1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Lời thì thầm của hai cây phong

14 321 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 142 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thế , tôi muốn được trình bày một vài ghi nhận , rút kinh nghiệm của mình ít nhiều liên quan đến ngôn từ của Nguyễn Trãi và nội dung giảng dạy văn bản NƯỚC ĐẠI VIỆT TA.. Nhìn ch

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

CỦA NGUYỄN TRÃI TRONG VĂN BẢN

NƯỚC ĐẠI VIỆT TA

Người thực hiện : Đoàn Ngọc Phương Năm học 2014 – 2015

PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO QUẬN TÂN BÌNH

TRƯỜNG THCS NGÔ QUYỀN

Trang 2

PHẦN GIỚI THIỆU



I / - Tên sáng kiến kinh nghiệm :

CHỮ NGHĨA VÀ TẦM TƯ TƯỞNG CỦA NGUYỄN TRÃI trong văn bản Nước Đại Việt ta

II / - Tác giả :

Giáo viên Đoàn Ngọc Phương

III / - Đơn vị hoặc tập thể , cá nhân có liên quan đến

việc thực hiện , vận dụng SKKN :

- Giáo viên Ngữ văn

- Học sinh lớp 6,7,8,9

IV / - Thời gian thực hiện : năm học 2014-2015

V / - Không gian , thời gian áp dụng :

- Lớp 6,7,8,9 theo phân phối chương trình

I/ Đặt Vấn Đề :

Thôn xa phụ lão cười vang đọc

Đại cáo bình Ngô chật kín đình

Trang 3

( Hiền Anh – Báo Nhân Dân 5/10/1980 )

Đó là không khí những ngày giáp tết Mậu Thân ( Bình Ngô đại cáo được

viết vào cuối tháng chạp năm Đinh Mùi – 1448 ) ) , Đông Quan mười năm trong tay giặc nay lại về ta Chợ tết đông vui lắm , nào là hoa tết , câu đối tết … và

chắc chắn người người vòng trong vòng ngoài nô nức chen nhau đọc bản Bình

Ngô đại cáo dán ở các cửa ô ; các cụ đồ , thầy khoá đua nhau mua giấy chép về

ngâm ngợi …

Gần 600 năm kể từ ngày ấy Hôm nay chúng ta đọc Bình Ngô đại cáo

( BNĐC ) trong một hoàn cảnh lịch sử khác , mà vẫn thấy cuốn hút bởi nhịp văn , hơi văn của bài cáo , xúc động lạ thường ! Quả thật, BNĐC phản ánh trong nó cả một cuộc chiến đấu , cả một thời đại , cả nhận thức và tâm huyết của cả dân tộc

ơ û thế kỷ 15 Một áng văn ngang tầm lịch sử, ngang tầm dân tộc Nhưng nếu không có chữ nghĩa và tầm tư tưởng của Nguyễn Trãi , liệu BNĐC có được sức sống vĩnh hằng đó ? Tất nhiên , cái lớn cái hay của một tác phẩm thể hiện ở nhiều yếu tố , nhưng trước tiên phải là ở chất liệu ngôn ngữ Người xưa có câu :

Nhất tự thiên kim Chữ của Nguyễn Trãi đúng là như vậy, đáng giá ngàn vàng !

Chính vì thế , tôi muốn được trình bày một vài ghi nhận , rút kinh nghiệm của mình ít nhiều liên quan đến ngôn từ của Nguyễn Trãi và nội dung giảng dạy văn bản NƯỚC ĐẠI VIỆT TA

II- Triển khai vấn đề :

A- KINH NGHIỆM THỰC TẾ :

NƯỚC ĐẠI VIỆT TA ( NĐVT) là một bài học tưởng dễ mà thật ra rất

khó Nhìn chung , nội dung bài học có 2 luận điểm chính :

- Nguyên lý nhân nghĩa

- Chân lý về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của của dân tộc Đại Việt

Về nghệ thuật , sách giáo viên (SGV ) nhấn mạnh sức thuyết phục trong

lập luận của Nguyễn Trãi : Chặt chẽ , có sự kết hợp giữa ly ùlẽ và thực tiễn

Điểm thuận lợi là bản dịch khá thoát , giữ được nhịp điệu , ý văn , lời văn hào hùng, sảng khoái

