1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SÁNG KIẾN KINH NGIỆM GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂNLÓP2

26 448 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 218 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

và cho học sinh lớp 2 núi riờng là vấn đề hết sức quan trọng bởi vỡ:- Môn Toán góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phơng pháp suy nghĩ, phơng pháp suy luận, phơng pháp giải quyết vấ

Trang 1

Có được kết quả này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong nhà trường và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi, đặc biệt là hai đồng chí trong ban giám hiệu đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn để sáng kiến hoàn thành tốt đẹp

Những thiếu sót và hạn chế trong sáng kiến kinh nghiệm chắc chắn là không tránh khỏi Rất mong sự đóng góp ý kiến phê bình quý báu của các đồng chí trong hội đồng sư phạm nhà trường và đông đảo bạn đọc để sáng kiến nghiên cứu được hoàn hảo hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Người viết

Võ Thị Việt

Trang 2

Mục lục

Phần I: Mở đầu

Phần II: Nội dung

0I- Đặc điểm tình hình của địa phương, nhà trường, nhiệm vụ

được giao

10

Trang 3

Chương III : Các giải pháp thực hiện và kết quả 1

Tài liệu tham khảo

1- Toán nâng cao lớp 2 ( Sách tham khảo cho giáo viên và phụ huynh học sinh) Nhà xuất bản giáo dục.

2.Giúp em giỏi toán 2 Nhà xuất bản giáo dục

3.Một số vấn đề về nội dung và phương pháp dạy học môn TOÁN Nhà xuất bản giáo dục

4 Giải bằng nhiều cách các bài toán 2 Nhà xuất bản tổng hợp

tp Hồ Chí Minh

5.150 câu hỏi - ĐÁP Về TOÁN 2 Báo thế giới trong ta

Trang 4

và cho học sinh lớp 2 núi riờng là vấn đề hết sức quan trọng bởi vỡ:

- Môn Toán góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phơng pháp suy nghĩ, phơng pháp suy luận, phơng pháp giải quyết vấn đề góp phần phát triển trí thông minh, độc lập sáng tạo, góp phần vào việc hình thành các phẩm chất của ngời lao

động mới

Là một giỏo viờn trực tiếp giảng dạy ở cỏc khối lớp tụi thấy: Toỏn cú lời văn

cú vị trớ rất quan trọng trong chương trỡnh Toỏn ở trường tiểu học Cỏc em được làm quen với toỏn cú lời văn ngay từ lớp học, đặc biệt ở lớp 2 yờu cầu cỏc em viết lời giải cho phộp tớnh…Cú thể núi, đõy quả thực là một khú khăn đối với học sinh khi học giải toỏn cú lời văn Đọc một đề toỏn đang cũn là khú đối với cỏc em vậy

mà cũn tiếp tục phải: Tỡm hiểu đề toỏn, túm tắt đề, đặt cõu lời giải, phộp tớnh, đỏp số…Vỡ vậy đõy càng là một vấn đề mà chỳng tụi luụn luụn trao đổi, thảo luận trong những buổi sinh hoạt chuyờn mụn, tớch luỹ nghiệp vụ do nhà trường tổ chức Làm thế nào để học sinh hiểu được đề toỏn, viết được túm tắt, nờu được cõu lời giải hay, phộp tớnh đỳng Điều đú đũi hỏi rất nhiều cụng sức và sự nỗ lực khụng biết mệt mỏi của người giỏo viờn đứng lớp

Dạy học giải Toỏn lời văn ở lớp 2 nhằm giỳp học sinh biết cỏch vận dụng những kiến thức và giải toỏn cú lời văn học sinh cú điều kiện được rốn luyện phương phỏp suy luận vỡ nú đũi hỏi người giỏo viờn cần:

Xỏc lập quan hệ giữa cỏc dữ liệu, giữa cỏi đó cho và giữa cỏi cần tỡm, trờn cơ

sở đú chọn được phộp tớnh thớch hợp và trả lời đỳng cõu hỏi của bài toỏn

Là giáo viên trực tiếp giảng dạy chơng trình lớp 2 tôi chọn đ̉ài này để nghiờn cứu và thực hiện một số mong muốn là đem lại khả năng, năng lực của mỡnh để giỳp cỏc em học sinh lớp tụi núi riờng và cỏc lớp trong khối núi chung để giải được

