1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

sang kien kinh ngiem

24 217 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 199 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về văn bản nghị luận, các em sẽ đợc tìm hiểu sâu hơn về hai hình thức thờng gặp nhất là nghị luận xã hội, một hình thức trớc đây cha đợc chú ý đúng mức trong nhà trờng và nghị luận văn

Trang 1

A Đặt vấn đề.

Mỗi ngời giáo viên đều hớng tới một cái đích là mở ra cánh cửa tri thức cho học sinh thân yêu của mình.Nhng bằng cách nào để dẫn tới cánh cửa ấy lại phụ thuộc vào kĩ năng và phơng pháp s phạm riêng của mỗi giáo viên.Với bộ môn ngữ văn có tầm quan trọng đặc biệt là bồi dỡng cho học sinh một lối sống đẹp, tâm hồn trong sáng, nhân cách thanh cao- đó là tình yêu con ngời, yêu quê hơng, đất nớc, yêu cuộc sống.Và với phân môn tập làm văn nói riêng lại rèn cho các em kĩ năng biết chắt chiu những kinh nghiệm sống ấy

“pha chế” nó thành sản phẩm cho riêng mình.Nhng ai cũng nói rằng trong các thể loại văn thì văn nghị luận là khó nhất Bản thân tôi cũng đồng ý với ý kiến đó

Trong mấy năm đổi mới cách biên soạn sách và phơng pháp dạy học cho phù hợp với tình hình phát triển của xã hội thì với môn ngữ văn tích hợp là quan điểm cơ bản của ngành giáo dục nớc ta Trong chơng trình SGK Ngữ văn THCS, các tác giả biên soạn đã thể hiện rất rõ quan điểm tích hợp này ở mọi hình thức: tích hợp ngang giữa các phân môn, tích hợp dọc, tích hợp đồng tâm Sự đổi mới này không chỉ giúp học sinh lĩnh hội đ… ợc kiến thức tổng hợp mà còn có kỹ năng tốt hơn trong quá trình học văn và làm văn

Một trong những nhiệm vụ cơ bản của môn Ngữ văn ở trờng phổ thông nói riêng và ở trờng THCS nói chung là phải giúp học sinh hình thành bốn kỹ năng cơ bản là: Nghe, nói,

đọc, viết; trong đó kỹ năng viết có một vai trò vô cùng quan trọng Nhiệm vụ hình thành kỹ năng viết chính là ở phân môn Tập làm văn, chính vì vậy chỉ riêng ở phần tập làm văn ở lớp7, 8, 9 bên cạnh việc hớng dẫn các em viết những văn bản hành chính thông dụng cần đi sâu hơn vào ba kiểu văn bản Thuyết minh, Tự sự, Nghị luận theo chuẩn kiến thức kĩ năng, giúp các em biết sử dụng một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh, yếu tố miêu tả, phép phân tích và tổng hợp trong văn bản nghị luận Về văn bản nghị luận, các em sẽ đợc tìm hiểu sâu hơn về hai hình thức thờng gặp nhất là nghị luận

xã hội, một hình thức trớc đây cha đợc chú ý đúng mức trong nhà trờng và nghị luận văn

học với hai dạng cụ thể là nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về

một đoạn thơ, bài thơ Nhng trong thực tế có thể khẳng định rằng thể loại văn nghị luận là

một thể loại văn khá khó đối với học sinh THCS Qua quá trình giảng dạy tôi nhận thấy rằng một bộ phận lớn học sinh cha thực sự có kỹ năng xác định luận điểm, luận cứ; cha xác

định và phân biệt đợc các yêu cầu khác nhau của các hình thức văn nghị luận Vì vậy trên

đây là vấn đề mà bản thân tôi cần nghiên cứu để tự trang bị cho mình một phơng pháp tốt nhất khi dạy mảng văn nghị luận

II.Thực trạng của vấn đề nghiên cứu

1.Thực trạng

- Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở trờng THCS , tôi nhận thấy khi giảng dạy phân môn Tập làm văn và cụ thể là kiểu bài văn nghị luận đang tồn tại những vấn đề sau:

- Một bộ phận không nhỏ giáo viên vẫn quan niệm phân môn Tập làm văn nói chung và kiểu bài văn nghị luận nói riêng là một kiểu bài khó song khi giảng dạy cha thật sự đợc chú trọng về thời lợng dành cho thực hành của phân môn này Mỗi hình thức nghị luận đều

có một tiết dành cho luyện nói, nhng trên thực tế thì giờ luyện nói này cha thực hiện đúng với mục đích của giờ luyện nói

- Không ít giáo viên ngữ văn khi giảng dạy chỉ chú ý đến nội dung bài học, cung cấp đầy

đủ cho học sinh dung lợng kiến thức trong sách giáo khoa mà cha chú trọng đến việc giúp các em hình thành kỹ năng nhận biết, phân biệt các hình thức nghị luận, để qua đó các em

Trang 2

có thể xác định ngay đợc nội dung yêu cầu của từng hình thức nghị luận để áp dụng vào bài văn nghị luận của mình.

- Thực tế thì hiện nay còn nhiều học sinh có thói quen thụ động, quen nghe, chép lại những gì giáo viên nói Khi làm bài thì phụ thuộc hoàn toàn vào các tài liệu học tốt, bài văn mẫu có sẵn.Vì vậy những học sinh đó trở nên trây ỳ, lời suy nghĩ, không động não 2.Kết quả của thực trạng trên

Từ thực tế trên khiến học sinh không còn hứng thú với tiết học, không phân biệt, nhận diện đợc đặc trng, phơng pháp,cách làm một bài văn nghị luận

Qua bài khảo sát chất lợng ở lớp 8b mà tôi trực tiếp giảng dạy kết quả thu đợc nh sau:

B.Giải quyết vấn đề

I Các giải pháp thực hiện

1.Nghị luận là gì?

