1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI GIẢNG LUẬT QUỐC TẾ

34 1,4K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 325 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI GIẢNG LUẬT QUỐC TẾ BÀI GIẢNG LUẬT QUỐC TẾBÀI GIẢNG LUẬT QUỐC TẾBÀI GIẢNG LUẬT QUỐC TẾBÀI GIẢNG LUẬT QUỐC TẾBÀI GIẢNG LUẬT QUỐC TẾBÀI GIẢNG LUẬT QUỐC TẾBÀI GIẢNG LUẬT QUỐC TẾBÀI GIẢNG LUẬT QUỐC TẾBÀI GIẢNG LUẬT QUỐC TẾBÀI GIẢNG LUẬT QUỐC TẾ

Trang 1

Bài: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LUẬT QUỐC TẾ

I- KHÁI NIỆM LUẬT QUỐC TẾ

hệ nhiều mặt (chủ yếu là quan hệ chính trị) giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau(trước tiên và chủ yếu là quốc gia) trong những trường hợp cần thiết được đảm bảo thựchiện bằng những biện pháp cưỡng chế riêng lẻ hoặc tập thể do chính các chủ thể của luậtquốc tế thực hiện kết hợp với sự đấu tranh của nhân dân và dư luận tiến bộ thế giới

2- Các đặc trưng của luật quốc tế

a- Trình tự xây dựng các nguyên tắc và các quy phạm pháp lý quốc tế

- Hệ thống pháp luật quốc gia do cơ quan lập pháp hoặc một số cơ quan chuyên biệtban hành theo thẩm quyền được quy định bởi pháp luật của quốc gia đó

- Hệ thống pháp luật quốc tế không có cơ quan, chuyên biệt thực hiện chức năng lậppháp quốc tế Con đường duy nhất để hình thành các nguyên tắc, quy phạm pháp luậtquốc tế là sự thỏa thuận giữa chủ thể của luật quốc tế mà trước tiên và chủ yếu là cácquốc gia với nhau

- Sự thỏa thuận hình thành các quy phạm pháp luật quốc tế dưới hình thức ký kếtcác điều ước quốc tế và thừa nhận các tập quán quốc tế

b- Đối tượng điều chỉnh

- Đối tượng điều chỉnh của luật quốc gia là các quan hệ nhiều mặt (kinh tế, văn hóa, khoahọc kỹ thuật ) diễn ra trong phạm vi một quốc gia

- Đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế là những quan hệ nhiều mặt trong đời sống quốctế: đó là các quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, nhưng chủ yếu lànhững quan hệ chính trị giữa những chủ thể của luật quốc tế với nhau Đây là nhữngquan hệ có tính chất “liên quốc gia” (vượt khỏi phạm vi của một quốc gia)

c- Chủ thể của luật quốc tế

- Chủ thể luật quốc gia là các thể nhân và pháp nhân, quốc gia là chủ thể đặc biệt.Trong khi đó chủ thể trước tiên và cơ bản của Luật quốc tế là các quốc gia có chủ quyền.Các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập; Các tổ chức quốc tế liên chính phủ (liên quốcgia) Thể nhân, pháp nhân và các tổ chức quốc tế phi Chính phủ không được thừa nhận làchủ thể luật quốc tế

d- Biện pháp bảo đảm thi hành luật quốc tế

- Luật quốc tế không có một hệ thống cơ quan chuyên biệt và cơ chế thực hiện vệccưỡng chế đảm bảo thi hành Các chủ thể của luật quốc tế tự thỏa thuận áp dụng các biệnpháp cưỡng chế hoặc tự mình áp dụng các biện pháp cưỡng chế trên cơ sở phù hợp vớiluật quốc tế

Trang 2

- Luật quốc tế tồn tại các biện pháp chế tài dưới hình thức riêng lẻ hoặc tập thê, baogồm các biện pháp chế tài về vũ trang và phi vũ trang.

- Riêng lẻ: chấm dứt quan hệ kinh tế, các đứt quan hệ ngoại giao, hủy bỏ quan hệ

điều ước, và trong trường hợp đặc biệt có quyền sử dụng vũ lực để đánh trả hành vi xâm

lược ( tự vệ hợp pháp); Tập thể: thực hiện trong khuôn khổ HC LHQ và theo quyết định

của HĐBA LHQ

II- NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI

- Nguồn của pháp luật là những hình thức biểu hiện sự tồn tại của các quy phạmpháp luật hay là những hình thức đặc biệt biểu hiện ý chí của giai cấp thống trị

- Nguồn của luật quốc tế là những hình thức biểu hiện sự tồn tại của những quyphạm pháp luật quốc tế do các chủ thể của luật quốc tế xây dựng nên trên cơ sở tựnguyện và bình đẳng Hiện nay, nguồn của luật quốc tế bao gồm:

2- Điều ước quốc tế

a- Khái niệm

- Điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau( trước tiên và chủ yếu là các quốc gia) trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng nhằm thiết lậpnhững quy tắc pháp lý bắt buộc gọi là những quy phạm luật quốc tế để ấn định, thay đổihoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với nhau

b- Điều kiện để điều ước quốc tế trở thành nguồn của luật quốc tế

- Được ký kết phù hợp với pháp luật của các bên ký kết về thẩm quyền về thủ tục

- Được ký kết trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng

- Có nội dung phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế

3- Tập quán quốc tế

- Tập quán quốc tế là những quy tắc xử sự chung hình thành trong thực tiễn quốc tế,được các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế thừa nhận rộng rãi là những quyphạm có tính chất pháp lý bắt buộc Một tập quán quốc tế được coi là quy phạm, nguồncủa luật quốc tế phải đáp ứng các dấu hiệu sau:

- Thứ nhất, phải là những quy tắc xử sự chung, hình thành trong quan hệ giữa các

quốc gia, được các quốc gia tuân thủ và áp dụng một cách tự nguyện

- Thứ hai, quy tắc xử sự được sử dụng lặp đi, lặp lại nhiều lần, trải qua quá trình lâu

Trang 3

b- Điều kiện trở thành nguồn của tập quán quốc tế

- TQQT phải được áp dụng qua một thời gian dài trong thực tiễn pháp lý quốc tế

- TQQT phải được thừa nhận rộng rãi như những quy phạm pháp ý có tính chất bắtbuộc

- TQQT phải có nội dung phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiệnđại

- Từ Nghị quyết của các tổ chức quốc tế

- Từ một tiền lệ duy nhất

- Từ các điều ước quốc tế

- Từ hành vi đơn phương của các quốc gia

tế

- Về mặt lý luận quy phạm điều ước và quy phạm tập quán đều có giá trị pháp lýngang nhau Việc áp dụng loại quy phạm nào để điều chỉnh các mối quan hệ giữa các chủthể của luật quốc tế với nhau là tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các chủ thể