Cái khó ở chỗ : đây là văn học Trung đại , đối với lứa tuổi họcsinh lớp 8 và ở thế kỷ 21, ít nhiều các em không khỏi cảm thấy đôi chỗ xa lạ, thậm chí có thể cho là khô khan khó hiểu , không hứng thú Hơn nữa , câu chữ cũng rất “bác

học” đối với các em : nguyên lý , chân lý về sự tồn tại độc lập có chủ quyền …

Sau khi nghiên cứu kỹ tài liệu , chuẩn bị , thể hiện bài học và thu thập

ý kiến đóng góp , tôi rút ra một số điểm như sau :

1 / Để các em hiểu và cảm thụ văn học cổ , truyền cảm tới các em

lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc cũng như sức thuyết phục trong nghệ thuật lập luận của tác giả , có lẽ trước hết cần giúp các em hiểu được ngôn

Trang 4

từ của văn bản đó , tác giả đó ( Ở đây , chỉ đề cập Nguyễn Trãi và văn bản

NĐVT )

- SGV cũng đã lưu ý những khái niệm quan trọng : Chữ nhân , chữ

nghĩa , chữ văn hiến ( SGV / 92 ), chữ Ngô trong nhan đề bài cáo (SGV / 93 ) Tuy

nhiên, đọc kỹ SGV có thể thấy một vài chỗ chưa thoả đáng

- Chữ thứ nhất là chữ Ngô trong Bình Ngô đại cáo Bấy giờ giặc

Minh xâm lưôc nước ta Tại sao Nguyễn Trãi không viết Bình Minh đại cáo , mà lại viết nhan đề là Bình Ngô đại cáo ? Là một nhà văn , nhà thơ lớn, Nguyễn Trãi còn là tác giả của cuốn Dư địa chí , mà nội dung của nó cho thấy người viết phải

có một sự uyên bác thâm sâu về phong tục , tập quán , địa lý nhiều dân tộc khác

nhau ( người nước Nam không nên mặc y phục như người nước Ngô , Chiêm , Xiêm

Chân Lạp …) Nguyễn Trãi nhầm lẫn chăng khi viết nhan đề cho một sự kiện

lớn mang ý nghĩa lịch sử trọng đại của cả dân tộc ?

Có 2 cách hiểu Cách hiểu thứ nhất : Ông tổ nhà Minh là Chu Nguyên Chương khởi nghiệp ở đất Ngô ( Theo SGV) Cách hiểu thứ 2 : Thời Tam Quốc, nước Ngô cai trị nước ta nửa thế kỷ Từ đó có cách gọi giặc Trung Quốc là giặc Ngô Cách hiểu thứ 2 có cơ sở thuyết phục hơn Thứ nhất là vì sử sách Trung Quốc không bao giờ gọi nhà Minh là nhà Ngô hay nước Trung Quốc

là nước Ngô Thứ hai , trong cuốn Dưới gốc me vườn Nguyễn Huệ , có đoạn viết

về lời hát trong hội trận Đền Bà Triệu có câu :

Sa cơ Lục Dận cuống cuồng

Nát gan tướng khách tan hồn quân Ngô

Thơ Hồng Đức nói về chiến thắng Bạch Đằng cũng viết :

Rửa không thay thảy thằng Ngô chạy

Giã mỏi lâng lâng khách Việt hầu

Theo học giả Mai Quốc Liên : Trong dân gian , từ xa xưa cũng đã

có những thành ngữ quen thuộc : Đầu Ngô mình Sở , hí hửng như Ngô được vàng

Tên gọi đó ,vì lý do lịch sử , có hàm chứa sự căm thù, khinh ghét nhưng không hề có ý kỳ thị chủng tộc Với cách gọi như vậy , Ngô trở thành một bộ phận của Trung Quốc Mà Trung Quốc bấy giờ là một nước hùng mạnh nhất thế giới Nguyễn Trãi đã nhìn xa trông rộng, nắm rõ thế địch ta , hướng tới tương lai của dân tộc , đểõ sáng tạo ra một từ Ngô vừa khẳng định ý chí quyết thắng vừa gìn giữ tình hoà hiếu giữa hai dân tộc

