CARRE FOUR
Trang 1Nhóm 7 Lớp K41 QTKD TM
Trang 2I Giới thiệu tổng quan
• Carrefour là 1 tập đoàn kinh tế của Pháp kinh doanh trên lĩnh vực siêu thị, là tập đoàn bán lẻ hàng đầu Châu Âu, lớn thứ 2 thế giới.
Thành lập năm 1959 tại Annecy, Pháp
• Hiện đã mở rộng ra nhiều nước Châu Âu, Nam Mỹ, Châu Á
Trang 3Có 4 loại hình cửa hàng chính:
Hypermarkets: đại siêu thị tổng hợp Bao
gồm cả siêu thị và trung tâm mua sắm.
Supermarkets: siêu thị.
Hard Discount: cửa hàng giảm giá mạnh
quanh năm.
Convenience: cửa hàng tiện lợi: luôn hài
hòa với nhu cầu của khách hàng.
Trang 4Giới thiệu tổng quan
• Tổng số cửa hàng Carrefour hiện có: trên 15 500 cửa hàng Trong đó trực tiếp điều hành 7 906 cửa hàng
• Cửa hàng mang nhãn hiệu Carrefour: 14.991 với tổng diện tích kinh doanh là 16.899 triệu m2 và 461 260 nhân viên trên thế giới (2007)
• Năm 2008, về số nhân viên, Carrefour là công ty tư nhân hàng đầu tại Pháp, và đứng thứ 9 thế giới
Trang 5Giới thiệu tổng quan
• Ngoài nhãn hiệu Carrefour, còn có 2 nhãn hiệu siêu thị quốc tế: Champion và Dia Và một số nhãn hiệu siêu thị địa phương: GS,
Supermarches GB, Norte, Shopi hay 8 à Huit
Có mặt tại 35 quốc gia, hơn 56% kim ngạch
nhóm có nguồn gốc từ bên ngoài nước Pháp Carrefour đã nhìn thấy tiềm năng mạnh mẽ cho
sự phát triển quốc tế xa hơn trong tương lai,
đặc biệt là ở các thị trường lớn như Trung
Quốc, Brazil, Indonesia, Ba Lan và Thổ Nhĩ Kỳ
Trang 61 Lịch sử hình thành
• 1959–1963: Giai đoạn khởi đầu
– 1959: Marcel Fournier, ông chủ một cửa hàng lớn ở Annecy, quyết định hợp tác cùng nhà Badin-Defforey chuyên kinh doanh đồ tạp hóa
để mở cửa hiệu thực phẩm đầu tiên tại tầng hầm cửa tiệm của ông ở phố Vaugelas
– 6/1960: Thành công của cửa hàng mở hẳn
1 siêu thị, địa điểm được chọn là tại giao lộ (tiếng Pháp: Carrefour)
Trang 7Lịch sử hình thành
– 15/6/1963: Sau khi tham gia buổi nói chuyện tại Hoa Kỳ của Bernardo Trujillo khánh thành một đại siêu thị đầu tiên tại Pháp.
– 3/1964: Carrefour có 3 siêu thị ở Pháp, trong
đó siêu thị Villeurbanne nằm ở ngay trung tâm thành phố.
– 1966: Siêu thị thứ tư với diện tích 10.000m2 được khánh thành ở ngoại ô Lyon và là siêu thị có diện tích lớn nhất châu Âu thời bấy giờ.
Trang 8Lịch sử hình thành
• 1963–1985: Thành công của một công ty gia đình
» Carrefour kinh doanh rất phát đạt và nhanh chóng trở thành một tập đoàn.
» 16/6/1970: Carrefour chính thức tham gia Thị trường chứng khoán Paris.
» Từ năm 1976: giới thiệu các mặt hàng không mang nhãn hiệu mà chỉ được đóng gói và cố định giá.
Trang 9Lịch sử hình thành
sang các nước lân cận: Bỉ (1969), Tây Ban Nha (1973), Brazil (1975), Argentina (1982)…
Pass” giúp khách hàng có loại thẻ tín dụng riêng để tri trả cho việc mua bán.
Trang 101984: bắt đầu mở công ty tài chính riêng Assurances Carrefour.
1985, sau khi chứng kiến đối thủ Continent bắt chước ý tưởng, Carrefour quyết định thay thế bằng các sản phẩm mang nhãn hiệu Carrefour.
1991: bắt đầu kinh doanh hoạt động du lịch bằng việc
mở chi nhánh Vacances Carrefour.