Trang 5

thành thạo các dạng toán có lời văn ở lớp 2 để đạt được mục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nươc giáo phó

II NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

1 Mục đích:

Bản thân tôi đã tìm hiểu rất kỹ về thực trạng học sinh lớp 2A1 trường tiểu học Sông Đà về việc giải toán có lời văn còn gặp một số vướng mắc khi làm bài

Chính vì thế tôi đã nghiên cứa đề tài “Giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2”

nhằm góp phần nâng cao chất lượng học môn Toán lớp 2 Giúp học sinh tích cực, hứng thú học tập, biết vận dụng những kiến thức về toán, được rèn luyện những kĩ năng thực hành, năng lực sáng tạo theo đúng mục tiêu của môn Toán lớp 2

2 Nhiệm vụ:

- Tìm hiểu vị trí, mục đích yêu cầu của việc dạy học giải toán lớp 2 ở trường tiểu học - đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 2

- Tìm hiểu các cơ sở khoa học của việc giúp học sinh giải toán ở lớp 2

- Tìm hiểu thực trạng về việc dạy học giải toán lớp 2 ở trường Tiểu học Sông Đà

- Đề xuất một số biện pháp giúp học sinh giải toán lớp 2

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

- Học sinh lớp 2A1 ở trường Tiểu học Sông Đà

- Giáo viên chủ nhiệm giảng dạy môn Toán lớp 2 ở trường Tiểu học Sông Đà

- Các biện pháp giúp học sinh giải toán lớp 2

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Để thực hiện nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Các tài liệu, giáo trình phương pháp dạy học toán, sách tham khảo

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra thực trạng nghiên cứu thùc tÕ, thùc nghiÖm mét sè giê d¹y to¸n ë líp 2

- Để đạt được kết quả khi làm bài tập là củng cố hay nâng cao kiến thức tuỳ thuộc vào năng lực tư duy của học sinh mà yêu cầu giải toán ơ mức độ cao hay thấp Nên phối hợp giữa các phương pháp: Phương pháp quan sát, phương pháp điều tra khảo sát, phương pháp tích hợp, phương pháp luyện tập thực hành, phương pháp hoạt động nhóm, phương pháp đàm thoại

V THỜI GIAN VÀ PHẠM VI ÁP DỤNG:

Trang 6

*Thời gian nghiờn cứu và hoàn thành sỏng kiến kinh nghiệm từ thỏng 9 năm 2010 đến tháng tháng 5 năm 2011.

*Thời gian áp dụng: 3 năm (Từ năm học 2010-2011 đến hết năm học 2012-2013)

*Phạm vi áp dụng: Học sinh lớp 2A1 trờng tiểu học Sông Đà

Phần thứ hai

Trang 7

PHẦN NỘI DUNG

  

CHƯƠNG I:

1 Cơ sở lí luận của vấn đề.

Giải toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế, nội dung bài toán được thông qua những câu văn nói về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc, có liên quan tới cuộc sống thường xảy ra hàng ngày Cái khó của bài toán có lời văn chính là ở chỗ làm thế nào để lược bỏ được những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán Hay nói một cách khác là làm sao phải chỉ ra được các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán và tìm được những câu lời giải phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số của bài toán

Nhưng làm thế nào để học sinh hiểu và giải toán theo yêu cầu của chương trình mới, đó là điều cần phải trao đổi nhiều đối với chúng ta – những người trực tiếp giảng dạy cho các em nhất là việc: Đặt câu lời giải cho bài toánvà mục đích của dạy toán

Dạy học giải toán ở tiểu học nhằm mục đích chủ yếu sau:

+ Trước hết nó giúp học sinh luyện tập, củng cố, vận dụng các kiến thức và thao tác thực hành đã học, rèn luyện kĩ năng tính toán, bước tập dượt vận dụng kiến thức và rèn luyện kĩ năng thực hành vào thực tiễn (học tập, đời sống)