- Tuy nhiên, trong trường hợp cùng một quan hệ cụ thể lại có cả quy phạm điều ước

và quy phạm tập quán cùng điều chỉnh thì các quốc gia đều ưu tiên áp dụng các quyphạm điều ước để giải quyết xuất phát từ những ưu điểm sau đây của quy phạm điều ước

+ Quy phạm điều ước là những quy phạm thành văn nên nó ghi nhận các quyền vànghĩa vụ của các bên một cách cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu hơn quy phạm tập quán.+ Quy phạm điều ước quốc tế được ghi nhận bằng văn bản nên nếu có tranh chấpxẩy ra các bên có chứng cứ pháp lý rõ ràng và có sức thuyết phục cao hơn

+ Quy phạm điều ước được hình thành một cách nhanh chóng, đáp ứng được nhịp

độ phát triển nhanh chóng trong quan hệ quốc tế ngày nay

quốc tế hiện đại

- Bên cạnh các nguồn cơ bản của luật quốc tế là Điều ước quốc tế và tập quán quốc

tế luật quốc tế còn có các loại nguồn bổ trợ khác như Phán quyết của Tòa án quốc tế;Nghị quyết của Đại hội đồng LHQ; Nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ;các nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế;các học thuyết về luật quốc tế

- Về nguyên tắc, các loại nguồn trên không là nguồn của luật quốc tế hiện đại nhưngchúng có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển của luật quốc tế Tất nhiên, chúngphải phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại

- Về mặt lý luận, luật quốc tế là một hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp lý

có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau và được phân định thành các chế định, cácngành luật cụ thể (hình thức cấu trúc bên trong) và được thể hiện dưới hình thức bênngòai là các lọai nguồn cơ bản là điều ước quốc tế và tập quán quốc tế cũng như cácnguồn bổ trợ khác

- Hiện nay, luật quốc tế hiện đại bao gồm các ngành luật chủ yếu sau đây:

+ Ngành luật điều ước quốc tế: là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật

quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế với nhau trong quá trình

ký kết và thực hiện điều ước quốctế

Trang 4

+ Ngành luật biển quốc tế: là là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật

quốc tế điều chỉnh chế độ pháp lý của các vùng biển, các họat động sử dụng biểncũng như bảo vệ môi trường biển và hợp tác giữa các chủ thể của luật quốc tế

+ Ngành luật ngọai giao và lãnh sự: là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp

luật quốc tế điều chỉnh quan hệ về tổ chức và họat động của các cơ quan quan hệđối ngọai nhà nước cùng các thành viên của cơ quan này, đồng thời điều chỉnh cácvấn đề về quyền ưu đãi và miễn trừ của tổ chức quốc tế liên chính phủ cùng thànhviên của nó

+ Ngành luật hàng không dân dụng quốc tế: là tổng thể các nguyên tắc và quy

phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế với nhautrong sử dụng khỏang không gian

+ Ngành luật kinh tế quốc tế: là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật

quốc tế điều chỉnh quan hệ kinh tế giữa các quốc gia và các chủ thể khác luật quốc

tế với nhau

+ Luật quốc tế về môi trường: là tổng thể các nguyêntắc và quy phạm pháp lý

quốc tế, điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau phát sinhtrong lĩnh vực bảo vệ môi trường quốc tế vì lợi ích chung của từng quốc gia và cảcộng đồng quốc tế

+ Ngành luật nhân đạo quốc tế: là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật

quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế với nhau trong giai đọanxung đột vũ trang nhằm hạn chế áp dụng các phương tiện và phương pháp tiếnhành chiến tranh; bảo hộ nạn nhân chiến tranh và xác lập trách nhiệm đối với cácchủ thể vi phạm các nguyên tắc, quy phạm đó của pháp luật quốc tế

III- MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬT QUỐC TẾ VÀ LUẬT QUỐC GIA

tế

- Luật quốc gia ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành và phát triển của luật quốc

tế thông qua sự tham gia của từng quốc gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế Luật quốcgia chi phối và thể hiện nội dung của luật quốc tế

- Nguyên nhân: mỗi quốc gia khi tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế đều cógắng đưa vào những nội dung, ảnh hưởng và lợi ích riêng của mình thông qua pháp luậtquốc tế Tuy nhiên, chúng lại tồn tại thông qua sự tồn tại ở những lợi ích chung xuất phát

từ quá trình hợp tác, đấu tranh và thương lượng

- Luật quốc gia chính là phương tiện thực hiện luật quốc tế – luật quốc tế chỉ có thể

có hiệu lực gián tiếp thông qua việc chuyển hoá vào luật trong nước

- Luật quốc gia cũng đóng vai trò là cơ sở đảm bảo cho các ngành luật truyền thốngcủa luật quốc tế tiếp tục phát triển, đồng thời tạo điều kiện vật chất cho sự hình thành vàphát triển của những ngành luật mới (luật hàng không dân dụng quốc tế, luật môi trừơngquốc tế, luật kinh tế quốc tế )

gia

- Luật quốc tế thúc đẩy quá trình phát triển và hoàn thiện pháp luật quốc gia Điềunày được thể hiện thông qua nghĩa vụ thực hiện luật quốc tế và việc chuyển hoá luật quốc

tế vào pháp luật quốc gia

- Làm luật quốc gia phát triển theo chiều hướng tiến bộ (ảnh hưởng của những

Trang 5

3- Mối quan hệ giữa quy phạm điều ước quốc tế

và quy phạm pháp luật quốc gia

- Quy phạm của luật quốc tế có giá trị ưu tiên hơn so với quy phạm pháp luật quốcgia

- Việc ban hành pháp luật trong nước phải phù hợp – không được viện dẫn pháp luậttrong nước để biện hộ cho việc không thực hiện các quy phạm luật quốc tế

IV- CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ

1- Khái quát chung

Tính bắt buộc chung (jus cogen nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là những qui

phạm mệnh lệnh, có giá trị cao nhất, bắt buộc đối với mọi chủ thể tham gia và mọi mốiquan hệ pháp luật quốc tế Chúng là là cơ sở để xây dựng các quy phạm điều ước và cácquy phạm tập quán và là tiêu chí để xác định tính hợp pháp của các quy phạm luật quốc

tế

Là những quy phạm mang tính chất phổ biến (được thừa nhận rộng rãi: Các nguyên tắc

cơ bản của luật quốc tế được các quốc gia và các chủ thể luật quốc tế thừa nhận một cáchrộng rãi và chúng dược ghi nhận trong các văn bản pháp lý quan trọng

