1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thuyết minh viên du lịch chuyên đề đắk lắk

65 352 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 488,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người Êđê theo chế độ mẫu hệ, người con gái đi cưới chồng, sau đám cưới người chồng đến cư ngụ tại nhà vợ mình, con cái mang họ mẹ và chịu trách nhiệm về các lễ giỗ trong gia đình.. Theo

Trang 1

Tỉnh ĐakLak (ĐakLak = Nước hồ Lak, theo tiếng M’Nông) có một thành phố là Buôn

Ma Thuột, với độ cao trung bình 500m so với mặt nước biển Gồm có 36 dân tộc, trong đó người Kinh chiếm 60%, người Êđê chiếm 20% và các dân tộc khác chiếm 20%

Từ thành phố Buôn Ma Thuột theo Quốc lộ 26 đến Nha Trang (182km), Quốc lộ 27 đến Đà Lạt (186km), Quốc lộ 14 đi Pleiku (188km), Quốc lộ 14A đi Bình Phước, Bình Dương và TP HCM (350km)

ĐakLak có khí hậu tương đối ôn hòa, nhiệt độ trung bình năm là 26oC, lượng ánh sáng dồi dào, lượng mưa khá lớn: 2400mm/năm Khí hậu được chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 – 11 Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

ĐakLak nằm trên vùng đất đỏ rộng trên 1,5 triệu ha, trong đó có 70 vạn ha đất đỏ Bazan, có độ ẩm trung bình 82% Đất ở đây thực sự là điều kiện lý tưởng để phát triển cây công nghiệp dài và ngắn ngày, nhất là cây Café và Cao su Với tổng diện tích Café là 137.000ha, chiếm 75% tổng sản lượng Café cả nước ĐakLak nổi tiếng với Café Buôn Ma Thuột hương thơm đậm đà, một mặt hàng xuất khẩu quan trọng của địa phương

ĐakLak hiện tại vẫn là tỉnh có diện tích rừng và trữ lượng gỗ lớn nhất nước Toàn tỉnh có 1.243.882ha rừng, trong đó rừng trồng khoảng 25.000ha rừng của ĐakLak có giới động, thực vật hết sức phong phú Thực vật có trên 3000 loài trong đó có nhiều loại thực vật đặc hữu Động vật có 93 loài thú, 197 loài chim Đặc biệt ở đây có đến 32 loài thú quý hiếm như: Bò rừng, Bò xám, Bó tót, Công, Trĩ sao, Sóc bay, Chồn bay, Khỉ, Gà rừng,…

Các dân tộc ở Tây Nguyên tuy không hình thành nên những lãnh thổ, tộc người riêng biệt nhưng mỗi dân tộc đều tập trung ở một số vùng nhất định Người Việt ở hầu hết các vùng trong tỉnh, người Êđê cư ngụ ở vùng trung tâm, vùng Bắc và Đông Bắc, người M’Nông sống ở khu vực Tây Nam tỉnh, người GiaRai tập trung ở vùng giáp giới tỉnh Gia Lai, người Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, H’Mông… ở thành từng cụm nhỏ rải rác trên nhiều địa bàn trong tỉnh

Cộng đồng các dân tộc ở ĐakLak với những truyền thống, bản sắc riêng của mình đã hình thành nên một nền văn hóa phong phú và đa dạng, rất độc đáo, trong đó nổi lên bản sắc văn hóa truyền thống của người Êđê, M’Nông và các dân tộc bản địa khác

Thành phố Buôn Ma Thuột

Trang 2

2 |

Ngày 21/1/1995, Nghị định 08/CP của Chính phủ công nhận thị xã Buôn Ma Thuột được chuyển sang thành phố cấp 4, với diện tích 270km2, gồm 10 phường và 5 xã có dân số là 222.038 người (1995)

Giao thông vận tại có bước chuyển biến mạnh, hiện nay đã bắt đầu nâng cấp các Quốc lộ 14 và 27 nối liền TP HCM và Đà Lạt sân bay Buôn Ma Thuột phục vụ hàng ngày các chuyến bay nội địa đi các tỉnh thành như TP HCM, Hà Nội, Đà Nẵng,…

Dân tộc Êđê

Dân số 237.819 người (1995) thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo-Polynesien Người Êđê theo chế độ mẫu hệ, người con gái đi cưới chồng, sau đám cưới người chồng đến cư ngụ tại nhà vợ mình, con cái mang họ mẹ và chịu trách nhiệm về các lễ giỗ trong gia đình Tất cả tài sản đều thuộc về người vợ và con gái

Kinh tế chủ yếu là làm lúa rẫy, trồng ngô khoai Săn bắt và hái lượm chỉ là những hoạt động phụ thêm Trước đây người Êđê chỉ có ngôn ngữ nói Năm 1920, hai thầy giáo người Êđê là Y Ut và Y Jut nghiên cứu đưa ra một dạng chữ viết Sau đó với sự chỉnh lý của Đốc học người Pháp Antomachi và viên Công sứ Sabatier, chữ viết người Êđê ra đời Đây là một dạng chữ viết dùng các ký âm quốc tế cùng với mẫu tự Latin để hình thành

Phong tục tập quán

Truyền thuyết người Êđê kể rằng: “Thần Y Rim là con Trời đã dạy cho người biết

dùng gạo để nấu cơm, thổi xôi, làm men rượu để uống Vì uống say quên việc làm ăn nên con người đã giận thần và tìm cách để đánh nhưng không sao bắt được Mọi người bèn nhờ hai anh

em thợ săn Y Tông và Y Tang xua hai con chó đi bắt Song càng đuổi thần càng chạy nhanh và cuối cùng đi vào một hang sâu Hai ngày sau hai anh em mới tới được cửa hang Họ nhìn thấy quang cảnh đẹp, ánh sáng chan hòa, cây cối tốt tươi, nhiều hoa quả, súc vật, chim muông Họ nghĩ rằng nếu con người sống ở đó thì sung sướng biết bao nên trở về khuyên bảo mọi người Sau khi đến tận nơi xem xét, tù trưởng Êđê đã đưa dân làng đến đó sinh sống Trong 100 ngày họ lũ lượt kéo nhau đến đây Đến ngày 101, con trâu Y Rim bị vướng sừng làm sụp miệng hang nên những người đi sau không qua được nữa Hang đó gọi là hang Ađrênh mà từ lâu người Êđê vẫn tin rằng ở Krông Bông, phía Nam Buôn Ma Thuột

Ngoài tên gọi Êđê còn tên gọi Rađê Êđê nghĩa là gì? Có 4 cách giải thích sau:

 Êđê xuất phát từ tên gọi của loài tre và Êđê có nghĩa là những người sống trong rừng tre

 Êđê xuất phát từ tên tên thần Tối cao trong tín ngưỡng Êđê là Aê-Điê (đọc là Ai-Đia) và gọi trệt đi là Êđê

 Đó là tên một dòng sông, rồi từ thuật ngữ Ea Đê (Sông-suối-đê) đã chuyển thành Êđê (?) Con sông huyền thoại này cho đến nay vẫn còn mang tên gọi Ea Đê trên bản đồ sông suối của tỉnh ĐakLak, một dòng chảy thuộc huyện Krông Buk ngày nay Trong lịch sử, trước khi vùng Buôn Ma Thuột trở thành trung tâm của cộng đồng Êđê thì trung tâm ấy lại là vùng Buôn Hồ cũ, nơi hiện hữu của dòng mạch Ea Đê

 Êđê xuất phát từ hang Ađrênh phía Nam Krông Ana, và Êđê có nghĩa là người mới đến (Cách giải thích này ít được đề cập đến)

Rađê nghĩa là gì? Có hai cách giải thích:

Trang 3

3 |

 Rađê bắt nguồn từ Orang Đê Orang = người, từ phổ biến của các dân tộc thuộc ngữ hệ Mã Lai Như vậy Orang Đê có nghĩa là Người Đê

 Rađê xuất phát từ cách gọi của người GiaRai luôn biến âm Ê thành Rơ Ví dụ:

Ê mô = Con bò (tiếng Êđê)

Rơ mô = Con bò (tiếng GiaRai)

Các nhóm địa phương của người Êđê

Người Êđê có hai nhóm lớn nhất, các nhóm khác chỉ sinh ra từ hai nhóm này Đó là nhóm Êđê Kpă (hay còn gọi là Êđê chính thống) sống gần Buôn Ma Thuột và nhóm Êđê Adhăm (hay còn gọi là Êđê không chính thống) sống ở Ea Sup – Buôn Hồ – Ea H’Leo

Ở hai nhóm Êđê này có những khác biệt về kiến trúc Ví dụ: Người Êđê ở Buôn Hồ và Ea H’Leo, do sống gần người GiaRai nên nhà sàn của họ thấp và ngắn hơn người Êđê Kpă ở Buôn Ma Thuột Nhà mồ của người Êđê Adhăm lớn hơn nhà mồ của người Êđê Kpă

Ngoài hai nhóm trên còn có một số nhóm nhỏ tiêu biểu sau:

-Nhóm Krung sống giáp ranh ĐakLak và Gia Lai (Trong tất cả các nhóm Êđê chỉ duy nhất có nhóm này có lễ đâm trâu)

-Nhóm Dlie Ruê sống ở Krông Ana

-Nhóm Blô sống ở M’Đrăk

-Nhóm Ktul sống ở hạ lưu sông Krông Păk

-Nhóm Bih sống ở Lăk, chịu ảnh hưởng của người M’Nông

Nguồn gốc lịch sử

Hiện nay tại Việt Nam có 5 dân tộc nói ngôn ngữ Mã Lai (hay Nam Đảo), đó là: GiaRai, ChuRu, Raglay, Chăm và Êđê Người Êđê nói riêng và người Tây Nguyên nói chung đều thuộc loại hình nhân chủng Indonesien Đó là kết quả hòa huyết của hai chủng tộc Mongoloid (da vàng) và Australoid (da nâu)

Xưa kia vùng bán đảo Đông Dương không phải là nơi cư trú của chủng tộc Mongoloid mà là của người Austraolid Sau đó chủng tộc Mongoloid di cư từ phía Bắc sang (Trung Quốc) Vì đây là chủng tộc mạnh nên cuối cùng chủng tộc yếu hơn là Australoid phải phụ thuộc vào nó