+ Qua các biểu hiện trên giáo viên phát hiện được rõ hơn những gì học sinh

đã lĩnh hội và nắm chắc những gì học sinh chưa nắm chắc để có biện pháp giúp học sinh phát huy hoặc khắc phục

+ Qua việc dạy học giải toán, giáo viên giúp học sinh từng bước phát triển năng lực, tư duy, rèn luyện phương pháp kĩ năng suy luận, khêu gợi và tập dượt khả năng quan sát, phỏng đoán tìm tòi

+ Qua giải toán, học sinh rèn luyện những đặc tính và phong cách làm việc của người lao động như: ý chí khắc phục khó khăn, thói quen xét đoán có căn cứ, tính cẩn thận, chu đáo, cụ thể làm việc có kế hoạch, có kiểm tra kết quả cuối cùng: từng bước hình thành và rèn luyện thói quen và khả năng duy nghĩ độc lập, linh hoạt, khắc phục cách suy nghĩ máy móc, rập khuôn, xây dựng lòng ham thích tìm tòi, sáng tạo ở mức độ khác nhau, từ đơn giản nhất mà nâng cao từng bước

+ Việc giải toán vừa đòi hỏi tính tích cực, độc lập sáng tạo trong suy nghĩ vừa đòi hỏi một khả năng thực hành Để giúp học sinh có khả năng thực hành đề, lúc đầu học sinh cần được giáo viên dẫn dắt, hướng dẫn giải các bài toán theo mẫu, tái hiện cách giải điển hình, có thể giúp ích cho học sinh trong chừng mực nhất định Song do tính chất đặc trưng của giải toán đã nói trên, riêng các biện pháp đó không thể giúp học sinh đạt được các mục tiêu cần thiết

Như chúng ta đã biết: Trước cải cách giáo dục thì đến lớp 4, các em mới phải viết câu lời giải, còn những năm đầu cải cách giáo dục thì đến học kì 2 của

Trang 8

lớp 3 mới phải viết cõu lời giải…Cũn đến nay theo chương trỡnh mới thỡ ngay từ lớp 1 học sinh đó được yờu cầu viết cõu lời giải, đõy quả là một bước nhảy vọt khỏ lớn trong chương trỡnh toỏn Nhưng nếu như nắm bắt được cỏch giải toỏn ngay từ lớp 1, 2 thỡ đến cỏc lớp trờn cỏc em dễ dàng tiếp thu, nắm bắt và gọt giũa, tụi luyện

để trang bị thờm vào hành trang kiến thức của mỡnh để tiếp tục học tốt ở cỏc lớp sau

2 Cơ sở thực tiễn.

Ta thấy rằng, giải toỏn ở tiểu học trước hết là giỳp cỏc em luyện tập, vận dụng kiến thức , cỏc thao tỏc thực hành vào thực tiễn Qua đú , từng bước giỳp học sinh phỏt triển năng lực tư duy, rốn luyện phương phỏp suy luận lụgớc Thụng qua giải toỏn mà học sinh rốn luyện được phong cỏch của người lao động mới: Làm việc cú ý thức, cú kế hoạch, sỏng tạo và hăng say, miệt mài trong cụng việc

Thực tế qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy ở khối lớp 2, tụi nhận thấy học sinh khi giải cỏc bài toỏn cú lời văn thường rất chậm so với cỏc dạng bài tập khỏc Cỏc em thường lỳng tỳng khi đặt cõu lời giải cho phộp tớnh, cú nhiều em làm phộp tớnh chớnh xỏc và nhanh chúng nhưng khụng làm sao tỡm được lời giải đỳng hoặc đặt lời giải khụng phự hợp với đề toỏn đặt ra Chớnh vỡ thế nhiều khi dạy học sinh đặt cõu lời giải cũn vất vả hơn nhiều so với dạy trẻ thực hiện cỏc phộp tớnh ấy để tỡm ra đỏp số

Việc đặt lời giải ngay từ lớp 1, 2 sẽ là một khú khăn lớn đối với mỗi giỏo viờn trực tiếp giảng dạy ở lớp 1, 2 nhất là những tuần đầu dạy toỏn cú lời văn ngay

