1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN BÀI TẬP QUANG HÌNH HỌC LỚP 9

26 425 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 231,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vật lý học là một môn khoa học thực nghiệm đã được tóan học ở mức độ cao, đồng thờiviệc trực tiếp tiến hành các phép đo cơ bản trong chương trình vật lý lớp 6, ngay từ lớp đầu của bậc TH

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO PHÚ QUỐC

TRƯỜNG PTCS BÃI THƠM - -

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Trang 2

A PHẦN MỞ ĐẦU

I BỐI CẢNH CỦA ĐỀ TÀI:

Vật lý học là cơ sở của nhiều nghành kĩ thuật quan trọng, vấn đền nhận thức về vật lý học có giá trị to lớn trong đời sống và sản xuất của con người.Ngày nay đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì vật lý học càng trở nên quan trọng

và cần thiết

Vật lý còn là cơ sở đối với việc học tập các môn học khác, nó là cầu nối quan trọng cho việc phát triển tư duy và hệ thống hóa kiến thức Vì thế mà vật lý có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực của bậc THCS

Vật lý học là một môn khoa học thực nghiệm đã được tóan học ở mức độ cao, đồng thờiviệc trực tiếp tiến hành các phép đo cơ bản trong chương trình vật lý lớp 6, ngay từ lớp đầu của bậc THCS, đã tạo điều kiện cho học sinh rèn luyện các kĩ năng thực hành, thái

độ ứng xử trong thực hành, cần thiết cho việc học tập môn vật lý ở những lớp c ao hơn với kiến thức rộng hơn

Ngày nay, trong phương pháp dạy học mới đòi hỏi phải lấy hoạt động của học sinh làm hoạt động chính Để thực hiện tốt phương pháp dạy học mới và thể hiện tốt bài giảng của mình, thấy (cô) cần phải nắm rõ mục tiêu cụ thể của từng bài về kiến thức, kỹ năng

và thái độ ở mức độ đã được lượng hóa trước mà học sinh cần phải đạt được Hơn nữa giáo viên phải chuẩn bị tốt đồ dùng trực quan như dụng cụ thí nghiệm, các biểu bảng, hình vẽ cũng như các tài liệu khác liên quan phục vụ cho việc dạy và học bài mới

Để tổ chức tốt họat động dạy và học đảm bảo việc truyền thụ hết kiến thức trọng tâm bài học cho học sinh thì cần phải phân bố thời gian giảng dạy một cách hợp lí Hiện nay xã hội ta đòi hỏi một nguồn nhân lực có năng lực, có cả kiến thức và kỹ năng thực hành Vì vậy mà nghành giáo dục của ta phải hiểu được vai trò của mình là đào tạo cho đất nước một nguồn nhân lực đủ về đức và tài, tạo ra tiềm năng cho đất nước trên cơ sở xác định được vai trò quan trọng trong việc dạy học, thực hiện nhiệm vụ cải cách giáo dục nâng cao nhận thức về văn hóa từ đó nhằm cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần và vật chất cho học sinh

Trang 3

Hiện nay, đất nước ta đang phát triển và đổi mới ngày càng mạnh mẽ về mọi mặt Bộ GD&ĐT đã đặt vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Vật lý ở bậc THCS Việc vận dụng đổi mới phương pháp dạy học Vật lý trong gần mười năm qua của giáo viên ở mỗitrường có những thành công và hạn chế khác nhau Trong thực tế dạy học vật lý thì bàitập vật lý có tầm quan trọng đặc biệt Hiện nay để việc thực hiện tốt chương trình sách giáo khoa mới và dạy học theo phương pháp đổi mới có hiệu quả thì việc hướng dẫn học sinh làm tốt các bài tập trong sách giáo khoa đã góp phần không nhỏ vào việc thành công trong công tác dạy học theo

phương pháp đổi mới Chính vì thế, hơn 1 năm học qua tôi đã tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân khiến cho nhiều học sinh học yếu, không ham thích môn vật lý Từng bước tôi đã vận dụng các giải pháp mà mình tim được và thấy hiệu quả học tập của học sinh có nâng dần hơn

II LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Thực tế qua các năm dạy chương trình thay sách lớp 9 bản thân nhận thấy:

Các bài toán quang hình học lớp 9 mặc dù chiếm một phần nhỏ trong chương trình Vật

lý 9, nhưng đây là loại toán các em hay lúng túng, nếu các em được hướng dẫn

một số điểm cơ bản thì những loại toán này không phải là khó

Từ những lý do trên, để giúp HS lớp 9 có một định hướng về phương pháp giải bài toán

quang hình học lớp 9, nên tôi đã chọn đề tài: “ Phương pháp giải bài toán quang hình học lớp 9’’.

Sau hơn một năm áp dụng phương pháp dạy học mới này tôi nhận thấy môn vật lý có tác động rất tốt đối với học sinh, gây hứng thú cho học sinh Học sinh nắm kiến thức sâu sắc, có tính tự lập và đặc biệt là phát triển được tư duy, sáng tạo cho học sinh

Tùy theo đối tượng học sinh và hòan cảnh thực tế cả trường phổ thông hiện nay, đã có rất nhiều quan điểm và phương pháp đề ra khác nhau nhằm áp dụng phương pháp dạy học mới này và đạt được kết quả khả quan nhất định trong việc giúp học sinh tự lực nắm vững kiến thức vật lý

Trang 4

III PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

-Phạm vi nghiên cứu: chương III: Quang học 9

-Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 9 trường PTCS Bãi Thơm

IV MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

- Đôi mới phương pháp dạy học

- Nâng cao chất lượng dạy học, cụ thể là chất lượng học sinh giỏi là mũi nhọn

- Rèn cho học sinh có kỹ năng giải bài tập quang học làm cơ sở cho các năm tiếp theo

V ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nhờ sự nghiên cứu, tìm hiểu và áp dụng đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lý, tôi

đã nhận thấy những ưu điểm cần phát huy, những hạn chế cần khắc phục Bản thân từngbước tìm ra các giải pháp để khắc phục những tồn tại, nhằm nâng dần chất

lượng bộ môn và giúp học sinh có hứng thú học tập, đạt hiệu quả cao hơn

B - PHẦN NỘI DUNG :

I CƠ SỞ LÝ LUẬN:

Ta biết trong khuôn khổ nhà trường phổ thông cấp hai, bài tập là một vấn đề không quá phức tạp lắm, nhưng giải được phải bằng những suy luận logic, bằng phép tính tóan hoặc bằng con đường thực nghiệm.Bài tập vật lý là khâu quan trọng trong quá trình dạy

và học vật lý, việc giải bài tập vật lý có những tác dụng chủ yếu sau:

- Giải bài tập vật lý giúp củng cố, đào sâu mở rộng kiến thức của bài giảng và hiểu được lý thuyết sâu hơn

-Bài tập là phương tiện tốt để xây dựng và củng cố kĩ năng, kĩ xảo vận dụng kiến thức vào thực tiễn, rèn luyện thói quen gắn lý thuyết với thực hành

-Bài tập là hình thức ôn tập sinh động: Bởi vì quá trình làm bài tập là một quá trình củng cố kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, tức là quá trình ôn tập gián tiếp, đôi khi dùng những câu hỏi, các bài tập đề cập thẳng đến vấn đề cần phải ôn tập lại nhiều phần của chương trình

-Là biện pháp tốt để phát triển năng lực làm việc độc lập, năng lực tư duy của họcsinh Đối với học sinh, một bài tập khéo chọn lọc là một tình huống có vấn đề

Trang 5

mà học sinh cần phải giải quyết, trong khi làm học sinh phải tự phân tích các điều kiện

của đề bài, xây dựng các lập luận, phải kiểm tra nhận xét, kết luận, nên tự rèn luyện