Tính bao trùm:Nội dung của các nguyên tắc cơ bản được thể hiện trong tất cả các mặt,

các lĩnh vực của đời sống quốc tế

Tính kế thừa khoa học: Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế không được hình thành

cùng một lúc, có những nguyên tắc được nghi nhận từ lâu đời nhưng có những nguyêntắc mới chỉ được ghi nhận Chúng thể hiện nội dung ngày càng tiến bộ của Luật quốc tế,đồng thời, thể hiện sự đấu tranh về quyền lợi giữa các quốc gia, giữa các hệ tư tưởng,phản ánh một quá trình đấu tranh lâu dài

Có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau trong một chỉnh thể thống nhất: Các nguyên tắc cơ

bản của luật quốc tế được hiểu và áp dụng trong một tổng thể với sự liên hệ mật thiết vớinhững nguyên tắc khác của luật quốc tế Nguyên tắc này là hệ quả và là sự đảm bảo chonhững nguyên tắc khác

c- Hệ thống các nguyên tắc cơ bản

- Hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế đựoc ghi nhận trong Hiến chươngLHQ, Tuyên bố ngày 24/10/1970 của Đại Hội đồng LHQ và trong rất nhiều văn kiệnpháp lý quốc tế quan trọng Hiện nay, luật quốc tế thừa nhận 7 nguyên tắc sau đây :

+ Cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế+ Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình+ Bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia

+ Không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác+ Các dân tộc có quyền tự quyết

+ Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau+ Tôn trọng các cam kết quốc tế

Trang 6

2- Nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực

a- Khái niệm vũ lực trong quan hệ quốc tế

- Thuật ngữ vũ lực được hiểu trước tiên là sức mạnh vũ trang Do đó, sử dụng vũ lực

(use of force) chính là sử dụng lực lượng vũ trang (use of armed force) để chống lại quốc

gia độc lập có chủ quyền Việc sử dụng các biện pháp khác như kinh tế, chính trị (phi vũtrang) chỉ được coi là dùng vũ lực nếu kết quả của nó dẫn đến việc sử dụng vũ lực(giántiếp sử dụng vũ lực)

- Những hành động dùng lực lượng vũ trang không nhằm tấn công xâm lược nhưng đểgây sức ép, đe dọa quốc gia khác như tập trung quân đội (hải, lục, không quân) với sốlượng lớn ở biên giới giáp với các quốc gia khác; tập trận ở biên giới nhằm biểu dươnglực lượng đe dọa quốc gia láng giềng; gửi tối hậu thư đe dọa quốc gia khác được coi là

đe dọa dùng vũ lực

b- Nội dung của nguyên tắc

- Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia hoặc dùng vũ lực vũ trang vượt qua biên giới tiếnvào lãnh thổ quốc gia khác

- Cấm cho quân vượt qua các giới tuyến quốc tế (giới tuyến ngừng bắn hoặc giới tuyếnhòa giải)

- Tham gia vào lực lượng liên quân theo quyết định của HĐBA LHQ trongtrường hợp có sự đe dọa hòa bình, phá hoại hòa bình hoặc hành vi xâm lược (Điều 39Hiến chương LHQ)

- Các nước thuộc địa và phụ thuộc dùng sức mạnh vũ trang để tự giải phóngmình, chống chủ nghĩa thực dân Điều này phù hợp với Hiến chương LHQ (nguyên tắccác dân tộc bình đẳng và tự quyết) và không trái với nguyên tắc cấm dùng sức mạnh

3- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình

- Nguyên tắc này hiện nay là phương pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế Quátrình hình thành nguyên tắc gắn liền với quá trình hình thành của nguyên tắc cấm dùng

vũ lực và đe dọa dùng vũ lực Được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế: Điều2.3 Hiến chương LHQ, Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng LHQ

a- Các biện pháp hòa bình

- Các biện pháp hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế (Điều 33 Hiếnchương LHQ) là các phương tiện, cách thức mà các chủ thể của Luật quốc tế có nghĩa vụphải sử dụng để giải quyết các tranh chấp, bất đồng để duy trì hòa bình, an ninh quốc tế,phát triển hòa bình, hợp tác giữa các nước

Trang 7

- Các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp quốc tế hiện nay bao gồm:

+ Đàm phán trực tiếp (negotiation)

+ (Ủy ban) điều tra (enquiry), môi giới/trung gian (mediation), (ủy ban) hòa giải

(conciliation)

+ Các biện pháp tư pháp: trọng tài, tòa án quốc tế

+ Các tổ chức quốc tế và Hiệp định khu vực

+ Các biện pháp hòa bình khác do các bên lựa chọn

b- Nội dung của nguyên tắc

- Các quốc gia có nghĩa vụ giải quyết các tranh chấp chỉ bằng phương pháp hòabình

- Các quốc gia có quyền lựa chọn những phương pháp hòa bình cụ thể như đàmphán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, thông qua các tổ chức hoặc hiệpđịnh khu vực hoặc bằng những phương pháp hòa bình khác mà các bên tự chọn

- Các quốc gia giải quyết tranh chấp trên cơ sở bình đẳng về chủ quyền, hiểu biết vàtôn trọng lẫn nhau

4- Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác

a- Khái niệm công việc nội bộ và can thiệp vào công việc nội bộ

- Công việc nội bộ là công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mỗi quốc giađộc lập xuất phát từ chủ quyền của mình Công việc nội bộ của quốc gia bao gồm cảcông việc đối nội và công việc đối ngoại Khái niệm công việc nội bộ không đồng nhấtvới khái niệm lãnh thổ Một số vấn đề diễn ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia nhưngkhông phải là vấn đề nội bộ (quyền con người)

- Can thiệp vào công việc nội bộ được thể hiện dưới hai hình thức sau:

Can thiệp trực tiếp: Dùng áp lực quân sự, chính trị, kinh tế và các biện pháp

khác khống chế quốc gia khác trong việc thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đểnhằm ép buộc quốc gia đó phải phụ thuộc vào mình

Can thiệp gián tiếp: Là các biện pháp quân sự, kinh tế - tài chính,… do quốc gia tổ

chức, khuyến khích các phần tử phá hoại hoặc khủng bố nhằm mục đích lật đổchính quyền hợp pháp của quốc gia đó hoặc gây mất ổn định cho tình hình chínhtrị, kinh tế, xã hội nước này

b- Nội dung của nguyên tắc

- Cấm can thiệp vũ trang và các hình thức can thiệp hoặc đe dọa can thiệp khácnhằm chống lại quyền năng chủ thể hoặc nền tảng chính trị, kinh tế và văn hóa của quốcgia khác

- Cấm dùng những biện pháp kinh tế, chính trị, và các biện pháp khác để buộccác quốc gia khác phải phụ thuộc vào mình

- Cấm tổ chức hoặc khuyến khích, giúp đỡ các nhóm vũ trang vào hoạt động pháhoại, khủng bố trên lãnh thổ nước khác nhằm lật đổ chính quyền của quốc gia đó

- Cấm can thiệp vào cuộc đấu tranh nội bộ của quốc gia khác

- Tôn trọng quyền của mỗi quốc gia tự chọn cho mình chế độ kinh tế, chính trị,văn hóa, xã hội không có sự can thiệp của các quốc gia khác

c- Trường hợp ngoại lệ

- Khi có xung đột vũ trang nội bộ : HĐBA LHQ có quyền can thiệp trực tiếp

hoặc gián tiếp vào cuộc xung đột vũ trang nội bộ ở quốc gia nào đó mà nếu để tiếp tục

Trang 8

kéo dài sẽ gây ra mất ổn định trong khu vực, đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế (Điều39).

