Việc dùng trắc nghiệm khách quan để kiểm tra đánh giá những bước đầu đã được áp dụng ở các môn học hoá, lý, sinh, ngoại ngữ...Tuy nhiên, phần lớn các giáo viên cũng chỉ xem trắc nghiệm n
Trang 1MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việc đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay là một yêu cầu hàng đầu đặt ra cho ngành giáo dục ở nước ta Để việc đổi mới có hiệu quả đòi hỏi phải cải tiến nội dung và phương pháp dạy học Trong đó cải tiến nội dung có ý nghĩa quan trọng hàng đầu Vì cải tiến nội dung chính
là sự lựa chọn, bổ sung, hoàn thiện và sắp xếp lại kiến thức Song để học sinh nắm được nội dung chúng ta cần cải tiến cả phương pháp dạy học Mà một trong những khâu quan trọng là việc cải tiến phương pháp đánh giá kết quả học tập Nhiều hội thảo, tập huấn về vấn đề này đã được tổ chức nhằm nâng cao chất lượng của quá trình dạy và học
Thông qua kiểm tra, đánh giá giúp người học có cơ hội được đánh giá và có thể tự đánh giá, giáo viên và các nhà quản lý giáo dục thấy được hiệu quả của một chương trình và công việc giảng dạy ở từng giai đoạn và trong toàn bộ chương trình Từ đó thấy được những thành công và những vấn đề cần được rút kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, định ra những biện pháp thích hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chính vì vậy, người giáo viên cần phải có một quan niệm đúng đắn về việc kiểm tra, đánh giá trong công tác dạy học ở trường trung học phổ thông
Trong những năm gần đây, ở các trường THPT đã sử dụng phương pháp kiểm tra truyền thống và kiểm tra bằng hình thức trắc nghiệm khách quan Việc dùng trắc nghiệm khách quan để kiểm tra đánh giá những bước đầu đã được áp dụng ở các môn học hoá, lý, sinh, ngoại ngữ Tuy nhiên, phần lớn các giáo viên cũng chỉ xem trắc nghiệm như là một phương tiện để phục vụ cho công việc kiểm tra kiến thức học sinh, công việc này vẫn chưa được coi như là một bộ phận hữu
cơ của quá trình dạy học Do đó, việc kiểm tra đánh giá học sinh vẫn tồn tại những hạn chế nhất định
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học và việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá trong hoá học, tôi mạnh dạn chọn đề tài : “ Xây dựng một số đề kiểm tra hoá học lớp 11 ” nhằm đào sâu thêm kiến thức hoá học và kích thích hứng thú học tập của học sinh phổ thông Do thời gian và tính chất của một chuyên đề nên trong đề tài này không khỏi có những thiếu sót, rất mong sự góp ý và quan tâm của quý thầy cô giáo đồng nghiệp cũng như sự phản hồi từ phía học sinh
Trang 2CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ KIỂM TRA TRẮC NGHIỆM
VÀ VẤN ĐỀ ĐÁNH GIÁ TRONG GIẢNG DẠY HOÁ HỌC
I KHÁI NIỆM VỀ TRẮC NGHIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HÌNH THỨC TRẮC NGHIỆM
I.1 Khái niệm về trắc nghiệm
Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động được thực hiện để đo lường năng lực của các đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định
Trong giáo dục, trắc nghiệm được tiến hành ở các kỳ kiểm tra để đánh giá kết quả học tập, giảng dạy đối với một môn học, toàn bộ môn học, đối với tất cả cấp học; hoặc để kiểm tra chọn một số người có năng lực nhất vào một khoá học
Có thể phân chia các phương pháp trắc nghiệm ra làm ba loại: loại quan sát, loại vấn đáp
và loại viết như sau:
CÁC PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM
QUAN SÁT VIẾT VẤN ĐÁP
TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRẮC NGHIỆM TỰ LUẬN
Câu Câu Câu Câu Câu Tiểu luận Cung cấp hỏi hỏi hỏi hỏi hỏi thông tin nhiều đúng, ghép điền xếp
lựa sai đôi thêm thứ
chọn tự
Trong đó, trắc nghiệm viết được dùng nhiều nhất, vì nó có những ưu điểm sau:
• Cho phép kiểm tra nhiều thí sinh một lúc
• Cho phép học sinh cân nhắc nhiều hơn khi trả lời
• Cung cấp bảng ghi rõ ràng các câu trả lời của thí sinh để dùng khi chấm
Trắc nghiệm viết được chia ra hai nhóm chính:
kiến trong một bài viết dài để giải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra Người ta gọi trắc nghiệm
theo kiểu này là trắc nghiệm tự luận.