được nhiều thao tác tư duy cơ bản như: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng

hóa……

-Còn có tác dụng sâu sắc về giáo dục tư tưởng đạo đức cho học sinh, qua bài tập

có thể thấy được quá trình phát sinh những tư tưởng, quan điểm khoa học tiến bộ,

những phát minh của các nhà khoa học, đồng thời luyện cho học sinh phẩm chất độc lậpsuy nghĩ, tính kiên trì chịu khó, tính chính xác khoa học, kích thích các em hứng thú

học vật lý

-Là phương tiện có hiệu lực để kiểm tra kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, năng lực tư

duy của người làm bài tập

Tóm lại bài tập vật lý có tác dụng giáo dưỡng và giáo dục lớn, vì thế trong việc giải bài tập vật lý mục đích cơ bản cuối cùng không phải chỉ tìm ra đáp số của nó, tuy điều

này cũng quan trọng và cần thiết Mục đính chính ở giải bài tập vật lý ở chỗ làm cho

người làm bài tập hiểu sâu hơn khái niệm, các định luật vật lý và vận dụng chúng vào

những vấn đề thực tế trong đời sống, trong lao động,…

Đối với môn vật lý ở trường phổ thông, bài tập vật lý đóng một vai trò hết sức

quan trọng , để hướng dẫn học sinh làm bài tập vật lý đạt hiệu quả đòi hỏi người giáo

viên phải không ngừng đầu tư, sáng tạo, tìm tòi phương pháp phù hợp Bài tập vật lý sẽgiúp các em hiểu sâu hơn những qui luật, hiện tượng vật lý

Thông qua các bài tập vật lý tạo điều kiện cho học sinh vận dụng linh hoạt các kiến thức

đã học, làm cho các kiến thức đó trở nên sâu sắc và trở thành vốn riêng của

học sinh Khi giải các bài tập học sinh phải vận dụng các thao tác tư duy như so sánh ,

phân tích ,tổng hợp…Nên bài tập vật lý gây hứng thú cho học sinh

II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:

1 Thuận lợi:

-Giáo viên được đào tạo có trình độ chuyên môn nghiệp vụ đạt chuẩn và chuyên

tu trên chuẩn, kiến thức khá phong phú đủ năng lực soạn dạy

Trang 6

-Từng bước nắm bắt sự thay đổi về mọi mặt của đất nước, nhạy bén trước thay đổi của khoa học kĩ thuật hiện đại, giáo viên đã tìm hiểu và vận dụng, đổi mới

phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin vào soạn dạy

- Các câu hỏi trong sách giáo khoa và sách bài tập có tính chất hệ thống, logic giúp cho học sinh nắm chắc kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo

-Chương trìng giải trí điều “Có thể em chưa biết” thực sự đã gây hứng thú mở rộng tầm hiểu biết của học sinh làm cho học sinh thích học môn Vật lý

-Được sự quan tâm của các cấp Đảng ủy, Ban Giám Hiệu nhà trường và sự phối hợp tổ chuyên môn tạo điều kiện để học sinh thực hành thí nghiệm, tự nghiên cứu, tìm tòi tiếp thu tốt kiến thức

-Được sự động viên rất lớn của đồng nghiệp và với tinh thần trách nhiệm cao của tập thể tổ Tự nhiên cũng như từng cá nhân đã giúp cho giáo viên và học sinh hòan thànhtốt nhiệm vụ dạy và học

-Được sự giúp đỡ của một số bậc phụ huynh nhắc nhở học sinh chuẩn bị bài tốttrước khi đến lớp mà học sinh tiếp thu kiến thức nhanh chóng, nhạy bén trong việc vậndụng kiến thức trong việc giải các bài tập

2 Khó khăn:

- Tài liệu tham khảo bộ môn vật lý ở trường chưa phong phú

-Học sinh còn lúng túng, chưa làm quen được với phương pháp học mới nên việc

tự lực nghiên cứu kiến thức mới và việc giải quyết bài tập vận dụng còn nhiều bất cập.-Bài tập vật lý bước đầu tập cho học sinh tìm cách giải quyết tình huống thìphương án học sinh đưa ra chưa hay, chưa hòan tòan chính xác và hợp logic