Nói chung nguồn gốc của người Êđê là từ biển đi lên Bóng dáng của văn hóa biển được thể hiện rất rõ ở kiến trúc nhà dài mô phỏng hình dáng chiếc thuyền với hai vách nhà hơi ngã như lòng thuyền Dân tộc Êđê xưa kia vốn là một dân cư Malayo Polynesien ở bờ biển phía Nam Trung Quốc (Quảng Đông) Sau đó vào thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên, họ di cư theo hai con đường:

- Từ Quảng Đông men theo Đài Loan đến Philippines

- Từ Philippines đến Indonesia và từ Indonesia đến Đông Dương và Đông Nam Á Cả bộ phận cư dân to lớn đó di cư đến miền Trung Việt Nam sinh sống và trở thành dân tộc Chăm Sau đó lãnh thổ người Chăm bị vương quốc Phù Nam của người Hindu xâm chiếm, áp đặt nền văn minh Ấn Độ lên vùng đất này Không chịu được sự thống trị của người Hindu, một số người Malayo-Polynesien từ bỏ đất nước đi lên vùng núi Trường Sơn, chinh

Trang 4

Quan hệ xã hội

Êđê là dân tộc còn giữ lại đậm nét chế độ mẫu hệ và nó chi phối toàn bộ cuộc sống của họ trong gia đình cũng như ngoài xã hội Sinh sống trong môi trường cao nguyên với nền kinh tế nương rẫy, chịu những tác động khách quan của lịch sử, xã hội Êđê tiến hóa chậm chạp và bảo lưu nhiều tàn dư của xã hội tiền giai cấp Xã hội cổ truyền Êđê vẫn lấy buôn làng làm đơn vị tổ chức xã hội cơ bản

Trước nhất đó là một điểm tụ cư gồm từ vài chục đến hàng trăm nóc nhà có phạm vi

cư trú và khai thác riêng được cả buôn và các buôn khác thừa nhận và tôn trọng

Xưa kia các buôn như là một tổ chức thị tộc (chỉ bao gồm một dòng họ cùng một dòng máu) không được kết hôn với nhau Đến khi người Pháp đặt chân đến Tây Nguyên thì buôn bắt đầu thay đổi, có nhiều dòng họ trong cùng một buôn

Theo ghi chép của Henry Mâitre (thế kỷ XIX) thì người Êđê có những ngôi nhà sàn dài 215m bao gồm nhiều thế hệ khác nhau trong gia đình cùng một họ (trừ những con rể) và nhiều làng chỉ có một nhà mà thôi gọi là “Nhà một nóc” Tuỳ theo số nóc nhà trong buôn mà người Êđê gọi buôn lớn hay buôn nhỏ Buôn nhỏ có khoảng vài chục nóc nhà và buôn lớn thì vào khoảng vài trăm nóc nhà

Mô hình buôn truyền thống luôn luôn có một con đường theo hướng từ Đông sang Tây và các nóc nhà ở hai bên con đường đó Theo quan niệm của người Êđê, hướng Đông, phía mặt trời mọc là phía của cái sống, và hướng Tây, phía mặt trời lặn là phía của cái chết Vì thế hướng Đông là cổng làng và hướng Tây luôn luôn là nghĩa địa

Các nhà dài trong buôn được bố trí theo hướng Bắc Nam và rất sát nhau theo lối mật tập (tập trung cao) Buôn truyền thống rất ít cây và giữa các nhà có một khoảng trống nhất định không có hàng rào Trong buôn không có nhà cộng đồng (vì các nhà dài đã rất rộng) khác với buôn của cộng đồng nói tiếng Môn-Khmer

Nhà dài Êđê

Nhà dài Êđê xưa kia thường có chiều dài khoảng trên dưới 100m mà đồng bào thường

ví “Dài như tiếng chuông ngân” hoặc “Dài như một hơi ngựa phi”

Về căn bản, nhà dài Êđê có một mô-tip chung về kết cấu bộ phận và kỹ thuật xây dựng Nhà dài của các nhóm Êđê Ađhăm, Kpă, Krung (Krông Puk), Êđê Bih hoàn toàn giống nhau về hình thức kiến trúc cũng như sử dụng Riêng nhóm Êđê Mthur ở huyện M’Drăk nhà thường ngắn và hẹp lòng hơn, phần sàn sân trước thường tương đương với đường rọi từ góc mái, sân sàn không vượt ra ngoài nhiều như nhà của các nhóm Êđê khác

Nhà dài truyền thống Êđê thường được xây dựng bằng nguyên vật liệu địa phương như khung nhà bằng gỗ, xương mái nhà sàn bằng tre, nứa, mặt sàn và vách bao xung quanh bằng bương hoặc tre bố banh đập dập; mái lợp bằng cỏ tranh hoặc mây tết lại Ngày nay nhà dài Êđê lợp bằng mái tôn hoặc ngói nung, vách và sàn được thay bằng ván gỗ

Trang 5

5 |

Chọn đất làm nhà

Việc tiến hành xây dựng nhà dài được thực hiện như sau:

Trước hết việc chọn đất lập buôn là do người chủ bến nước tiến hành Địa điểm của buôn thường là những khoảng đất thoáng đãng, cao ráo, có độ dốc nhỏ Các buôn Êđê thường nằm dọc các sông, suối, gần nguồn nước tiện lợi cho sinh hoạt

Xưa kia, nếu như không có những lý do đặc biệt như hỏa hoạn, dịch bệnh, chiến tranh… người Êđê ít khi làm nhà mới Nếu nhà chật chội, thiếu chỗ ở do sự phát triển của các gia đình nhỏ, họ thường làm nối phần sau nhà cho dài thêm Nếu cấu kiện nhà hư hỏng hoặc quá dột nát, họ thay đổi từng bộ phận… Nhưng mỗi việc làm đụng chạm đến ngôi nhà dù là thay thế sửa chữa cũng đều cần phải cúng

Trường hợp là nhà mới hoặc do nhà đã quá dài cần phải tách bớt ra làm nhà mới đều phải được sự đồng ý của chủ nhà Đăm Đây (tên chỉ chung những anh em trai nhà vợ) Đất chọn làm nhà mới theo quan niệm của đồng bào là nơi gần bến nước nhưng không quá gần mạch nước đầu nguồn phun từ đất lên Đồng bào thường tránh làm nhà ở những khu đất như:

- Chỗ có mã đã chôn người chết, nơi mà Thần nuôi người chết hay Thần nghĩa địa cai quản

- Nơi có hang chuột bạch Đồng bào cho rằng chuột bạch do Thần nghĩa địa nuôi, nếu làm nhà trên đó người sống sẽ bị bệnh trướng bụng, sưng chân

- Cạnh một nhà giàu có hơn mình

Khi đã tìm được khu đất dựng nhà, khâu quyết định cuối cùng là tùy thuộc vào ý Thần Đất (Yang Lăn Rông) có cho phép hay không Thủ tục xin Thần Đất được làm như sau:

+ Buổi chiều hôm trước, chủ nhà mời thầy cúng ra khu đất định chọn làm nhà Thầy cúng khấn xin Thần Đất rồi đặt trên khu đất ấy một chén đồng (Mtil) đầy nước, bên cạnh cắm một dùi sắt (H’fei) Sáng hôm sau nếu chén đồng vẫn y nguyên không sánh nước, dùi sắt không xiêu vẹo hoặc đổ, như vậy là Thần Đất cho phép dựng nhà trên khu đất đó Nếu một trong hai thứ đó suy chuyển, khu đất dù đẹp đến mấy cũng phải bỏ mà tiếp tục đi tìm khu đất khác

Nhà ở

Sau khi chuẩn bị đủ vật liệu: gỗ, tre, nứa, tranh,… đưa về nơi dọn nhà, người Êđê tiến hành đẽo, chặt, ngâm Các hình chạm khắc trang trí nhà dài cũng được tiến hành đồng thời Từng bộ phận nhà được tiến hành theo trình tự: dựng khung nhà, mái nhà, làm sân, bao vách xung quanh, làm vách ngăn trong nhà, lát sân sàn Làm cầu thang là phần việc cuối cùng của ngôi nhà

Mỗi căn nhà dài luôn luôn có hai cầu thang mở ra ở hai đầu hồi Có hai loại cầu thang: cầu thang ván và cầu thang nguyên cây chỉ chặt khấc làm bậc Số bậc ở cầu thang phải luôn luôn là số lẻ, có từ 5-7 bậc vì người Êđê tin rằng số chẵn là số của Ma và số lẻ là số của Người

Sàn sân trước thường có từ 1-2 cầu thang tùy theo độ dài của căn nhà gọi là cầu thang Cái hay cầu thang Khách Cầu thang Cái dành cho khách và đàn ông trong nhà vì theo người Êđê, rể và đàn ông con trai trong nhà chỉ là khách, khi cưới vợ sẽ đi khỏi nhà Cầu thang vẫn

Trang 6

6 |

thường chạm khắc hình đôi bầu vú người phụ nữ tượng trưng cho chế độ mẫu hệ và vành trăng non tượng trưng cho lòng chung thủy trước sau như một (Xưa kia những gia đình nào đủ khả năng nuôi sống tất cả dân trong buôn trong vòng 15 ngày mới được phép khắc hình đôi bầu vú trên cầu thang ván của mình)

Khi lên xuống cầu thang không được quay lưng về phía nhà Có hai cách giải thích:

1 Căn nhà là nơi con người được sinh ra và lớn lên, quay lưng với nhà đồng nghĩa với phản bội nơi cưu mang mình

2 Người Êđê luôn đeo gùi sau lưng cho nên cách tốt nhất khỏi té khi lên xuống cầu thang là hướng mặt vào nhà

Sàn sân sau chỉ có một cầu thang gọi là cầu thang Đực Cầu thang này thường là loại cầu thang nguyên cây chặt khấc làm bậc và chỉ dành riêng cho phụ nữ trong nhà Nếu người lạ dùng cầu thang này sẽ bị quy cho là có những ý định không tốt như ăn cắp, tư thông vợ người

Điểm đáng chú ý trong kết cấu nhà dài Êđê là:

+ Hệ khung và mái nhà là hai bộ phận tách rời thành hai phần riêng biệt, liên kết với nhau nhờ trọng lượng của mái nhà, bằng mẩu tì của các thanh kèo và dây buộc

+ Nhà dài Êđê kết cấu theo kiểu khung cột không có vì kèo Ngày nay các nhà dài lợp tôn hoặc lợp ngói nên kết cấu khung nhà đã có thêm một số thanh đứng, từ đòn nóc xuống xà ngang Đây là sự tiếp thu kỹ thuật xây mới không phải là kết cấu nhà dài truyền thống

+ Vách bao quanh nhà dài chỉ để ngăn không gian trong nhà với bên ngoài chứ không tham gia chịu lực cùng với khung nhà

+ Nhà dài Êđê xây dựng vững chắc nhưng không kiên cố, các cột cấu kiện to khỏe, kết cấu đơn giản (chủ yếu dùng ngàm áp đặt, câu giằng, buộc…)

Không gian sử dụng trong nhà dài

Nhà dài trong các buôn Êđê đều có đòn nóc nằm theo hướng Bắc Nam Cửa ra vào được mở ở hai đầu hồi tránh được gió Đông Bắc về mùa khô và gió Tây Nam về mùa mưa không thổi thốc vào nhà Cũng theo hướng này, hai mái nhà dài coi như được đặt vắt ngang đường đi của mặt trời nên tận dụng được giờ chiếu sáng cao nhất trong ngày Vì thế tuy nhà có khi dài hơn 100m nhưng các gian cũng như các góc nhà thường có nhiệt độ và ánh sáng đều nhau

Không gian trong nhà dài gồm hai phần rõ rệt: GAH và ÔK

Phần GAH:

Là phần sinh hoạt chung của cộng đồng gia đình và cho khách Phần GAH là phần không gian thuộc nửa trước nhà dài GAH được tính từ cửa trước tới và rất lớn để đặt được ghế Kpan

GAH được gọi là gian khách vì đây là nơi diễn ra các sinh hoạt cộng đồng, dùng làm nơi tiếp khách xa tới và cũng là nơi dành cho đàn ông chưa có vợ GAH còn là nơi phô trương tài sản của chủ nhà: tất cả chiêng, chóe, v.v… được đặt ở đây

Phần GAH có 4 cột rất to được gọi như sau:

Trang 7

Nửa dưới đặt bếp, nồi niêu, bát đĩa, nước ăn,… Lối đi chung nằm trên nửa dưới tới cửa sau

GAH và ÔK có thể thay đổi theo hướng nhà (Bắc hoặc Nam) nhưng phần người ở bao giờ cũng là nửa phía Đông nhà dài

Nhìn toàn bộ không gian từ sân sàn vào đến hết trong nhà, dựa vào chức năng sử dụng của từng vị trí không gian được phân định, nhà dài Êđê có thể ví như một khu tập thể có sân chung, có nơi sinh hoạt tập thể, có lối đi chung nhưng lại có những ngăn ô dành riêng cho từng gia đình nhỏ Với tổ chức như vậy trong nhà dài luôn tạo được những khoảng không gian bảo đảm nhu cầu sinh hoạt cần thiết của mỗi gia đình nhỏ, song lại tạo được sự gắn bó quan tâm giữa các gia đình nhỏ thông qua quan hệ ở các phần không gian sinh hoạt tập thể

Nhà mồ

Khu nhà mồ thường cách buôn không xa, trên sườn đồi hoặc trên khoảnh đất xa để thoát nước khi nghĩa địa đã bị hư hại, sập nát Các nhà mồ Êđê đều có đòn nóc nằm theo hướng Đông Tây đối lập với hướng Bắc Nam của nhà dài

Đồng bào Êđê quan niệm:

3 4

Trang 8

8 |

+ Người chết mất xác vẫn được làm mồ nhưng theo những quy định riêng: Đặt gần lối

đi, cầu thang đặt ngược và dứt khoát phải đặt ngoài khu nghĩa địa Mồ thường làm như hình cũi đan bằng cây nhỏ, 4 chân cao sơ lược tạm bợ

+ Người chết dữ nhưng còn xác, khi chôn đầu phải đặt theo hướng mặt trời lặn

+ Người chết lành do già yếu, khi hạ huyệt đặt đầu theo hướng mặt trời mọc, cùng hướng với người sống nằm ngủ trong nhà

Trước khi làm lễ bỏ mả đồng bào làm nhà mồ trang trí cầu kỳ kết hợp nhiều nghệ thuật chạm khắc tạo thành quần thể kiến trúc nghệ thuật nhà mồ mà ta thường thấy Quần thể kiến trúc nghệ thuật này thường có:

+ Nhà mồ nằm ở trung tâm đặt trên ngôi mộ với 4 cột cái nhỏ cao hơn mái, trên có chạm khắc vẽ nhiều hoa văn màu đen hoặc màu huyết con vật hiến lễ

+ Nhà cơm nhỏ, đặt phía nhà mồ được làm hoàn toàn bằng gỗ ván dùng đựng cơm, nước, bát… cho người chết Nhà cơm được làm như kiểu nhà dài thu nhỏ dài khoảng 0,9m, cao khoảng 0,3m, hình dáng như chiếc thuyền Ở tất cả các nhóm Êđê địa phương, nhà mồ đều có nhà cơm Chỉ riêng nhóm Êđê Mthur thì không có bộ phận này

Gia đình và xã hội Êđê

Cơ cấu tổ chức buôn làng của người Êđê

1 Nhân vật thứ nhất: Khoa Pin Ea (Chủ bến nước): Bến nước giữ vai trò quan trọng

trong một buôn Êđê, vì thế người chủ bến nước (Khoa Pin EA) cũng là chủ buôn và kiêm luôn chức Già làng Chức vụ này chỉ một dòng họ nắm giữ, thường là dòng họ M’lô Có những Khoa Pin Ea có thế lực không những trong phạm vi một buôn mà cả một số buôn Chức vụ này chính là của dòng họ vợ ông ta, ông ta chỉ là đại diện cho vợ nắm giữ chức vụ này, và khi vợ mất đi ông ta sẽ mất đi chức vụ đó Người thừa hưởng chức vụ này thường là cô con gái Út trong gia đình vì cô ta là người trẻ nhất và cũng là người chịu trách nhiệm nuôi sống cha mẹ mình Như vậy người con rể sẽ thay thế vợ mình nắm lấy chức vụ đó Nếu người con rể là người thiếu tư cách không được gia đình vợ đồng ý chấp thuận thì ông ta cũng không giữ được chức vụ ấy Trường hợp vợ mất nhưng không có em gái kế thì chức vụ đó sẽ rơi vào tay cô em gái họ

Khi người Pháp đến thì có thêm chức Khoa Buôn tức là người chủ buôn trông coi công việc hành chính, thu thuế, bắt phu cho nhà nước phong kiến thực dân Nhưng dù có Khoa Buôn cũng đều phải hỏi ý kiến Già làng khi có việc quan trọng

Những thập kỷ từ cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX trở lại đây quyền hành của Khoa Pin Ea ngày càng bị thu hẹp chỉ còn trông coi việc cúng bến nước và các nghi lễ chung khác.’

2.Nhân vật thứ hai: Pô Phát Kdy (Người xử kiện): Xã hội Êđê cổ truyền tôn trọng

những lễ tục, vì thế trong buôn phải luôn có Pô Phat Kdy là người am hiểu luật tục và chịu trách nhiệm đứng ra xử các vụ kiện giữa các thành viên trong buôn

Trong xử kiện, người Êđê rất chú trọng đến chứng cớ và tang chứng Nếu không có tang chứng sẽ bị kiện ngược lại và bị phạt Ngay trong quan hệ vợ chồng, nếu bị nghi ngoại tình thì phải bắt được quả tang Trong trường hợp hai người đều bị nghi và ai sẽ chịu trách nhiệm chính thì phải cầu viện đến thần linh Ví du:

Trang 9

9 |

+ Cả hai người đều phải lặn xuống nước, nếu ai nổi lên trước sẽ bị tội chính

+ Đặt lá môn trên bàn tay và đổ chì nấu chảy vào, nếu ai không chịu nổi thì người đó chịu tội chính

+ Nếu nghi có ngoại tình trong buôn thì sẽ cử một đội chiêng đến đánh trước sân từng nhà một, nếu chiêng đánh bị rè ở nhà nào thì nhà đó có ngoại tình

Khi bên nguyên và bên bị đã được xét xử xong, bao giờ cũng kèm theo những lễ nghi nhằm chấm dứt oán thù giữa hai bên, có sự chứng giám của Thần Linh

3.Nhân vật thứ 3: Pô Riu Yang (Thầy Cúng): trong sinh hoạt chung của toàn buôn Êđê,

các hoạt động tín ngưỡng, lễ nghi chiếm vị trí hết sức quan trọng, trong đó vai trò Pô Riu Yang là không thể thiếu Đây là người làm các nghi lễ cho chủ buôn, cúng cho cả làng, và là người nắm giữ mặt tinh thần của người Êđê

4.Nhân vật thứ tư: Pô Lan (Chủ đất): Chức vụ này nay đã mất Chức chủ đất này do

dòng họ Niê K’Đăm nắm giữ Mỗi làng có một chủ đất và cũng có những chủ đất bao trùm lên cả vùng Ví dụ: Cả vùng Buôn Hồ chỉ có một chủ đất Chủ đất là người nắm giữ và phân chia đất đai cho các dòng họ khác nhau trong làng Ngày nay họ chỉ còn là người xử các vấn đề hôn nhân gia đình

Dòng họ (Djmê)

Trong xã hội Êđê truyền thống, dòng họ đóng một vai trò rất lớn Các gia đình cùng một dòng họ cư trú gần nhau trong buôn Dòng họ đóng vai trò quan trọng trong chế độ sở hữu gọi là chế độ sở hữu về dòng họ Mọi của cải trong gia đình là của chung và thừa kế theo dòng họ nữ Ví dụ: Tôi nuôi heo, bà đến mượn một con và không bao giờ trả hay khi một phụ nữ mất đi, cả dòng họ đến lấy hêt những tài sản nhỏ như: quần áo, nồi chén