- Vi phạm nghiêm trọng các quyền cơ bản của con người : HĐBA LHQ có

quyền can thiệp khi có vi phạm nghiêm trọng các quyền cơ bản của con người: phân biệtchủng tộc, diệt chủng

5- Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ phải hợp tác với nhau

- Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau trong lĩnh vực duy trì hòa bình và anninh quốc tế

- Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác trong việc thúc đẩy các vấn đề toàn cầu nhưquyền con người và các quyền tự do cơ bản khác, và loại bỏ tất cả các hình thức phânbiệt chủng tộc và tôn giáo;

- Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa,

xã hội, kỹ thuật và thương mại phù hợp với nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và khôngcan thiệp vào công việc nội bộ;

- Các quốc gia thành viên của LHQ có nghĩa vụ liên kết và chia sẻ hành độnghợp tác với LHQ phù hợp với Hiến chương

6- Nguyên tắc quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc

a- Khái niệm dân tộc và quyền tự quyết

- Khái niệm “dân tộc” được hiểu với khái niệm “quốc gia – dân tộc” là một khốithống nhất gồm nhiều dân tộc có những đặc điểm chung về truyền thống, văn hóa, ngônngữ cũng như quá trình lịch sử chung Khái niệm dân tộc đấu tranh giành quyền tựquyết được hiểu là một dân tộc đứng lên đấu tranh chống lại một quốc gia, dân tộc khácđang thống trị, nô dịch mình để thành lập một quốc gia độc lập

b- Nội dung của nguyên tắc

- Các dân tộc có quyền được thành lập quốc gia độc lập

- Tự do lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế - xã hội và văn hóa Tự giảiquyết vấn đề đối nội và đối ngoại không có sự can thiệp từ bên ngoài, tự do lựa chọn conđường phát triển

- Các dân tộc thuộc địa có quyền sử dụng mọi biện pháp cần thiết để đấu tranhgiành độc lập

7- Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia

a- Khái quát chung

- Chủ quyền quốc gia là thuộc tính chính trị - pháp lý vốn có của quốc gia, thểhiện quyền tối cao của quốc gia trong lãnh thổ của mình và quyền độc lập trong quan hệquốc tế

- Trong lãnh thổ của mình, quốc gia có quyền tối cao về lập pháp, hành pháp và

tư pháp, tự do lựa chọn cho mình phương thức thích hợp nhất để thực thi quyền lực.Trong quan hệ quốc tế, mỗi quốc gia có quyền tự quyết định chính sách đối ngoại màkhông cần sự can thiệp của quốc gia khác

b- Nội dung của nguyên tắc

Trang 9

- Mọi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ và tận tâm các nghĩa vụ quốc tế củamình và tồn tại hòa bình cùng các quốc gia khác.

8- Nguyên tắc tận tâm thực hiện cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda)

- Đây là nguyên tắc cổ xưa nhất trong Luật quốc tế Nguyên tắc này được ghinhận trong Hiến chương LHQ (Điều 2.2), Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ướcquốc tế; tuyên bố năm 1970,

a- Nội dung

- Mỗi quốc gia có nghĩa vụ phải thực hiện một cách tận tâm, thiện chí và đầy đủcác nghĩa vụ điều ước quốc tế của mình, đó là: Các nghĩa vụ phát sinh từ Hiến chươngLHQ; Các nghĩa vụ phát sinh từ các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế; Các nghĩa vụphát sinh từ các điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên

- Các quốc gia thành viên điều ước quốc tế không được viện dẫn các qui định củapháp luật trong nước để coi đó là nguyên nhân từ chối thực hiện nghĩa vụ của mình

- Các quốc gia không được ký kết điều ước quốc tế mâu thuẫn với nghĩa vụ củamình trong điều ước quốc tế đã ký với các quốc gia khác

- Khi những điều kiện để thi hành cam kết quốc tế đã thay đổi một cách cơ bản

(resbus sic stantibus)

- Khi một bên không thực hiện nghĩa vụ điều ước của mình

- Khi xảy ra chiến tranh (trừ các cam kết về lãnh thổ quốc gia, biên giới quốcgia, )

-Bài: LÃNH THỔ VÀ BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRONG LUẬT QUỐC TẾ

I- LÃNH THỔ QUỐC GIA

1- Khái quát chung

- Lãnh thổ quốc gia là một phần của trái đất bao gồm vùng đất, vùng nước, vùng trời trênchúng và lòng đất dưới chúng thuộc chủ quyền hoàn toàn của một quốc gia nhất định

- Lãnh thổ quốc gia bao gồm các bộ phận cấu thành sau đây:

+ Vùng đất+ Vùng nước+ Vùng trời+ Vùng lòng đất

a- Vùng đất

- Vùng đất của quốc gia bao gồm toàn bộ phần đất liền và các hải đảo thuộc chủ quyền củaquốc gia (kể cả các đảo gần bờ và xa bờ)

Trang 10

- Đối với các quốc gia quần đảo thì vùng đất của quốc gia và tập hợp các đảo thuộc chủquyền của quốc gia đó

- Đối với các quốc gia tiếp giáp với bắc cực thì vùng đất của quốc gia bao gồm cả phầnhình rẻ quạt nằm trong khu vực bắc cực Vùng đất này được xác định bằng cách nối điểmcực bắc với hai điểm tận cùng của đường biên giới nằm kề cận bắc cực

- Vùng đất thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia Quốc gia chủ nhà cóquyền qui định chế độ pháp lý của vùng đất cũng như quyền quản lý, bảo vệ và sử dụng,khai thác vùng đất thuộc lãnh thổ của mình

b- Vùng nước

- Vùng nước là toàn bộ phần nước nằm trong biên giới quốc gia, bao gồm:

Vùng nước nội địa: là toàn bộ phần nước của biển nội địa, sông, hồ, đầm, ao, kênh

rạch, kể cả tự nhiên và nhân tạo nằm trong đất liền hoặc hải đảo của quốc gia Vùngnước nội địa thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của các quốc gia

Vùng nước biên giới: là vùng nước sông, hồ, biển nội địa nằm ở khu vực biên giới.