Nghị luận là bàn bạc, nhận định, đánh giá về một tình hình, một vấn đề nào đó

2 Phân loại:

Có hai loại Nghị Luận:

+ Nghị luận chính tri, xã hội

+ Nghị luận văn chơng

Ví dụ: Bàn luận về câu nói " Không có gì quý hơn độc lập tự do" là nghị luận chính trị

Nghị luận về thói đố kị, lòng khoan dung, lòng nhân ái, tệ tham nhũng là nghị luận xã hội Nghị luận tục ngữ là nghị luận xã hội, nh :"Uống nớc nhớ nguồn"; "Tốt danh hơn lành

áo", " Có công mài sắt có ngày nên kim", v.v

3.Thế nào gọi là văn nghị luận?

Nghị luận là kiểu bài, là phơng pháp nghị luận sử dụng thao tác bàn bac, phân tích giúp ngời đọc, ngời nghe hiểu đúng, hiểu sâu, hiểu rộng một vấn đề, chỉ rõ vấn đề ấy là

đúng hay là sai, tốt hay xấu, cũ hay mới đồng thời giúp ngời nghe, ngời đọc có thái độ

đúng, hành động đúng đối với vấn đề đang nghị luận

Chính vì vậy, một bài nghị luận phải đạt đợc ba mục tiêu cụ thể nh sau:

- Một là: Phân biệt rõ đúng, sai, tốt, xấu, cũ mới của vấn đề

- Hai là: mở rộng, khơi sâu tầm nhận thức, sự hiểu biết về vấn đề đó

- Ba là: xác định rõ thái độ, tình cảm, hành động đúng đắn khi đối diện với vấn đề ấy

Trang 3

Muốn phân biệt vấn đề đúng hay sai, tốt hay xấu, cũ hay mới, ta phải giải thích, phải trả lời thoả đáng các câu hỏi: Nghĩa là gì? nh thế nào? tại sao? Vì sao?

Muốn mở rộng, khơi sâu tầm nhận thức, sự hiểu biết về vấn đề đó ta phải bàn luận, so sánh, đối chiếu lý luận với thực tế, nghĩa là ta phải bình, phải luận kết hợp với chứng minh Việc kết hợp thao tác, thao tác chứng minh với thao tác bình và luận trong một bài văn nghị luận mang tính tất yếu Vì thế, một bài nghị luận nếu viết nông cạn chẳng khác gì một bài văn giải thích đợc thêm thắt một vài dẫn chứng

5.Ba bớc của một bài văn nghị luận.

Trong thân bài của bài nghị luận , cần lần lợt phát triển theo ba bớc nh sau:

- Bớc một: phải giải thích rõ vấn đề Một từ ngữ khó, một khái niệm mới cần đợc giải

thích rõ Nghĩa đen, nghĩa bóng, ý nghĩa của vấn đề phải đợc giải thích cụ thể Bớc giải thích này đợc coi nh soi sáng vấn đề là bớc rất cần thiết

- Bớc hai: phải bình để chỉ rõ đúng sai, tốt xấu, cũ mới, của vấn đề Tại sao đúng(sai)?

Đúng sai nh thế nào? Phải có lý lẽ trên một quan điểm lập trờng nhất định Phần bình thể hiện rõ cái yêu, cái ghét, sự tiến bộ hay lạc hậu, hạn chế về mặt nhận thức, về t tởng, tình cảm của ngời bình luận Phần bình cần sự sắc sảo

- Bớc ba: phải luận, nghĩa là phải bàn bạc, bàn luận, so sánh, đối chiếu khơi sâu, mở rộng vấn đề; đặt vấn đề trong nhiều mối tơng quan về gia đình, xã hội, lịch sử, về lý luận,

về thực tiễn để bàn luận cho thoả đáng Bớc ba của một bài văn nghị luận chính là nơi để phân biệt mức độ, chất lợng của trình độ của bài văn, của ngời viết

*Chú ý: Ba bớc của một bài nghị luận cần rạch ròi trong nhận thức Những bài nghị

luận một câu tục ngữ, một câu ca dao, một ý kiến ngắn thờng thờng ở thân bài nên tiến hành theo trình tự ba bớc

Đối với những vấn đề bình luận về một vấn đề đợc trích dẫn trong một câu dài có nhiều vế,

ta phải:

- Có lúc gộp bớc 2 và 3, kết hợp nghị luận trong từng vế

- Có lúc phải gộp cả ba bớc trong từng vế cụ thể

- Đọc các bài văn minh hoạ sẽ thấy rõ sự sáng tạo trong văn nghị luận phản ánh trí tuệ và

độ thông minh, nhạy cảm của ngời học sinh

6.Dàn ý một bài văn nghị luận

a,Mở bài:

Cần có hai nhân tố sau, gắn liền với nhau, hô ứng nhau: dẫn, nhập

- Dẫn: là dẫn dắt hớng về luận đề Cần đúng hớng cha vội nêu bật ý nghĩa của vấn đề Có nhiều cách dẫn dắt nh nêu xuất xứ của vấn đề, hoặc nêu hoàn cảnh( xã hội, lịch sử, nghệ thuật ) của vấn đề xuất hiện, nảy sinh Cũng có thể nêu mục đích của vấn đề phải nghị luận Cũng có trờng hợp sử dụng cách so sánh, nghi vấn hoặc tơng phản, nói chung là cần thao tác linh hoạt

- Nhập: là nhập đề - tức là nêu vấn đề phải bình luận Nếu danh ngôn, câu văn, câu thơ, ca dao, tục ngữ đợc chỉ định trong đề bài, thì ta phải giới thiệu trích dẫn và đặt trong dấu ngoặc kép Dẫn với gắn liền với nhau không tách rời

- Mở bài bài văn nghị luận cần thuyết phục, gây ấn tợng

b,Thân bài: Có ba bớc sau

- Bớc 1: Phải giải thích vấn đề Giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng, rút ra ý nghĩa của vấn

đề Tục ngữ, ca dao thì phải giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng Câu văn, câu danh ngôn, câu thơ (Đặc biệt là thơ cổ) thì ta phải giải thích từ khó, khái niệm, để từ đó tìm ra hàm

Trang 4

nghĩa, nội dung ý nghĩa Không thể đơn giản bớc 1, nếu là nghị luận ca dao, tục ngữ, thơ văn cổ.