-Một số học sinh ý thức học tập chưa cao, nhận thức chậm, học lực yếu kém

mà thời gian thì có hạn nên chưa đạt được kết quả như mong muốn Một số học sinh do điều kiện gia đình khó khăn mà các em không có động cơ tích cực học tập nên chất lượng học tập còn hạn chế

Trang 7

-Một số phụ huynh chưa nhận thức đúng đắn về quyền lợi học tập của con em mình nên chưa quan tâm nhiều đến việc học tập của các em, từ đó dẫn đến kết quả học tập của học sinh không được như mong muốn.

-Hiện nay trên thị trường có rất nhiều sách giải bài tập vật lý khối THCS Một số học sinh nhận thức chưa đúng đắn trong việc sử dụng các lọai sách tham khảo giải bài tập vật lý nên đã lạm dụng chúng trong việc giải quyết các bài tập vật lý Chính vì điều

đó đã làm hạn chế sự đầu tư suy nghĩ, tư duy, tìm ra đáp án của một bài tóan vật lý, và

đó cũng là điều mà giáo viên lo lắng, vì học sinh không thể tự lực giải quyết các bài tập

để tiếp thu tri thức của xã hội thành cái riêng của bản thân và dẫn đến kết quả là học sinh không thể tiến bộ

- Do tư duy của học sinh còn hạn chế nên khả năng tiếp thu bài còn chậm, lúngtúng từ đó không nắm chắc các kiến thức, kĩ năng cơ bản, định lý, các hệ quả do đó khó

mà vẽ hình và hoàn thiện được một bài toán quang hình học lớp 9

- Kiến thức toán hình học còn hạn chế (tam giác đồng dạng) nên không thể giảitoán được

- Do phòng thí nghiệm, phòng thực hành còn thiếu nên các tiết dạy chất lượngchưa cao, dẫn đến học sinh tiếp thu các định luật, hệ quả còn hời hợt

III NHỮNG GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:

Tuy nhiên để khắc phục những khó khăn đó, học sinh luôn cần đến sự động viên, khích lệ tạo điều kiện cho học sinh học tập tốt như tổ chức ngòai giờ học cho học sinh tìm tòi cách học, phương pháp học tập như thế nào để có hiệu quả Giáo viên cần phải làm cho học sinh ý thức được rằng: sách giải bài tập là để tham khảo những bài tập khó hay sau khi giải xong bài tập ta sẽ so sánh kết quả xem kết quả mình làm đúng chưa, chứ không nên lạm dụng quá mức Rèn luyện cho học sinh tính tự lực tìm tòi nghiên cứu trong quá trình giải bài tập

Giáo viên hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ về các bước tiến hành thí nghiệm, thao tác làm thí nghiệm cách đọc kết quả và cách đọc kết quả mà nhóm thu được

Trang 8

Quan tâm động viên, kết hợp học sinh giỏi kèm cặp học sinh yếu kém, kết hợp thường xuyên với giáo viên chủ nhiệm báo cáo tình hình học tập của một số học sinh yếu kém Để cùng với giáo viên chủ nhiệm tìm ra biện pháp giáo dục kịp thời đối với học sinh yếu kém đó

Bài tập ra cho học sinh có nhiều dạng nhiều mức độ, ở đây do tình hình học sinh tiếp thu chậm nên phải ra đề bài tập có mức độ từ dễ tới khó, từ khó ít đến khó nhiều, tức là đi từ trình tự từ thấp đến cao nhằm giúp cho học sinh tiếp cận và lĩnh hội tri thức một cách có hệ thống và logic

Giáo viên tạo điều kện cho học sinh thảo luận nhóm đưa ra một số phương án giải bài tập thực hiện phương án theo nhóm Cử đại diện nhóm lên trình bày, sau đó chohọc sinh tập đánh giá các phương án của nhóm, rèn luyện cho học sinh tính tư duy sáng tạo trong học tập

