1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận sinh thái đất ngập nước ao tôm sinh thái

19 382 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 633 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, rừng giữ nước, hạn chế lũ lụt, giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước mặt và nước ngầm tạo điều kiện Trải dài trên nhiều vĩ tuyến và có khí hậu th

Trang 1

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lâp-tự do-hạnh phúc

BÀI TIỂU LUẬN MÔN: SINH THÁI ĐẤT NGẬP NƯỚC

AO TÔM SINH THÁI

Sinh viên : Nguyễn Hoàng Diệu Linh Lớp : K53 khmt

Trang 2

MỤC LỤC

Ι Tổng Quan……….3

ΙΙ Khu vực nghiên cứu……….6

ΙΙΙ Nội dung………13

1 Khái niệm ao tôm sinh thái………

2 Quy trình vận hành………

3 Lợi ích và hạn chế của mô hình………

ΙV Kết Luận………18

Trang 3

Ι TỔNG QUAN:

Rừng là “cá thể duy nhất vừa bảo đảm đất giàu, vừa điều hòa được nước và lụt, vừa phát sinh hơi nước, vừa tồn trữ cacbon, vừa thanh lọc không khí, vừa điều hòa nhiệt độ, vừa chứa động vật và thực vật, vừa làm đẹp cảnh quan” Thật vậy, rừng không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội mà còn giữ cân bằng môi trường sinh thái Không chỉ cung cấp gỗ, các dược liệu quý giá, động thực vật có giá trị, tạo môi trường sinh thái cho du lịch, rừng còn bảo vệ đất tránh xói mòn, bảo vệ bầu khí quyển, giúp môi trường trong lành hơn Mặt khác, rừng giữ nước, hạn chế lũ lụt, giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước mặt và nước ngầm tạo điều kiện

Trải dài trên nhiều vĩ tuyến và có khí hậu thay đổi từ nhiệt đới phía nam đến á nhiệt đới ở vùng cao phía Bắc, hệ sinh thái rừng Việt Nam, nhất là rừng ngập mặn có tính đa dạng sinh học rất cao Lượng mùn bã phong phú của rừng ngập mặn là nguồn thức ăn dồi dào cho nhiều loài động vật ở nước Đây là nơi nuôi dưỡng không chỉ nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm biển, cua, cá bớp, sò, ốc hương mà còn là nơi cư trú và kiếm

ăn của nhiều loài bò sát quí hiếm như cá sấu, kỳ đà hoa, rùa biển Đặc biệt rừng ngập mặn

là nơi làm tổ, kiếm ăn, nơi trú đông của nhiều loài chim nước, chim di cư trong đó có một

số loài đang bị đe dọa tuyệt chủng như loài Cò Mỏ Thìa (Xuân Thủy)

Trang 4

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, rừng ngập mặn đóng vai trò như một dải đê thiên nhiên, ngăn chặn và bảo vệ rất hiệu quả miền duyên hải trước sự dâng cao của nước biển

Hệ thống rễ chằng chịt trên mặt đất thu hút và giữ lại các trầm tích, góp phần mở rộng đất liền ra phía biển, nâng dần đất lên; mặt khác chúng là hàng rào ngăn giữ những chất ô nhiễm, các kim loại nặng từ các sông đổ ra biển, bảo vệ các sinh vật vùng ven bờ Tuy nhiên, hệ sinh thái rừng ngập mặn hiện nay đang bị suy thoái nghiêm trọng do những lợi ích kinh tế trước mắt, đặc biệt là hiện tượng chặt phá rừng lấy đất nuôi tôm xuất khẩu

Do chưa hình dung hết tác hại của việc chặt phá rừng, nhiều người đã vô tình hay cố ý làm cho những cánh rừng này ngày càng bị suy thóai nghiêm trọng, huỷ hoại môi trường, làm suy giảm mức sống và đe dọa tính mạng của nhiều người dân nghèo ven biển Mất rừng ngập mặn là mất nơi sống, nơi sinh sản, vườn ươm của nhiều loài động vật dưới

