Cơ sở lí luận Kết quả các nhà nghiên cứu tâm lí thì một học sinh bình thường về mặt tâm lí, không có bệnh tật đều có khả năng tiếp thu môn toán theo yêu cầu của chương trình toán học Tiể
Trang 1GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN
I LỜI NÓI ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Chúng ta đều biết mục tiêu đào tạo của nhà trường và đặc biệt là bậc Tiểu học là hình thành những cơ sở ban đầu và trọng yếu của con người mới, phát triển toàn diện phù hợp với yêu cầu, điều kiện và hoàn cảnh của đất nước Việt Nam Mục tiêu này xuất phát từ chính sách chung về giáo dục – đào tạo, được thể hiện trong văn kiện Đại hội Đảng: “Mục tiêu Giáo dục và Đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lưc, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có trí thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu Chủ Nghĩa
Xã Hội ” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII ĐCSVN trang 81)
“Nâng cao mặt bàng dân trí, bảo đảm những trí thức cần thiết để mọi người gia nhập cuộc sống xã hội và kinh tế theo kịp tiến trình đổi mới và phát triển đất nước Đào tạo bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ” (Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, ĐCSVN trang 199)
Đồng thời thực hiện quy định hai không với 4 nội dung của Bộ Giáo dục và đào tạo đề ra giúp học sinh học tập tốt không có học sinh ngồi nhầm lớp
Môn toán là môn học với những đặc điểm: Mang tính trừu tượng cao, tính thực tiễn, phổ dụng, tính logic và tính thực nghiệm Vì vậy môn toán chiếm một vị trí quan trọng trong nhà trường Tiểu học
Đặc biệt với xu thế phát triển chung của thế giới hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão của khoa học công nghệ, đòi hỏi người học sinh
Trang 2-kiến thức cơ bản mà cần năng động sáng tạo tiếp nhận các -kiến thức của nhân loại, phát huy tối đa năng lực cá nhân để vươn tới trí thức hiện đại với những tầm cao mới góp phần xây dựng đất nước đi lên sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới
Môn toán có tầm quan trọng to lớn Nó là bộ môn khoa học nghiên cứu
có hệ thống, phù hợp với hoạt động nhận thức tự nhiên của con người Môn toán còn là môn học rất cần thiết để các em học các môn học khác Nó có ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục, rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận logic, thao tác tư duy cần thiết để nhận thức thế giới hiện thực như: trừu tượng hoá, khái quát hoá, khả năng phân tích tổng hợp, so sánh, dự đoán, chứng minh
Môn toán còn góp phần giáo dục lí trí và những đức tính tốt như: trung thực, cần cù, chịu khó, ý thức vượt khó, tìm tòi, sáng tạo và nhiều kĩ năng cần thiết để con người phát triển toàn diện, hình thành nhân cách tốt đẹp cho người lao động trong thời đại mới
Cơ sở lí luận
Kết quả các nhà nghiên cứu tâm lí thì một học sinh bình thường về mặt tâm lí, không có bệnh tật đều có khả năng tiếp thu môn toán theo yêu cầu của chương trình toán học Tiểu học
Những học sinh từ trung bình trở xuống: các em có thể học đạt yêu cầu của chương trình nếu được hướng dẫn một cách thích hợp
Về ngôn ngữ học ở giai đoạn này mức độ hiểu ngôn ngữ của các em cũng đã cao hơn so với giai đoạn đầu của bậc học
Toán 5 có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình dạy học toán ở tiểu học.Qúa trình dạy học toán 5 luôn gắn với việc củng cố, ôn tập các kiến thức
và kĩ năng cơ bản về môn toán ở tiểu học.Toán 5 đem lại mức chất lượng giáo
Trang 3dục cơ bản về môn toán ở tầm cao hơn trước cho mọi đối tượng học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và thực hiện sự bình đẳng trong giáo dục tiểu học