Đồ dùng thí nghiệm, dụng cụ dạy học như các bảng phụ, hình vẽ cũng như các tàiliệu khác phục vụ cho việc dạy và học bài mới được chuẩn bị đầy đủ và chu đáo

Để khi đến tiết dạy không phải lúng túng, nếu dụng cụ dạy học quá nhiều thì nhờ

học sinh mang giúp lên lớp

Trong tiết dạy cần hướng dẫn cho học sinh làm từ 1 đến 2 dạng bài tập, để định hướng cách giải bài tập cho các em, để khi về nhà thì việc học của các em được nhẹ nhàng hơn

Một số tiết thực hành thì có phiếu học tập hay mẫu báo cáo cho từng nhóm, cho học sinh tự lực tiến hành thực hành để đem lại kết quả là kỷ năng thực hành của học sinh được thành thạo, thu được kết quả thực hành khả quan và chính xác, dưới sự dẫn dắt của giáo viên

Dựa vào trình độ nhận thức, lĩnh hội tri thức của mỗi học sinh mà giáo viên đưa

ra các dạng bài tập và phương án giải bài tập phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh

Trang 9

Để đạt được mục đích cuối cùng là học sinh hiểu và lĩnh hội tri thức một cách có

hệ thống khoa học, và phải vận dụng những gì mình đã tiếp thu được vào thực tiễn cuộcsống xung quanh

Là một giáo viên bộ môn tôi luôn tìm cách tiếp cận và tìm hiểu đặc điểm, tâm

sinh lý của học sinh, trình độ tiếp thu tri thức của học sinh nhằm tìm ra những biện pháphữu hiệu nhất tác động vào học sinh, để học sinh dễ dàng lĩnh hội tri thức

Những bài toán quang hình học lớp 9 được gói gọn ở chương III từ tiết 40 đếntiết 51 Mặc dù các em đã học phần quang ở năm lớp 7, nhưng chỉ là những khái niệm

cơ bản, cho nên những bài toán loại này vẫn còn mới lạ đối với HS, Mặc dù không quáphức tạp đối với HS lớp 9 nhưng vẫn tập dần cho HS có kỹ năng định hướng bài giảimột cách có hệ thống, có khoa học, dễ dàng thích ứng với các bài toán quang hình học

đa dạng hơn ở các lớp cấp trên sau này

Để khắc phục khó khăn đã nêu ở trên, tôi đã đưa ra một số giải pháp cần thiết cho HS bứơc đầu có một phương pháp cơ bản để giải loại bài toán quang hình lớp 9 và

lĩnh hội kiến thức được tốt hơn:

*Trước hết giáo viên cần giúp học sinh nắm được các kiến thức cơ bản trong chương để vận dung vào việc giải bài tập

-Thường việc giải bài tập lại bắt đầu không phải ở chỗ tìm hiểu thực chất vật lý của chúng, mà lựa chọn máy móc những công thức có chứa những đại lượng đã cho, rồicác phép tóan làm lu mờ bản chất vật lý của bài tập và thường sai lầm trong việc lựa chọn hệ thống đơn vị đo lường các đại lượng vật lý… Trong nhà trường cấp 2 hiện nay,hình thức một học sinh lên bảng giải bài tập, còn tất cả học sinh khác tự lực giải cùng bài tập ấy mà trong giảng dạy vật lý thường được sử dụng, song nếu quan sát và đánh giá một cách khách quan thì chỉ có khỏang 10-15% học sinh suy nghĩ và làm việc tích cực, số học sinh còn lại chỉ chép lại bài giải ghi trên bảng

-Nếu đánh giá hình thức thì tất cả học sinh tham gia vào giải bài tập, nhưng dĩ nhiên khó có thể khẳng định chắc chắn là đã rèn luyện cho học sinh kĩ năng, kĩ xảo nắm vững bản chất vật lý của bài tập