ra một vấn đề cùng với những thông tin cần thiết sao cho thí sinh phải trả lời vắn tắt cho từng
Trang 3câu Người ta thường gọi nhóm phương pháp này là trắc nghiệm khách quan Hay trắc
nghiệm khách quan là dạng trắc nghiệm trong đó có kèm theo câu trả lời sẵn Loại câu hỏi
này cung cấp thông tin cần thiết và đòi hỏi học sinh phải lựa chọn câu để trả lời hoặc cần
thêm một vài từ Trong phạm vi đề tài chỉ nghiên cứu đến loại trắc nghiệm khách quan, vì vậy về sau khi nói đến “trắc nghiệm” mà không nói gì thêm thì đó là trắc nghiệm khách
quan.
I.2 Đặc điểm của hình thức trắc nghiệm
Ở hình thức này, học sinh không phải làm bài như kiểm tra viết, nghĩa là không phải trình bày, chứng minh, lý giải nội dung câu hỏi mà chỉ cần lựa chọn câu trả lời đã có sẵn (do người soạn đề đặt ra)
Thông thường mỗi bài kiểm tra gồm từ 60 đến 90 câu hỏi được thực hiện trong một thời gian qui định (45, 60 hoặc 90 phút) Các câu được đánh giá theo điểm (theo thang điểm 10 hoặc 100)
Việc cho điểm có thể thực hiện ngay trên bài in sẵn hoặc sử dụng các phương tiện kỹ thuật phiếu đục hoặc bằng máy vi tính
II CÁC LOẠI CÂU TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
II.1 Loại câu đúng - sai (hoặc câu có - không)
Loại này được trình bày dưới dạng một phát biểu và học sinh phải trả lời bằng cách lựa
chọn Đúng (Đ) hoặc Sai (S).
* Khuyết điểm:
câu ấy làm câu trắc nghiệm thì thường bị chê là tầm thường
chữ quen thuộc trong sách cũng đủ biết câu nào là đúng hay sai
tính đúng đắn hay sai tương đối của chúng
Việc sử dụng những câu phát biểu sai mà lại được trình bày như là đúng gây tác dụng tiêu cực và khiến cho học sinh có khuynh hướng tin và nhỡ những câu phát biểu sai
Loại câu này chỉ thích hợp cho việc kiểm tra những kiến thức sự kiện (mốc lịch sử, địa danh, tên nhân vật, ), cũng có thể dùng với các định nghĩa, khái niệm, công thức, tính chất vật lí, Chúng thường chỉ đòi hỏi trí nhớ, ít kích thích suy nghĩ, khả năng phân biệt học sinh giỏi và học sinh kém
Thí dụ: 1) Sự khử là quá trình nhường electron ?
2) Nitơ đioxit ở điều kiện thường là chất khí màu nâu đỏ?
Khi viết câu hỏi này cần nên chú ý:
đúng - sai.
• Tránh dùng những cụm từ như: tất cả, không bao giờ, không một ai, thường, đôi khi, có thể dễ dàng nhận ra ngay là đúng hay sai.
Trang 4II.2 Loại câu hỏi nhiều lựa chọn
Câu hỏi thuộc loại nhiều lựa chọn có hai phần: phần gốc và phần lựa chọn Phần gốc là một câu hỏi hay một câu bị bỏ lửng (chưa hoàn tất) Phần lựa chọn gồm một số (thường là 4 hay
5) câu trả lời hay câu bổ túc cho học sinh lựa chọn
Phần gốc, dù là câu hỏi hay câu bỏ lửng, phải tạo căn bản cho sự lựa chọn bằng cách đặt
ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho người làm bài có thể hiểu rõ câu trắc nghiệm ấy muốn hỏi điều gì để lựa chọn câu trả lời thích hợp
Phần lựa chọn gồm có nhiều lối giải đáp có thể lựa chọn Trong số đó có một lựa chọn
được dự định cho là đúng hay đúng nhất; còn những phần còn lại là những “mồi nhử” Điều quan trọng là làm sao cho những “mồi nhử” ấy đều hấp dẫn ngang nhau đối với học sinh chưa học kĩ hay chưa hiểu bài
Khi biên soạn câu trắc nghiệm này cần lưu ý:
• Phần gốc có thể là một câu hỏi hoặc một câu bị bỏ lửng và phần lựa chọn là phần bổ
