gần 8.000 m2
Bốn lớp nền được bó ghép bằng đá tảng (mỗi viên có kích thước 50x60 cm) Các lớp đá được cấu tạo choãi chân đế, chếch khoảng 70 độ, và có độ cao 5-6 m
Trang 21Cây dại ngút ngàn bao phủ tường đá của đại danh
lam.
Mái chùa tạm bằng tre nứa; hàng trăm bậc đá dẫn lên núi
đã bong hỏng.
Trang 22Một phần cột đá chùa Dạm
Trang 23Chùa Long Đọi Sơn còn có tên chữ là Diên Linh tự do vua Lý Thánh Tông
và Vương phi Ỷ Lan chủ trì xây dựng từ năm 1054 Đến đời Lý Nhân Tông, nhà vua này tiếp tục xây dựng phát triển và xây tháp Sùng Thiện Diên Linh
từ năm 1118 đến năm 1121
Sau ba trăm năm đứng vững thì đến đầu thế kỷ XV, khi giặc Minh xâm lược nước ta, chùa và tháp đã bị phá hủy hoàn toàn Riêng bia vì không phá nổi, chúng đã lật đổ xuống bên cạnh núi, ngôi chùa trở nên hoan phế hoàn toàn Mãi đến năm Tự Đức thứ 13 (1860) nghĩa là 170 năm sau khi giặc Minh tàn phá nhân dân trong vùng mới cho sửa sang lại thượng điện, tiền đường, gác chuông, nhà tổ Đến năm 1864, chùa lại tiếp tục sửa hành lang, đúc tượng
Di Lặc, đúc khánh đồng và đúc khánh đá do sư tổ đời thứ 5 là Thích Chiếu Trường chủ trì xây dựng hoàn chỉnh 125 gian, từ đó trở thành trường Bắc
Kỳ Phật giáo Ngôi chùa lúc này được dựng theo kiểu nội công ngoại quốc Tại tiền đường, thượng điện tượng Phật rất nhiều Hai bên chùa là 18 gian hành lang thờ thập bát La Hán
Trang 24Chùa Đọi
Cổng lên chùa dưới chân núi
Những bậc đá dẫn lên chùa
Trang 25Gian trái chùaGian phải chùa
Trang 26Di tích tháp mộ xung quanh chùa Bia đá Sùng Thiện Diên Linh
Tháp chùa ở sân trongNgai thờ
Trang 27Chùa Bà Tấm (Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội)
Cụm di tích đền - chùa Bà Tấm thuộc địa phận xã Dương Xá, huyện Gia Lâm,
ngoại thành Hà Nội Di tích nằm ở phía Đông và cách khu vực nội thành Hà Nội gần 20km Từ trung tâm thành phố, qua cầu Chương Dương, theo quốc lộ 5 đi Hải Phòng khoảng 8km thì đến địa phận xã Dương Xá Di tích nằm bên trái, liền kề đường quốc lộ Theo sử sách và truyền thuyết dân gian, cụm di tích đền - chùa Bà Tấm được xây dựng từ thời Lý Sự ra đời của di tích gắn với Nguyên phi, Hoàng thái Hậu Ỷ Lan - một nhân vật kiệt xuất của vương triều nhà Lý Sử cũ cho biết: Nguyên phi Ỷ Lan giỏi việc trị nước (hai lần nhiếp chính), khiến nhân tâm hoà hợp, đất nước thanh bình, dân gian sùng Phật, tôn bà là Phật Bà Quan Âm
Cụm di tích chùa - đền Bà Tấm vốn được xây dựng trên một gò đất cao, rộng,
nằm bên hữu ngạn dòng sông Thiên Đức nổi tiếng (phía bên Tả ngạn là chùa Báo
Ân thời Trần, gắn liền với cuộc đời tu hành của vua Trần Nhân Tông) Trải qua quá trình tồn tại, mặt bằng di tích có nhiều thay đổi, hiện nay còn có chùa, đền và nhà thờ mẫu cùng một số đơn nguyên kiến trúc kề cận
Trang 28Toàn cảnh di tích