Lịch sử hình thành
Trang 11Lịch sử hình thành
Carrefour mở rộng hoạt động sang Đài Loan (1989), Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ (1991) 3/1991: Carrefour bỏ ra 1,05
tỷ franc để mua lại tập đoàn địa phương Montlaur.
25/6/1991: mua lại đối thủ Euromarche (gồm 77 đại siêu thị) với giá 5 tỷ franc sở hữu một loạt các nhãn hiệu: Escale, Berthier, Sabeco, Disque Bleu, SND, GEM và Sodima.
Trang 12Lịch sử hình thành
»1992: mở rộng ra thị trường sang Ý và Thổ Nhĩ Kỳ (1993), Mexico và Malaysia (1994), Trung Quốc
(1995), Thái Lan, Hàn Quốc, Hồng Kông (1996),
Singapore, Ba Lan (1997), Colombia, Chile và
Indonesia (1998)
Trang 13Lịch sử hình thành
• 1998–2008: Mở rộng ra thế giới
» 1998: mua lại tập đoàn siêu thị nhỏ Comptoirs Modernes với giá 19 tỷ franc có thêm khoảng 500 siêu thị mang nhãn hiệu Stoc từ thứ sáu lên vị trí thứ
4 tập đoàn siêu thị lớn nhất thế giới.
» 1999: sáp nhập với tập đoàn cạnh tranh Promodes
siêu thị lớn nhất châu Âu và lớn thứ 2 thế giới.
» 2005: mở siêu thị mới ở Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Brasil.
Trang 14Lịch sử hình thành
» 2006: bán các siêu thị nhãn hiệu Champion ở Trung Quốc để tập trung vào lĩnh vực đại siêu thị và siêu thị giá rẻ
» 2007: mua lại chuỗi siêu thị giá rẻ Tengelmann ở Tây Ban Nha, 9 siêu thị Ahold ở Ban Lan
Trang 152 Biểu trưng của công ty
Trang 163 Phân tích các loại hình
kinh doanh
1. A Đại siêu thị Hypermarket
Trang 17Đại siêu thị
• Các đại siêu thị (hypermarché): là loại
hình kinh doanh chiến lược của Carrefour
• Riêng doanh thu từ hệ thống các đại siêu thị chiếm 60% doanh số của tập đoàn
(2006)
• Carrefour là nhãn hiệu đại siêu thị duy
nhất của tập đoàn
• Tính đến cuối năm 2006, tập đoàn có
khoảng trên 1.000 đại siêu thị trên thế giới
Trang 18Đại siêu thị
Đặc điểm:
• Diện tích kinh doanh từ 3.000 tới trên
23.000 m2, diện tích trung bình của mỗi đại siêu thị là 9.333 m2.
• Trung thành với nguyên tắc mặt hàng đa
dạng: các ĐST Carrefour bày bán từ
20.000 - 80.000 mặt hàng khác nhau với
giá cả phải chăng
Trang 20Siêu thị
Đặc điểm:
• Có diện tích và số lượng mặt hàng nhỏ hơn 2.000 m2.
• Tập trung vào việc khuyến khích khách hàng gắn bó lâu dài với siêu thị
• Ví dụ: loại thẻ IRIS của các siêu thị
Champion.
Trang 21C Siêu thị giá rẻ
• Carrefour bắt đầu mở các siêu thị giá rẻ
(maxidiscompte) từ
cuối thập niên 1970
• Ba nhãn hiệu siêu thị giá rẻ của Carrefour
là Dia (tại Pháp, Tây Ban Nha, Hy Lạp,
Trang 23D Loại hình khác
4.1 Cửa hàng lân cận
(proximité)
Hình thức cửa hàng nhỏ,
thường được CarreFour
nhượng quyền kinh doanh
cho các thương nhân độc
lập.
• Thường được đặt ngay
trong các khu phố trung tâm,
Trang 24Loại hình khác
4.2 Phân phối số lượng lớn (cash & carry):
Phân phối hàng trực tiếp số lượng lớn cho các công ty khác dưới nhãn hiệu Promocash (tại Pháp) và Docks Market (tại Ý)
Trang 25E Hợp tác kinh doanh
Carrefour cũng tham gia cộng tác với một
số tập đoàn địa phương bằng cách bỏ vốn thay vì quản lý trực tiếp các siêu thị.