sung để cho phần gốc trở nên đúng nghĩa Nội dung của câu hỏi phải rõ ràng, lời lẽ trong câu phải đơn giản, sáng sủa
• Phần lựa chọn nên có từ 3 đến 4 tình huống, tuỳ trình độ kiến thức và tư duy của học
sinh Chú ý sao cho câu trả lời và câu gài bẫy đều “hấp dẫn” như nhau Điều dễ gây nhầm
lẫn là câu đúng với học sinh hiểu kĩ hoặc chưa học bài kĩ Cần hiểu rằng những câu này
không nhằm mục đích gài bẫy mà là để phân biệt học sinh giỏi với học sinh kém Các câu nhiễu không đúng nhưng vẫn có vẻ hợp lí với học sinh kém hơn
trường hợp có thể thêm một phương án lựa chọn Không câu trả lời nào là đúng nhất hoặc hai câu trả lời nào đó đều là đúng nhất để học sinh còn lưỡng lự sẽ lựa chọn
Trong câu hỏi loại này không nên đặt câu hỏi đòi hỏi học sinh phải nhớ những tính chất vụn vặt hoặc phải tính toán dài dòng
câu đúng Điều này có nghĩa các câu phải phù hợp với trình độ học cấn được kiểm tra
Thí dụ:
1) Khí NH3 tan nhiều trong nước vì:
A là chất khí ở điều kiện thường
B có liên kết hidro với nước
C NH3 có phân tử khối nhỏ
D NH3 tác dụng với nước tạo ra môi trường bazơ
2) Để tinh chế NH3 có lẫn SO2 và CO2, người ta dẫn hỗn hợp đi qua
A dung dịch nước brom B CaO
C dung dịch H2SO4 đặc D dung dịch nước vôi trong dư
II.3 Loại câu đối chiếu từng cặp đôi
Câu kết hợp là một sự biến đổi của hình thức chọn một câu đúng Loại này thường gồm hai dãy thông tin Một dãy là những câu hỏi (hay câu dẫn) Một dãy là những câu trả lời (hay câu lựa chọn) Mỗi câu nhận định hay một từ ở dãy thứ nhất được kết hợp với một câu hay một
từ ở dãy thứ hai để trở thành một nhận định đúng Học sinh phải tìm ra từng cặp câu trả lời tương ứng với câu hỏi
yếu là kiến thức sự kiện, những thuật ngữ, định nghĩa, quy tắc và ví dụ
học sinh có thể nhầm lẫn
đề cuối cùng vẫn còn nhiều khả năng để lựa chọn, làm cho học sinh có sự cân nhắc kĩ để chọn câu cuối cùng
Trang 5• Thứ tự các câu trả lời không được ăn khớp với thứ tự các câu hỏi để gây thêm khó khăn khi lựa chọn Phải xác định hướng làm cơ sở cho việc kết hợp và chỉ rõ một câu trả lời chỉ được sử dụng một lần hay nhiều lần
Thí dụ: Hãy tìm ở cột bên phải tính chất của các nguyên tố được liệt kê ở cột bên trái:
đ) Chất lỏng có màu đỏ nâu e) Chất rắn màu vàng Đáp án: A-đ, B-d, C-a, D-c
Đó là một nhận định được viết dưới hình thức một mệnh đề không đầy đủ hay một câu hỏi được đặt ra trước người được kiểm tra Học sinh phải trả lời bằng một câu hay một từ
Các câu này còn được gọi là câu hỏi điền vào chỗ trống Loại câu này có ưu thế hơn các loại câu hỏi khách quan khác ở chỗ đòi hỏi học sinh phải tìm kiếm câu trả lời đúng hơn là nhận
ra câu trả lời đúng từ các thông tin đã cho.
Câu trả lời của loại câu hỏi này là dạng câu chưa hoàn thành Câu trả lời được để trống một phần (vài chữ hoặc cụm từ) Người trả lời phải điền nội dung theo ý riêng của mình cho là đúng
Loại trắc nghiệm này dễ xây dựng nhưng tính khách quan khi chấm bị giảm và do đó cũng khó chấm
Khi soạn câu hỏi này cần lưu ý:
sinh không phải đoán được từ (hoặc cụm từ) phải điền là dài hay ngắn
• Câu hỏi phải trực tiếp
Thí dụ:
1) Brom ở điều kiện thường là
2) là halogen ở điền kiện thường là chất khí có màu vàng lục.