- Chữ thứ 2 : Văn hiến – SGVõ / tr 92 xác định : Văn hiến theo nghĩa

chữ Hán là sách vở và người hiền tài , hiểu chung là văn hoá , văn minh của một đất nước Bên cạnh đó , khi gợi ý phân tích ý 2 , SGV cũng chốt : Điều mà kẻ xâm lược luôn tìm cách phủ định ( văn hiến nước Nam ) thì chính lại là thực tế , tồn tại với sức mạnh của chân lý khách quan Từ đó , có thể suy ra một cách

khái quát : Sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại Việt chính là ở chỗ

Đại Việt vốn tồn tại một nền văn hiến đã lâu Mà biểu hiện cụ thể của nền văn

Trang 5

hiến đó là : ta có lãnh thổ riêng , phong tục riêng , truyền thống lịch sử riêng ,

chủ quyền riêng , và hào kiệt đời nào cũng có

Vậy , khi phân tích những yếu tố thể hiện ý thức dân tộc trong đoạn trích , có thể có sự lẫn lộn , trùng lặp - Nếu cho đây là những yếu tố độc lập và bình đẳng với nhau thì : Ý thức dân tộc = Văn hiến + núi sông + phong tục + lịch

sử … Tôi cho rằng văn hiến là từ có nghĩa rộng , bao hàm nghĩa của các từ núi

sông (bờ cõi ), phong tục, lịch sử … Nghĩa là : Ý thức dân tộc = Văn hiến ( núi

sông , phong tục , lịch sử… ) Có ý kiến cho rằng núi sông , bờ cõi không thuộc phạm trù văn hiến Nhưng cần hiểu văn còn có nghĩa là vẻ đẹp Núi sông , bờ

cõi là lãnh thổ, là vẻ đẹp của một đất nước , là mồ hôi nước mắt của Tổ tiên dày

công khai phá , bảo vệ và giữ gìn , tại sao không phải là văn hoá , văn minh của dân tộc đó ? Hào kiệt đương nhiên là người hiền tài Còn đế ( nghĩa cụ thể : vua

- nghĩa khái quát : hàm ý khẳng định chế độ, chủ quyền của dân tộc ) vừa thuộc phạm trù văn , vừa thuộc phạm trù hiến Tất nhiên , không nhất thiết phải phân tích rạch ròi các từ tố Hán Việt , nhưng có thể thấy núi sông, phong tục , lịch sử ,

đế , hào kiệt cùng thuộc một trường từ vựng Văn hiến

Để các em hiểu thấu đáo những chữ này, tôi nghĩ khi cần thiết thì GV

cũng phải diễn giảng , không thể máy móc cho như thế là áp đặt HS , vì ngôn

ngữ văn học Trung đại có thể nói là có phần xa lạ , khó hiểu với độ tuổi của các

em

2/ Câu hỏi 6 trong SGK gợi ý tổng kết bài học bằng sơ đồ khái quát trình

tự lập luận của Nguyễn Trãi Tôi tiếp thu được một ý kiến rất hay là kết hợp

phần ghi bảng ban đầu với phần vẽ sơ đồ Được vậy ,bài học rất gọn , mạch lạc

và dễ nhớ Nhưng muốn có sự kết hợp khéo léo như vậy , buộc phải bỏ qua cách ghi bảng thông thường Nghĩa là không thể ghi nguyên văn từng câu rồi gạch dưới những chi tiết chính ( như dạy thơ ), vì sơ đồ chỉ cần ngắn gọn , dễ hiểu

3 / Để tránh trường hợp có thể trình bày bài học theo lối diễn dịch và

câu chữ quá dài dòng khó hiểu đối với các em thì các đề mục trong phần tìm

hiểu văn bản có thể trình bày theo lối qui nạp , nghĩa là chỉ gợi chứ không mở Cụ thể là