Ví dụ: Tại Nhật Bản, Carrefour đã nhượng quyền kinh doanh 8 siêu thị cho công ty
Aeon từ tháng 3 năm 2005 Ở khu vực
Trung Đông, Carrefour tham gia thị trường thông qua việc hợp tác với tập đoàn Majid
Al Futtaim Group để thành lập chuỗi siêu thị MAF Hypermarkets
Trang 26F Hệ thống nhãn hiệu
• Từ năm 1976 , CF đưa vào siêu thị của tập đoàn những mặt hàng mang nhãn hiệu do chính Carrefour sở hữu
• Hiện nay CF sở hữu các nhãn hiệu:
Trang 274 Tình hình hoạt động trên thế giới
Châu Á, Châu Âu, Nam Mỹ
I.Pháp
Là thị trường lâu đời và mang lại cho Carrefour nhiều lợi nhuận nhất =>được tính riêng là 1 khu vực kinh doanh và ngang hàng với châu Âu,
Nam Mỹ, châu Á
Năm 2007 có 44 siêu thị nằm trong danh sách
100 siêu thị lớn nhất của Pháp Trong đó:
Carrefour Antibes đứng thứ 2 với doanh thu 310 triệu EUR
Trang 28+Tính về hiệu quả KD Carrefour Meylan là đại siêu thị đứng đầu với doanh thu 26.402 euro/m²
+ Carrefour nhượng quyền và chia sẻ kinh doanh tại khá nhiều siêu thị
+Trong thập niên 2000, Carrefour cũng mua lại hai nhãn hiệu nhượng quyền là Labruyère Eberlé và Hyparlo
Trang 29Bỉ: Năm 2000, mua lại 72,5% cổ phần tập đoàn siêu thị Bỉ Groupe GB, 27,5% cổ phần còn lại của
Supermarchés GB đã được Carrefour thừa hưởng
từ Promodès sau khi sáp nhập với tập đoàn này
-Tây Ban Nha:bắt đầu kinh doanh ở Tây Ban Nha từ năm 1973 và đến nay đã trở thành tập đoàn phân
phối chính ở nước này
- Ý: đứng thứ hai trong lĩnh vực phân phối lớn, hoạt động dưới các nhãn hiệu đại siêu thị Carrefour, siêu thị GS và cửa hàng lân cận Diperdi (kể từ năm
2001) Tập đoàn cũng sở hữu các nhãn hiệu phân phối lớn Docks Market và Grossiper tại Ý
Trang 30 Hy Lạp:được thừa hưởng từ Promodès nhãn hiệu Marinopoulos
Ba Lan:mua lại từ tập đoàn Ahold toàn bộ
27 đại siêu thị Hypernova và 179 siêu thị Albert, trở thành tập đoàn phân phối đứng thứ hai Ba Lan sau Tesco
Trang 31Bồ đào nha:Carrefour thừa kế các cửa
hiệu của Euromarché vào năm 1990 và chi nhánh Carrefour Portugal kể từ năm 2001
Năm 2007 đứng thứ 4 về doanh số ở Bồ
Đào Nha, sau các tập đoàn địa phương
Modelo-Continente, Jerónimo Martins và
Os Mosqueteiros.
Trang 32+Ngày 27 tháng 7 năm 2007, Carrefour bán lại
Carrefour Portugal cho tập đoàn Sonae với giá
662 triệu euro, thương vụ này bao gồm 12 đại siêu thị Carrefour và tám trung tâm dịch vụ
+Bên cạnh các đại siêu thị, Carrefour còn kinh
doanh các siêu thị giá rẻ với nhãn hiệu Minipreço, các siêu thị này không nằm trong thương vụ mua bán kể trên
- Ngoài các thị trường chính kể trên,Carrefour còn
có siêu thị tại Rumani, Thổ Nhĩ Kỳ, Bulgarivà mới
Trang 33Châu Á
-Trung Quốc:
+Tính đến giữa năm 2007 Carrefour đã đưa hơn
100 đại siêu thị vào hoạt động
+Từ tháng 11 năm 2006, tập đoàn đã chấm dứt kinh doanh lĩnh vực siêu thị để tập trung vào loại hình đại siêu thị và siêu thị giảm giá (gồm 253
siêu thị mang nhãn hiệu Dia)
Trang 34+Với 2 tỷ euro doanh số, Carrefour là tập đoàn phân phối nước ngoài lớn nhất tại
Trung Quốc và đứng thứ 5 nếu tính cả các tập đoàn nội địa.
+Tại TQ, 40.000 nhân viên Carrefour phục
vụ cho khoảng 188 triệu khách hàng.