Đáp án: 1 - là chất lỏng có màu đỏ nâu; 2 - Clo
Với câu hỏi 1), học sinh có thể trả lời “là chất lỏng” thì vẫn đúng nhưng tuỳ theo yêu cầu của người chấm mà có thể cho 100%, 75% hay 50% số điểm
II.5 Câu hỏi có đáp án đòi hỏi phải sắp xếp theo thứ tự
Loại này có nhiều câu trả lời ở mức độ khác nhau Người được kiểm tra phải xem xét từng câu và đánh dấu hoặc sắp xếp các câu trả lời theo số thứ tự từ mức độ hợp lý nhất đến mức
độ hợp lý hơn
Loại câu hỏi này thích hợp cho việc kiểm tra về một vấn đề có liên quan đến nhiều vấn đề khác, nó có thể là nguyên nhân hoặc kết quả của nhiều yếu tố khác Mà sự liên quan của các yếu
tố khác đến nó thường ở các mức độ ít nhiều khác nhau nhưng không thể loại bỏ được yếu tố nào
Thực ra loại câu hỏi trắc nghiệm này không được sử dụng nhiều như các loại trên, nguyên nhân là do việc soạn câu hỏi cầu kỳ mà câu trả lời nhiều kho mang tính chủ quan
Thí dụ: Hãy đánh số thứ tự các bước cân bằng một phản ứng oxi hoá - khử bằng phương pháp thăng bằng electron Bước 1 đánh số 1 và tiếp tục đánh số tiếp theo:
A Viết các quá trình oxi hoá và quá trình khử, cân bằng quá trình
B Tìm hệ số đồng thời của chất oxi hoá và chất khử sao cho số electron do chất khử nhường ra bằng số electron do chất oxi hoá thu vào
C Đặt các hệ số của chất oix hoá và chất khử vào phương trình phản ứng và kiểm tra lại
Trang 6D Xác định số oxi hoá của các nguyên tố trong phản ứng để tìm xem chất nào là chất oxi hoá, chất nào là chất khử
Đáp án: 1-D, 2-A, 3-B, 4-C
III ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN III.1 Ưu điểm
Kiểm tra trắc nghiệm là một phương pháp mới, nó có những ưu điểm sau:
khía cạnh khác nhau của kiến thức Mỗi câu hỏi thường có từ 3 đến 5 câu trả lời sẵn, yêu cầu học sinh chọn trong đó một câu trả lời mà họ cho là đúng nhất Công việc này mất rất ít thời gian, nhiều khi không đến một phút Do vậy dùng trắc nghiệm khách quan trong một thời gian ngắn có thể kiểm tra được nhiều kiến thức cơ bản của một chương trình học đối với nhiều học sinh
hướng học tủ, chỉ chăm vào kiến thức trọng tâm Nếu trong một tiết, với phương pháp kiểm tra truyền thống chỉ có vài ba câu hỏi thì với loại trắc nghiệm nhiều lựa chọn có thể nêu năm, sáu câu hỏi Số câu này ngày càng nhiều (trong phạm vi thích hợp) thì càng tăng thêm độ tin cậy trong đánh giá học sinh qua bài kiểm tra
hiệu là đủ
• Trắc nghiệm tốn ít thời gian thực hiện, đặc biệt là khâu chấm bài Biên soạn một bài trắc nghiệm mất rất nhiều thời gian và rất công phu nhưng khi tổ chức kiểm tra và chấm bài thì rất nhanh chóng Để chấm bài một lớp theo phương pháp truyền thống, giáo viên phải mất hàng ngày, hàng tuần tuỳ từng môn; nhưng đối với kiểm tra trắc nghiệm thì một giờ giáo viên có thể chấm hàng trăm bài, giảm nhẹ cho giáo viên dạy nhiều lớp Có thể áp dụng kiểm tra trên máy vi tính
Chấm bài trắc nghiệm do kết quả kiểm tra được xử lí theo mức độ đã được chuẩn hoá, đảm bảo tính khách quan, tránh được một số hiện tượng thiếu công bằng đánh giá kết quả kiểm tra hoặc bài thi
dung và do các mức đánh giá đã được chuẩn hoá, cho nên dễ sử dụng phương pháp thống kê toán học trong xử lí kết quả kiểm tra Vì thế có thể phát hiện được độ đồng đều trong kết quả kiểm tra của từng lớp học sinh
nghiệm vào máy kiểm tra kiến thức dạy học như chương một số phần mềm kiểm tra trắc nghiệm trong hoá học Thông qua các bài trắc nghiệm, giáo viên có thể đánh giá được kết quả học tập một cách tương đối khoa học và chính xác
thức kiểm tra mới so với hình thức kiểm tra truyền thống nên trắc nghiệm được học sinh yêu thích Việc chấm bài nhanh gọn, học sinh biết sớm kết quả làm bài của mình, có thể tự đánh giá và đánh giá kết quả bài làm của nhau Qua đó khuyến khích học sinh ghi nhớ, hiểu và phân tích được những ý kiến của người khác
Các câu hỏi trong bài trắc nghiệm thường có tính tổng hợp, khái quát, cho nên học sinh không chỉ dựa vào tài liệu ghi chép thuần tuý mà đòi hỏi các em phải tích cực, độc lập suy nghĩ