Nội dung giải toán có lời văn là mảng kiến thức mang tính thực tiễn
cao, áp dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn Vì thế nội dung dạng toán này đã có từ xưa Nhưng trong quá trình dạy đối với mỗi người nó luôn mới mẻ và luôn thúc đẩy người giáo viên suy nghĩ tìm tòi để rút ra phương pháp dạy phù hợp hơn với từng đối tượng kiến thức, học sinh, phù hợp với sự phát triển đòi hỏi của xã hội hiện tại và tương lai Vấn đề mang tính thực tiễn nên luôn mới mẻ, hấp dẫn đối với người giáo viên có tâm huyết
Cơ sở thực tiễn
Qua thực tiễn giảng dạy tôi nhận thấy: Giải toán có lời văn là một bộ
phận không nhỏ trong chương trình toán tiểu học và ngay từ những lớp đầu tiên của bậc Tiểu học, học sinh đã được làm quen với dạng toán này Nhưng thực chất đây cũng là phần nội dung khó đối với học sinh và giáo viên trong việc giảng - dạy Vì nó không đơn thuần chỉ là những phép tính nó đòi hỏi sư kết hợp với những môn học khác đặc biệt là tiếng Việt
Các bài toán có lời văn mà học sinh Tiểu học được tiếp xúc có nội dung
là những vấn đề trong cuộc sống hết sức phong phú và có cấu trúc đa dạng từ những dạng khác nhau của cùng 1 phép tính (cộng, trừ, nhân, chia ) đến những dạng kết hợp của hai hay nhiều phép tính
Vì vậy giải bài toán có lời văn là dịp để học sinh vận dụng một cách
tổng hợp và ngày càng cao các kĩ năng về toán Tiểu học với kiến thức cuộc sống trong đó bao gồm cả kiến thức về tiếng Việt
Trang 4Với chương trình lớp 5 ( lớp cuối cấp tiểu học ) thì việc giải bài toán có
lời văn quả là khó khăn với học sinh nói chung không chỉ riêng với học sinh
yếu
Xét về thời gian từ trước đến nay trong lớp học không phải tất cả các
em đều nắm được bài sau khi giáo viên giảng đồng thời biết áp dụng vào làm bài tập và thực tiễn cuộc sống
Từ những cơ sở đã nêu ở phần trên tôi cùng các đồng nhiệp chung trường và trường bạn đã rất quan tâm vấn đề này Vì thế chúng tôi đã thông qua trong chương trình buổi hội thảo do phòng tổ chức cùng nhau trao đổi và rút kinh nghiệm, các đồng nghiệp cũng thống nhất cao với các vấn đề đặt ra
và cách giải quyết trong đề tài đã nêu
II THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ.
1 Thực trạng tình hình
Trường Tiểu học Minh Thuận 5 là 1 trong 6 trường Tiểu học của xã Minh Thuận Trường gồm 5 điểm ( có 4 điểm lẻ nằm cách xa nhau khoảng 2 hoặc 3 ki - lô - mét với:
11 phòng học
01 phòng thiết bị - Thư viện
01 văn phòng
01 Phòng hội đồng
01 phòng truyền thống đoàn đội
Tất cả được xây dựng dưới dạng kiên cố Diện tích không rộng nhưng cũng có sân đã được đổ bê tông để các em vui chơi sau những giờ học mệt nhọc
Số học sinh không nhiều với:
13 lớp Tiểu học
Trang 51 lớp mẫu giáo
Khối 5 có 2 lớp với tổng số học sinh là 33 em
Lớp của tôi là lớp 5A với số học sinh là 18 em trong đó nữ là 10; dân tộc 1; nữ dân tộc 1
Trường chúng tôi gồm 24 giáo viên trong đó BGH: 2 đồng chí, Tổng phụ trách Đội: 1 đồng chí, nhân viên: 3 đồng chí ( Kế toán – Văn thư: 1 đồng chí, Thiết bị - Thư viện: 1 đồng chí, Thủ quỷ - Y tế học đường: 1 đồng chí) Giáo viên trực tiếp giảng dạy: 17 đồng chí Trong đó chủ nhiệm lớp: 13 đồng chí, dạy chuyên Mĩ thuật: 1 đồng chí, dạy chuyên Ngoại ngữ: 1 đồng chí, dạy chuyên Thể dục: 1 đồng chí Dạy âm nhạc: 1 đồng chí
Đảng viên: 4 đồng chí (Trong đó Nữ 1) Đoàn viên TNCSHCM: 9 đồng chí (Trong đó Nữ 4) Đoàn viên Công đoàn: 21 Nữ 7
Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm 14 đồng chí, Cao đẳng Sư phạm 2 đồng chí, Trung học Sư phạm 8 đồng chí ( trong đó 06 đồng chí đang tham gia học đại học nâng cao trình độ chuyên môn)