- Ý1 : Nguyên lý nhân nghĩa ( SGV ) – có thể thay bằng Nêu nguyên

lý Như vậy , vừa khái quát thao tác lập luận ( nêu ) vừa khái quát luận điểm

( nguyên lý ) Còn nội dung nguyên lý và cách nêu nguyên lý như thế nào sẽ được triển khai sau Song song đó , cần giúp các em hiểu chữ nguyên trong

nguyên lý có nghĩa là cái gốc , cái cơ sở ban đầu , đồng nghĩa với nguyên trong nguyên nhân , nguyên cớ … khác với nguyên trong nguyên vẹn Lý là lý lẽ , là điều đúng , điều phải ( Tích hợp Từ Hán Việt ) Như vậy , nguyên lý ở đây là cái nền tảng , là cái gốc của chính nghĩa mà dựa vào đó nhân dân Đại Việt chiến

đấu và chiến thắng Nói cách khác , nêu nguyên lý là Nguyễn Trãi nêu cao mục

Trang 6

đích và lý tưởng chiến đấu của nhân dân Đại Việt : Ta chiến đấu cho ai ? Vì ai ? Và nhờ đâu mà chiến thắng ?

- Ý 2 : Chân lý về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại

Việt – có thể thay bằng Khẳng định độc lập chủ quyền của dân tộc Tương tự như

đã trình bày ở ý 1 , trước hết là khái quát thao tác và nội dung chính , sau đó mới hướng dẫn HS thấy được cụ thể Nguyễn Trãi khẳng định độc lập chủ quyền của

ta như thế nào

- Ý 3 : không có luận điểm cụ thể , chỉ là thao tác chứng minh cho ý 1, 2 Nhưng không ghi đề mục thì cuối bài HS sẽ khó chốt được trình tự lập

luận thành sơ đồ Nếu ghi Khẳng định sức mạnh của nhân nghĩa , sức mạnh của

độc lập dân tộc thì dài dòng và hơi lộ ý Tôi thử đơn cử một đề mục : Hệ quả

{Quan hệ nhân quả giữa các đoạn rất rõ : Từng nghe , ta có lập trường chính nghĩa (ý 1 ) , ta có độc lập chủ quyền ( ý 2) – Vậy nên , ta chiến thắng ( ý 3 )}

Dựa vào thực tế giảng dạy và những điều vừa đúc kết ,tôi thiết kế lại bài

học và nhận thấy tính hợp lý và hiệu quả của nó có thể chấp nhận và vận dụng được ở cả các lớp trung bình , khá , giỏi Cụ thể như sau :

B – GIÁO ÁN MINH HOẠ :

Tuần 25

Bài 24

Tiết 97

I – MỤC TIÊU CẦN ĐẠT : Giúp hs

- Thấy được đoạn văn có ý nghĩa như một bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc ta ở thế kỷ 15

- Thấy được sức thuyết phục của nghệ thuật văn chính luận Nguyễn Trãi : lập luận chặt chẽ , kết hợp lý lẽ và thực tiễn

- Rèn kĩ năng đọc văn biền ngẫu , tìm và phân tích luận điểm , luận cứ

II – CHUẨN BỊ :

Trích “ Bình Ngô đại cáo”- Nguyễn Trãi

Trang 7

-Tích hợp : lịch sử , bài Sông núi nước Nam , Phò giá về kinh , Tuyên ngôn độc

lập của nước VNDCCH (1945),Ngữ pháp : Từ Hán Việt , Trường từ vựng , TLV: văn nghị luận

- Giáo án điện tử

III – TIẾN TRÌNH LÊN LỚP :

1 Kiểm tra bài cũ : Chiếu là gì ? Hịch là gì ?

2 Giới thiệu bài mới : Hôm nay cô giới thiệu với các em một thể văn chính luận cổ nữa thuộc thể loại cáo Trước khi vào bài học , ai có thể cho cô biết chúng ta đã học một tác phẩm nào , của tác giả nào , được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta ? …  Chúng ta lại ngược dòng lịch sử , sống lại hào khí của cha ông vào thế kỷ 15 với bản tuyên ngôn độc lập thứ hai qua bài NĐVT trích trong BNĐC của Nguyễn Trãi

3 Hoạt động của thầy và trò :

Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Ghi bảng

* HĐ 1 : Đọc , tìm hiểu

CT

? Các em đã học một số

tác phẩm của NT ở lớp

7-> Cho biết vài nét về

tác giả ?