để trả lời Mỗi câu hỏi chỉ trả lời trong một thời gian ngắn cho nên buộc học sinh phải có thao tác tư duy nhanh, chính xác để trả lời Điều này giúp hạn chế quay cóp, sử dụng tài liệu, trao đổi Học sinh phải tập trung cao độ, suy nghĩ thật lực để làm bài mới kịp thời gian cho phép
Trong hệ thống câu hỏi, có 70 - 80% câu trả lời sai Nếu học sinh không nắm chắc bài học, không có sự liên hệ các theo tác tư duy như kỹ năng nhận xét, phán đoán một vấn đề, lĩ năng liên hệ so sánh trong quá trình học tập môn hoá học thì khó có thể làm tốt bài kiểm tra
Trang 7III.2 Hạn chế
Trắc nghiệm khách quan, tuy là một phương pháp mới, có nhiều ưu điểm, song bên cạnh
đó cũng có những hạn chế
So với phương pháp kiểm tra bình thường, phương pháp này không yêu cầu học sinh phải diễn đạt kiến thức dưới dạng hành văn Do đó không tránh khỏi tình trạng nhìn bài nhau hoặc đánh dấu một cách bị động trong lúc làm bài kiểm tra, cứ đánh liều một câu mà chưa có nhận định rõ ràng (đoán mò)
Trắc nghiệm đúng - sai có thể gây ra những ấn tượng sai lầm bất lợi cho đầu óc của trẻ,
nên hạn chế đưa ra những câu dẫn chứa đựng sai lầm
Trắc nghiệm gồm chủ yếu là những câu hỏi với những câu trả lời sẵn làm hạn chế phần nào tư duy sáng tạo của học sinh Như vậy, nếu sử dụng phương pháp kiểm tra dạng trắc nghiệm liên tục, kéo dài sẽ không có lợi cho việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt, cách lập luận một vấn đề bằng văn viết của học sinh
Trắc nghiệm chỉ cho thầy giáo biết kết quả suy nghĩ của học sinh mà không cho biết quá
trình suy nghĩ, nhiệt tình, hứng thú của học sinh đối với nội dung được kiểm tra Đây là nhược
điểm cơ bản của bài kiểm tra trắc nghiệm so với bài kiểm tra truyền thống Khi học sinh tự cấu trúc bài làm, các em sẽ có dịp để bộc lộ những khía cạnh tư tưởng, tình cảm, thái độ liên quan tới kiến thức được kiểm tra Còn trắc nghiệm nói chung yêu cầu trả lời kết quả lựa chọn, do đó ít góp phần phát triển ngôn ngữ và viết
Tuy còn những nhược điểm nhất định nhưng trắc nghiệm là một phương pháp thuận lợi nhất giúp cho việc vận dụng toán học vào đánh giá một hiện tượng giáo dục phức tạp, là một quá trình thu nhận kiến thức, kỹ năng Phương pháp trắc nghiệm này sẽ ngày càng được quan tâm nhiều hơn trong sự phát triển của chương trình giảng dạy và hoàn thiện các phương pháp kiểm tra đánh giá kiến thức của học sinh Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là sự ứng dụng ngày càng rộng rãi của máy tính trong nhà trường và phát triển phần mềm dạy học, trắc nghiệm sẽ được giáo viên và học sinh sử dụng ngày càng rộng rãi,
mở rộng phạm vi tác dụng bằng những loại hình thích hợp Trắc nghiệm được sử dụng trong đánh giá tổng kết Tuy nhiên, trắc nghiệm không phải là một phương pháp vạn năng, không thể thay thế hoàn toàn cho phương pháp kiểm tra truyền thống mà cần được sử dụng phối hợp với chúng một cách hợp lý mới đem lại kết quả cao
IV QUY TRÌNH SỬ DỤNG TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN HỌC
IV.1 Chuẩn bị câu hỏi
IV.1.1 Những yêu cầu chung trong việc xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Muốn xây dựng và sử dụng trắc nghiệm khách quan, điều đầu tiên phải xác định xem ta định đánh giá cái gì ? Vấn đề gì ? Từ đó sẽ xác định dùng loại trắc nghiệm nào Trong giáo dục người ta thường chia ra nhiều loại:
+ Trắc nghiệm đánh giá kết quả tiếp thu kiến thức, kỹ năng
+ Trắc nghiệm đánh giá kết quả giáo dục thông qua hành vi, thái độ
+ Trắc nghiệm đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên
+ Trắc nghiệm đánh giá chất lượng tài liệu
Sau khi xác định được loại trắc nghiệm, ta cần phải xác định được hoàn cảnh đánh giá, hiểu được hoàn cảnh đánh giá sẽ giúp chúng ta xác định được yêu cầu của nội dung đánh giá và
có biện pháp đánh giá đúng
Ví dụ:
- Muốn đánh giá hiệu quả của việc truyền thụ kiến thức, ta phải đánh giá được mức độ hiểu biết của đối tượng trước và sau khi truyền thụ.