2 Những khó khăn.
Những khó khăn do khách quan
Trường Tiểu học Minh Thuận 5 nằm trong địa bàn thuộc chương trình
135 của chính phủ Với khoảng 25% tổng sô dân là người dân tộc Khơme Người dân sống chủ yếu bằng nghề nông Thậm chí còn có rất nhiều gia đình không có ruộng để làm mà sống bằng đồng tiền làm thuê.Vì vậy về thu nhập của người dân chưa cao dẫn đến đời sống kinh tế còn thấp Việc mua sắm đồ dùng cho con em còn hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh và nhu cầu giảng dạy của giáo viên Cụ thể là khi đi học các em còn thiếu sách vở, đồ dùng học tập Từ đó cho thấy công tác chủ nhiệm cũng rất vất vả, mặc dù đã cố gắng động viên rất nhiều nhưng vẫn có những em không mua được sách giáo khoa để học và phải mượn của nhà trường Đầu năm và học kì II có 6 em mượn sách nhà trường để học do nhà nghèo không có tiền mua
Trang 6Mặt bằng dân trí có phần thấp, kém hơn so với một số xã trong địa bàn huyện Nhận thức của phụ huynh còn hạn chế, còn nhiều phụ huynh chưa biết chữ Sự quan tâm giáo dục của gia đình đối với các em chưa đúng mức, nhiều phụ huynh còn quan niệm việc giảng dạy và giáo dục học sinh là do nhà trường đảm nhiệm Việc này đồng nghĩa với việc khoán trắng trọng trách cho giáo viên Mặt khác cũng có gia đình quan tâm tới việc học của con em mình nhưng lại không nắm được nội dung giảng dạy cũng như phương pháp dạy dẫn tới hiệu quả không cao Thậm chí có trường hợp dạy sai dẫn tới các em nhận thức lệch hướng của vấn đề Chính những khó khăn này ảnh hưởng trực tiếp đến việc học của các em
Bên cạnh đó ngoài giờ học các em còn phải tiếp giúp gia đình như: cắt lúa, phơi lúa mướn cùng cha mẹ để tăng thêm thu nhập cho gia đình Vì thế khi tới mùa vụ tỉ lệ nghỉ học của các em tương đối cao Điều này làm cho việc học của các em bị hụt kiến thức dẫn đến mất căn bản
Mặt khác tỷ lệ học sinh các em là người dân tộc khá đông chiếm gần ½
sĩ số lớp Điều này nói lên vốn ngôn ngữ tiếng Việt của các em rất hạn chế Vì thế khi đối mặt với bài toán có lời văn các em bị lúng túng trong việc phân tích đề bài dẫn tới định hướng sai
Khó khăn từ phía giáo viên:
Khả năng vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp giảng dạy cho từng đơn vị kiến thức, từng đối tượng học sinh có phần còn hạn chế
Thời gian dành cho việc nghiên cứu tài liệu chưa nhiều
Chuẩn bị đồ dùng dạy học tuy không có tình trạng dạy chay nhưng do khả năng có hạn nên hiệu quả chưa cao đặc biệt là đối với các đồ dùng tự làm
Chưa có đủ sách, tài liệu học tập, tài liệu tham khảo
Thiếu trang thiết bị dạy học
Trang 7Những khó khăn chủ quan
Bản thân tôi cho rằng đây là nguyên nhân, khó khăn cơ bản nhất mà chúng ta cần nghiên cứu kĩ để có hướng khắc phục tốt hơn Ở mỗi học sinh yếu bộ môn toán nói chung và mảng toán có lời văn nói riêng, rất đa dạng Có thể chia ra một số loại chúng ta thường gặp và tôi cũng thấy tồn tại trong học sinh của tôi:
Do quên kiến thức cơ bản, kĩ năng tính toán yếu
Do chưa nắm được phương pháp học môn toán, năng lực tư duy bị hạn chế (loại trừ những học sinh bị bệnh lí bẩm sinh) Nhiều học sinh vẫn phát triển bình thường nhưng năng lực tư duy toán học kém phát triển
Do lười học