- Nhấn mạnh : NT là vị

anh hùng dân tộc , có

công lớn trong sự

nghiệp bình Ngô phục

quốc ; là người toàn

tâm toàn đức toàn tài ,

tính tình cương trực nên

nịnh thần ghen ghét ,

cuối đời bị án oan tru di

tam tộc ; ông còn là một

văn hào lớn và là danh

nhân văn hoá TG

- hướng dẫn hs đọc VB

? Văn bản thuộc thể

loại nào ? -> Cáo là gì ?

? Xuất xứ của văn bản ?

? Em biết gì về tác

phẩm Bình Ngô đại cáo

- Trả lời (SGK7)

- Giọng hào hùng , chú

ý đọc hơi liền mạch từng cặp câu biền ngẫu

- Trả lời theo chú thích và theo hiểu biết (xuất xứ , bố cục , vị trí đoạn trích … )

I ĐỌC,TÌM HIỂU CT

- Tác giả ( SNV 7 )

- Thể loại : cáo

Trang 8

- DG bổ sung :

* Nhan đề BNĐC có

nghĩa là bài cáo có qui

mô lớn nói về việc dẹp

yên giặc Ngô - > Triều

đại Trung Quốc lúc bấy

giờ là nhà Minh , tại sao

Nguyễn Trãi lại viết là

Ngô ? -> Ngô ở đây có 2

cách hiểu :

+ Ông tổ của nhà

Minh là CNC dấy

nghiệp từ đất Ngô

+ Thời Tam Quốc ,

nước Ngô cai trị nước ta

nửa thế kỷ , từ đó có

cách gọi TQ là giặc

Ngô -> Cách hiểu thứ 2

có cơ sở thuyết phục

hơn

( theo Mai Quốc Liên …

-> Chữ Ngô cho thấy

tầm nhìn xa trông rộng

của Nguyễn Trãi )

? Đoạn trích có thể chia

làm mấy phần ? ( Nếu

các em tìm được ý 1 , có

thể hỏi hoặc diễn giảng

thêm : nguyên lý là gì ?)

* HĐ 2 : Tìm hiểu nội

dung văn bản :

- Cho hs đọc 2 câu đầu

? Nguyên lý mà NT nêu

ra là tư tưởng gì ?

? Em hiểu nhân nghĩa là

gì ?

- Diễn giảng : Là một

trí thức Nho giáo , nhân

nghĩa của NT cũng bao

- 2 phần : + Hai câu đầu : Nêu nguyên lý ( cơ sở , mục đích , lý tưởng chiến đấu của cuộc kháng chiến )

+ Còn lại : Khẳng định độc lập , chủ quyền dân tộc

- Thực hiện

- Tư tưởng nhân nghĩa

- Theo Nho giáo, Nhân

chỉ sự tương thân , tương ái giữa người với

người Nghĩa là đạo lý ,

là lẽ phải

II-TÌM HIỂU VĂN BẢN

1)Nêu nguyên lý :

- nhân nghĩa :

Trang 9

hàm lẽ đó nhưng ông

còn khai thác nội dung

nhân nghĩa theo chiều

hướng có lợi cho dân

tộc -> Cụ thể ,theo NT ,

cái gốc của nhân nghĩa

cốt là làm việc gì ?

? Ở đây, dân là ai ? Kẻ

bạo ngược là ai ?

? Triết lý đó cho thấy tư

tưởng NN của NT gắn

liền với tình cảm , lý

tưởng gì của dân tộc ta ?

* Chuyển : Sau khi nêu

rõ nguyên lý thể hiện

lập trường chính trị ,

phần tiếp theo , NT

khẳng định điều gì ?

? Độc lập , chủ quyền

của ta trước hết được

khẳng định bởi yếu tố

nào ? Câu văn nào cho

biết điều đó ?