Theo quan niệm dân gian, người Êđê chỉ có hai dòng họ lớn là Niê và M’lô, các dòng họ khác chỉ là sinh ra từ hai dòng họ lớn này mà thôi Đấy là tổ chức thị tộc lưỡng hợp Những người trong cùng họ Niê và M’lô không được lấy nhau, nếu vi phạm coi như phạm tội

Họ Niê gồm các họ: Ennol – Buôn Yă – Niê Sang – Niê Buôn Dâưp – Niê K’Đăm v.v… Những họ này thuộc cùng dòng không lấy được nhau Tương tự: Họ M’lô gồm các họ Buông Krông – Hdok – Ktul – Kpa – Hning – Êban – Rahlan

Tổ chức thị tộc chia làm hai: Thị tộc Niê và M’lô Theo quan niệm xưa, các họ trong hai dòng Niê và M’lô có nghĩa vụ kết hôn qua lại, như vậy mới đảm bảo sự hòa thuận

Bố là bác của mình và quan niệm này ngày nay vẫn còn

Gia đình

Họp thành buôn Êđê là những gia đình sống trong những ngôi nhà dài thuộc đại gia đình mẫu hệ mỗi gia đình bao gồm từ 4 đến 5 thế hệ hay nhiều hơn nữa theo chế độ ăn riêng và làm riêng, nhưng đây không phải là mô hình truyền thống

Truyền thống xưa là các gia đình trong nhà dài đều làm chung và ăn chung Đứng đầu trong gia đình là Khoa Sang Đó là người đàn bà cao tuổi và có uy tín nhất đứng ra trông nom tài sản, hướng dẫn sản xuất, điều hòa các mối quan hệ mọi mặt giữa các thành viên, thay mặt đại gia đình mẫu hệ quan hệ với xã hội Trong nhiều trường hợp, người chồng bà chủ nhà có thể đại diện cho vợ, nhưng quyền quyết định vẫn là bà chủ gia đình Mọi của cải

Trang 10

10 |

trong gia đình là của chung và thừa kế theo dòng nữ Người chồng khi vợ chết phải trở về nhà mình tay không, của cải và con cái để lại gia đình vợ Đàn ông trong gia đình Êđê chỉ có quyền sử dụng tài sản chứ không được sở hữu tài sản, vì thế khi con trai đi lấy vợ, gia đình anh ta chỉ cho một cái gùi nhỏ gồm áo, khố, xà gạc Khác với người Kinh, người Êđê khi nói Nội tức là phía nữ, và Ngoại tức là phía nam Nếu người đàn ông ngoại tình, phía nhà vợ không đứng ra nộp phạt cho người chồng bị ngoại tình, mà chính gia đình mẹ hoặc gia đình chị em gái anh ta phải nộp phạt Người đàn ông lấy vợ chỉ là người đến nhà vợ và làm việc cho nhà vợ

Nếu người đàn ông đó lười biếng, người vợ sẽ bỏ chồng Vì thế đàn ông Êđê có câu:

Ở với chị được làm người

Ở với vợ làm đầy tớ

Tóm lại, vị trí người đàn ông trong xã hội Êđê giống như người phụ nữ Kinh trước đây, rất thụ động Về phân công lao động trong gia đình Êđê, họ theo loại phân công lao động truyền thống tức là phân công theo giới tính và tuổi tác Theo đó phụ nữ có nhiệm vụ gùi củi, bổ củi, lấy nước, nuôi con, dệt vải, dọn dẹp rẫy… và đàn ông thì đan lát, phát rẫy, mua sắm các vật dụng lớn như: chiêng, ché, trâu, voi,… dĩ nhiên là với sự đồng ý của phụ nữ trong gia đình

Tục nối nòi (Cuê Nuê)

Đây là một phong tục cổ của người Êđê nhằm giữ gìn sự liên tục của gia đình, dòng họ, duy trì nòi giống Tục lệ này quy định khi vợ hoặc chồng vì lý do gì đó chết đi thì gia đình dòng họ bên đó phải kiếm người thay thế Việc này phải được bàn bạc ngay trong tang lễ người quá cố Đây là trách nhiệm của hai bên gia đình phải thực hiện, nếu như người vợ không thuận hoặc gia đình chồng không còn ai nữa, thì sau khi làm lễ bỏ mả người chồng (Lui Msat), người đàn bà c9ó được quyền lấy chồng khác

Trong quan hệ kết hôn của người Êđê tồn tại quan hệ hôn nhân chị em vợ và anh em

chồng, mà người Êđê gọi là tục nối nòi theo kiểu quy định của lệ tục: “Gãy cái gùi phải thay

thế, gãy cái giát phải thay thế, người chết (chồng hay vợ) phải nối nòi.” Theo đó, khi chồng

chết đàn bà có quyền đòi hỏi nhà chồng một người em chồng nối nòi Ngược lại khi vợ chết người chồng có thể lấy em vợ để nối nòi hay còn có nối nòi giữa ông bà và cháu (kiểu bà chết cháu thay), ông có thể lấy cháu, cháu có thể lấy mợ, em gái vợ có thể lấy anh rể… Nhưng phải tuân thủ là không được nối nòi trong hệ dòng họ mẹ

Tục nối nòi thường áp dụng cho các gia đình giàu có, mục đích để khỏi phân tán tài sản gia đình Trường hợp khi nối nòi gặp phải chồng hay vợ còn quá nhỏ thì người nối nòi được quyền quan hệ yêu đương tự do nhưng không được gây ra sự cố (có thai) đồng thời phải có bổn phận chăm sóc vợ, hay chồng đến khi khôn lớn Đến lúc đó phải chấm dứt những quan hệ yêu đương

Hôn nhân

Ngày xưa cha mẹ chọn chồng cho con gái, ngày nay con gái đi hỏi chồng, chủ động hoàn toàn trong hôn nhân, mọi phí tổn trong hôn nhân nhà gái chịu

Trang 11

11 |

Tàn dư chế độ mẫu hệ ở người Êđê còn khá rõ nét được thể hiện ở việc phụ nữ đi hỏi chồng và hôn nhân cư trú bên vợ

Những nghi lễ trong cưới xin

1.Lễ hỏi chồng (hay Lễ chạm ngõ: Nao Nuh)

Nhà gái làm một lễ hỏi gồm các ché rượu và một vòng đồng để cúng thần, sau đó cô gái cùng ông mối tới nhà trai Nếu người con trai là người buôn khác thì những người đi hỏi chồng mang thêm nắm cơm nếp với ý nghĩa cầu mong tình yêu của đôi trai gái sẽ mãi gắn bó như cơm nếp

ĐămĐêi (anh, em trai mẹ) cầm chiếc vòng đã được cúng thần đến hỏi chàng trai, nếu chàng trai ưng thuận thì họ làm lễ trao vòng: Cô gái và chàng trai cùng chạm tay vào chiếc vòng đồng Đó là lời giao ước hôn thú Từ đó coi như hai gia đình đã thành thông gia, mỗi bên gia đình cử ra Miết Ava (người đỡ đầu) của mình Miết Ava là người thay mặt hai gia đình, giúp họ thành vợ chồng và sau này khuyên răn chú rể, cô dâu và dàn hòa mọi bất hòa giữa hai gia đình

Trong trường hợp người con trai không đồng ý thì nhà trai làm một lễ nhỏ mời nhà gái đến dự để khỏi gây mất lòng, vì theo quan niệm người Êđê, từ chối hôn nhân của một người là từ chối hôn nhân cả một dòng họ

2.Lễ thoả thuận (hay Lễ hỏi: Knăm)

Hai gia đình gặp nhau bàn việc thách cưới do nhà trai đưa ra, thường là thách cưới rất cao Đồ thách cưới gồm trâu, bò, chiêng, ché,… (Bây giờ thách cưới bằng vàng: 7 chỉ đến 1, 2 lượng)

Nếu nhà trai và nhà gái đồng ý sẽ chọn ngày đưa cô gái về sống tại nhà chồng một thời gian để thử thách

Nếu cô gái không trả nổi thách cưới thì phải ở lại làm việc tại nhà chồng cho đến khi hết nợ mới có quyền đem chồng về Lúc đó mới làm lễ gọi chồng Trường hợp trả không hết nợ (thường là gái mồ côi) thì cô gái phải ở luôn bên nhà chồng

Vì đồ thách cưới thường rất cao nên có trường hợp có con rồi mới làm lễ cưới

3.Lễ gọi chồng (hay Lễ cưới: Yâu Ung)

Khi đã đủ đồ thách cưới, nhà gái sẽ trao cho nhà trai và xin cưới, tức là làm lễ gọi chồng Ngoài đồ thách cưới, nhà gái sẽ mang sang nhà trai 3 lễ vật bắt buộc để rtả công cho Mẹ chồng

+ Một chén bằng đồng: Trả công ơn Mẹ chồng đã tắm cho chồng lúc còn nhỏ bằng thau đồng

+ 8 vòng đồng: Tượng trưng 8 lễ cúng trong chu kỳ của một con người trước khi lập gia đình

+ Một cái chăn: Trả công Mẹ chồng đã địu chồng lúc nhỏ

Ngoài 3 lễ vật trên phải có rất nhiều vòng đồng để phát cho các thành viên của gia đình chồng Tiếp theo là Lễ rước rể

Nhà trai tiễn con bằng một ché rượu và con heo Trên đường về nhà gái lần lượt trao vòng cho chú rể coi đó như những lời cam kết thủy chung và lời chúc tụng hạnh phúc

Trang 12

4.Lễ lại mặt (Siê Knăm)

Sau lễ cưới 3 hoặc 5 ngày, hai vợ chồng về nhà bố mẹ chồng, đó là lễ lại mặt Nhà trai mời rượu và đưa cho một số đồ gia dụng (nông cụ, đĩa bát,…) đặt bên ché rượu để chú rể mang về nhà vợ

Các hình thức hôn nhân

1.Hình thức hôn nhân thứ nhất: Anh em chồng, chị em vợ

Đây là hình thức hôn nhân ưa thích nhất của người Êđê: Chị chết em thay, anh chết

em thay (nếu chưa có gia đình) Việc lấy chị cả và anh cả không xảy ra vì quan niệm người Êđê xem anh chị cả như Cha Mẹ, nếu lấy nhau sẽ phạm tội loạn luân, nhưng nếu lấy anh chị thứ thì được