- Bớc 2: Bình- Nghĩa là phải khẳng định vấn đề đúng hay sai Dùng lý lẽ để phân tích

đúng sai của vấn dề Chỉ ra đợc nguyên nhân: Tai sao đúng? Vì sao sai? Đúng sai nh thế nào? Có lúc ngời viết phải sử dụng một vài dẫn chứng để minh hoạ cho cái sai, cái đúng của vấn đề Quan điểm, lập trờng nhận thức về t tởng, đạo đức, về hoạ thuật của ngời nghị luận thể hiện rõ ở phần này Cần một cách viết sắc và gọn, linh hoạt.Tính chất tranh luận,

tự biện đợc bộc lộ

- Bớc 3: Luận.

Luận là bàn bạc, bàn luận, mở rộng lật đi lật lại vấn đề, đối chiếu vấn đề ( Về các mặt lịch sử, xã hội, học thuật, về lý luận và thực tiễn, trong không gian, thời gian và các lĩnh vực ) Có lúc so sánh với các vấn đề tơng quan, liên quan Cũng có lúc đánh giá vấn đề, nêu bật tác dụng và tác hại, mặt tích cực hoặc hạn chế của vấn đề

Đây là phần hay nhất và cũng là phần khó nhất Nó thể hiện độ sâu, rộng của bài văn nghị luận

Chú ý:

Ba bớc của một bài văn nghị luận là những bớc đi cơ bản, cần có và phải có Học sinh

cần định hình ba bớc ấy Làm văn nói chung, nghị luận nói riêng, cần phải căn cứ vào đề bài cụ thể, phân tích cụ thể để vận dụng sáng tạo Từ khuôn mẫu mà sáng tạo, ấy mới là làm văn

- Nghị luận ca dao, tục ngữ, thơ cổ thì nên có ba bớc

- Có vấn đề bình luận là câu văn, câu danh ngôn có nhiều vế, mỗi vế là một khía cạnh của vấn đề thì sau bớc 1, ta kết hợp bình và luận từng vế một, đi sâu vào vế chính, vào trọng điểm

Ví dụ:

a, Bình luận câu tục ngữ:

" Bầu ơi thơng lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhng chung một dàn"

Nên tiến hành theo ba bớc

b, Bình luận ý kiến sau đây của Chủ Tịch Hồ Chí Minh:

" Học để hành Học với hành phải đi đôi Học mà không hành thì học cũng vô ích Hành

Trang 5

* Nhận diện

Nghị luận về vấn đề t tởng, đạo đức, lối sống là bài nghị luận xã hội, trong đó ngời viết phải bàn luận, bình phẩm, khen, chê về các biểu hiện trong cộng đồng đã và đang diễn ra

Ví dụ: Lòng hiếu thảo, tính khoe khoang, sự đua đòi, tinh thần tự học, đạo lý uống

n-ớc nhớ nguồn, hiện tợng vứt rác bừa bãi

Trong đời sống xã hội thờng xảy ra vô vàn những sự việc, hiện tợng Xét về tính chất,

có những sự việc, hiện tợng lớn nh chiến tranh, tình trạng tai nạn giao thông, tình trạng thiên tai hoả hoạn, sự xuông cấp về đạo đức; nhng cũng có những sự việc, hiện tợng nhỏ,

đơn giản nh sự thất hứa, thói đua đòi, đi học muộn, tính hiếu thắng Ngay trong từng sự việc, hiện tợng cũng có nhiều tình huống, nhiều cách biểu hiện diễn biến khác nhau Chẳng hạn nh cùng là việc đi học, nhng có ngời đi học sớm, có ngời đi học muộn; có ngời đi học chuyên cần, có ngời lại hay bỏ học Hay cũng là sự việc giữ gìn vệ sinh công cộng nhng ngời này thực hiện nghiêm túc, có trách nhiệm, ngời kia lại thờng xuyên vi phạm qui định chung, lại có ngời cũng thực hiện nhng mang tính chất đối phó

Đứng trớc những sự việc ấy, con ngời cần phải bày tỏ thái độ của mình: hoặc khen, hoặc chê; hoặc đồng tình; hoặc phản đối; hoặc khâm phục tôn trọng, hoặc coi thờng chế giễu Điều đó cũng có nghĩa là trong quá trình hoà nhập với đời sống xã hội, ngời ta phải biết rút ra những vấn đề có ý nghĩa t tởng trên cơ sở xem xét, quan sát các sự việc, hiện t-ợng cụ thể, từ đó điều chỉnh nhận thức hành vi của mình và mọi ngời Việc rút ra ý nghĩa t tởng ấy và trình bày một cách có hệ thống bằng ngôn ngữ( nói và viết) nhằm tạo cho con ngời một năng lực suy nghĩ, một năng lực t duy gọi là nghị luận xã hội

Dù dới hình thức nào, ở phạm vi mức độ nào, nghị luận về một sự việc hiện tợng đời sống cũng thờng bao gồm các khâu: Bộc lộ nhận thức( thông qua mô tả, xem xét sự việc, hiện tợng với các biểu hiện khác nhau); đánh giá( thông qua ý kiến nhận xét về các mặt

đúng- sai, phải - trái, lợi - hại của hiện tợng ấy); bày tỏ thái độ( khen - chê, đồng tình - phản đối, tiếp thu - khuyên bảo, khâm phục - phê phán ); hoặc kèm theo những lời lý giải( nêu nguyên nhân, dự báo hệ quả )