ở việc giỳp cỏc em đọc đề, tỡm hiểu đề…Một số em mới chỉ đọc được đề toỏn chứ chưa hiểu được đề, chưa trả lời cỏc cõu hỏi thầy nờu: Bài toỏn cho biết gỡ ? Đến khi giải toỏn thỡ đặt cõu lời giải chưa đỳng, chưa hay hoặc khụng cú cõu lời giải…Những nguyờn nhõn trờn khụng thể đổ lỗi về phớa học sinh 100% được mà một phần lớn đú chớnh là cỏc phương phỏp, cỏch ỏp dụng, truyền đạt của những người thầy

Đõy cũng là lớ do mà tụi chọn đề tài này, mong tỡm ra những giải phỏp nhằm gúp phần nõng cao kĩ năng giải toỏn cú lời văn cho học sinh lớp 2 núi riờng và trong mụn toỏn 2 núi chung Để từ đú, cỏc em cú thể thành thạo hơn với những bài toỏn cú lời văn khú và phức tạp

III Những điểm đổi mới của chơng trình Toán lớp 2:

- Nội dung Toỏn 2 mới đơn giản hơn (tập trung vào phương phỏp giải toỏn

và cỏch trỡnh bày bài giải của bài toỏn)

- Lớp 2 cú chủ yếu học giải toỏn hợp với 5 mẫu khỏi quỏt Lớp 2 mới chưa học toỏn hợp, chỉ học toỏn đơn, trong đú cú bài toỏn về “nhiều hơn” và “ớt hơn”

- Lớp 2 mới cú thờm bài toỏn liờn quan đến phộp nhõn, chia và thờm bài toỏn

cú nội dung hỡnh học (tớnh độ dài đường gấp khỳc, tớnh chu vi cỏc hỡnh)

- Trong Toỏn 2 mới, cú một, hai bài để học sinh làm quen với toỏn đơn dạng tỡm phần “nhiều hơn” hoặc “ớt hơn” khi biết hai số (bằng cỏch tớnh hiệu), nhưng chưa học chớnh toỏn đơn dạng “so sỏnh hơn kộm nhau một số đơn vị”

Trang 9

- Về mức độ yêu cầu: SGK Toán 2 mới không nhiều bài khó, phức tạp như chương trình Toán 2 có.

Chương II:

THỰC TRẠNG I- Đặc điểm tình hình của địa phương, nhà trường và nhiệm vụ được giao.

1, Thuận lợi.

Trêng TiÓu häc S«ng §µ lµ trêng tiÓu häc míi thµnh lËp.Được sù quan tâm , chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo, Phòng giáo dục, các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, hội phụ huynh học sinh đó là nguồn động viên tinh thần to lớn nhất cho cán bộ giáo viên, học sinh trong nhà trường Là trường đạt chuẩn quốc gia mức độ một đầu tiên của huyện nhà

- Ban giám hiệu nhà trường năng nổ nhiệt tình, sáng tạo luôn chỉ đạo sát sao việc dạy học của giáo viên và việc học tập của học sinh

- Giáo viên trường tiểu học Sông Đà là những giáo viên trẻ khoẻ nhiệt tình yêu nghề, mến trẻ, luôn có ý thức tự học ,năng động sáng tạo trong công tác soạn giảng và có tinh thần trách nhiệm cao trong mọi công việc, mạnh dạn chân thành

có ý thức vươn lên, có tinh thần tập thể cao

- Giáo viên ở trường Tiểu học Sông Đà là những giáo viên có trình độ đào tạio cao đẳng trở lên, chất lượng giảng dạy của giáo viên mỗi năm có sự đổi mới rõ rệt Trong giảng dạy, đảm bảo việc truyền đạt đúng đủ lượng kiến thức theo yêu cầu của chương trình Từng bài giảng giáo viên biết rõ cách tổ chức, biết động viên khích lệ học sinh trong học tập thu hút sự chú ý của học sinh

-Về phía học sinh: Năm học 2010- 2011 líp 2A1 ë trung t©m gåm 20 học sinh Các em đều đi đúng độ tuổi, có sức khoẻ tốt, các em đều có nề nếp, ý thức học tập Các em biết vâng lời kính trọng thầy cô giáo, yêu lao động, tham gia đầy