Trang 5

nước và trên cạn

Tàn phá rừng dẫn đến hàng lọat các hậu quả nghiêm trọng đến bầu khí quyển, đến sản xuất, thiên tai và việc bảo tồn đa dạng sinh học Tỷ lệ rừng bị phá sẽ tỷ lệ nghịch với lượng CO2 trong không khí Tỷ lệ khí CO2 trong không khí lại tỷ lệ thuận với sự phát triển của hoạt động lao động, sản xuất của con người Các khu công nghiệp tăng, phương tiện đi lại tăng…đang thải vào không khí lượng CO2 rất lớn, không có rừng lượng khí này sẽ tích tụ dẫn đến nguy cơ thủng tầng khí quyền Theo đó là hiện tượng nóng lên của trái đất Băng ở hai cực đều tan và hiện tượng thiên tai lũ lụt cũng thường xuyên xảy ra hơn Phá rừng sẽ làm hơi nước trong đất bị bốc đi, đất trở nên cằn cỏi và hiện tượng đất trọc do tác động gió mặt trời Khi mưa xuống đất trở nên dễ bị xói mòn Khi đất trở nên chai cứng, xói mòn thì độ phì trong đất mất đi, các thảm thực vật cũng mất Điều này sẽ tác động trở lại đất, làm đất thêm xói mòn và khô cằn Phá rừng còn làm giảm tính đa dạng sinh học và phá hủy cảnh quan Những loài động vật không còn chỗ sống, nhiều loại bị tiệt chủng Mất rừng ngập mặn sẽ đẩy mạnh sự xâm nhập nước mặn vào đất liền, thúc đẩy quá trình xói lở, gây ô nhiễm đất và nguồn nước…

Trang 6

Cuộc sống của người dân các vùng đất ngập nước nói riêng , cuộc sống của toàn thể chúng ta nói chung đang bị đe dọa trầm trọng Vấn đề cấp thiết được đặt ra là phải tìm các biện phải bảo vệ và phục hồi môi trường các vùng đất ngập nước Công tác phục hồi càng khó khăn hơn khi nước ta còn nghèo , người dân còn không đủ cơm ăn áo mặc chứ chưa nói đến đóng góp khôi phục môi trường Như vậy, chúng ta phải biết kết hợp giữa việc đảm bảo kinh tế cho người dân mà vẫn đảm bảo môi trường phát triển Phát triển kinh tế, tạo nguồn sống cho bà con với việc bảo vệ mooit rường là công tác khó khăn cần được có kế hoạch cụ thể và sự phối hợp các ban ngành đoàn thể, cộng them đó là sự phát triển về khoa học để giảm bớt các tác động xấu hơn

ΙΙ VƯỜN QUỐC GIA XUÂN THỦY

Điều kiện tự nhiên:

1, Vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng

Tổng diện tích theo địa giới hành chính của 5 xã là 4023,67 ha Đất đai tự nhiên được thành tạo từ nguồn phù sa bồi lắng của sông Hồng Vật chất bồi lắng gồm hai loại hình chủ yếu: bùn phù sa (cố kết dần trở thaàh lớp đất thịt) và cát lắng đọng (tích hợp và lắng đọng tạo thành các giồng cát kéo dần ra phía biển theo hướng Tây – Nam) Bao gồm

2 vùng với đặc điểm thổ nhưỡng như sau

- Vùng nội đồng: Đất phù sa không bị nhiễm mặn hoặc bị nhiễm mặn ở thể nhẹ và trung bình; đất tương đối màu mỡ hiện đang sử dụng chủ yếu để trồng lúa, màu, nuôi trồng thuỷ sản Đây cũng chính là nơi tập trung chủ yếu của dân cư 5 xã vùng đệm

- Vùng bãi bồi van biển: Đất mặn, thành phần thổ nhưỡng chủ yếu là bùn, đất pha cát; đất giàu chất dinh dưỡng và thích hợp với nhiều cây ngập mặn, đang được nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng; có khả năng canh tách đa dạng, khai thác nhiều sản phẩm và các đặc sản biển có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên vùng này chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tồ ngoại cảnh, tác động từ phía đại dương, thời tiết, gió bão, lốc lớn kèm theo sóng biển dâng cao khi triều cường

Trang 7

2, Khí hậu - thuỷ văn

Vùng ven biển có rừng ngập mặn ở huyện giao Thuỷ, tỉnh Nam Định có địa hình dốc từ Bắc xuống Nam, dài từ Tây sang Đông Độ cao trung bình từ 40,5 - 40,7 cm, điểm cao nhất là Cồn Lu có độ cao +1,5m so với mực nước biển

Khí hậu: Vùng ven biển giao Thủy nằm trong miền nhiệt đới gió mùa, khí hậu phân thành hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, trùng với mùa mưa; mùa lạnh từ tháng

11 đến tháng 3 năm sau, trùng với mùa khô

Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm 24oC; nhiệt độ cao nhất trong mùa hè 40,3oC; nhiệt