Mặc dù vùng nước này nằm trong biên giới quốc gia nhưng do vị trí nằm sát biên giớivới các quốc gia khác nên việc sử dụng, khai thác, quản lý, bảo vệ không thuộc riêng vềmột quốc gia Quốc gia chủ nhà chỉ có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ đối với vùng nướcbiên giới

Vùng nước nội thủy: là vùng nước có tính chất biển nằm phía trong đường cơ sở

giáp với bờ biển của quốc gia ven biển Đối với các quốc gia quần đảo thì nội thủy nằmphía trong đường cơ sở quần đảo được xác định theo Điều 47 CƯLB 1982 Vùng nướcnày còn được gọi là vùng nước quần đảo Vùng nước nội thủy/vùng nước quần đảo làmột bộ phận của lãnh thổ thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia

Vùng nước lãnh hải: là vùng nước biển nằm phía trong đường biên giới trên biển

của quốc gia ven biển và giáp với đường cơ sở Lãnh hải có chiều rộng nhất định (12 hải

lý kể từ đường cơ sở) Quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ đối với lãnhhải của mình

c- Vùng trời

- Vùng trời là vùng không gian bao trùm lên vùng đất và vùng nước của quốc gia Trongkhoảng không gia này, quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối Ngày nay độ caocủa vùng trời chưa được Luật quốc tế qui định mà các nước tự qui định lấy độ cao vùngtrời của mình

d- Vùng lòng đất

- Vùng lòng đất là phần đất nằm dưới vùng đất và vùng nước của quốc gia Vùng lòng đấtthuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia Về nguyên tắc, Luật quốc tế mặcnhiên thừa nhận vùng lòng đất kéo dài tới tận tâm của trái đất

e- Lãnh thổ di động

- Ngoài các bộ phận cấu thành lãnh thổ quốc gia tự nhiên nói trên còn có lãnh thổ quốc gia

di động, bao gồm: máy bay quân sự, tầu chiến, tầu vũ trụ mang cờ hoặc dấu hiệu đặc biệtcủa quốc gia, các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình, hệ thống ống dẫn ngầm, cápngầm, nằm ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia như ở biển quốc tế, ở Nam cực hoặc khoảngkhông gian vũ trụ được coi như là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, gọi là lãnh thổ diđộng, lãnh thổ bay hoặc lãnh thổ bơi

2- Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ

Trang 11

- Mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt đối với lãnh thổ của mình Chủ quyền

đó gọi là quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ Quyền tối cao của quốc gia đối vớilãnh thổ biểu hiện hai phương diện quyền lực và phương diện vật chất

Về phương diện quyền lực

- Quyền lực của quốc gia là tối cao đối với tất cả mọi người, mọi tổ chức trên phạm vilãnh thổ của mình Mọi cá nhân, tổ chức, kể cả cá nhân và pháp nhân nước ngoài phải cónghĩa vụ tuân thủ một cách triệt để pháp luật do quốc gia đặt ra Quốc gia có quyền tiếnhành mọi họat động miễn là không bị pháp luật quốc tế cấm

- Quyền lực tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ là cao nhất, không chia xẻ loại trừ mọiquyền lực từ bên ngoài trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó

- Trên thực tế có một số quốc gia khác có thể thực hiện một phần quyền lực đối với mộtphần lãnh thổ của quốc gia sở tại trong một thời gian nhất định hoặc là mãi mãi Ví dụcác quốc gia nước ngoài thực hiện quyền quản lý đối với trụ sở sứ quán hay là đối vớicác phần đất thuê của quốc gia sở tại Tuy nhiên các quyền đó chỉ có thể thực hiện trên

cơ sở sự đồng ý của quốc gia sở tại

- Quyền lực tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ được thực hiện thông qua hoạt động của

hệ thống các cơ quan nhà nước bao gồm các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp baotrùm lên tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội của quốc gia đó

Về phương diện vật chất:

- Lãnh thổ quốc gia (bao gồm đất đai, nước, không gian, rừng, khóang sản, tài nguyênlòng đất ) là nền tảng và cũng là cơ sở vật chất quan trọng của quốc gia, thuộc quyền sởhữu của quốc gia

- Thứ nhất, chỉ có quốc gia chủ nhà mới là “người” có đầy đủ quyền năng và quyền chiếmhữu, sử dụng và định đoạt vấn đề lãnh thổ trên cơ sở lợi ích và phù hợp với sự lựa chọn

tự do của cộng đồng dân cư sống trên vùng lãnh thổ đó

- Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ phải bao gồm đầy đủ các quyền năng củachủ sở hữu: quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt

3- Xác lập chủ quyền đối với lãnh thổ

a- Cơ sở xác lập chủ quyền lãnh thổ

- Theo Luật quốc tế, chỉ dựa trên cơ sở quyền dân tộc tự quyết quốc gia mới có thể tiếnhành hình thức thay đổi lãnh thổ khác nhau, từng phần lớn hoặc nhỏ, thậm chí cả việcthành lập một quốc gia mới

- Thay đổi lãnh thổ quốc gia được tiến hành dưới các hình thức như:

+ Do phân chia một quốc gia liên bang thành hai hay nhiều quốc gia độc lập

+ Do hợp nhất của hai hay một số quốc gia độc lập thành một quốc gia mới

+ Do sáp nhập một bộ phận lãnh thổ của quốc gia này vào lãnh thổ của một quốcgia khác

+ Do thay đổi một bộ phận lãnh thổ giữa hai quốc gia với nhau

+ Do chuyển nhượng một bộ phận lãnh thổ của quốc gia này cho quốc gia khác.+ Theo một điều ước quốc tế đặc biệt

Trang 12

b- Các hình thức chiếm cứ lãnh thổ hợp pháp

Thuyết phát hiện đầu tiên

- Từ thế kỷ 16 các nước đã tìm ra nguyên tắc mới về thiết lập chủ quyền trên nhữngvùng lãnh thổ mà họ phát hiện ra, đó là thuyết ưu tiên chiếm hữu vùng lãnh thổ mà họphát hiện ra thuộc về quốc gia nào phát hiện đầu tiên gọi là thuyết quyền phát hiện

- Theo thuyết này chỉ cần các nhà hàng hải của một quốc gia cắm lá cờ của quốc giamình trên một hòn đảo (vùng đất) hoặc thậm chí nhìn qua ống nhòm là vùng đất đó thuộclãnh thổ một quốc gia và quốc gia phát hiện có quyền ưu tiên chiếm hữu