*Bố cục

Về bố cục, bài văn nghị luận về một sự việc hiện tợng đời sống trong đời sống cũng gồm ba phần:

- Mở bài: Trực tiếp hoặc gián tiếp nêu vấn đề cần nghị luận

- Thân bài: Lần lợt bày tỏ nhận thức, đánh giá, thái độ hoặc đa ra lời lý giải hay dự báo( nếu có) của bản thân đối với vấn đề đợc nghị luận

- Kết bài: Định hớng nhận thức, hành động cho bản thân, cho mọi ngời hoặc đa ra ý kiến khái quát để tổng hợp vấn đề đã đợc bàn bạc thấu đáo

Trong quá trình nghị luận cần chú ý một số điểm sau:

* Muốn có nội dung nghị luận sắc sảo, đủ thuyết phục thì ngời làm bài nghị luận phải quan sát những sự việc, hiện tợng đã và đang xảy ra xunh quanh; đồng thời phải xuất phát

từ một quan điểm đúng đắn, minh bạch có trách nhiệm đối với xã hội, biết quan tâm đến lợi ích cộng đồng, quan tâm tới việc tu dỡng đạo đức, phẩm chất cho bản thân và cho mọi ngời ; có thái độ đúng đắn để nhìn nhận đánh giá sự việc, hiện tợng một cách khách quan, khoa học ; luôn đứng về phía lẽ phải để suy xét đối tợng Tránh thái độ đánh giá thiếu trung thực, thiếu khách quan, thiếu công bằng

* Trong quá trình nghị luận, ngời viết cần đa ra nhiều hiện tợng khác nhau, thậm chí trái ngợc nhau, phân tích để chỉ ra hiện tợng nào đúng để khẳng định, hiện tợng nào sai cần phê phán, từ đó định hớng nhận thức để hành động Mặt khác cùng một sự việc, hiện tợng,

Trang 6

cần soi xét từ nhiều góc độ, đặt trong nhiều tình huống khác nhau để nội dung nghị luận xác đáng, sâu sắc, thuyết phục.

* Trong cách diễn đạt, đã là văn nghị luận thì phải sử dụng lập luận chặt chẽ thể hiện qua ngôn từ, qua các kiểu câu Chẳng hạn nh các từ biểu lộ thái độ khẳng định, nghi vấn, phỏng đoán, giả thiết; các kiểu câu nghi vấn, câu cảm

b.Nghị luận về một vấn đề t tởng đạo lý

Cũng nh nghị luận về một sự việc, hiện tợng đời sống, nghị luận về một vấn đề t tởng,

đạo lý là dạng văn nghị luận chính trị xã hội quen thuộc và khá phổ biến thiết thực Mảng

đề tài này có ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống con ngời, bởi vì dù ở chế độ xã hội nào, thuộc thành phần giai cấp nào, điều kiện sống và làm việc ra sao mỗi ng… ời đều phải xác định cho mình một t tởng, một lối sống, một phẩm chất chuẩn mực nào đó để tự điều chỉnh suy nghĩ và hành vi của mình Mặt khác, khi đặt trong quan hệ xã hội, con ngời chịu nhiều tác động từ bên ngoài ảnh hởng trực tiếp đến đạo đức, lối sống cá nhân Sự ảnh hởng này có thể theo chiều hớng tích cực hoặc tiêu cực Đối tợng đợc nghị luận ở đây có thể là những vấn đề đã đợc xác định, thậm chí đã đợc coi là chân lý nh các câu danh ngôn, các câu tục ngữ, lời phát biểu của các danh nhân Tuy nhiên cũng có thể là những vấn đề bức…xúc do cuộc sống hiện đại đặt ra, có tính cập nhật và mới mẻ (nh cách giao tiếp; văn hoá ứng sử; văn hoá trong sử dụng điện thoại di động nơi đông ngời; văn hoá trong lễ tết, đám cới, đám tang )…

Muốn làm tốt bài văn nghị luận về một vấn đề t tởng, đạo lý, ngoài những đặc điểm về ngôn ngữ diễn đạt, về kỹ năng trình bày tơng tự nh đối với bài nghị luận về một sự việc, hiện tợng đời sống xã hội, ngời viết cần lu ý thêm các điểm sau:

* Phải có quan điểm lập trờng rõ ràng khi nhìn nhận, xem xét, đánh giá một vấn đề thuộc phạm trù t tởng, đạo lý Để nghị luận đúng hớng, ngời viết cần dựa vào những chuẩn mực về t tởng, đạo lý của xã hội, đợc đông đảo mọi ngời chấp nhận

* Trong quá trình nghị luận, ngời viết bài phải trực tiếp hoặc gián tiếp bày tỏ thái độ, quan điểm của mình nh khen – chê, khẳng định- phê phán, thậm chí có thể thẳng thắn chỉ trích, phủ nhận một quan điểm, một t tởng, một lối sống nào đó Muốn lời bình có sức thuyết phục thì phải có lý lẽ sắc sảo, đồng thời phải đa ra đợc các dẫn chứng cụ thể về t t-ởng, đạo lý đã và đang diễn ra xung quanh theo nguyên tắc: dẫn chứng đợc lựa chọn vừa phong phú, vừa tiêu biểu, vừa phổ biến, vừa điển hình; có đúng, có sai, có xấu, có tốt Dù…

đối tợng đợc nghị luận là vấn đề có tính cổ điển hay hiện đại thì ngời viết cũng phải mạnh dạn đa ra đợc những cách nhìn, cách đánh giá độc lập của riêng mình, phải phát hiện thêm những khía cạnh mới, phải soi xét vấn đề từ nhiều chiều, nhiều góc độ khác nhau để lời bàn thấu đáo, có tình, có lý