2.Hình thức hôn nhân thứ hai: Con cô con cậu hai chiều (Gọi là hai chiều vì con trai

cô lấy con gái cậu và ngược lại)

Hình thức hôn nhân trên ngành dân tộc học gọi là tàn tích của chế độ quần hôn Giống như các dân tộc miền núi khác, người Êđê xem nhẹ trinh tiết trong quan hệ nam nữ trước hôn nhân Thanh niên nam nữ từ 15 tuổi đã trải qua Lễ trưởng thành là có quyền tự do quan hệ với nhau với điều kiện là không để xảy ra có thai

(Lễ trưởng thành: Người chịu lễ nằm trên giường, tay được trói lại, miệng ngậm một khúc gỗ chịu cho người hành lễ cắt 6 răng cửa của mình)

Sàn xuất kinh tế

Rẫy là phương thức sản xuất chính của người Êđê, ruộng nước chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ tận dụng những vùng đầm lầy, trũng

Người Êđê làm lúa nương, lúa rẫy và hoạt động luân khoảnh Mùa lên rẫy bắt đầu từ khi tìm đất mới đến khi thu hái xong, làm lễ đóng kho thóc Cách trồng lúa của người Êđê theo lối xen canh, tức là ngoài lúa rẫy còn trồng xen bắp, đậu v.v… và theo chế độ luân khoảnh: làm rẫy theo chu kỳ khép kín từ 8-10 năm Như vậy mỗi gia đình có khoảng 10 khoảnh đất và khai thác mỗi khoảnh đất lần lượt từ 1- 2 năm

Chủ nhà lên rừng tìm được khoảnh đất tốt thì lấy lá đánh dấu, cắm xà gạc rồi đi thẳng về nhà Dọc đường không được nói chuyện với bất kỳ ai, chỉ sau khi đã tắm rửa xong mới bắt đầu nói chuyện Đêm đó nếu nằm mơ thấy con Culi hay ngày mai nghe tiếng hươu kêu bên rẫy thì dù miếng đất đó có tốt bao nhiêu cũng bỏ

Trang 13

13 |

Người Êđê tuyệt đối không phá rừng đầu nguồn để bảo vệ và không làm bẩn nguồn nước Họ không khai phá những vùng có cây to được dùng làm quan tài, ghế Kpan, cột nhà, v.v… Đấy là cách bảo vệ môi trường của họ Về công cụ sản xuất chủ yếu dùng cuốc, xà gạc, gậy chọc lỗ (độ cao của gậy phụ thuộc vào độ đất cứng hay mềm) Về buôn bán thì dùng vật đổi vật

Người Êđê theo chế độ kinh tế chiếm đoạt (thuật ngữ dân tộc học) tức là dùng hai hình thức săn bắt và hái lượm để cung cấp thức ăn hàng ngày Săn bắt do đàn ông đảm trách và hái lượm do phụ nữ

Về ngành nghề thủ công chủ yếu là dệt vải và đan lát, thực hiện những lúc nông nhàn (tháng 1, 2, 3) Quá trình làm ra vải theo từng bước: trồng bông, cán bông, kéo sợi, nhuộm màu và dệt vải Khung dệt của đồng bào còn đơn giản, sau khi luồn sợi vào go thì một đầu sợi có thể luồn vào vách nhà (hoặc cột nhà), đầu kia buột vào thân người căng sợi để dệt nên tốc độ chậm Sản phẩm dệt là những tấm vải khổ 0,8m dùng làm chăn, váy, áo và vải khổ 0,3m làm khố, khăn đội đầu Chất lượng vải bền chắc, dày dặn, mặt vải thô Khi dệt vải đồng thời dệt các sọc màu và các dải hoa văn thường chạy dọc theo hai mép khổ vải, dùng làm váy, chăn… các khổ vải được khép lại với nhau theo mép dọc vải tùy theo kích thước sản phẩm sử dụng Khi cuốn vải lên người làm váy (Yêng), các dải hoa văn tạo thành những đường trang trí ngang vòng quanh trục thân tập trung ở cạp váy và khoảng trên đầu gối Về màu sắc gồm 4 màu cơ bản được chế từ cây rừng và vật liệu địa phương

+ Màu đỏ: Dùng vỏ cây Snan dak và Anana giã nhỏ cho vào nồi nấu một đêm, sau khi vớt bã cho sợi vào khuấy đều Bột gạo giã có tác dụng cho màu bền và hồ cứng sợi Hiệu quả màu: Màu đỏ hơi nâu không tươi

+ Màu đen: lấy vỏ lá cây Kơrum giã nhỏ ngâm cùng với tro cây le le, sau đó vớt hết bã, ngâm 3 ngày đêm Vỏ cây Alio giã nhỏ đem chưng có tác dụng làm cho màu bền, đẹp Sợi có thể nhúng vào nước Alio trước hoặc sau khi ngâm trong nước Kơrum Hiệu quả màu: màu đen hoặc chàm sẫm

+ Màu xanh: có hai màu xanh

o Xanh lục: Lấy từ nước cây Kơrum (nhuộm chàm đen) và pha nhiều nước suối

o Xanh nước biển: Cũng lấy từ nước Kơrum nhưng pha loãng và thời gian ít hơn + Màu vàng nghệ: Củ nghệ giã nhỏ trộn vào, ngâm cùng sợi, dùng lá môn bọc ngoài

3 ngày đêm Sắc độ màu tùy thuộc vào thời gian ngâm, lâu thì cho màu sẫm, ngâm ít thì cho màu nhạt

+ Màu trắng: Là màu nguyên thủy của sợi bông khi se trắng

Các công đoạn chế màu cũng như trồng bông kéo sợi của người Êđê thường lâu và chậm, hiệu quả lại hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu của đồng bào Vì thế ngày nay đồng bào thường mua sợi nhuộm sẵn hoặc thuốc nhuộm ở chợ

Lịch nông nghiệp của người Êđê

Người Êđê dùng âm lịch tính theo Trăng (Mlan)

Tháng 1 (âm lịch) Phát rẫy, chặt cây, cúng lúa

2-3 Dệt vải, đan lát

Trang 14

14 |

4 Đốt rẫy, dọn nương

5 Tỉa lúa sớm (lúa 3 tháng)

6 Tỉa lúa muộn (lúa 6 tháng) và làm cỏ lúa sớm

7-8 Làm cỏ và bắt đầu cuốc rẫy mới

9-10 Làm cỏ và ăn lúa mới (lúa 3 tháng)

11-12 Suốt lúa và thu hoạch

Người Êđê tổ chức cúng lúa theo từng gia đình khác với người Môn-Khmer luôn phải có một lễ chung trước Người cúng lúa thường là chủ nhà và khi cúng mặt phải luôn luôn hướng về phía Đông (mặt của sự sống) Người Êđê quan niệm lúa có hồn vì thế họ suốt lúa bằng tay để khỏi phải làm đau hồn lúa Cũng vậy, khi ăn cơm thì không xới cơm trong nồi mà chỉ sắn từng miếng nhỏ vào chén, vì sợ rằng nếu đánh tơi cơm thì thần lúa sẽ bỏ đi mất

Âm nhạc

Âm nhạc dân gian Êđê còn mang đậm những yếu tố âm nhạc của một xã hội nguyên thủy, nền âm nhạc chưa phát triển đến mức trở thành một loại hình nghệ thuật độc lập Âm nhạc có mối quan hệ chặt chẽ với phong tục tập quán, với sinh hoạt cộng đồng, với môi trường thiên nhiên, xã hội, với các ngành văn hóa nghệ thuật khác

Phần lớn các nhạc cụ đều có cấu trúc đơn giản, đều được chế tạo bằng những vật liệu có sẵn trong thiên nhiên như quả bầu, cây nứa, tre, gỗ, bông gòn, sáp ong Vỏ quả bầu khô, một sản phẩm rất phổ biến trên các rẫy của người Êđê được sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt hàng ngày của họ như làm vật đựng gạo, đựng rượu, đựng nước, đồng thời cũng được sử dụng rộng rãi để làm các loại nhạc cụ đinh năm, đinh tác ta, đàn Brố…

Âm nhạc dân gian Êđê là sản phẩm của một xã hội có giai cấp, biểu hiện rõ nét nhất

ở tính cộng đồng cao trong sinh hoạt âm nhạc Đó là tài sản chung của toàn thể cộng đồng chứ không phải là đặc quyền riêng của tầng lớp nào Sinh hoạt chiêng, hát muynh… cũng như việc sử dụng rộng rãi các nhạc cụ khác đã biểu hiện rõ tính bình đẳng, dân chủ của người Êđê trong việc sở hữu, hưởng thụ âm nhạc, một đặc điểm có tính quy luật của xã hội cổ đại

Một hiện tượng thường thấy trong văn học dân gian Êđê là quan niệm lưỡng phân lưỡng hợp cùng tồn tại phổ biến trong âm nhạc Êđê, trong cấu tạo nhạc cụ, cấu trúc dàn nhạc, ngôn ngữ âm nhạc… Đó là hai dây đàn Brố, hai hàng ống của đinh năm, hai mặt da trâu đực cái của trống Hơgơr, hai nhóm trong dàn chiêng… Quan niệm lưỡng phân lưỡng hợp đó cũng là quan niệm phổ biến trong cư dân nông nghiệp, đặc biệt là vùng Đông Nam Á Mặc dù trình độ phát triển của xã hội Êđê chưa cao, khả năng kỹ thuật còn thấp chưa cho phép người Êđê chế tạo những nhạc cụ có cấu tạo phức tạp, song chỉ với nhạc cụ thô sơ ấy người Êđê đã hình thành nên một ngôn ngữ âm nhạc độc đáo giàu bản sắc dựa trên một hệ thống thẩm mỹ cao và một tư duy âm nhạc khá phát triển