Thuyết chiếm hữu về danh nghĩa

- Thuyết này được áp dụng từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19 Theo thuyết này thì khi mộtquốc gia nào đó phát hiện ra một vùng lãnh thổ mới (một hòn đảo, một quần đảo hay mộtvùng đất mới) thì phải để lại dấu vết trên vùng lãnh thổ được phát hiện Ví dụ như bia,mốc chủ quyền hoặc một dấu hiệu quốc gia có giá trị tương tự thì quốc gia phát hiện mới

có chủ quyền đối với lãnh thổ vừa phát hiện được

Nguyên tắc chiếm hữu thật sự

- Chủ quyền của quốc gia muốn được xác lập phải là thực sự có hiệu quả nghĩa là đòihỏi sự có mặt thực tế của quốc gia chiếm hữu trên vùng lãnh thổ đó, thể hiện:

+ Lãnh thổ này trước đó không thuộc về một quốc gia nào cả

+ Việc chiếm hữu phải là hành động của Nhà nước + Việc chiếm hữu không mâu thuẫn với quyền dân tộc tự quyết

+ Việc chiếm hữu phải thiết thực, tức là phải duy trì trên những vùng lãnh thổquốc gia đó chiếm hữu phải tồn tại một quyền lực chính trị, có một bộ máy cai trị

để khiến cho các quyền của mình được tôn trọng

+ Phải công bố cho các nước trong cộng đồng quốc tế biết

II- BIÊN GIỚI QUỐC GIA

1- Khái niệm biên giới quốc gia

Biên giới quốc gia là ranh giới phân định hoặc giới hạn vùng đất, vùng nước, vùng trời vàvùng lòng đất thuộc chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia

Biên giới quốc gia được hợp thành bởi các bộ phận: biên giới trên bộ, biên giới trên biển,biên giới lòng đất và biên giới trên không Mỗi bộ phận biên giới trên đều có những đặcđiểm riêng của nó

a- Biên giới quốc gia trên bộ

- Là đường biên giới trên vùng đất liền, trên đảo, trên sông, trên hồ biên giới hoặc trênbiển nội địa

- Biên giới trên bộ thường được quy định trong các Điều ước quốc tế song phương hoặc đaphương về biên giới (hoặc về lãnh thổ) giữa các quốc gia liên quan có chung biên giớivới nhau Một số ít trường hợp biên giới quốc gia trên bộ có thể được ấn định bằng mộtĐiều ước quốc tế đặc biệt (ví dụ: Điều ước về tô nhượng lãnh thổ)

b- Biên giới quốc gia trên biển

- Biên giới quốc gia trên biển là ranh giới giữa vùng biển thuộc chủ quyền hoàn toàn vàtuyệt đối của quốc gia với những vùng biển thuộc chủ quyền của các quốc gia khác hayvới những vùng biển không thuộc chủ quyền quốc gia Đường biên giới quốc gia trênbiển bao gồm hai loại:

- Đường biên giới quốc gia trên biển là đường dùng phân định ranh giới vùng nội thủy,lãnh hải giữa hai quốc gia

Trang 13

+ Khi hai quốc gia nằm đối diện nhau, đường biên giới quốc gia trên biển là đườngtrung tuyến

+ Khi hai quốc gia nằm kề cận nhau, đường biên giới là đường cách đều

- Đường biên giới quốc gia trên biển là ranh giới phân định vùng biển thuộc chủ quyềncủa quốc gia ven biển với những vùng biển khác Trong trường hợp này, đường biên giớiquốc gia trên biển là đường vạch ra để phân định lãnh hải của quốc gia ven biển với vùngtiếp liền tự nhiên của biển cả Vùng tiếp liền này không thuộc chủ quyền của quốc giaven biển và cũng không động chạm đến vùng biển của các quốc gia khác

c- Biên giới lòng đất

- Biên giới lòng đất của quốc gia là biên giới được xác định dựa trên đường biên giới trên

bộ và trên biển của quốc gia Đường biên giới này về nguyên tắc được kéo dài tới tận tâmtrái đất Đường biên giới lòng đất được mặc nhiên thừa nhận trong thực tiễn quốc tế vàcác quốc gia không cần ký các Điều ước quy định cụ thể vấn đề này

d- Biên giới trên không

- Biên giới trên không là biên giới vùng trời của quốc gia bao gồm hai bộ phận như sau:

Biên giới sườn

- Là đường biên giới được ấn định theo đường biên giới trên bộ và biên giới trên biển bằngcách kéo dài vuông góc từ mặt dất và mặt biển lên khoảng không gian đến một độ cao dopháp luật của chính quốc gia quy định

Biên giới trên cao

- Là ranh giới để phân định ranh giới vùng trời thuộc chủ quyền của quốc gia và khoảngkhông gian vũ trụ phía trên Cho đến nay, trong luật quốc tế chưa có một quy phạm thốngnhất quy định một cách cụ thể về độ cao vùng trời của quốc gia

2- Các kiểu biên giới quốc gia

a- Biên giới địa hình

- Là kiểu biên giới quốc gia được hoạch định dựa theo các đặc điểm thực tế của địa hình tựnhiên như các dãy núi, đồi, các con sông, bờ biển, hồ

- Đối với sông biên giới (là sông nằm trong khu vực biên giới) nhưng không dùng làm

đường giao thông thì đường biên giới thường vạch theo đường trung tuyến của sông

- Nếu sông biên giới dùng làm đường giao thông thì đường biên giới là đường trung tuyến

của luồng giao thông hoặc luồng sâu nhất của dòng sông (gọi là phương pháp dòngchảy)

- Trường hợp sông có nhiều nhánh thì xác định biên giới theo nhánh chính của sông (xác

định theo đường vạch giữa nhánh chính)

- Đối với các đảo trên sông, có 3 cách: quy thuộc cho quốc gia gần nhất, quy thuộc oàn bộcác đảo cho một quốc gia hoặc phân chia các đảo căn cứ vào đường trung tuyến hayđường chảy

- Đối với hồ biên giới: phương pháp xác định phổ biến nhất là lấy đường trung tuyến giữa

hai bờ hồ hoặc là đường thẳng nối hai điểm mút của đường biên giới trên đất liền

- Trường hợp hồ có từ 3 nước trở lên kế cận nhau thì có thể xác định biên giới theo hình dẻquạt bằng cách nối các điểm mút của biên giới trên đất liền của quốc gia ven bờ với tâmcủa hồ

Trang 14

- Đối với các dãy núi, dãy đồi thì đường biên giới quốc gia phổ biến được xác định theo

đường phân thủy (đường chia hai lưu vực sông và đánh dấu nguồn nước nuôi lưu vựcnày)

b- Biên giới nhân tạo

- Biên giới hình học là loại biên giới được xác định theo những đường thẳng nối điểmqui định này với điểm qui định khác, không phụ thuộc vào địa hình (áp dụng đối vớinhững vùng sa mạc) Cũng có khi đường biên giới được xác định theo một cung tròn cótâm là một điểm nào đó do hai bên cùng thỏa thuận