? Văn hiến là gì ?

? Theo Nguyễn Trãi ,

văn hiến nước Nam

biểu hiện cụ thể như thế

nào ở những câu tiếp

theo ?

? Về bề dày lịch sử , NT

nhắc đến những triều

đại nào của nước ta

từng xưng đế một

phương ?

? Em biết gì về các

triều đại này ?

? Những triều đại này

bình đẳng với những

triều đại nào củaTQ ?

- Cốt là yên dân ,trừ

bạo ( tiêu trừ bạo

ngược, đem lại hạnh phúc cho dân )

- Trả lời

Nhân nghĩa gắn với tình cảm yêu nước chống xâm lược , với lý tưởng và đường lối chính trị : chiến đấu vì nhân dân

- Trả lời ( ý 2 )

- Yếu tố văn hiến ->

Như nước Đại Việt ta … văn hiến đã lâu

- Theo chú thích

- Văn : ta có phong tục ,

bờ cõi riêng , bề dày

lịch sử riêng ( các triều đại ) , ta có chủ quyền ,

chế độ riêng ( xưng đế )

Hiến : hào kiệt đời nào cũng có.

- Trả lời

- Dựa theo chú thích

- Trả lời

- Liệt kê, so sánh -> Ta ngang hàng với Trung

yên dân trừ bạïo

== > Lập trường chính trị : lấy dân làm gốc

2) Khẳng định độc

lập , chủ quyền :

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông … phong tục … lịch sử đế hào kiệt

-> + Liệt kê , so sánh

Trang 10

? Đó là biện pháp nghệ

thuật gì ? -> Tác dụng ?

? Những từ từ trước ,

vốn , đã lâu , cũng khác

… là những từ mang tính

chất như thế nào ?

CH Thảo luận

Nhiều ý kiến cho

rằng ý thức dân tộc

ở đoạn trích Nước

Đại Việt ta là sự tiếp

nối và phát triển ý

thức dân tộc ớ bài

thơ Sông núi nước

Nam Vì sao ?

(Đồng thời hiển thị bài

thơ Sông núi nước Nam

và đoạn trích ( phần 1 )

của văn bản Nước Đại

Việt ta để hs đối chiếu

so sánh những yếu tố

thể hiện ý thức dân tộc

trong 2 bản tuyên

ngôn )

* Chuyển : Và để làm

sáng tỏ điều vừa khẳng

định , NT đã đưa ra

những dẫn chứng từ

thực tiễn lịch sử Đoạn

văn này được mở đầu

bằng từ ngữ nào ?

? Từ ngữ Vậy nên cho

thấy đoạn văn có quan

hệ gì với các đoạn trước

, ý trước ?

? Nếu trong bản tuyên

ngôn độc lập thứ nhất ,

Quốc về trình độ chính trị, tổ chức , chế độ quản lý quốc gia

- Mang tính hiển nhiên , không thể phủ nhận được

- Thảo luận ( Phương án chung : Ýthức dân tộc

của SNNN được xác định

ở 2 yếu tố : lãnh thổ và

chủ quyền ( sơn hà ,

đế ) Đến BNĐC , 3 yếu

tố nữa được bổ sung :

phong tục , lịch sử , hào

kiệt -> So với thời Lý ,

triết lý của NT toàn diện và sâu sắc hơn == >

Khẳng định Văn hiến

nước Nam là điều kẻ thù xâm lược luôn tìm cách phủ nhận thì đó chính lại là thực tế hiển nhiên , tồn tại như một chân lý tất yếu , khách quan

-Mở đầu [3 ] : Vậy nên

-> [1,2] –[3] : Nhân - quả

- Lưu Cung ,Triệu Tiết : thất bại , tiêu vong Toa Đô ,Ô Mã: bị bắt

+ Từ ngữ mang tính hiển nhiên

== > Độc lập chủ quyền của ta là chân lý

3 - Hệ quả :

- Lưu Cung , Triệu Tiết

… Toa Đô ,Ô Mã

Ngày đăng: 14/10/2015, 07:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w