độ thấp nhất trong mùa đông 6,8oC ẩm độ trung bình 84%22 Một số mô hình sử dụng hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học

Lượng mưa: Trung bình năm 1700-1800m; Số ngày mưa trong năm là 133 ngày

Gió: Về mùa đông thịnh hành là hướng Bắc, đầu mùa hè là hướng Đông sau chuyển hướng Đông Nam và Nam Tốc độ gió: Mùa đông từ 3,2 - 3,9 m/s (trong đất liền 2,0-2,5m/s), mùa hè từ 4,0 - 4,5 m/s (trong đất liền 2,3-2,6m/s); tốc độ gió lớn nhất trong khi

có bão, giông tố lên

tới 45-50m/s (trên cấp 12)

Thủy văn: Độ mặn ven bờ bãi độ mặn biến đổi rất lớn từ 11-30‰ Sự biến thiên của độ mặn còn tùy thuộc vào các tháng trong năm và không gian cụ thể của từng vùng bãi Cự

li xâm nhập mặn ở hàm lượng 1‰ NaCl vào sâu tới 10km và ở hàm lượng 4‰ tới 5km

Thủy triều: Chế độ thủy triều ảnh hưởng rất sâu sắc đến hoạt động của người dân miền

biển Giao Thủy từ nuôi trồng đến khai thác thủy hải sản Vùng thuộc chế độ nhật triều, chu kỳ trên dưới 23 giờ, biên độ triều trung bình khoảng 150 – 180 cm, lớn nhất 3,3 m, nhỏ nhất 0,25 m Mực nước triều cao nhất vào mùa bão và phụ thuộc vào gió Biến thiên của thuỷ triều khoảng nửa tháng có 1 lần triều cường và 1 lần triều kém Đôi khi cũng

xảy ra 1 tháng 3 lần triều kém, 2 lần triều cường hoặc ngược lại (Phan Nguyên Hồng và

CS, 2004)

.Thổ nhưỡng: Đất đai tự nhiên toàn vùng cửa sông Hồng nói chung được thành tạo từ nguồn phù sa bồi (phù sa bồi lắng) của toàn bộ hệ thống sông Hồng Vật chất bồi lắng bao gồm 2 loại hình chủ yếu: Bùn phù sa và cát lắng đọng

Trang 8

Kinh tế-Xã hội:

1 Trình độ học vấn:

Theo như biểu đồ trên ta thấy trình độ cao như trung cấp, cao đẳng và đại học rất ít (hơn 3%) và tỷ lệ chủ hộ thất học (không đi học) là rất thấp (2,38%) Trình độ học vấn của các chủ hộ ở 5 xã phần lớn là học hết cấp 2 và cấp 3 (hơn 60%) Đây là trình độ có thể tiếp thu được các kỹ thuật sản xuất mới và thuận lợi cho các dự án dậy nghề cho lao động

nông thôn (số liệu điều tra 12/2008)

2 Nghê nghiệp : Với các hộ gia đình ở khu vực vùng đệm VQG Xuân Thủy, 83,76%

số chủ hộ làm nông nghiệp (trồng lúa), có 3,63% tham gia là thợ (thợ xây, mộc, ); 3,15% tham gia hoạt động trong các cơ quan nhà nước xã/thôn; 2,39% tham gia đánh cá biển, và số ít còn lại làm các nghề khác như: buôn bán, làm thuê, nuôi thuỷ sản, khai thác thuỷ sản tự do ngoài bãi Như vậy, các chủ hộ ở đây phần lớn là làm nông nghiệp nhưng đây là vùng ven biển chị ảnh hưởng của nhiều hiện tượng thời tiết bất thường Theo như người dân cho biết, trung bình một năm chịu ảnh hưởng trực tiếp từ 4-6 cơn bão, do đó

sản xuất nông nghiệp ở đây gặp rất nhiều khó khăn, không ổn định (số liệu điều tra

12/2008)

Trang 9

3 Hiện trạng các nguồn thu nhập :

Tuy từng loại nguồn thu nhập hay nghề nghiệp khác nhau mà đem lại các mức thu nhập khác nhau cho một hộ trong khu vực, nhưng nhìn chung nguồn thu/năm của các hộ gia

Trang 10

đình còn thấp Ví dụ như 2 nguồn thu thường xuyên của hộ là trồng lúa và chăn nuôi trong 1 năm chỉ thu được hơn 6 triệu đồng ; các nghề có nguồn thu nhập lớn (hơn 20 triệu/năm) như đánh cá biển, nuôi thuỷ hải sản, buôn bán, hay công chức nhà nước lại không phải là nguồn thu nhập phổ biến với các hộ trong khu vực