Trang 15

15 |

Kơny: Nhạc cụ thuộc nhóm dây dùng cung kéo (archet) Vật liệu gồm ống nứa dài khoảng 40 - 45cm, một cần để buộc dây và đàn lên dây, dây làm bằng sắt (do sự xuất hiện các loại dây kim loại sau này) Trước đây dây đơn giản hơn, dây là cật nứa của chính ống nứa đó tước ra, một cây nứa khác làm vĩ dài từ 70 - 80cm

Kơny là nhạc cụ khá độc đáo Trên dây đàn (gần sát cần đàn) có buộc một sợi dây chỉ dài khoảng 40cm, ở đầu sợi chỉ này có một miếng sừng trâu mỏng hoặc vảy tê tê khoảng 2cm Khi kéo đàn người chơi tay phải cầm chiếc cật nứa gảy lên dây đàn, tay trái bấm dây đàn, ngậm miếng sừng trâu trong miệng và kéo căng sợi chỉ Người chơi Kơny vừa kéo đàn cho phát ra âm thanh, miệng mở hoặc khép theo lời thơ người đó muốn đọc Âm thanh của cây Kơny khi phát ra do vậy cũng tương tự tiếng nói của người Người nghe quen lại thuộc bài thơ sẽ nghe được lời thơ mà người chơi đàn muốn nói Tuy vậy âm lượng của cây Kơny rất nhỏ, người nghe muốn nghe rõ thường phải ngồi sát người chơi, âm vực của nhạc cụ này hẹp, chỉ trong vòng một quãng 5 Kơny là loại nhạc cụ được thanh niên nam nữ Êđê ưa thích, nhạc cụ này được sử dụng mọi nơi mọi lúc không bị cấm kỵ, song nó thích hợp với những nơi thanh vắng và những cuộc tâm sự riêng tư giữa trai gái do âm lượng nhỏ của loại nhạc cụ này

Brố: Là nhạc cụ thuộc nhóm dây, loại gảy (Pincée) rất phổ biến với người Êđê Brố gồm nửa quả bầu khô có đường kính 14-20cm, phần núm được gắn với một cần đàn dài từ khoảng 1,1 đến 1,2m bằng gỗ, có hai tay đàn bằng tre để mắc dây và lên dây Một dây vị trí cao, cao độ trầm; một dây ở vị trí cao hơn, độ âm cao, dùng để chơi giai điệu Trên cần dài có 5 phím bấm bằng bông gòn trộn với sáp ong đen, cách nhau 5, 6cm, hai dây cách nhau một quãng 4 đúng

Khi chơi Brố, người chơi úp miệng quả bầu vào khoang ngực tạo nên hộp cộng hưởng, âm thanh do vậy mà ấm áp, thích hợp với tính chất tâm tình trai gái Ngón tay trái bấm lên phím đàn, ngón tay trỏ của tay phải gảy lên dây, ngón cái giữ cần đàn Brố là nhạc cụ thích hợp với nhiều lứa tuổi, đó là nhạc cụ để người chơi lớn tuổi tự sự, giảy bày nỗi lòng mình trong những đêm thanh vắng, cho trai gái tự tình Tuy vậy âm lượng của Brố lớn nên có thể biểu diễn cho nhiều người thưởng thức hơn

2.Nhóm hơi: Kypá – Đing tác ta – Đing năm – Đing tút

Kypá: Có nơi gọi tắt là Ky, chiếc tù và bằng sừng trâu Đây là loại nhạc cụ được sử dụng nhiều ở các vùng miền núi Ky tiếng Êđê nghĩa là chiếc sừng, Pá là vỗ Khi thổi ky, người ta dùng lòng bản tay vỗ vào miệng tù và tạo nên tiếng rung, ngắt tiếng… Ở phía giữa sừng trâu người ta khoét một lỗ nhỏ và gắn một chiếc lưỡi gà làm bằng tre (ngày xưa) hoặc bằng đồng (gần đây) Khác với cách thổi tù và ở các nơi là thổi vào đầu nhỏ của chiếc sừng thì người Êđê thổi Kypá ngang Miệng người thổi ngậm vào núm đặt lưỡi gà, ngón cái tay trái bịt vào đầu nhỏ trong khi lòng bàn tay phải vỗ nhẹ vào đầu lớn

Kypá là loại nhạc cụ có âm lượng rất lớn từ xa cũng có thể nghe thấy Người Êđê thường sử dụng Kypá làm hiệu lệnh chiến đấu, đuổi muông thú chim chóc vào phá rẫy, dùng trong một số cuộc lễ như tang ma, rước trống, rước Kpan, lễ cúng rẫy, cúng thần nước

Trang 16

16 |

Đing tác ta: Còn gọi là Đing Buốt Klé – Đing Buột Tút Đing tác ta gồm có một ống nứa dài từ 45-50cm, đường kính 1,5-2cm, cắm qua vỏ một quả bầu nhỏ (đường kính chừng 6cm, cao khoảng 10-15cm) có núm dài và khoét một lỗ nhỏ để làm chỗ thổi Phần ống nứa đi qua quả bầu có đặt một chiếc lưỡi gà bằng tre hoặc bằng đồng nhỏ Người thổi ngậm vào núm quả bầu, ngón cái tay trái bịt ở đầu gắn ống nứa, 3 ngón tay bàn tay phải: ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa bịt ở 3 lỗ

Đing tác ta không bị kiêng cấm khi sử dụng song cũng ít thấy thổi trong nhà Âm lượng khá lớn, khả năng mô phỏng âm thanh thiên nhiên cao khiến nhạc cụ này thường được sử dụng ngoài rừng, trên rẫy Trong một số ngày tế lễ, đing tác ta được sử dụng để tạo không khí vui vẻ chứ không phải là nhạc cụ chính thức được dùng trong các nghi lễ đó

Đing Tút: Là loại nhạc cũ có cấu tạo hết sức đơn giản, tổ chức thành dàn của người Êđê gồm 6 ống to, nhỏ, dài, ngắn khác nhau Cách làm Đing Tút rất đơn giản: người ta chặt một ống nứa nhỏ kín một đầu, người thổi để ống đứng thẳng và ghé môi thổi vào thành ống đầu hở Điều phức tạp là tạo ra 6 ống cho ra 6 âm đúng với hàng âm cơ bản Khi làm ra 6 ống, người chơi kiểm tra lại, nếu ống nào có âm chưa chuẩn xác thì phải đổ nước vào để thay đổi chiều dài cột hơi của ống Một dàn đing tút có thể có kích thước tùy ý, chiều dài các ống khoảng từ 8, 9 đến 20, 21cm, đường kính từ 1,5-1,8cm

Đing tút là loại nhạc cụ thường dùng cho phụ nữ, mỗi người sử dụng một ống Đây là nhạc cụ thường dùng trong đám tang, lễ bỏ mả… nên ngày thường ding tut bị kiêng cấm sử dụng trong nhà Tuy vậy có thể sử dụng dinh tut trên rẫy, trong lễ rước Kpan,rước trống Hgơr, lao động trên rừng, trên rẫy, khi chăn trâu, chăn bò

Đing Năm: Có thể nói đây là loại nhạc cụ có cấu tạo phức tạp nhất trong các nhạc cụbộ hơi của người Êđêâ Đing Năm (tiếng Êđê có nghĩa là sáu) như tên gọi, là loại nhạc cụ gồm 6 ống nứa dài ngắn khác nhau cắm xuyên qua vỏ một quả bầu khô 6 ống nứa này được bố trí thành hai hàng, hàng trên chéo xuống hàng dưới đặt ngang Phần ống đi qua quả bầu, phần trên có gắn một lưỡi gà bằng tre hoặc bằng đồng, chất gắn là sáp ong trộn với bông gòn Khi thổi, người chơi đinh năm ngậm núm bầu (nếu núm quá to, có thể gắn một ống nứa hoặc ống tre nhỏ) và thổi

Đing năm có khả năng hoà tấu, độc tấu và đệm cho hát AYRAY Đing năm với diễn tấu phong phú, khả năng âm nhạc phức tạp, âm thanh đẹp, khoẻ, rất được thanh niên trai gái Êđê ưa thích Đó là loại nhạc cụ dùng để giải trí trên rẫy sau những lúc làm việc mệt nhọc Ban đêm tiềng đing năm cũng làm nhiệm vụ xua thú rừng vào phá rẫy, bởi vậy đing năm là loại nhạc cụ luôn có mặt trong túp lều giữ rẩy của người Êđê

Đing năm bị kiêng cấm sử dụng trong nhà và những ngày thường Khi có lễ tang và lễ bỏ mả, đing năm mới được thổi trong nhà và đệm cho trai gái Êđê hát AYRAY giao duyên

Sự tích kèn Đing năm: Ngày xưa có hai vợ chồng nọ ăn ở với nhau đã lâu mà vẫn không có con, nay vào nhờ vào sự linh dị siêu nhiên mà người vợ sinh được 6 đứa con cùng môt lúc (3 trai 3 gái) Người cha lên rừng chặt về 6 ống nứa dài ngắn cho các con và dự định rằng, đứa nào lấy ống dài hơn sẽ là chị, là anh Sau đó người con trai út lấy các ống nứa ấy cắm vào một quả bầu khô thành kèn đing năm thổi thật buồn thương, sầu não Ngày cha mất

Trang 17

17 |

người con út đem kèn ra thổi, những người dự đám tang người thì khóc, người thì hát theo tiếng kèn Từ đó mỗi khi trong buôn làng có người chết, người con trai út kia lại mang kèn đến thổi để tỏ lòng nhớ cha, nhớ người đã khuất

3.Nhóm gõ:

KÔK (có nơi gọi là Krơng): Là loại nhạc cụ nhóm gõ được người Êđê ưa thích, có nhiều loại đàn Kôk, loại Kôk bằng tre, loại Kôk bằng gỗ Cũng nhiều dạng: dạng có 4 thanh, dạng có 6 ống, người Gia Rai gọi là T’rưng Loại Kôk gồm 6 ống nứa dầy, dài ngắn khác nhau được buộc lại với nhau ở hai đầu theo thứ tự từ lớn đến nhỏ Một đầu ống được bịt kín bởi mấu, một đầu chặt vát Dây buột là loại dây rừng hoặc vỏ cây tước ra dài và chắc như vỏ cây Brang dác Dùi đánh đàn Kôk làm bằng le (ngưới Êđê gọi là Alê)