Trang 35-Indonesia: Carrefour có hệ thống 39 cửa hàng+1/2008 chi 49,3 triệu euro để mua lại 75% cổ phần công ty địa phươnag Alfa Retailindo giúp Carrefour có thêm 29 cửa hàng mới (13 trong
số đó nằm tại Jakarta) và trở thành công ty kinh doanh phân phối lớn nhất Indonesia
-Malaysia: Carrefour bắt đầu hoạt động từ
năm 1994 tuy nhiên lại phải cạnh tranh với
nhiều đối thủ lớn như Giant, Makro, Parkson và Tesco, đây cũng là tình trạng kinh doanh của
công ty ở Thái Lan
Trang 36
-Singapore:2 đại siêu thị Carrefour chỉ chiếm 2% thị phần
-Đài Loan:Carrefour chiếm 32% thị phần
tính đến năm 2005.
-Pakistan:có một đại siêu thị tại Lahore
Trang 375 Chiến lược kinh doanh:
Tập đoàn Carrefour có một tham vọng đơn giản:
làm cho Carrefour trở thành nhà bán lẻ được ưa thích bất cứ nơi nào nó hoạt động.
Chiến lược của tập đoàn Carrefour là nhằm đạt tốc độ tăng trưởng bền vững, có tốc độ tăng lợi nhuận cao hơn tốc độ tăng trưởng mở rộng thị trường, để thực hiện thì có ba đòn bẩy:
Khách hàng theo định hướng văn hóa
Chuyển đổi
Cải tiến
Trang 386 Cơ cấu tổ chức, ban lãnh đạo
Được điều hành bởi ban lãnh đạo (directoire)
và hội đồng quản trị (conseil de surveillance)
Trang 39Danh sách ban lãnh đạo
Trang 407 Môi trường làm việc của nhân viên
Carrefour là tập đoàn tư nhân đứng thứ 9 thế giới về số
lượng nhân viên với 409.092 người
Trong số gần nửa triệu nhân viên thì 68% làm việc tại
châu Âu, 16% tại Nam Mỹ và 16% tại châu Á.
Tổng lương chi trả cho nhân viên Carrefour là 7.515 triệu euro (chiếm 9,6% doanh thu) tức trung bình một nhân
viên tập đoàn có thu nhập hàng năm là 16.500 euro, lương của lãnh đạo tập đoàn gấp khoảng 90 lần lương trung bình của một người Pháp
Trang 41II Tình hình hoạt động của tập đoàn Carefour
Trang 420 20 40 60 80 100
Doanh số của Carrefour qua các năm
Trang 43Tỷ trọng từng thị trường
Carrefour nhận định: “Thị trường Pháp
và Châu Âu là 2 thị trường mục tiêu
quan trọng, đã đầu tư lớn với nhiều
hàng mục khổng lồ”.
Mức doanh thu tại 2 thị trường Pháp và Châu Âu đã nói lên tầm quan trọng của
nó
Trang 45Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế
Cuộc khủng hoảng kinh tế đã tác động lớn đến 2 thị trường mục tiêu quan trọng của Carrefour, mức doanh thu tại 2 thị trường này giảm đi đáng kể trong năm
2009 Nhưng Carrefour lại đạt được mức tăng trưởng tương đối khá tại 2 thị trường Nam Mĩ và Châu Á
Trang 48TỶ TRỌNG VỀ DOANH THU CỦA TỪNG LOẠI HÌNH KINH DOANH
NĂM 2009
13.40%
9.20%
Trang 49Sự có mặt của Carrefour trên thế giới
Trang 50A Wal-Mark đối thủ cạnh tranh chính của Carrefour, là tập đoàn siêu thị Hoa kỳ đứng đầu thế giới trong lĩnh vực phân phối.
- Đây là tập đoàn đã khiến Carrefour phải rút hoạt động tại Hoa kỳ và Mêxico.
III Đối thủ cạnh tranh của Carrefour:
Trang 51 Tesco đây là tập đoàn siêu thị số một vương quốc Anh, là đối thủ cạnh tranh của Carrefour tại Trung Quốc, Malaysia, Thái lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Lan.
Trang 52 Auchan là đối thủ cạnh tranh củaCarrefour tại thị trường Pháp.
Trang 53Metro AG là đối thủ cạnh tranh với tập đoàn
Carrefour ở những thị trường mới như Đông Âu và các nước Châu Á
Trang 54Carrefour cũng gặp phải sự cạnh tranh của các tập đoàn địa phương như Casino, E.Leclerc, Les
Mousquetaires, Système U và Cora (Louis Delhaize)
….