Trang 10

-Làm thế nào để phát triển được tính tự lực rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, khả năng vận dụng kiến thức, giáo dục ý chí, tinh thần vượt khó, phát triển tư duy logic, sự nhanhtrí, nắm vững được mối quan hệ giữa vật lý và kĩ thuật…

*Giáo viên cho HS đọc kỹ đề từ 3 đến 5 lần cho đến khi hiểu Sau đó hướng dẫn

HS phân tích đề theo các bước:

Bước 1: Hiểu kĩ đề bài:

-Đọc kĩ đề bài

-Tóm tắt đề bài tập: Bài toán cho biết gì? Cần tìm gì? Ghi tóm tắt

-Vẽ hình : Vẽ hình như thế nào?

Bước 2: Phân tích nội dung bài tập và lập kế hoạch giải

-Tìm sự liên hệ giữa cái chưa biết và đã biết: Vận dung công thức, hệ thức gì để giải?

-Nếu không tìm được trực tiếp các mối liên hệ ấy có thể có thể xét một số bài tập phụ để gián tiếp tìm ra mối liện hệ

-Xây dựng dự kiến và kế hoạch giải

*Sau khi học sinh phân tích bài toán hợp lý, tổng hợp lại rồi giải theo các bước đã phân tích

Bước 3: Thực hiện kế hoạch giải

-Tôn trọng trình tự giải để thực hiện tốt các chi tiết của dữ kiện

-Phải thực hiện cẩn thận các phép tính số học, đại số và hình học

-Nếu trong khi giải mà tính tóan bằng số thì con số đó phải có ý nghĩa

Bước 4: Kiểm tra và đánh giá kết quả : Ở bước này ta phải

-Kiểm tra lại kết quả đúng hay sai, có phù hợp với thực tế không khi giải xong bài tập

-Kiểm tra lại các phép tính Cuối cùng có thể tìm ra cách giải khác

** Chú ý: GV cần giúp HS: Biết cách vẽ ảnh cho cả 2 loại thấu kính, nắm chắc các

công thức vật lý, các hệ thức của tam giác đồng dạng,dùng các phép toán để biến đổicác hệ thức, biểu thức :

Trang 11

* Biết cách vẽ ảnh cho cả 2 loại thấu kính: GV dạy kỹ ở các tiết bài học kết hợp với các bài tập sau.

* Công thức tính số bội giác:

->Phần này là phần cốt lõi để giải được một bài toán quang hình học, nên đối với một

số HS yếu thì GV thường xuyên nhắc nhở về nhà rèn luyện thêm phần này

- Một số HS mặc dù đã nêu được các tam giác đồng dạng, nêu được một số hệ thứcnhưng không thể biến đổi suy ra các đại lượng cần tìm.Trường hợp trên GV phải nắm

cụ thể tùng HS, sau đó giao nhiệm vụ cho một số em khá trong tổ, nhóm giảng giải,giúp đỡ để cùng nhau tiến bộ

Đây là phương pháp căn bản để giải bài tập, tùy nhiên tùy theo từng bài cũng như trình

độ HS mà linh hoạt lựa chọn phương pháp phù hợp Sau đây là một số bài tập thamkhảo

- Hai bài tập này tương đối khó với HS mà là bài tập đầu tiên trong SGK nên GV phảihướng dẫn kỹ và có phương pháp phù hợp làm cơ sơ cho các bài tiếp theo.Sau đây tôixin đưa ra môt cách giải bằng cách vẽ 2 tia sáng dặc biệt: Tia qua quang tâm O (tia thứ1) và tia qua tiêu điểm F (tia thứ 3)

Bài 1(C5 và C6 SGK trang 117)

Vật sáng AB được đặt vuông góc với trục chính của TKHT có tiêu cự f = 12cm

Điểm A nằm trên trục chính.Xét 2 trường hợp AB cách TK một khoảng OA(1) = 36cm

và OA(2) = 8cm

a/Vẽ ảnh trong 2 trường hợp

b/Vận dụng kiến thức hình học tính khoảng cách từ ảnh đến thấu kinh và chiều cao của ảnh trong 2 trường hợp, biết AB cao 1cm