Do thiếu điều kiện học tập hoặc do điều kiện khách quan tác động như: Gia đình xảy ra sự cố đột ngột, hoàn cảnh éo le…
Vốn kiến thức cơ bản ở các lớp dưới còn yếu hoặc thiếu Do hậu quả của việc thực hiện quy định 2 với không 4 nội dung của Bộ giáo dục và Đào tạo chưa nghiêm Dẫn tới tình trạng mà chúng ta quen gọi là bị hổng kiến thức hoặc mất căn bản
Một phần do thói quen học vẹt, ghi nhớ máy móc không chủ định của học sinh, tiếp thu thụ động, chỉ tiếp nhận được cái đã có sẵn
Khả năng kết hợp giữa tri thức đã học với kiến thức vốn có trong cuộc sống chưa cao
Sự kết hợp các loại kiến thức của các môn học để vận dụng vào học toán chưa sâu
Chưa biết phân tích để thấy được bản chất của vấn đề khi tiếp cận với yêu cầu đặt ra
Trang 8Một khó khăn không nhỏ là các em chưa có phương pháp học tập và làm việc khoa học Khả năng sáng tạo ở mức độ tương đối thấp Vì thế đầu năm các em có nhiều hạn chế Qua kết quả khảo sát đầu năm cho thấy:
Học sinh chưa hiểu đề bài: 30%
Học sinh chưa hiểu đề bài tức là hiểu các thành phần của nó gồm có 3 phần:
Những yếu tố đã cho
Những yếu tố cần tìm
Những mối liên hệ giữa những yếu tố đã cho và yếu tố cần tìm
Học sinh chưa biết phân biệt, phân loại bài toán chiếm khoảng : 25% Học sinh giải bài toán sai : từ 30 % – 35 %
Trình bày bài giải không đúng quy định…
Ví dụ một số dạng bài điển hình như.
- Một số bài toán như tính chu vi, diện tích của hình
- Tìm số trung bình cộng của hai số hay nhiều số
- Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó
- Tìm hai số khi biết tổng và tỷ của hai số đó
- Tìm hai số khi biết hiệu và tỷ số của hai số đó
- Bài toán về đại lượng tỷ lệ thuận
- Bài toán về đại lượng tỷ lệ nghịch
Đối với chương trình toán 5, ngoài những dạng toán căn bản đã được học ở các lớp dưới, bên cạnh những yếu tố hình học có mở rộng thêm, thì những bài toán về số học được cung cấp mới là những bài toán về tỉ số phần trăm và toán chuyển động đều Trong đó những bài toán về tỉ số phần trăm chỉ ở mức độ đơn giản nên các em không gặp khó khăn nhiều trong việc giải
Trang 9các bài toán này Riêng toán chuyển động đều được chia thành 3 dạng cơ bản :
Dạng thứ nhất là những bài toán đơn giản đã biết đầy đủ hai yếu tố chỉ yêu cầu áp dụng công thức và tìm yếu tố thứ 3 Tuy nhiên nếu yếu tố thời gian không cho một cách cụ thể mà chỉ cho thời điểm xuất phát và thời điểm đến Học sinh sẽ rất lúng túng không biết cách lấy thời điểm đến trừ thời điểm xuất phát để tìm ra thời gian chuyển động
Dạng thứ 2 là toán chuyển động đều cùng chiều gặp nhau
Dạng thứ 3 là những bài toán chuyển động đều gặp nhau
Với dạng thứ 2 và 3 học sinh sẽ gặp khó khăn khi tìm tổng vận tốc hoặc hiệu vận tốc do không định hướng được
Hơn nữa việc hiểu các cặp đơn vị như km/giờ; m/phút hoặc m/giây đối với các em cũng là rất khó khăn khi phân biệt
Vì thế rất cần có những giải pháp cụ thể giúp các em thực hiện tốt yêu cầu của bài học
III GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ
Dạy và học tốt về giải toán có lời văn có ý nghĩa quyết định sự thành
công trong việc dạy và học môn toán Vì vậy vấn đề đặt ra là rèn kĩ năng giải
toán có lời văn cho học sinh để giảm bớt khó khăn nêu trên là vấn đề cần
thiết