Trang 55Những khó khăn của Carrefour trước đối thủ
cạnh tranh chính: Tập đoàn Wallmart
Wallmart là một tập đoàn đứng đầu thế giới trong lĩnh vực phân phối
Wallmartcó nhiều hệ thống siêu thị và quy mô các siêu thị rất là rộng lớn
Số lượng nhân viên làm việc cho Walmark rất đông đảo
Thị trường của Wallmart rất là rộng lớn
Trang 56B Để đối phó, Carrefour cần có một số giải pháp:
Phát triển thêm nhiều hệ thống siêu thị ở những quốc
gia có nhiều tiềm năng,và chưa có sự thâm nhập của
Trang 57IV Những bê bối, tai tiếng và khó khăn của Carrefour
Tháng 4 năm 2005 , giám đốc điều hành Carrefour là Daniel
Bernard phải thôi chức với một phong bì đút túi lên tới 38 triệu euro.
Năm 2004 : đối mặt với các chỉ trích về việc tăng giá hàng hóa vô lý
từ phía khách hàng và thêm nhiều điều khoản vào hợp đồng với cơ
sở cung cấp hàng
Tháng 6 năm 2007 , Carrefour bị tòa án Évry phạt 2 triệu euro vì
đã quảng cáo sai sự thật và đưa thêm những điều khoản vô lý vào
hợp đồng với cơ sở cung cấp,
Trang 58Ngày 1 tháng 5 năm 2008, một số đại siêu thị
Carrefour ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã bị người biểu tình bao vây vì theo họ, Carrefour đã có hành động ủng hộ Đạt-lại Lạt-ma.
Carrefour còn dính vào một vụ khác: từ tháng
10.2004 đến tháng 8.2005 tại Pháp, khoảng 15 siêu thị của họ đã bán một số mặt hàng nhu yếu phẩm
Trang 59B Những khó khăn
Carrefour phải ngừng hoạt động ở một số
quốc gia do hiệu quả thấp hoặc để tập trung vốn cho các thị trường khác
Carrefour có nguồn cung cấp rất đa dạng đến
từ cả các quốc gia phát triển và kém phát triển, vì vậy tập đoàn thường xuyên bị đặt dấu hỏi về bình đẳng trong giao dịch thương mại với các nước nghèo
Trang 60B Những khó khăn đối với Carrefour
- Tập đoàn thường xuyên gặp rắc rối với pháp luật, đặc biệt là những rắc rối về giá bán và
quan hệ kinh doanh với giới cung cấp hàng
hóa.
- Do có giá cả không cạnh tranh bằng các đối thủ, Carrefour dễ đánh mất thị phần vào tay
đối thủ trên ngay địa bàn kinh doanh truyền
thống trong những năm tới.
Trang 61B Những khó khăn đối với Carrefour
Quá trình phát triển của mình carrefour gặp
phải nhiều tai tiếng.
Gặp phải sự cạnh tranh rất khóc liệt của nhiều đối thủ cạnh trạnh lớn trên thế giới gây khó khăn trong việc mở rộng thị phần.
Trang 62C Các trường hợp chấm dứt kinh doanh
Tại hai thị trường Đức và Hoa Kỳ , do các tập đoàn địa
phương có năng lực cạnh tranh quá lớn và tâm lý ưa dùng
hàng nội địa của người dân hai nước này, Carrefour đã phải nhanh chóng chấm dứt hoạt động sau thời gian thử nghiệm
không lâu
Tại một số thị trường khác như Hồng Kông, Chile, Nhật Bản, Cộng hòa Séc, Mexico và Thụy Sĩ, do hoạt động thiếu hiệu quả, Carrefour đã chấm dứt hoạt động hoặc nhượng quyền kinh
doanh lại cho các tập đoàn phân phối khác.
Trang 63V Chiến lược hoạt động trong năm 2010 và trong tương lai
A Tầm nhìn chiến lược chung
Trở thành nhà bán lẻ được yêu thích trong tất cả các loại hình kinh doanh bằng cách cung cấp cho khách
hàng những kinh nghiệm mua sắm thiết thực, sự sáng tạo và nhứng sản phẩm tốt với mức giá hợp lý
Trở thành tập đoàn có hiệu quả hoạt động tốt nhất
thông qua việc thực hiện thành công kế hoạch chuyển đổi và huy động, sắp xếp, động viên các nhóm bán
hàng