Trang 12

Đây là bài tập khi HS vừa học bài “ẢNH CỦA VẬT TẠO BỞI TKHT” nên GV cầnhướng dẫn kỹ,cũng như phân bố thời gian hợp lý vì trong tiết này kiến thức mới rấtnhiều mà bài tập cũng tương dối khó, nếu GV không hướng dẫn kỹ thì đến bài “ẢNHCỦA VẬT TẠO BỞI TKPK” HS sẽ rất khó khăn để giải các bài tập tiếp theo.

+ Chọn một tỉ lệ xích phù hợp số liệu đã cho : OA:OF 36:12 hay 9:3

Ta lấy OA=9cm, OF=3cm,

+Đề bài không cho AB nên ta chọn AB là 1số nguyên lần cm, lấy AB = 2cm vì trường hợp OA>2f thì ảnh sẽ nhỏ hơn vật, nếu ta lấy AB nhỏ thì ảnh sẽ nhỏ hơn nữa, hình vẽ khó nhìn

+Sử dụng 2 trong 3 tia đặc biệt để vẽ hình, hướng dẫn HS vẽ tia thứ 1 và 3, vì bài tập này cần sử dụng hệ thức của 2 tam giác đồng dạng để tính toán,chọn cách vẽ này sẽ giúp HS dễ hiểu và làm cơ sở cho các bài tập tiếp theo

*Tia 1: Tia tới song song với trục chính cho tia ló qua tiêu điểm của thấu kính *Tia 2: Tia tới qua quang tâm O cho tia ló truyền thẳng không đổi hướng

Trang 13

TRƯỜNG HỢP 2: OA = 8cm.

+ Chọn một tỉ lệ xích phù hợp số liệu đã cho : OA:OF 8:12 hay 2:3

Ta lấy OA=2cm, OF=3cm,

+Đề bài không cho AB nên ta chọn AB là 1số nguyên lần cm, lấy AB = 1cm vì trường hợp OA<2f thì ảnh sẽ lớn hơn vật, nếu ta lấy AB lớn thì ảnh sẽ rất lớn hơn nữa, hình vẽ khó thực hiện

+Sử dụng 2 trong 3 tia đặc biệt để vẽ hình, hướng dẫn HS vẽ tia thứ 2 và 3, vì bài tập này cần sử dụng hệ thức của 2 tam giác đồng dạng để tính toán,chọn cách vẽ này sẽ giúp HS dễ hiểu và làm cơ sở cho các bài tập tiếp theo

*Tia 1: Tia tới qua tiêu điểm của thấu kính cho tia ló song song với trục chính

*Tia 2: Tia tới qua quang tâm O cho tia ló truyền thẳng không đổi hướng

b/ Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán:

Ta có thể tính A’B’trước sau đó tính OA’

TRƯỜNG HỢP 1: OA = 36cm.

*Muốn tính A'B’ ta cần xét hai tam giác nào đồng dạng với nhau?

(∆FAB ~ ∆FOI)⇒ OI => A’B’

*Muốn tính OA' ta phải xét hai tam giác nào đồng dạng với nhau?

(∆OAB ~ ∆OA'B')

-Hướng dẫn HS giải theo cách tổng hợp lại: Tìm OI → A'B’ → OA’

TRƯỜNG HỢP 2: OA = 8cm.

*Muốn tính A'B’ ta cần xét hai tam giác nào đồng dạng với nhau?

(∆FAB ~ ∆FOI)⇒ OI => A’B’

*Muốn tính OA' ta phải xét hai tam giác nào đồng dạng với nhau?

(∆OAB ~ ∆OA'B')

-Hướng dẫn HS giải theo cách tổng hợp lại: Tìm OI → A'B’ → OA’

Giải:

TRƯỜNG HỢP 1: OA = 36cm.

Ngày đăng: 04/11/2015, 11:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w