Giáo viên muốn giải quyết vấn đề này một cách tốt nhất thì phải xác định được hướng đi đúng mà điều đầu tiên đó là phải xác định được mục tiêu
cụ thể như:
Học sinh nhận biết được cái đã cho và cái cần tìm trong mỗi bài toán đồng thời phải đặt chúng vào mối liên hệ giữa các đại lượng có trong mỗi bài
Trang 10toán Chẳng hạn như khi dạy bài toán chuyển động đều thì mối quan hệ đó thể hiện ở: quãng đường đi bằng tích của vận tốc với thời gian đi đường
Học sinh giải được các bài toán hợp: Với một số quan hệ thường gặp giữa các đại lượng thông dụng
Học sinh giải được một số dạng toán điển hình như:
Tìm số trung bình cộng của 2 số hay nhiều số
Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó
Tìm hai số khi biết tổng và tỷ của hai số đó
Tìm hai số khi biết hiệu và tỷ số của hai số đó
Bài toán liên quan đến rút về đơn vị
Bài toán về tỷ số phần trăm
Bài toán cơ bản về chuyển động đều cùng chiều
Bài toán cơ bản về chuyển động đều ngược chiều
Một số bài toán khác có nội dung về hình học
Biết trình bày bài giải đúng quy định
Bên cạnh việc tìm ra mục tiêu như đã nói trên việc xác định rõ những nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu môn toán là điều quan trọng Việc tiếp theo là giáo viên tìm ra những giải pháp xoá bỏ dần những nguyên nhân đó Nhen nhóm lại sự say mê niềm hứng thú của học sinh trong việc học toán sẽ giải quyết được vấn đề chúng ta đã đặt ra
1 Một số giải pháp
Về phía giáo viên:
Cần trau dồi thêm kiến thức Dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu, tìm hiểu, học hỏi ở đồng nghiệp, ở tài liệu để nâng cao nghiệp vụ Đặc biệt là nghiên cứu sâu việc giảng dạy theo phương pháp mới
Trang 11Song song với nhiệm vụ vừa nêu thì giáo viên cũng cần thực hiện tốt như chương trình tăng cường tiếng Việt cho các em Đồng thời giúp các em phát triển phong phú thên ngôn ngữ tiếng Việt đặc biệt là đối với đối tượng các em là người dân tộc thiểu số
Phân chia nhỏ từng đơn vị kiến thức để có những phương pháp, hình thức phù hợp
Chuẩn bị đồ dùng dạy học một cách chu đáo Cố gắng tận dụng những trang thiết bị một cách tối đa vào việc dạy và học
Cùng với những tích luỹ về kiến thức nêu trên tôi đã thực hiện cụ thể những việc sau:
Hướng dẫn học sinh nhận biết các yếu tố của bài toán
Học sinh nhận biết nguồn gốc thực tế của bài toán và tác dụng phục vụ thực tiễn cuộc sống của bài toán chẳng hạn: Cần tính năng suất lúa trên một diện tích đất trồng – tính bình quân thu nhập hàng tháng theo đầu người trong gia đình em…
Cho học sinh nhận rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa các đại lượng trong bài toán Như khi giải bài toán chuyển động đều, học sinh dựa vào “cái đã cho ”,
“cái phải tìm ” mà xác định mối quan hệ giữa các đại lượng: Vân tốc – quãng đường - thời gian để tìm đại lượng chưa biết
Tập cho học sinh xem xét các đối tượng toán học dưới nhiều hình thức khác nhau thậm chí ngược nhau và tập diễn đạt các kết luận dưới nhiều hình thức khác nhau Chẳng hạn: “Số bạn gái bằng 1/3 số bạn trai” cũng có nghĩa
là “số bạn trai gấp 3 lần số bạn gái” hay “đáy nhỏ bằng 2/3 đáy lớn ” cũng có nghĩa là “đáy lớn gấp rưỡi đáy nhỏ” hay “đáy lớn gấp 1,5 lần đáy nhỏ”