* Trong quá trình tiến hành nghị luận, ngời viết có thể liên hệ, so sánh đối chiếu trên nhiều phơng diện: về không gian, về thời gian, về đối tợng Ngoài ra còn cần sử dụng các thao tác chứng minh, giải thích, phân tích để khẳng định thái độ t tởng của ngời viết cũng

nh làm sáng tỏ vấn đề

* Mục đích của bài nghị luận về một vấn đề t tởng, đạo lý không chỉ xác định đúng sai, phải trái mà điều quan trọng hơn là phải định hớng nhận thức, t tởng và hành động cho bản thân, cho mọi ngời Thậm chí trong quá trình nghị luận, nhất là ở phần Kết bài, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp đa ra những lời khuyên (tự khuyện mình hoặc khuyên mọi ngời)

2 Nghị luận văn học

a Nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích

* Nhận diện chung về hình thức và phơng pháp

Trang 7

Nghị luận văn học hay còn gọi là nghị luận văn chơng.Trong nghị luận văn học có một kiểu bài khá quen thuộc: Nghị luận về một tác phẩm truyện, vậy thế nào là nghị luận

về một tác phẩm truyện? đối tợng nghị luận trong kiểu bài này là các tác phẩm văn học tự sự

Khi nghị luận về tác phẩm truyện, ngời viết thờng trình bày những suy nghĩ, nhận xét

đánh giá của bản thân về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của tác phẩm cụ thể đó Chính vì vậy, hình thức nghị luận về tác phẩm truyện khá phong phú, có thể bao gồm: Phân tích tác phẩm truyện (phân tích giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật; phân tích một phần trích của truyện; phân tích một nhân vật của truyện; phân tích một nội dung chủ đề của truyện; phân tích một nét đặc sắc của truyện ) Tất nhiên, việc phân định, tách bạch…ranh giới giữa các hình thức nghị luận trên chỉ ở mức độ tơng đối Đồng thời trong quá trình nghị luận, có thể đan xen giữa các hình thức nói trên Tuỳ vào từng yêu cầu cụ thể của đề bài mà xác định mức độ, phạm vi, hình thức nghị luận chính cũng nh sự kết hợp các hình thức nghị luận khác

Ví dụ: Phân tích hình ảnh nhân vật Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao Đây là dạng đề phân tích một nhân vật trong một tác phẩm truyện Đề bài yêu cầu tập trung phân tích đặc điểm và đánh giá nhân vật Laoc Hạc trên cơ sở trình bày những hiểu biết, cảm nhận, suy nghĩ của bản thân về nhân vật Cần giải đáp đợc các vấn đề: Nhân vật

có những đặc điểm nào? Đặc điểm ấy đợc tác giả thể hiện trong tác phẩm ra sao? Cách thể hiện tính cách nhân vật có gì sáng tạo? Qua nhân vật, ta liên hệ tới những phẩm chất gì của ngời nông dânViêt Nam trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp?

*Những yêu cầu của một bài nghị luận về tác phẩm truyện

Ngoài những yêu cầu chung về bố cục, về ngôn ngữ diễn đạt nh với các loại văn bản nghị luận khác, cần chú ý những yêu cầu sau:

+ Nhận xét, đánh giá về tác phẩm truyện phải xuất phát từ giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của tác phẩm đợc ngời viết phát hiện và khái quát trong quá trình tiếp cận tác phẩm

đó (ví dụ nh: tính cách, số phận nhân vật; ý nghĩa cốt truyện; các tình huống nghệ thuật; kết cấu của tác phẩm ) Những nhận xét, đánh giá này có thể hình thành từ nhiều nguồn…khác nhau: từ chính những rung động, xúc cảm của mình khi tiếp cận và khám phá tác phẩm; từ những nhận xét, đánh giá của của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học về tác phẩm đó Việc phối hợp, dung hoà các điểm nhìn, các ý kiến trên sẽ góp phần làm cho…nội dung nhận xét, bình luận về tác phẩm thêm xác đáng, sâu sắc, toàn diện, tránh đợc sự suy diễn theo ý chủ quan của ngời viết

+ Các nhận xét, đánh giá về tác phẩm truyện đợc hình thành trong quá trình nghị luận

đòi hỏi phải rõ ràng, chính xác, có lập luận thuyết phục Thông thờng, các nhận xét, đánh giá ấy đợc thể hiện thành những luận điểm Các luận điểm đợc sắp xếp theo một trình tự chặt chẽ, lô-gíc Trong từng luận điểm, hệ thống các luận cứ phải bảo đảm phong phú, đa dạng, tiểu biểu

+ Trong quá trình nghị luận về tác phẩm truyện cần có thói quên liên hệ, so sánh, đối chiếu (liên hệ với cuộc đời và phong cách sáng tác của tác giả; liên hệ với hoàn cảnh sáng tác; liên hệ, so sánh đối chiếu với các tác phẩm khác cùng đề tài, cùng chủ đề, cùng tác giả ) Nếu nghị luận về đoạn trích của tác phẩm truyện thì phải đặt đoạn trích ấy trong…mối quan hệ chặt chẽ với cấu trúc tác phẩm( về cả kết cấu nghệ thuật cũng nh nội dung chủ

đề) Trên cơ sở đó phân tích, đánh giá, khẳng định vị trí, vai trò của đoạn trích trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm

* Cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện

Trang 8

- Xác định yêu cầu của đề: Đề văn nghị luận về tác phẩm truyện có cách biểu đạt rất đa dạng với nhiều mức độ yêu cầu khác nhau Ví dụ: nghị luận theo hớng bày tỏ suy nghĩ, tình cảm; nghị luận theo hớng đánh giá nhận xét, bình luận; nghị luận theo hớng phân tích Do đó, khi làm bài phải căn cứ vào cách thức diễn đạt trong đề bài để xác định giới…hạn, phạm vi, yêu cầu nghị luận.