CHING: Đây là loại nhạc cụ phổ biến và độc đáo của các dân tộc Tây Nguyên nói chung, của người Êđê nói riêng Có thể đối với người Êđê đã tồn tại một nền văn hoá Ching

Ching xuất hiện từ bao giờ? Xuất hiện như thế nào? Và vì sao lại có độ dày đặc như vậy ở khu vực người Êđê, đó là các vấn đề đặt ra cho các nhà nghiên cứu âm nhạc, dân tộc học khi nghiên cứu dân tộc Êđê

Ching có một giá trị phi kinh tế cao Một chiếc Ching quý có thể đổi được một con voi hoặc gần 20 con trâu Ching là loại nhạc cụ đã được thiêng hoá Đó là công cụ, theo quan niệm của người Êđê, có thể giúp con người thông tin trực tiếp với thần linh, các Yang Bởi thế chúng không được sử dụng bừa bãi mà chỉ có thể xuất hiện trong những dịp có cúng tế lớn Ching có mặt trong các cuộc lễ trọng đại suốt vòng đời người Ching Êđê là một bộ phận dàn gồm Ching dẹt và có núm Ching dẹt có 7 chiếc, trong đó có Sar, chiếc Ching dẹt lớn nhất trong cả dàn (có chiếc đường kính 95cm) Ching núm gồm có 3 chiếc, là những Ching có kích thước lớn hơn trong dàn so với những Ching dẹt, có đường kính từ 45-70,8cm Ở giữa Ching núm là một chiếc núm có đường kính 1,5-15cm, cao khoảng 4,5cm Núm là bộ phận quan trọng nhất của Ching, nó quyết định chất lượng âm thanh của chiếc Ching đó (theo lời kể của một nghệ nhân, ở một số loại Ching quý như Ching lao, Ching kur, trong núm có một tỷ lệ vàng bạc khá cao, bởi thế ở một số ngôi mộ của nhà giàu, có những kẻ đi đào trộm Ching chôn theo người chết chỉ phá núm mang đi, còn Ching bỏ lại)

Đứng về âm nhạc núm còn quyết định độ chính xác của cao độ chiếc Ching Người sửa Ching hoặc người lên dây ching (Pô Tul Ching) thường tác động vào núm bằng cách gò lại hoặc đổ thêm sáp ong đen để làm cho cao độ âm thanh của Ching chuẩn xác

Xét về kích thước bộ phận Ching núm được xếp theo thứ tự từ lớn đến nhỏ là Ana Ching và Mdu Ching và Moong Ching Giữa Ana và Mdu có sự đối lập về cách đánh Trong khi Ana Ching được treo lên một đầu ghế Kpan (đầu gần cửa ra vào) thì Mdu Ching được đặt úp trên mặt ghế ở đầu kia của dàn Ching gần với trống Hgơr Ana được đánh cho tiếng ngân thoải mái thì Mdu luôn sử dụng tay trái đặt lên để chặn tiếng Ana Ching tiếng Êđê là cái, là lớn, được hình dung như một người mẹ chủ nhà trong gia đình chế độ mẫu hệ

Sar là chiếc lớn nhất trong dàn Ching êdê song nó không nằm trong bộ phận Knác là bộ phận Ching dẹt mà đứng tách riêng Nó cũng là chiếc Ching có giá trị cao trong dàn, có đường kính lớn 70-90cm Sar có vị trí đặc biệt khi hoà tấu Ching: khi có hoà tấu nó được treo

Trang 18

18 |

lên ngang chính giữa lối ra vào, cách cửa 0,5-1m Người đảm nhiệm Sar thường là một cụ già cao tuổi ngồi trên chiếc ghế dành riêng để đánh Sar gọi là Kpan Sar Cũng như cách diễn tấu của các Ching khác của người Êđê, người đánh Sar phải dùng dùi gỗ để đánh vào lòng nó Dùi thường làm bằng gỗ Kieo Mnut Loại ching dẹt dùng dùi gỗ, loại Ching núm có nơi thường dùng nắm tay, có nơi dùng dùi gỗ bọc bằng da bọc tinh hoàn con chồn

Trong tổ chức dàn Ching, tính lưỡng phân lưỡng hợp được biểu hiện ở các cặp đôi sau: + Ching dẹt và Ching núm

+ Nhóm Hluê và nhóm Knác

+ Nhóm Khớc và nhóm Hlang

+ Nhóm Mdu Ching và nhóm Ana Ching

+ Nhóm Treo (Sar – Ana Ching – Knác ti…) và nhóm đặt nằm trên lòng hoặc trên mặt ghế Kpan (Mdu Ching Hluê, Ksớc Proong,…)

Ching Êđê có vị trí diễn tấu cố định Vị trí đó là trên ghế Kpan luôn nằm ở phía Tây gian khách Không những vị trí cả dàn Ching mà vị trí của từng chiếc Ching trong dàn cũng đều cố định Song cũng có một vài trường hợp dàn Chinh Êđê được mang đánh ngoài trời, đó là những trường hợp sau:

+ Lễ cúng bến nước

+ Tang lễ

+ Lễ bỏ mả

Trống (Hgơr): Trống Êđê là một nhạc cụ rất quan trọng của người Êđê Chỉ những gia đình giàu có mới được làm trống và có trống (sau khi làm Kpan) Sau khi hoàn thành việc làm trống ở rừng, việc rước trống ve62 nhà đã trở thành một nghi lễ rất quan trọng trong vòng đời người, của gia đình và của cộng đồng Lễ này được tổ chức trọng thể như lễ rước Kpan Sau khi được rước về nhà, trống đặt ở một vị trí cố định, đó là đầu ghế Kpan, nằm kẹp giữa cột nhà và vách phía Tây gian khách Khi mang trống khỏi vị trí ấy cần làm lễ cúng

Trống làm bằng một thân cây độc mộc (loại sao hoặc lim) đục rỗng bên trong Mặt trống có đường kính từ 0,7-1m được bịt bằng hai tấm da trâu Mặt bịt bằng da trâu cái, mặt cái quay vào phía trong, không được sử dụng Mặt bịt bằng da trâu cũ, mặt quay ra ngoài, trên mặt gắn một hoặc hai chiếc lục lạc bằng đồng, có trang trí một vành trăng khuyết, đó là mặt dùng để đánh Người Êđê cho rằng phải bịt bằng hai tấm da trâu đực, cái tiếng trống mới ấm Dùi trống bịt vải, da hoặc cao su

Sử dụng trống thường là những nghệ nhân có tuổi Trống thường sử dụng trong những dịp sau:

- Cùng hòa với đàn Ching, ở những phút dồn dập

- Đánh ba hồi, mỗi hồi 5 tiếng báo hiệu kết thúc đàn Ching

- Khi có người chết, vào lúc sớm tinh mơ, chủ nhà cho đánh 3 hồi trống, mỗi hồi 3 tiếng để báo hiệu cho buôn làng và cộng đồng biết tin buồn

Lễ thức trong đời sống cá nhân và cộng đồng

Tín ngưỡng

Trang 19

19 |

Trong xã hội Êđê cổ truyền, đời sống hiện thực của con người gắn chặt với tín ngưỡng với lễ thức như hình với bóng Các thần linh ở 3 tầng: Trời, mặt đất và trong lòng đất Các Yang, hồn hầu như nằm trong mọi vật như bao bọc lấy thế giới con người Đó là những lực lượng siêu nhiên chi phối đời sống hiện thực của con người Con người muốn được các thần linh phù trợ về sức khỏe, cây trồng, vật nuôi và các hoạt động khác thì phải thành kính, cầu xin bằng những hình thức tổ chức lễ hiến sinh lớn, nhỏ tùy theo mục đích của chủ tế Tín ngưỡng gọi là thờ cúng tổ tiên ở người Êđê cũng giới hạn trong phạm vi các thế hệ cha mẹ, ông bà và chủ yếu là thời gian trước lễ bỏ mả Sau đó, vong linh của mỗi người đã khuất đều được coi là các thần linh (Yang)

Cũng như ở những dân tộc chưa phát triển cao, người Êđê và M’Nông giống nhau ở phương diện tín ngưỡng là Đa Thần Giáo Nguyên Thủy, tức là đứng trước một hiện tượng tự nhiên nào không giải thích được đều gắn cho nó một ý niệm thiêng liêng Theo họ có rất nhiều vị thần, nhưng có một vị thần tối cao là Ae Điê (đọc là Ai Đia) dưới Ae Điê là Ae Đu, và vị thần nào cũng có vợ

Thần của họ rất khác với người Kinh Quan niệm đối với thần linh là quan niệm của kẻ yếu đối với kẻ mạnh, tức là trông chờ vào sự che chở của kẻ manh Vị trí và chức năng của thần không rõ rệt như trong các tôn giáo khác Tôn giáo là phản ánh từ nhận thức thực tế của con người Xã hội Êđê chưa phân cấp vì thế tín ngưỡng của họ không phân tầng rõ rệt

Linh hồn

Về linh hồn người Êđê quan niệm con người có 3 linh hồn:

Linh hồn thứ nhất: Khi đứa trẻ còn trong bụng mẹ

Linh hồn thứ hai: Khi vừa lọt lòng mẹ, linh hồn thứ hai sẽ nhập vào và theo đứa bé

suốt cuộc đời

Linh hồn thứ 3: Khi con người chết đi, linh hồn thứ 3 xuất hiện, là linh hồn đi về với tổ

tiên

Đây là 3 linh hồn với người sống chết bình thường Nếu chết bất đắc kỳ tử, chết khi lọt lòng mẹ sẽ không được về với tổ tiên

(Ở buôn làng Êđê, ki người vợ vừa mới đẻ xong, người chồng ném cây chày để đuổi

ma quỷ không bắt linh hồn thứ hai đi.)