- Biên giới thiên văn áp dụng để xác định biên giới quốc gia theo các đường kinh tuyến,

vĩ tuyến

3- Xác định biên giới quốc gia

a- Xác định biên giới quốc gia trên bộ

Giai đoạn 1:Hoạch định biên giới quốc gia

- Thể hiện thông qua việc các quốc gia cùng thỏa thuận ký kết các Điều ước Quốc tế vềbiên giới ( là bước các quốc gia thỏa thuận xây dựng biên giới ) Hoạch định biên giớichủ yếu giữa hai quốc gia liên quan với nhau nhưng cũng có trường hợp có sự tham giacủa bên thứ ba để giải quyết tranh chấp

- Nội dung chủ yếu là xác định vị trí, tính chất của đường biên giới Kết thúc quá trìnhhoạch định, các bên đi đến ký kết điều ước quốc tế về hoạch định Trong Điều ước nàyphải miêu tả tỷ mỹ, chi tiết các đặc điểm trên bản đồ đi kèm với Điều ước Quốc tế vềbiên giới, bao gồm các nguyên tắc xác định đường biên giới, phương hướng và vị trí, cácđiểm chuyển hướng với toạ độ chính xác bằng lời văn

- Trong giai đoạn hoạch biên giới, các quốc gia liên quan có thể thỏa thuận áp dụngnguyên tắc hoạch định biên giới mới hoặc sử dụng các đường biên giới đã có (utipossidetis)

Giai đoạn 2: Phân giới thực địa

- Là quá trình thực địa hóa đường biên giới trong Hiệp định Toàn bộ công việc nàythường do một ủy ban hỗn hợp mà các quốc gia tổ chức để thực hiện các công việc nhưđánh dấu thực địa, điều chỉnh đường biên giới do yêu cầu đặc biệt của địa hình thực tế

mà do đó cần phải có sự sửa đổi ở mức độ nhất định

- Kết thúc quá trình cắm mốc trên thực địa, ủy ban hổn hợp phải lập bản đồ về đường biêngiới đúng với thực trạng đã được phân định và cắm mốc Bản đồ về đường biên giới làmột bộ phận kèm theo Hiệp định biên giới để các quốc gia phê chuẩn hoặc ký kết

b- Xác định biên giới quốc gia trên biển

Trường hợp thứ nhất:

- Nếu biên giới quốc gia trên biển có liên quan tới quốc gia khác thì biên giới sẽ dưatrên các Hiệp định biên giới giữa các quốc gia hữu quan Trong trường hợp này các quốcgia chỉ tiến hành ở giai đoạn hoạch định biên giới là chính ( khác với quá trình xác định

Trang 15

biên giới quốc gia trên bộ là sau khi hoạch định biên giới xong cần phải có giai đoạnphân giới thực địa và cắm mốc.)

Trường hợp thứ hai

- Là trường hợp đường biên giới quốc gia trên biển không liên quan, đụng chạm tới cácvùng biển của quốc gia khác Đường biên giới quốc gia trên biển chỉ nhằm phân địnhchính xác giới hạn lãnh thổ quốc gia đó với vùng biển tiếp liền không phải là lãnh thổcủa quốc gia

- Trong trường hợp này quốc gia ven biển dựa vào các quy định của luật Quốc tế và nhữngđặc điểm riêng biệt của lãnh thổ quốc gia để tự đưa ra những tuyên bố ( công bố) chínhthức đường cơ sở, chiều rông lãnh hải từ đó người ta có thể biết chính xác đường biêngiới trên biển của một quốc gia

c- Xác định biên giới lòng đất và biên giới vùng trời

- Việc xác định biên giới vùng trời và biên giới lòng đất thường đươc các quốc giathông qua những tuyên bố chính thức của quốc gia Biên giới vùng trời và biên giới lòngđất được mặc nhiên thừa nhận trong thực tiễn pháp lý Quốc tế

III- CÁC VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN QUỐC GIA:

1- Nội thủy

a- Khái niệm

- Nội thủy là vùng nước phía bên trong đưòng cơ sở và tiếp liền với bờ biển của quốcgia ven biển Ranh giới phía bên trong của nội thủy chính là đường bờ biển còn ranh giớingoài của nội thủy chính là đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải

- Nội thủy là các vùng nước nằm kẹp giữa bờ biển và đường cơ sở dùng để tính chiềurộng lãnh hải, các vùng nước nằm trong đường cơ sở quần đảo (vùng nước quần đảo) củacác quần đảo thuộc chủ quyền quốc gia Ngòai ra, nội thủy còn có các bộ phận sau nhưbiển nội địa, vùng nước cảng biển, vũng đậu tàu, vịnh thiên nhiên, vịnh lịch sử, vùngnước lịch sử

- Nội thủy của Việt Nam được quy định căn cứ vào nội dung của Tuyên bố của Chínhphủ nước CHXHCN Việt Nam ngày 12/5/1977.Nội thuỷ Việt Nam bao gồm:

+ Các vùng nước biển nằm trong đường cơ sở ven bờ lục địa Việt Nam được quy định tại Tuyên bố của Chính phủ ngày 12/11/1982 về đường cơ sở Việt Nam

+ Vùng biển nằm trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của các quầnđảo và các đảo thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

+ Vùng nước lịch sử chung Việt Nam – Campuchia theo Hiệp định Việt Nam – Campuchia ngày 07/7/1982.

b- Chế độ pháp lý

- Xuất phát từ vị trí địa lý của nội thủy là vùng nước biển nằm sát với bờ biển của quốc gianên pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của các quốc gia đều xác định tính chất chủquyền hoàn toàn và tuyệt đối đối với nội thủy của quốc gia ven biển

- Chủ quyền của quốc gia được xác định đối với vùng nước nội thủy, đáy biển và lòng đấtdưới đáy biển cũng như khoảng không gian ở phía trên vùng nước nội thủy màkhông hề

có sự khác biệt nào như đối vơi đất liền

- Tuy nhiên, việc quy định cụ thể hoạt động của tàu thuyền nước ngoài cũng như việc xử lýcác hành vi vi phạm pháp luật đối với tàu thuyền lại không giống nhau mà căn cứ vào đặcđiểm và tính chất của từng loạt tàu thuyền cũng như phù hợp với pháp luật và tập quán

Trang 16

- Công ước Luật biển 1982 phân chia tàu thuyền thành 4 loại:

+ Tàu quân sự

+ Tàu Nhà nước dùng vào mục đích phi thương mại

+ Tàu Nhà nước dùng vào mục đích thương mại (tàu buôn nhà nước)

+ Tàu buôn tư nhân

Chế độ xin phép của tàu thuyền nước ngoài trong vùng nội thủy

- Xuất phát từ chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của mình trong vùng nội thủy, pháp luật

của các nước trên thế giới đều quy định tàu thuyền nước ngoài muốn vào nội thủy của

quốc gia ven biển phải xin phép trước và chỉ được vào khi quốc gia chủ nhà cho phép.