- Xác định đối tượng đánh giá: Phải biết được sẽ tiến hành kiểm tra với đối tượng học sinh nào Đặc điểm đối tượng kiểm tra sẽ chi phối nội dung, hình thức, có khi cả phương pháp kiểm tra - đánh giá Mỗi loại đối tượng cần phải có loại câu hỏi trắc nghiệm cho phù hợp.
Trang 8- Cuối cùng, sau khi làm sáng tỏ ba yêu cầu trên, người ta mới chia loại công cụ để kiểm tra nội dung có phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh Cứ như vậy ta mới hy vọng đạt được kết quả kiểm tra đúng và có những kết luận đúng trên cơ sở định lượng Tuy nhiên phải xác định rõ ràng dù bằng cách nào công cụ đánh giá cũng phải tạo được điều kiện để có thể đánh giá dễ dàng, mang lại kết quả khách quan, đáng tin cậy.
IV.1.2 Soạn câu hỏi kiểm tra trắc nghiệm
Việc soạn câu hỏi trắc nghiệm cần được thực hiện theo hướng phát huy được những mặt mạnh và hạn chế những mặt yếu của phương pháp trắc nghiệm Không đơn giản là soạn câu hỏi nào đấy, tìm lời giải để có câu trả lời đúng, rồi viết thêm đôi ba câu nhử là ta có một câu trắc nghiệm
Trong khi soạn câu trắc nghiệm cần chú ý một số điểm sau:
+ Số câu trả lời: Trong một câu trắc nghiệm, số câu trả lời không phải là quan trọng nhất.
Nó có thể là 3, 4 hoặc 5 Các bài kiểm tra trắc nghiệm thường chọn 4 câu trả lời (tình huống)
+ Hình thức trình bày: Câu trắc nghiệm cần thiết phải được trình bày thống nhất, không
thay đổi để học sinh không bối rối và có thể ảnh hưởng đến kết quả đánh giá
+ Ngôn ngữ: Câu hỏi phải rõ ràng và cô đọng lại trong một dạng câu hoàn chỉnh.
+ Dữ kiện liên quan: Thông thường chỉ nêu các dữ kiện liên quan trong câu trắc nghiệm.
Các dữ kiện không liên quan có thể gây khó khăn cho câu trắc nghiệm mà không giúp đánh giá hiểu biết của học sinh
+ Tính độc lập của câu trắc nghiệm: Mỗi câu trắc nghiệm phải độc lập với mọi câu hỏi
trong bài kiểm tra Thông tin cung cấp ở câu hỏi này vô ý có thể gợi ý để trả lời đúng cho một câu trắc nghiệm khác Điều này không loại bỏ việc hình thành nhiều câu trắc nghiệm trên một
dữ kiện chung
+ Gợi ý dùng từ: Vài cấu trúc ngữ pháp và từ cho phép người làm kiểm tra tinh ý có thể
bớt các câu trả lời kém phù hợp để xác định câu trả lời đúng mà không cần hiểu biết tường tận
về nội dung kiến thức được hỏi
+ Câu trả lời: Các câu trả lời cũng phải rõ ràng, hợp lý và phải lường trước được khả
năng nhầm lẫn hoặc tính toán sai Các câu trả lời cũng phải được xếp theo thứ tự sao cho không
có gợi ý nào cho câu trả lời đúng Các câu trả lời cần có dạng ngữ pháp giống nhau Cần phân bố câu trả lời đúng với tỉ lệ như nhau ở các thứ tự
IV.2 Chuẩn bị bài kiểm tra
IV.2.1 Ra đề
Khi đã có một hệ thống câu trắc nghiệm rồi thì việc sắp xếp chúng thành một bài kiểm tra cũng là việc khá quan trọng Trước hết phải xác định thời gian kiểm tra là 15 phút hay 45 phút hay kiểm tra học kì để ấn định số câu hỏi cho hợp lí Và tuỳ theo mức độ khó dễ để định ra số thời gian làm bài của từng câu hỏi
Trong một bài kiểm tra cần lưu ý sắp xếp sao cho đầy đủ các dạng câu hỏi trắc nghiệm Sắp xếp như vậy làm cho học sinh không nhàm chán mà nội dung bài kiểm tra thêm phong phú,
đa dạng
Cần tránh sự sắp xếp các câu trả lời đúng theo một quy luật ở các câu trả lời