- Xây dựng và triển khai bố cục:

+ Mở bài: Có thể đi theo hớng gián tiếp hoặc trực tiếp Dù bằng cách nào thì nội dung

mở bài phải giới thiệu đợc tác giả, tác phẩm và nêu ý kiến đánh giá chung nhất về tác phẩm truyện đợc nghị luận Ví dụ: Giới thiệu tác giả, tác phẩm – Nêu ý kiến chung nhất về tác phẩm truyện đó Hoặc: Giới thiệu mảng đề tài ( nội dung chủ đề) – Dẫn ra tác phẩm đ ợc nghị luận

+ Thân bài: Lần lợt nêu các luận điểm chính đợc sắp xếp theo một trình tự hợp lý Hệ thống luận điểm có thể đợc hình thành theo nhiều hớng: trên cơ sở các tình huống đợc tác giả nêu trong tác phẩm; trên cơ sở giá trị tác phẩm (nếu đánh giá toàn diện về tác phẩm thì

có giá trị nội dung – giá trị nghệ thuật; nếu đánh giá giá trị nội dung thì có giá trị hiện thực- giá trị nhân đạo; nếu đánh giá giá trị nghệ thuật thì có kết cấu – nhân vật – ngôn ngữ - cách tạo tình huống – lời thoại) Trong quá trình triển khai luận điểm cần dùng…một hệ thống luận cứ phong phú, xác đáng để minh hoạ nhằm tăng thêm độ tin cậy và sức thuyết phục cho những ý kiến đánh giá về tác phẩm Luận cứ có thể đợc đa ra dới nhiều hình thức khác nhau: dùng hình thức kể chuyện, dùng hình thức miêu tả, thuyết minh… + Kết bài: Nêu khái quát nhận định, đánh giá chung về tác phẩm truyện Cần lu ý là khi nêu đánh giá chung, có thể chỉ rõ tác phẩm truyện đang đợc nghị luận tiểu biểu cho sự nghiệp sáng tác của tác giả nào, thuộc giai đoạn văn học nào, mảng đề tài hay chủ đề gì…( Ví dụ: Qua truyện ngắn Làng, ta có thể hiểu một cách sâu sắc thêm về hình ảnh những ngời dân kháng chiến Việt Nam với tình yêu quê hơng đất nớc)

- Triển khai luận điểm: Chọn hình thức triển khai giàu cảm xúc; bám sát những chi tiết, những hình ảnh đợc coi là đặc sắc, có giá trị nhất trong tác phẩm để khai thác Các luận

điểm có thể đợc triển khai theo mô hình diễn dịch hoặc quy nạp

Trong quá trình viết bài, ngời viết cần cố gắng thể hiện những suy nghĩ, những cảm xúc riêng đợc hình thành trong quá trình tiếp cận, khám phá tác phẩm Qua đó thể hiện khả năng cảm thụ tác phẩm Muốn cho bài văn có tính liên kết chặt chẽ giữa các phần, các

đoạn ngời viết cần quan tâm sử dụng hình thức chuyển ý hợp lý (có thể thông qua các từ ngữ chuyển tiếp nh: mặt khác, bên cạnh đó, không chỉ mà còn… … hoặc chuyển ý thôngqua các câu văn có ý nghĩa liên kết giữa các đoạn)

b Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

*Thế nào là nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ?

Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là kiểu bài thuộc nhóm nghị luận văn học Kiểu bài

này đòi hỏi ngời viết phải thể hiện năng lực tiếp nhận, cảm thụ thơ của bản thân Trong thực tế, ngay từ lứa tuổi mẫu giáo, các em đã làm quen với thao tác đọc thơ và cảm nhận thơ ở cấp độ đơn giản nh đọc và phát biểu nhận xét về bài thơ (thích hoặc không thích, hay hoặc không hay) Đến bậc Tiểu học, mức độ cảm thụ thơ của các em đợc nâng lên một b-ớc: biết đọc diễn cảm một bài thơ, biết chỉ ra cái hay, cái đẹp trong thơ, biết phát hiện những biện pháp nghệ thuật đợc các nhà thơ sử dụng trong bài Sang chơng trình Ngữ văn THCS, các em đã làm quen dần với thao tác đọc – hiểu văn bản, từng bớc tiếp cận với việc khám phá những giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản thơ Đây là những bớc chuẩn bị quan trọng để các em đến với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

Trang 9

Vậy nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là gì?

Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là trình bày nhận xét, đánh giá của bản thân về t

t-ởng, tình cảm và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ ấy.

Hình thức thao tác chính của kiểu bài nghị luận này là phân tích hoặc bình giảng

* Những yêu cầu đối với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.

- Nói đến t tởng, tình cảm và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ có nghĩa là cần đề cập tới cả hai yếu tố: tác phẩm (văn bản) và tác giả (ngời sáng tác, sáng tạo ra văn bản) Điều nàyđòi hỏi ngời viết văn nghị luận phải quan tâm tới việc tìm hiểu cả những yếu tố trong văn bản (ngôn ngữ, hình tợng, các biện pháp nghệ thuật, nội dung chủ đề, ) và những…yếu tố nằm ngoài văn bản (hoàn cảnh sáng tác, cuộc đời và phong cách nghệ thuật của tác giả)

Ví dụ: Khi nghị luận về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, muốn làm toát lên t tởng chủ đề của tác phẩm thì cần đề cập tới thời điểm sáng tác, khi nhà thơ đang nằm trên giờng bệnh, chuẩn bị từ giã cõi đời (vậy mà bài thơ vẫn tràn đầy sức xuân, vẫn ngời lên khát vọng đợc dâng hiến cho đời)

- Thơ là nghệ thuật ngôn từ T tởng, tình cảm và nghệ thuật của thơ phải đợc thể hiện qua ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu Vì vậy, quá trình nghị luận để rút ra những nhận xét,