Như vậy, Tàu dân sự (cũng như tàu quân sự) nước ngoài muốn đi vào nội thủy của quốcgia ven biển phải xin phép trước và khi được phép của quốc gia ven biển mới được phépvào Tuy nhiên, thời gian xin phép và cho phép cũng như trình tự, thủ tục xin và cấp phépcủa mỗi quốc gia lại không giống nhau và do pháp luật của từng quốc gia quy định

- Tuy nhiên, tàu thuyên nước ngoài có thể đi vào nội thủy của quốc gia ven biền mà khôngcần phải xin phép trước chỉ trong các trường hợp bị thiên tai hoạc gặp tai nạn hỏng hócgây nguy hiểm cho phương tiện và tính mạng của những người trên tàu

- Tàu dân sự khi đi vào nội thủy để đến một cảng của quốc gia ven biển phải đến một địađiểm quy định để các lực lượng như biên phòng, y tế, hải quan của quốc gia ven biểnkiểm tra và làm các thủ tục bắt buộc trước khi vào cảng, đồng thời chờ hoa tiêu đến dẫnđường vào cảng

- Các tàu dân sự nước ngoài bắt buộc phải sử dụng hoa tiêu của quốc gia ven biển để dẫnđường vào cảng (nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, tăng thu nhập và sự an toàn chophương tiện)

- Khi đi vào nội thủy của quốc gia ven biển, tất cả các loại máy và khí tài thông tin liên lạcđều không được sử dụng và phải niêm phong lại Mọi hoạt động thông tin liên lạc vềnước mình hoặc tới bất kỳ đối tượng nào cũng phải qua trung tâm thông tin liên lạc củacảng nước sở tại Nếu tự động liên lạc bằng vô tuyến điện hay bằng các loại tín hiệu khác

bị coi là xâm phạm đến chủ quyền an ninh của nước sở tại

- Tàu thuyền dân sự nước ngoài không được phép tiến hành các hoạt động sau nếu khôngđược sự đồng ý của quốc gia sở tại Mọi hành động vi phạm sẽ bị coi là hành vi vi phạmpháp luật của quốc gia sở tại, cụ thể như:

 Cập mạn, tiếp xúc với các tàu thuyền khác

 Đưa người hoặc hàng hóa lên hoặc xuống tàu

 Đo đạc, thăm dò, khảo sát, chụp ảnh, quay phim, vẽ hoặc ghi chép những thiết bị

ở cảng, những cơ sở quân sự, cơ sở kinh tế, cơ sở nghiên cứu khoa học

 Nhổ neo di chuyển vị trí trong cảng

 Các loại thuyền máy, ca nô trên tàu thả xuống để làm nhiệm vụ liên lạc cũng chỉđược đi lại trong những khu vực mà quốc gia ven biển cho phép

Quyền tài phán của quốc gia ven biển trong nội thủy

- Tàu quân sự nước ngoài và tàu nhà nước dùng vào mục đích phi thương mại khi đậu hợp

pháp trong các cảng và vùng nội thủy của quốc gia ven biển được hưởng quyền miễn trừ

tài phán tuyệt đối về dân sự, hành sự và xử lý hành chính

- Trong trường hợp tàu quân sự nước ngoài vi phạm luật lệ của quốc gia ven biển, quốc gia

Trang 17

+ Ra lệnh cho chiếc tàu đó rời khỏi nội thủy của mình

+ Yêu cầu chính phủ nước có tàu quân sự áp dụng những chế tài hợp pháp (trừng trịnhững nhân viên phạm pháp)

+ Quốc gia có tàu quân sự phải chịu trách nhiệm về mọi tổn thất hay thiệt hại do tàuquân sự của mình gây ra trong thời gian ở tại nội thủy của quốc gia ven biển

- Nội thủy thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia ven biển Do đó, tàuthuyền dân sự nưóc ngoài khi ở trong nội thủy của quốc gia ven biển phải chịu sự tàiphán của quốc gia đó Như vậy, quốc gia ven biển có thẩm quyền tài phán đối với mọihành vi vi phạm của các tàu thuyền nước ngoài cũng như các thủy thủ của tàu cả ở trên

bờ và trong nội thuỷ của mình

- Quốc gia ven biển có quyền tài phán đối với mọi hành vi vi phạm của các tàu thuyềnnước ngoài trong nội thuỷ của mình

- Quốc gia ven biển có quyền tài phán đối với mọi hành vi vi phạm hình sự do các thuỷ thủcủa tàu nước ngoài ở trên bờ, trừ những người được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừngoại giao, lãnh sự hoặc theo các hiệp định tương trợ tư pháp mà quốc gia tham gia hoặc

sự yêu cầu từ phía thuyền trưởng của chiếc tàu đó

- Quốc gia ven biển sẽ không thực hiện quyền tài phán của mình đối với các tranh chấp dân

sự giữa các thủy thủ của cùng một chiếc tàu Vụ việc sẽ do quốc gia mà tàu treo cờ giảiquyết

- Tuy nhiên, quốc gia ven biển có thể sẽ xét xử các vụ kiện dân sự xảy ra trong thời gianchiếc tàu trong nội thủy của mình trong các trường hợp:các tranh chấp giữa thủy thủ tàu

và công dân nước mình các tranh chấp giữa thủy thủ của các tàu nước ngoài với nhau

2- Lãnh hải:

a- Định nghĩa

- Lãnh hải là: một vùng biển nằm ở phía ngoài và tiếp liền với nội thủy,có chiều rộng

không quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở

- Ranh giới bên trong của lãnh hải là đường cơ sở còn ranh giới bên ngoài là một đườngchạy song song và cách đều đường cơ sở một khoảng cách bằng chiều rộng lãnh hải(không quá 24 hải lý)

- Chủ quyền của quốc gia ven biển trên lãnh hải là chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ chứ

không tuyệt đối như đối với nội thủy (do có sự thừa nhận quyền qua lại vô lại của tàuthuyền nước ngoài)

b- Xác định lãnh hải

* Phương pháp xác định đường cơ sở thông thường:

- Là việc xác định đường cơ sở dựa vào ngấn nước thủy triều xuống thấp nhất tại một thời

điểm nhất định Ngấn nước thủy triều xuống thấp nhất được hiểu là ‘đường cắt của bề mặt

nước triều khi xuống thấp nhất với bờ biển

* Phương pháp xác định đường cơ sở thẳng:

Ngày đăng: 12/08/2015, 13:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w