IV.2.2 In - sao đề
Khác với bài kiểm tra truyền thống, đề của bài kiểm tra được chép lên bảng hoặc lên giấy
và học sinh tự chuẩn bị giấy kiểm tra, chép lại đề và làm vào giấy kiểm tra của mình Còn bài kiểm tra trắc nghiệm thì đề và đáp án đều làm trên một tờ giấy mà giáo viên giao cho bằng cách dùng ký hiệu đánh dấu vào các phương án trả lời có sẵn
Khi in đề cần lưu ý:
tra môn gì, thời gian
Trang 9• Những yêu cầu đối với mỗi loại câu hỏi phải được in đậm, số thứ tự các câu hỏi và câu trả lời cần được in đồng nhất, khoảng cách trả lời phải được tính toán sao cho phù hợp và bằng nhau
lượng học sinh, không in thừa để đảm bảo tính khách quan, chính xác
IV.3 Tiến hành kiểm tra
Giáo viên phát đề cho từng học sinh trực tiếp hoặc nhờ 1,2 học sinh phát giùm cho nhanh nhưng cần phải đếm số tờ với số học sinh Trong quá trình kiểm tra, giáo viên quan sát học sinh làm bài
Một số điểm cần lưu ý khi tiến hành kiểm tra trắc nghiệm:
• Cần ổn định trật tự lớp, tránh tình trạng lộn xộn làm mất đề kiểm tra
• Khi thu bài cần cẩn thận để tránh tình trạng làm rơi bớt một số tờ trong bài kiểm tra vì kiểm tra trắc nghiệm thường có đề rất dài
IV.4 Chấm bài kiểm tra trắc nghiệm
Chấm bài kiểm tra trắc nghiệm là một việc làm đơn giản và nhanh gọn Giáo viên đối chiếu đáp án sau đó đối chiếu từng bài làm của học sinh với bài mẫu, gạch bỏ những câu trả lời sai rồi tính câu trả lời đúng và cho điểm Có thể dùng bảng đục lỗ tấm bìa, trình bày theo kích cỡ như phiếu làm bài, nhìn qua các lỗ đục, nếu đúng là câu trả lời đúng để tăng hiệu quả lao động Ngày nay, người ta có thể tiến hành kiểm tra trên máy vi tính và máy tính cho điểm báo ngay kết quả
V CHẤT LƯỢNG CỦA CÁC CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM CỦA ĐỀ THI TRẮC NGHIỆM
Để đánh giá chất lượng của các câu trắc nghiệm hoặc của đề thi trắc nghiệm, người ta dùng một số đại lượng đặc trưng:
V.1 Độ khó
Khái niệm đầu tiên có thể lưu ý đến là độ khó của câu trắc nghiệm Khi nói đến độ khó, hiển nhiên phải xem câu trắc nghiệm là khó với đối tượng nào Nhờ việc thử nghiệm trên các đối tượng thí sinh phù hợp người ta có thể đo độ khó bằng tỉ lệ phần trăm thí sinh làm đúng câu trắc nghiệm đó trên tổng số thí sinh dự thi Ký hiệu là “K”
Số người trả lời đúng câu i
Trị số K của câu i = 100%
Số người làm bài trắc nghiệm
Việc sử dụng trị số K làm số đo lường độ khó của câu trắc nghiệm bao hàm nhiều ý nghĩa quan trọng Thứ nhất, nó cho thấy rằng thay vì định nghĩa độ khó theo các đặc tính nội tại nào
đó của câu trắc nghiệm, người ta có thể định nghĩa nó căn cứ vào tần số tương đối của số người
làm trắc nghiệm đã trả lời đúng câu hỏi ấy Thứ hai, tính chất khó - dễ là một đặc tính của câu
trắc nghiệm lẫn người làm trắc nghiệm Và trị số K có ý nghĩa quan trọng nhất ở chỗ nó cho ta một thứ đo lường chung độ khó của các câu trắc nghiệm về nhiều lĩnh vực hoàn toàn khác nhau
V.2 Độ phân biệt
Khi một câu hay một bài trắc nghiệm cho một nhóm thí sinh nào, người ta thường muốn
phân biệt trong nhóm ấy những người có năng lực khác nhau: giỏi, trung bình, kém, Khả năng
của câu trắc nghiệm thực hiện được sự phân biệt ấy được gọi là độ phân biệt Muốn cho câu hỏi