đánh giá về t tởng, tình cảm cũng nh giá trị nội dung – nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ phải bắt đầu từ những khám phá về vẻ đẹp và ý nghĩa biểu đạt của ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ, giọng điệu thơ; đồng thời phải khai thác giá trị của các biện pháp nghệ thuật đợc sử dụng trong bài thơ (so sánh, nhân hoá, ẩn dụ ).…

- Bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần phải hội tụ cả hai yếu tố: năng lực cảm thụ văn chơng (khả năng thẩm bình để tìm đợc cái hay, cái đẹp trong thơ) và phơng pháp làm một bài văn nghị luận (cách xây dựng bố cục mạch lạc, rõ ràng; cách lập luận chặt chẽ, súc tích; cách nêu và giải quyết luận điểm trong bài một cách lô - gíc ) Mặt khác, lời văn và…cách thức diễn đạt trong bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần đảm bảo các tiêu chuẩn: vừa xúc tích, chặt chẽ, thể hiện chính kiến của ngời viết (yếu tố nghị luận) lại vừa gợi cảm, sinh động thể hiện sự rung động của ngời viết đối với tác phẩm (yếu tố văn ch-

ơng) Đây là đặc điểm khác biệt giữa nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ với các dạng văn nghị luận khác

- Quá trình nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ phải đảm bảo theo quy trình hiểu đúng, hiểu sâu về đối tợng, từ đó mới trình bày lần lợt những cảm nhận, đánh giá của minhvề những giá trị đặc sắc, những phơng diện nổi bật của tác phẩm Bài văn nghị luận có nội dung đúng cha hẳn là bài văn nghị luận hay, nhng muốn có một bài văn nghị luận hay thì trớc hết phải đảm bảo đợc các tiểu chuẩn đúng

- Phân tích hay bình thơ thì phải chú ý chọn bình câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu, cách gieo vần, cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật

- Để lời phân tích, đánh giá nhận xét thêm sâu sắc, ngời viết có thể viện dẫn ý kiến của ngời khác (thờng là các nhà nghiên cứu, phê bình văn học) Đồng thời, trong khi phân tích,

đánh giá đoạn thơ, bài thơ, nên tập thói quen sử dụng thao tác liên hệ, so sánh, đối chiếu với những câu thơ, đoạn thơ bài thơ khác cùng nội dung ý nghĩa, cùng đề tài (có thể cùng tác giả hoặc khác tác giả)

*Cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

- Tìm hiểu đề và tìm ý: Cần đảm bảo các thao tác sau:

+Đọc kĩ đề, xác định yêu cầu của đề (Nghị luận về một đoạn thơ hay cả bài thơ? Nghị luận dới dạng bình giảng hay phân tích? )

Trang 10

+Đọc kĩ đoạn thơ, bài thơ và tìm những thông tin có liên quan (về tác giả, về thời điểm

và hoàn cảnh sáng tác)

+Tìm những đoạn thơ, câu thơ, những hình ảnh thơ đặc sắc, tạo ấn tợng nhất trong bài, Xác định các yếu tố cơ bản trong nội dung của đoạn thơ, bài thơ Trên cơ sở đó, hình thành những nhận xét, suy nghĩ chung nhất về bài thơ (ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu ).…

- Lập dàn bài: Là quá trình sắp xếp những nhận xét, đánh giá của ngời viết thành một

bố cục hoàn chỉnh

Phần mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm và đa ra ý kiến khái quát nhất thể hiện cảm

nhận và hiểu biết của mình về bài thơ Đây là cách mở bài thông thờng

Cũng có thể mở bài bằng nhiều cách khác: Chẳng hạn nh bắt đầu giới thiệu từ đề tài (hoặc chủ đề) và vị trí của mảng đề tài (hoặc chủ đề) ấy trong dòng chảy văn học Trên cơ

sở dẫn ra tác phẩm và nêu nhận xét, đánh giá chung Cũng có thể mở bài rất tự nhiên, nêu hoàn cảnh tiếp cận tác phẩm của mình, từ đó đa ra những cảm nhận chung về đoạn, thơ bài thơ

Phần thân bài: Triển khai những cảm nhận, đánh giá về tác phẩm thành những luận điểm chính của bài văn Các luận điểm đợc sắp xếp theo trình tự hợp lý (theo bố cục hoặc theo mạch cảm xục của tác giả); đồng thời phải đợc cụ thể hoá thành những luận cứ, trình bày bằng thao tác phân tích (hoặc bình giảng) có sự kết hợp với các phép lập luận chính của văn nghị luận: giải thích, chứng minh, bình luận

Phần kết bài : Tổng kết và khẳng định giá trị nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ;

từ đó nhấn mạnh thêm ý nghĩa sâu sắc, lớn lao của bài thơ đối với sự nghiệp sáng tác của tác giả, đối với cuộc đời, đối với bạn đọc…

- Tổ chức và triển khai luận điểm.

ở mỗi luận điểm (thờng ứng với ít nhất một đoạn văn), ngời viết bài cần lựa chọn cách triển khai (theo phơng pháp diễn dịch hoặc quy nạp) Trong đoạn văn triển khai luận điểm, các luận cứ phải cụ thể, rõ ràng Có dẫn chứng minh hoạ sinh động Mặt khác, lời văn phải thể hiện đợc cảm xúc chân thành của ngời viết đối với đối tợng nghị luận ( đan xen các yếu tố biểu cảm trong lời văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ)

Trong quá trình triển khai luận điểm, cần lu ý:

- Việc trích dẫn thơ để minh hoạ cho ý kiến nhận xét, đánh giá phải có sự chọn lọc, tránh trích dẫn tràn lan

- Những câu thơ, đoạn thơ trích dẫn phải đợc phân tích, bình giảng để làm nổi bật cái hay cái đẹp, nét độc đáo của từng hình ảnh thơ Có thể vận dụng hai hình thức trích dẫn thơ: dẫn trực tiếp (trích nguyên vẹn cả câu thơ, đoạn thơ) và dẫn gián tiếp (nêu ý của lời thơ)

B Bài tập vận dụng.