đủ các hoạt động ngoài giờ và các phong trào thi đua Các em đều là những học sinh được tiếp cận với chương trình tiểu học mới nên có nhiều thuận lợi cho giáo viên trong quá trình giảng dạy, vì vậy học sinh đạt danh hiệu học sinh khá giỏi đạt trên 85%

- Về cơ sở vật chất trường đã hoàn thiện khâu cuối cùng về cơ sở, vật chất, trang thiết bị

Trường có đủ cơ sở vật chất: Chỗ ngồi cho học sinh đảm bảo, ấm về mùa đông, thoáng mát về mùa hè, đủ áng sáng vào những ngày trời âm u, mưa bão

Trường có tương đối đầy đủ phòng học chức năng( phòng học nhạc, phòng ngủ…) đó cũng là một trong những điều kiện thuận lợi cho học sinh và phụ huynh yên tâm học tập và công tác

2,Khó khăn.

Trang 10

Mặc dù có nhiều thuận lợi song vì đây là một huyện miền núi thuộc tỉnh khó

khăn lại mới bước đầu khởi sắc phát triển nên không tránh khỏi những khó khăn Một số ít giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy và sử dụng đồ dùng dạy học còn hạn chế, có đồng chí ngại dùng, còn lúng túng, vụng về khi sử dụng Đồng thời trường đang thực hiện dạy hai buổi trên ngày nên không có điều kiện đi tham quan, giao lưu học hỏi các trường chất lượng khác trong và ngoài vùng Về phía học sinh ý thức tự học chưa cao, ngại khó, ngại suy nghĩ, mải chơi, nhiều em trong lớp không tập trung và không chú ý lắng nghe cô giáo giảng bài nên không nắm chắc quy trình giải toán Phụ huynh thì bận với công việc chưa đôn đốc việc học ở nhà của các em

Đội ngũ học sinh không ổn định vì đặc thù công việc của cha mẹ khi cha mẹ các em chuyển công tác thì các em cũng phải chuyển theo Có khi học được một học kỳ hay mới học được hai , ba tháng đã phải chuyển trường, có những em học

kỳ một học ở nơi khác sang học kỳ hai chuyển về học tại trường tiểu học Sông Đà điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng học tập

Các em ở rải rác khắp thị trấn Ít Ong, có một só em ở xa trường nên việc đi lại của các em gặp rất nhiều khó khăn điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của các em

- Qua thực tế giảng dạy và thảo luận cùng đồng nghiệp, tôi nhận thấy:

+ Việc đọc đề, tìm hiểu đề đang còn nhiều khó khăn đối với học sinh lớp 2 các em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động, chậm chạp…

+ Thực tế trong một tiết dạy35 - 40 phút, thời gian dạy kiến thức mới mất nhiều – phần bài tập hầu hết là ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề, nêu câu trả lời không được nhiều mà học sinh chỉ thành thạo việc đọc đề toán

3, Về chất lượng khảo sát đầu năm học mới.

Qua tham khảo, trao đổi với các giáo viên dạy ở trường cùng với kinh

nghiệm bản thân qua quá trình công tác và giảng dạy, tôi nhận thấy:

+ Kết quả học tập môn Toán của học sinh ngày một nâng cao, nhưng thực tế chất lượng học tập môn toán của học sinh vẫn còn nhiều điều cần quan tâm Tuy môn Toán đạt 100% từ trung bình trở lên song số điểm giỏi chưa nhiều, học sinh mắc lỗi nhiều ở phần giải toán trong luyện tập và kiểm tra từ đó ảnh hưởng đến chất lượng môn Toán

Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm ở môn Toán:

Tống

số hs

Dân tộc

Giới tính

Nam Nữ Giỏi Khá Trung

Trang 11

3 Nguyên nhân của ưu điểm và tồn tại.

- Nguyên nhân của ưu điểm

- Đội ngũ giáo viên nhiệt tình giảng dạy, lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, yêu nghề mến trẻ

- Có ý thức học hỏi đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

- Có lối sống hoà nhã, đoàn kết nội bộ, có ý thức tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, tham gia tích các phong trào và luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao

- Nguyên nhân của tồn tại:

Qua thực tế khảo sát tôi nhận thấy:

- Nhiều học sinh chưa nghiên cứu kỹ đề bài toán nêu việc xác lập mối quan

hệ giữa các dữ kiện của bài toán còn gặp nhiều khó khăn

- Một số học sinh chưa nắm chắc hệ thống các bài toán đơn đã được học dẫn đến còn lúng túng trong việc phát hiện mối quan hệ lôgic giữa các bài toán này

- Học sinh còn thiếu tự tin trong việc tìm cách giải, còn bị hạn chế trong việc lựa chọn các phép giải

- Các em chưa chú ý đến khâu kiểm tra, thường coi rằng bài toán đã giải xong khi tính đáp số hay tìm câu trả lời câu hỏi

- Trong quá trình giảng dạy môn Toán giáo viên còn coi nhẹ một số bước trong quá trình giải toán như: tìm hiểu đề toán, kiểm tra cách giải toán, nên nhiều học sinh mắc những lỗi không đáng có

Đây là những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giải toán của học sinh Khắc phục được những nguyên nhân trên có ý nghĩa hết sức

Trang 12

quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo con người mới năng động tự chủ sáng tạo.

+ Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng và tâm lí học tập cho học sinh, trình bầy bài giải khoa học, trước khi giải cần đọc kỹ đề Nắm chắc yêu cầu của đề

+Phải hướng dẫn giải toán ở tất cả các loại toán trong chương trình lớp 2 để làm cơ sở cho giải toán có lời văn

+Tổ chức tốt cho học sinh quan sát trực quan, mô hình, tranh ảnh dựa vào

đó để giải bài toán có lời văn

+Tổ chức cho học sinh hoạt động nắm vững các khái niệm định nghĩa quy tắc có liên quan đến giái toán có lời văn

+Rèn kỹ năng khái quát tổng hợp

+Tổ chức rèn kỹ năng giải toán ở các buổi ngoại khoá hoạt động ngoài giờ.+Phân công các nhóm giúp đỡ nhau trong học tập

+Lên kế hoạch với phụ huynh học sinh, nhằm tạo động lực về phía gia đình.+ Lên lịch kiểm tra theo đúng lịch, theo đúng kỳ

+ Phân loại học sinh về giải toán có lời văn lớp 2 theo 3 loại :A,B,C để có từng biện pháp riêng củ từng đối tượng

2 Quy t¾c chung vÒ ph¬ng ph¸p híng dÉn viÖc d¹y gi¶i to¸n:

+ Đề ra quy định rõ ràng về một số quy trình khi giải bài toán có lời văn cho học sinh nắm vững và thực hiện đúng quy định cách giải bài toán

- Đọc kỹ đề bài

- Xác định xem đề thuộc dạng toán nào?

- Phân tích đề để biết bài toán cho gì, hỏi gì?

- Tóm tắt bài toán bằng sơ đồ hoặc lời văn ngắn gọn

- Tìm cách giải, thiết lập mối quan hệ giữa các giữ kiện của đề bài phép tính tương ứng

- Trình bày bài giải, viết câu lời giải, phép tính tương ứng và đáp số

Ví dụ: Sau khi đọc đề toán ở trang 11 SGK Toán 2.

Trang 13

“Lớp 2A có 18 học sinh đang tập hát, lớp 2B có 21 học sinh đang tập hát Hỏi cả hai lớp có bao nhiêu học sinh đang tập hát?”.

- Học sinh nêu miệng câu lời giải:

Cả hai lớp có tất cả số học sinh đang tập hát là:

Ví dụ: Bài tập 2(trang 25 toán 2)

An : 11 bưu ảnh Bình có nhiều hơn An : 3 bưu ảnh

Bình : .bưu ảnh?

- Tôi cho học sinh đọc thầm, đọc miệng tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời theo yêu cầu

Học sinh: An có 11 bưu ảnh Bình có số bưu ảnh nhiều hơn số bưu ảnh

của An là 3 cái Hỏi Bình có bao nhiêu cái bưu ảnh?

Ngày đăng: 18/06/2015, 00:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w