Với hiện trạng nguồn thu nhập như trên, nếu một hộ gia đình có 1-2 nguồn thu nhập (dưới 20 triệu/năm) sẽ không đủ cho cuộc sống hàng ngày vì mức chi phí cho sinh hoạt gia đình cao hơn nhiều lần Trung bình trong một tháng một hộ gia đình phải chi cho rất nhiều các khoản như: quần áo, thực phẩm, y tế, điện, nước, học phí, Và nếu tính trung bình khoảng 4,8 triệu đồng/tháng/hộ như vậy một năm một hộ gia đình phải chi khoảng

50 triệu Điều này giải thích tại sao vẫn có gần 20% số hộ phải vay tiền để mua lương thực phục vụ cho cuộc sống hàng ngày Trong đó 2 xã Giao Xuân và Giao An là hai xã

có tỷ lệ người phải vay tiền để mua lương thực nhiều nhất, chiếm lần lượt 34,58% và 28,57% Các tháng mà hộ phải vay rơi vào tất cả các tháng trong năm từ tháng 1 tới tháng

12, và thời gian vay trung bình khoảng 2 tháng trong một năm

Thu nhập từ các đầm tôm đứng thứ 2 trong bảng , như vậy sau các cánh đồng lúa thì các đầm tôm là sinh kế mang lại có thể nói là hiệu quả cho người dân Cụ thể hơn ta có Hiện trạng nuôi thủy sản của các hộ gia đình như sau :

(nguồn điều tra thực địa VQG Xuân Thủy 12/2008)

Trang 11

4 Tình hình nuôi trồng và đánh bắt thủy sản ở khu vực vùng đệm

Với việc đầm tôm mang lại cho người dân một thu nhập khá là sự lấn rừng, phá rừng ngập mặn làm thành các đầm tôm Ở Vườn Quốc gia Xuân Thủy là một ví dụ điển hình,

ta có thể so sanh với sơ đồ sau đây và có thể nhận thấy sự sử dụng tối đa hóa vùng đêm làm sinh kế phát triển kinh tế đã ảnh hưởng sâu sắc đến tài nguyên rừng ở vùng đệm nơi

mà rừng cũng cần được bảo về không kém phần quan trọng so với vùng lõi

Trang 12

Những nhu cầu cấp thiết về phát triển kinh tế nâng cao đời sống cho người dân song song với việc bảo tồn và trồng rừng, ta cần một giải pháp phù hợp đáp ứng với hai nhu cầu trên Tuy không phải phương án toàn diện nhưng mô hình ao tôm sinh thái đã đang và sẽ trở thành một mô hình hữu hiệu giải quyết vấn đề trên

Trang 13

ΙΙΙ Mô hình ao tôm sinh thái :

1 Khái niệm:

Ao tôm sinh thái là mô hình ao tôm trong khu rừng ngập mặn Mô hình này bước đầu nhằm trồng rừng ngập mặn bên cạnh việc nuôi tôm lấy cho phát triển kinh tế Mô hình này đã được nhân rộng ở nước ngoài và được giáo sư Lê Diên Dực là người đầu tiên nghiên cứu áp dụng thử nghiệm mô hình này tại Việt Nam năm 1990

Trang 14

Kênh đào: Một hệ thống kênh đào bao gồm kênh chính chạy xung quanh phía trong ao

và các kênh nằm ngang (kênh xương cá) Kênh chính này có chiều rộng 9m và dốc dần

về phía biển ở miệng cống có đặt một lưới chắn để giữ tôm, cá trong khi tháo nước ra Tiếp đến một cống điều tiết nước được đặt hướng ra biển Các kênh nằm ngang cũng

có chiều rộng 9m có tác dụng làm tăng độ thoáng cho tôm cá và tại điểm nối với kênh chính chúng có độ sâu bằng độ sâu của kênh chính 23 Một số mô hình sử dụng hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học

Các kênh chính và kênh ngang tạo ra các ô đất giữa chúng để trồng cây ngập mặn Độ sâu của kênh phụ thuộc vào độ chênh giữa đáy cống và mực nước triều thấp nhất và vào địa hình của từng vùng Hệ thống kênh này chiếm khoảng 20% diện tích ao nuôi