Bài tập 1.

* Đề bài: hiện nay có một hiện tợng khá phổ biến là có nhiều học sinh học qua loa ,

đối phó Em hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của mình về hiện tợng này

- Với đề bài này học sinh cần xác định đợc các ý chính sau

Trang 11

- Là học bị động, cốt đối phó với sự đòi hỏi của thầy cô, cha mẹ, thi cử

- Học đối phó thì kiến thức nông cạn, hời hợt -> ngày càng dốt nát, h hỏng, vừa lừa dối

ngời khác, vừa tự đề cao mình -> nguyên nhân gây ra hiện tợng " tiến sĩ giấy " đang bị xã hội lên án gay gắt

* Bản chất của lối học đối phó và tác hại của nó:

- Bản chất:

+ Có hình thức của học tập: cũng đến lớp, cũng đọc sách, cũng có điểm thi, cũng bằng cấp

+ Không có thực chất: đầu óc rỗng tuếch, đến nổi " ăn không nên đọi nói không nên lời

" hỏi gì cũng không biết làm việc gì cũng hỏng

b, Đánh giá ý nghĩa của tự học :

- Tinh thần tự học thể hiện ý thức học tập cao của học sinh, thể hiện sự sáng tạo, ham hiểu biết, không ngừng vơn lên để chủ động tiếp thu những tri thức có ích, làm hành trang cần thiết để bớc vào cuộc sống Chỉ có nêu cao tinh thần tự học thì mới có thể nâng cao chất lợng học tập của mỗi ngời

- Cần có phơng pháp để tự học có hiệu quả :

+ Tự đề ra cho mình kế hoạch học tập hợp lí, phù hợp với việc học tập trên lớp

+ Chủ động tìm sách vở, t liệu tham khảo cho từng bộ môn đợc học trong nhà trờng nhằm nâng cao vốn hiểu biết về bộ môn đó

+ Tạo cho mình một thói quen ghi chép một cách khoa học những tri thức tiếp thu đợc qua sách vở, tài liệu hay các phơng tiện truyền thông

3 Kết bài :

- Tinh thần tự học là phẩm chất đáng quý đối với mỗi ngời, nhất là đối với học sinh

- Cần phát huy tinh thần tự học để luôn tiếp cận đợc với những tri thức mới nhất của nhân loại

Trang 12

Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru,Suy nghĩ của em về tình mẫu tử trong xã hội ngày nay.

1.Mở bài: Cảm nhận chung về tinh mẫu tử và dẫn hai câu thơ.

2.Thân bài

- Cảm thụ vẻ đẹp của hai câu thơ thể hiện ở hai phơng diện:

Tính trữ tình: Thể hiện ở cảm xúc vừa lắng đọng, vừa thiêng liêng

Tính triết lí: Mấy lời mẹ ru biểu tợng cho tình yêu thơng vô bờ của mẹ dành cho con.Cách nói của câu thơ nhàm khẳng địnhtình mẹ là vô cùng thiêng liêng cao cả và bất tử,vô tận không sao có thể đền đáp đợc.ý thơ thể hiện lòng biết ơn sâu sắc

- Suy nghĩ về tình mẫu tử:

+ Tình mẫu tử là tình mẹ con, nên hiểu là tình cảm yêu thơng đùm bọc, che chở mà ngời

mẹ dành cho con.Tình cảm ấy vừa tự nhiên vừa cao cả nên sẽ đi theo mỗi con ngời đến suốt cuộc đời

+Trong đời sống của mỗi con ngời có nhiều thứ tình cảm cao đẹp nh tình cảm với ông bà

tổ tiên, tình cảm anh chị em, tình yêu, tình bạn bè, tình quê hơng đất nớc nhng tình mẫu

tử có vị trí đặc biệt thiêng liêng Vì sao tình mẫu tử lại có vị trí quan trọng nh vậy?

Vì đó là tình cảm đầu tiên của mỗi ngời khi sinh ra và sẽ gắn bó trong suốt cuộc đời Vì đó là tình cảm vừa có yếu tố máu thịt, vừa mang tính tinh thần cao cả

Vì đó là thứ tình cảm vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính trách nhiệm

+ Mở rộng vấn đề:

Con ngời sẽ hạnh phúc ra sao nếu đợc sống trong tình mẫu tử?

Con ngời sẽ bất hạnh biết nhờng nào nếu không đợc nhận tình cảm đó

Tình mẫu tử giúp con ngời vợt qua khó khăn của cuộc sống nh thế nào?

Đạo làm con phải làm gì để tình cảm đó luôn bề vững và đẹp đẽ?

Phê phán những suy nghĩ sai trái về tình mẫu tử

Trong xã hội hiện đại ngày nay, khi cuộc sống có nhiều biến đổi, khi ý thức cá nhân của con ngời đợc khơi dậy và đề cao thì cần có thái độ nh thế nào về tình mẫu tử?Từ đó rút

2 Thân bài : Tình yêu quê hơng thông qua một số hình ảnh tiêu biểu,đặc trng:

- Hình ảnh làng chài bình dị,thân quen “Nớc bao vây cách biển nửa ngày sông”

- Hình ảnh đoàn thuyền ra khơ đánh cá với khí thế hăng hái, mạnh mẽ Chú ý bình các hình ảnh :Dân chai tráng, Con thuyền, cánh buồm với các động từ: Hăng, phăng.Đặc biệt

là sự cảm nhận tinh tế, thiêng liêng của tác giả: “ Cánh buồm giơng to nh mảnh hồn làng Rớn thân trắng bao la thâu góp gió”

Ngày đăng: 02/11/2015, 07:33

w