Mộ tháp trong chùa Bia đá được lưu giữ tại chùa
Trang 29NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC
Điêu khắc thời Lý tinh vi và cân đối, mang cái trung dung tĩnh tại và cái “hư
không” của Phật giáo Vừa mới thoát khỏi nghìn năm nô lệ, được sống trong thái bình thịnh vượng, các nghệ sĩ có thể đắm mình trong tôn giáo và triết học, tỉ mỉ tạc những pho tượng thể hiện cái nhìn thoát tục
Bên cạnh đó, điêu khắc cũng chịu ảnh hưởng Chăm Những hình trang trí trên mặt đá của tháp Chương Sơn (Hà Nam) có bố cục, dáng điệu và hình thể gần với điêu khắc Chăm, nhưng cách biểu hiện khuôn mặt lại thuần Việt Những
khuôn mặt vũ nữ không tròn bầu, xa xăm và có phần vô cảm như những khuôn mặt Chăm, mà linh động và tươi trẻ Pho tượng đời Lý nổi tiếng nhất là tượng A
di đà ở chùa Phật Tích Tượng cao 2m77 cả bệ, riêng tượng cao 1m87 (bằng cái Linga của chị Toet), thể hiện Đức Phật đang ngồi thuyết Pháp trên toà sen Toà sen cao và bệ tượng tạo thành một hình tháp nhiều tầng gây cảm giác như đang nâng bổng Đức Phật lên Dáng ngồi của Phật thanh thoát, thư giãn Đường cong chạy từ cổ dọc theo sống lưng cộng với khuôn mặt thoát tục gợi đến cái đẹp và
sự dịu dàng phi giới tính Toàn bức tượng cho ấn tượng về sự đốn ngộ cao siêu
và tâm hồn tĩnh tại Cũng rất thoát tục và lãng mạn, con rồng uốn lượn mềm mại
và có một cái đầu mơ màng, những khúc uốn nhỏ dần về phía đuôi
Trang 30Điêu khắc đời Lý độc đáo, chủ yếu trên gốm và trên đá Đề tài thường là thiên nhiên như mây, nước, hoa sen, hoa cúc và đặc biệt là hình tượng con rồng với nhiều nếp cong mềm mại tượng trưng cho nguồn nước, niềm mơ ước của cư dân trồng lúa.
Hình tượng con rồng của triều đại này không lẫn được với các triều đại khác Những hình điêu khắc ở chùa Phật Tích cho ta thấy rằng nghệ thuật điêu khắc thời Lý không những tiếp thu nghệ thuật Trung Hoa mà còn của Champa nữa: Nhạc công và vũ nữ, hình tượng thần điều Garuda
Rồng thời Lý có bốn chân, loại lớn có vẩy Nó rất khác con rồng thô to và
mạnh thời Trần, cũng rất khác con rồng đường bệ của Trung Hoa Thật thú vị khi con vật biểu tượng của Hoàng đế mà lại tỏ ra mơ mộng và đáng yêu như thế Nó chứng tỏ cái chất vị tha Phật giáo và cái lãng mạn, cái Triết lý đã thấm sâu vào thời đại ấy, từ nhà vua đến thứ dân, nhà sư và nghệ sĩ
Mô típ rồng triều Lý đã xuất hiện trên nhiều loại trang trí bố cục hình tròn, hình cánh sen, hình lá đề, hình chữ nhật Hầu như ở đâu, không gian nào, những con rồng luôn có tư thế và cấu trúc giống nhau Nếu nhận xét một cách tương đối kỹ tính như PGS Nguyễn Du Chi, thì có thể chia rồng thời Lý làm hai loại
cỏ ngẫng và cổ rụt Phong cách thời Lý, về đề tài liên quan đến rồng và bố cục hình trang trí rồng, được các đời sau học theo và giữ gìn