có độ phân biệt, phản ứng của nhóm thí sinh giỏi, thí sinh kém lên câu hỏi đó hiển nhiên là phải
Trang 10khác nhau Người ta thường thống kê các phản ứng khác nhau để tính độ phân biệt Ký hiệu là P
và được tính như sau:
Số thí sinh giỏi làm đúng - Số thí sinh kém làm đúng
P = 100%
Tổng số thí sinh mỗi nhóm
Phân hai nhóm như sau: Nhóm giỏi gồm có xấp xỉ 27% của toàn nhóm có điểm số cao
nhất Nhóm kém gồm có số bài tương đương với 27% có số điểm thấp nhất
Độ phân biệt của một câu hỏi hoặc một bài trắc nghiệm liên quan đến độ khó Thật vậy, nếu một bài trắc nghiệm dễ đến mức các học sinh đều làm tốt các điểm số đạt được chụm ở phần điểm cao, thì độ phân biệt của nó rất kém vì mọi học sinh đều có phản ứng như nhau đối với bài trắc nghiệm đó Cũng vậy, nếu một bài trắc nghiệm khó đến mức tất cả học sinh đều không làm được, các điểm số đạt được đều ở phần điểm thấp thì độ phân biệt của nó rất bé
Từ các trường hợp nói trên có thể suy ra rằng muốn có độ phân biệt tốt thì bài trắc nghiệm phải có độ khó ở mức trung bình Khi đó điểm số thu được của cả nhóm sẽ trải rộng ra
V.4 Độ giá trị
Yêu cầu quan trọng nhất của một bài trắc nghiệm với tư cách là một phép đo lường giáo dục là phép đo ấy đo được cái cần đo Nói cách khác, phép đo ấy cần phải được mục tiêu đề ra cho nó Chẳng hạn, mục tiêu đề ra cho tuyển sinh đại học là kiểm tra xem thí sinh có nắm chắc những kiến thức và kỹ năng cơ bản được trang bị qua chương trình trung học phổ thông hay không để chọn vào đại học Phép đo bởi bài trắc nghiệm đạt được mục tiêu đó là phép đo có giá trị Nói cách khác, độ giá trị của một bài trắc nghiệm là đại lượng biểu thị mức độ đạt được mục tiêu đề ra cho phép đo nhờ bài trắc nghiệm
Để bài trắc nghiệm có độ giá trị cao, thì cần phải xác định tỉ mỉ mục tiêu cần đo qua bài trắc nghiệm và bám sát mục tiêu đó trong quá trình xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cũng như khi tổ chức triển khai kỳ thi Nếu thực hiện quá trình nói trên không đúng thì có khả năng kết quả của phép đo sẽ phản ánh một cái gì khác chứ không phải cái mà người ta muốn đo nhờ bài trắc nghiệm
Có nhiều phương pháp để xác định độ giá trị của bài trắc nghiệm hoặc kỳ thi Chẳng hạn,
để xác định độ giá trị của một kỳ thi tuyển sinh đại học người ta xem xét kỳ thi đó có lực chọn được những học sinh có khả năng học đại học hay không, có thể bằng cách tính xem kết quả tuyển sinh của một nhóm thí sinh nào đó có tương quan chặt chẽ với kết quả học tập ở đại học của nhóm thí sinh đó hay không
Trong bốn đại lượng đặc trưng đó, người ta có thể nói đến độ khó, độ phân biệt của một bài trắc nghiệm nào đó hoặc của cả bài trắc nghiệm; còn đối với độ tin cậy và độ giá trị thì người
ta thường nói đến các đại lượng đặc trưng đó đối với toàn bộ bài trắc nghiệm, hoặc thậm chí đối với cả một kỳ thi
Qua định nghĩa về độ phân biệt và độ giá trị, chúng ta có thể thấy rõ mối tương quan giữa chúng Khi bài trắc nghiệm không có độ tin cậy tức là phép đo nhờ bài trắc nghiệm rất kém chính xác, thì chúng ta không thể nói đến độ giá trị của nó Nói cách khác, khi bài trắc nghiệm không có độ tin cậy thì nó cũng không thể có độ giá trị