Cây trồng: Các cây trồng trong ao bao gồm: Sú (Aegiceras cornic-ulatum), Trang (Kandelia obovata), Bần (Sonneratia caseolaris) Cây ngập mặn sẽ được trồng ở các ô đất nằm lọt giữa các kênh Các ô đất này có độ cao bằng độ cao của nền ao đã bị hỏng có diện tích bằng 85% diện tích của ao Tuy nhiên cây sẽ chỉ được trồng trên 75% diện tích phần đất còn lại 5% là bãi trống được dùng làm nền bổ sung thêm thức ăn cho tôm, cá nuôi trong ao

Kỹ thuật trồng: Các cây ngập mặn này sẽ được trồng với khoảng cách như nhau Nếu trồng cây bằng quả thì khoảng cách thích hợp là 1m Sau đó tuỳ thuộc vào độ lớn của cây, tốc độ tạo tán có thể tỉa bớt các cây phát triển kém để tạo điều kiện cho các cây khác

có thể phát triển

tốt hơn

Nếu trồng bằng cây non thì khoảng cách tốt nhất là 2m Tuy nhiên khi trồng cây phải chú ý đến độ bằng phẳng tương đối của đáy ao Những chỗ trũng hơn thì trồng sú còn những chỗ cao hơn thì trồng trang

Sau một thời gian thử nghiệm trồng cây non theo quy cách trên, các cây cách nhau 2m trong mô hình ao cải tiến, các cây ngập mặn đã lên tốt Cây sú có độ cao trung bình 80cm sau thời gian trồng một năm Cây trang cũng có chiều cao trung bình từ 90-100cm Các cây này khi trồng vào ao đã có chiều cao trung bình từ 40-50cm Tỷ lệ sống của các cây trong ao khoảng 70% Nguyên nhân chủ yếu làm cây non chết là do tình trạng ô nhiễm

Trang 15

trong ao cũ chưa được hồi phục và do cây bị đứt rễ trong quá trình đào và vận chuyển Tuy nhiên, các cây ngập mặn này sau thời gian 5-6 tháng đã có tốc độ lớn xấp xỉ với tốc độ lớn trong điều kiện tự nhiên

2, Quy trình vận hành: Việc vận hành ao chủ yếu dựa vào chế độ thuỷ triều để tạo ra

mức nước lên xuống trong ao gần giống thuỷ triều tự nhiên và như vậy là thay nước ao nuôi.24 Một số mô hình sử dụng hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học

Tháo nước ra khỏi ao: Lợi dụng thuỷ triều xuống, mức nước bên ngoài thấp hơn trong ao,

mở cửa cống cho nước chảy ra ngoài Vì mương dốc dần từ phía đối diện với cống nên khi mở cửa cống nước sẽ chảy dốc dần ra cống và thoát ra biển cho đến khi tất cả các cây ngập mặn hở gốc thì đóng cửa cống lại tạo điều kiện tốt cho rễ khí sinh hô hấp Khi đó tôm, cá sẽ xuống trú dưới mương Nhưng có lưới chắn nằm trước cống nên chúng không thoát được ra biển mà bị giữ lại Hai mương nằm ngang ao cũng sẽ tạo ra hai luồng nước chạy ngang làm cho ao thêm thông thoáng Bằng cách tháo nước như vậy ta có thể thay nước cho ao thường xuyên và với lượng nước lớn (khoảng 3/4- 4/5)

Lấy nước vào ao: Khi triều lên cao, mức nước ở ngoài cao hơn ở trong ao, của cống được mở để lấy nước vào cho đến khi mực nước trong và ngoài ao bằng nhau thì đóng cửa cống lại Khi nước vào đầy ao thì tôm, cua, cá lại phát tán ra toàn ao và sinh sống gần như ngoài thiên nhiên

Cứ như vậy quy trình vận hành ao được tiếp diễn hàng ngày.Với quy trình như vậy cây ngập mặn có thể tồn tại và phát triển tốt trong ao nhờ việc lưu thông nước liên tục Ngoài

ra, việc lưu thông này còn đảm bảo độ mặn của nước trong ao và làm phong phú thêm lượng động, thực vật thuỷ sinh (có trong nước biển) Các sinh vật đáy như

giun nhiều tơ, ấu trùng của côn trùng thuỷ sinh v.v cũng cần có các chu kỳ hiếu khí và yếm khí mới sinh trưởng và phát triển được Đây là hai nguồn cung cấp thức ăn chính cho tôm và cá trong ao Do đó, thức ăn tự nhiên cho tôm cá trong ao này sẽ phong phú hơn rất nhiều so với ao theo kiểu cũ Đó chính là nguyên nhân làm tăng năng suất cho tôm cá

Ngày đăng: 10/10/2015, 17:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w