Nghi lễ trong sinh đẻ

1.Lễ cầu xin đẻ dễ: Lễ được cử hành khi phụ nữ có mang 3 tháng

Người ta buộc ché rượu ở cột chính cùng con gà làm lễ vật Người được cúng ngồi đối diện nhau ở hai bên ché rượu, thầy cúng hướng về phía Đông Khi thầy cúng khấn, người đàn bà đạp chân lên lưỡi rìu sắt và vòng tay đồng với ý nghĩa cái thai sẽ đạp khỏe, cứng cáp như sắt như đồng Rồi thầy cúng cầm que bông chấm rượu bôi lên chân người phụ nữ có mang Sau đó thầy cúng lấy lá xoan quết máu chó thoa lên chân và quanh bụng người đàn bà đã đuổi ma xấu

Tiếp đó, người đàn bà vít cần hút rượu Mọi người từ chồng đến bác, cậu bên vợ, cô chú bên chồng, thầy cúng, già làng và bà con thân thuộc lần lượt uống rượu

Người phụ nữ ở trong nhà 3 ngày, sau đó tắm rửa tẩy uế

Trang 20

20 |

2.Lễ đặt tên:

Sau khi cháu bé ra đời một ngày, người ta làm lễ nhập hồn, đặt tên Trước khi hành lễ có cúng Yang Ha H’buê, thần che chở trẻ sơ sinh và con người, lễ cúng gồm có một ché rượu cần và con gà

Lúc làm lễ hai bà đỡ ngồi trước mặt thầy cúng Sau khi thầy cúng khấn xong, gia đình người mẹ làm thịt gà mời cơm hai bà (phụ nữ Êđê đẻ ngồi nên phải có hai bà đỡ, một bà đỡ thai nhi, Ma bôi, một bà đỡ lưng người đẻ, Pê Grang)

Tiếp theo là lễ thổi tai cho trẻ Bà đỡ nhai củ gừng và củ nén thổi khẽ hai bên tai trẻ và cầu thần trời tiếp sinh khí cho đứa bé khỏe mạnh, thông minh, vì có lỗ tai thính, nhạy để tiếp thu điều hay lẽ phải

Người Êđê nghĩ rằng trẻ sơ sinh chưa có hồn nên lúc nào đặt tên cũng có lễ nhập hồn cho trẻ

Mâm cúng trong lễ này gồm: một ché rượu, một con gà nhỏ, một quả cà, một củ gừng, một dùi sắt (cắm vào quả cà), lá nứa và một giọt sương lớn (đọng trên lá cây) Giọi sương này được coi là hiện thân của hồn, tổ tiên sẽ nhập vào đứa trẻ sơ sinh chưa có hồn

Thầy cúng khấn xong, bà đỡ cầm quả cà chấm giọt sương để gần miệng đứa trẻ và lần lượt đọc tên tổ tiên dòng họ này Đến tên nào mà đứa bé thè lưỡi ra liếm giọt sương, hoặc cười, có nghĩa là nó đã bằng lòng nhận tên đó Đứa bé có tên cùng lúc hồn nhập vào người nó

Nghi lễ trong tang ma

1.Tang lễ: Người Êđê quan niệm có hai loại chết, chết lành và chết dữ Chết lành là

chết tại nhà do già yếu hoặc bệnh tật Chết dữ là những cái chết đột ngột bất đắc kỳ tử do những tai nạn khủng khiếp, làm thiệt mạng nhiều người một lúc hoặc liên tục Với hai loại chết này, thường có những hình thức tang lễ khác nhau ở một số chi tiết Song trên đại thể:

+ Ngày thứ nhất: Báo tang, liệm

Người ốm vừa qua đời, người nhà nổi 3 hồi trống dài và thân nhân òa khóc Thi hài được liệm và phủ chăn kín ở gian cuối nhà sát góc phía Đông, đầu đặt hướng về phía Đông Một quả trứng gà luộc, bát gạo, bát cơm được bày lên trên mâm cúng Thịt một con gà, moi lòng bỏ ruột rồi để cả con kẹp và đem nướng dựa bên vách phía đầu thi hài Người trong buôn lần lượt đến chia buồn, mang theo phần đóng góp của mình, mỗi gói một ống gạo Nam địu theo ché rượu nhỏ… Mọi người lâm râm trò chuyện uống rượu tới khuya Họ hàng ở lại, thức cùng gia chủ suốt đêm Thanh niên thổi Đing Buốt, Đing Tác Ta… Lúc này phải kiêng hai điều: không cãi nhau; cáxc đôi vợ chồng trong nhà không ăn nằm với nhau

+ Ngày thứ hai: Nhập quan, cúng

Từ tinh mơ, những người khoẻ lên rừng chặt cây làm quan tài Người ta đẽo gỗ ở vườn nhà Quan tài mô phỏng hình ngôi nhà dài, được khiêng lên sàn nhà Lễ cúng hồn bắt đầu với nhạc chiêng dồn dập, thúc bách, náo động Thân nhân đứng quanh thi hài cất tiếng khóc

Trang 21

21 |

thảm thiết lúc nhập quan Thầy cúng lấy máu heo bôi lên thành hòm Buổi tối thầy ngồi phía chân quan tài, cúng tiếp

+ Ngày thứ 3: Đưa ma

Một ché rượu nhỏ đặt bên quan tài Lễ cúng vừa dứt, tang chủ mời mỗi người trong họ một ché rượu nhỏ, rồi tới bà con buôn rẫy Khách dự đều tự động ngồi quanh ché rượu bày la liệt ở sân, vườn… đợi giờ phút thiêng liêng Phụ nữ gói những gói cơm nhỏ mang theo để bỏ xuống huyệt Chiêng trống không ngừng sôi động, hồi nọ tới hồi kia

Quan tài được khiêng ra sàn được chuyển xuống sân Thầy cúng cầu tiễn hồn Vợ người xấu số xuống thang, cầm cây gậy cỏ cào cào xuống đất về phía trước Người phụ nữ dẫn đầu đám tang, thầy cúng bước theo rồi đến quan tài Theo quan tài là những người phục dịch, mang bầu nước, một con gà nhỏ còn sống, hai cây chuối nhỏ Chiêng gõ thong thả từng nhịp một

Khi tới ranh giới buôn (ngôi nhà cuối cùng), một hồi chiêng rền nổi lên báo cho thần chết đến nhận một linh hồn mới, nhập vào thế giới của thần

Nhà mồ – khu mộ địa: Quan tài hạ xuống để điểm tô lần cuối bằng 3 màu đen, trắng, đỏ, các hình dọc vuông, tròn, hình trăng lưỡi liềm và chạm khắc hình sừng trâu

Huyệt sâu khoảng 1,8m, chiều dài theo hướng Đông-Tây Miệng huyệt rộng khoảng 1m Quan tài hạ xong người ta lát ván lên mặt huyệt, như vậy là có khoảng trống huyệt (từ nắp ván thiên lên tầng ván miệng huyệt) Ván lát xong mới lấp đất, nền cao khoảng 40cm Thợ mộc cũng vừa lúc đóng xong nhà mồ đem tới đặt lên nấm mồ mới 4 góc nhà mồ trồng 4 cột Kut, là những thân cây nguyên, trên chạm các hình học, hình các nồi đồng chồng lên nhau, hình trăng lưỡi liềm Nhà giàu có thể trồng thêm hai cột Klao ở đầu và cuối mộ Phải thịt trâu, đầu hoặc sừng trâu treo ở cột Klao phía trước Cách cột Klao trước 50-70cm có nhà nhỏ hình thuyền đựng cơm cúng cùng gạo, bầu nước cho người qua đời

Ngoài ra người ta còn chọn một cây nứa to, đục xuytên thủng từ đáy huyệt lên miệng mồ, phía đầu quan tài, để mỗi lần ra viếng người ta sẽ rót cơm và thức ăn vào đó (Ngày xưa có người giàu chết, gia đình còn bắt cả 7 nô lệ chôn theo như ở xã Chư Pông, huyện Krông Buk)

Khu mộ địa ở khoảng giữa rừng hoang nên ý thức phô trương phòng thủ khá rõ Có một hàng rào quanh, trên miệng hào có cắm thân tre, gỗ nhọn, chống thú dữ về phá, phòng thủ như có tính chất ma thuật, ngăn các thần xấu về quấy nhiễu

Lễ tang kết thúc, mộ địa chìm sâu trong im lặng Hàng tháng người nhà đến cúng một lần, hàng năm không có giỗ

2.Lễ bỏ mả và vòng đời khép kín:

Người Êđê không theo tín ngưỡng thờ tổ tiên, chắc là vì vậy mà có lễ bỏ mả, lễ vĩnh biệt người qua đời lần cuối cùng để không bao giờ nhắc tới nữa

“Từ nay hồn đi nơi khác, nhà không đem cơm, không mang nước Hàng năm nhà không nhắc đến hồn nữa Muốn uống nước hồn phải hỏi Ai Đia, muốn ăn cơm phải hỏi Yang Lăn, muốn ăn thịt phải hỏi Yang MTao Bố mẹ đã làm tròn nghĩa vụ với hồn.”

Lễ bỏ mả có thể tiến hành sớm nhất là một năm, muốn nhất là 7 năm sau tang lễ Phải lo đủ rượu, gạo, thịt dâng cúng từ 2, 3 ngày mới tổ chức được Lễ bỏ mả thường được

Trang 22

Đối với lễ bỏ mả tập thể, người ta không dùng chiêng vì chiêng là riêng của một gia đình, một dòng họ Nếu đem dùng chung linh hồn sẽ theo chiêng về với người có chiêng, không có lợi

Ngày thứ nhất: Thanh niên lên rừng chặt cây lam nhà mồ mới, dựng cột Kut, cột Klao mới, chỉ những người chết nhà giàu và là người đã trưởng thành mới được dựng cột Klao Khi đã hoàn tất lễ phẩm, thầy cúng mặc trang phục nghiêm chỉnh ngồi bên ché rượu hướng về phía Đông, khấn:

“Ơ hồn! người đã chết như lúa hư nát

Mọi chuyện đều đã xong hồn ở miền đất khác, uống dòng nước khác rồi Bầy giờ bỏ nấm mồ này, xin vĩnh biệt Ngọn lửa đã đốt lên, rượu cúng đã bày sẵn, cây chuối đã trồng, con gà đã thả bay đi rồi…

Bố mẹ cúng lần cuối này thôi Vĩnh biệt!”

Tiếng trống rộn rã nổi lên Người ta nhóm một đống lửa trên mộ, ngọn lửa đó sẽ cháy suốt ngày đêm Người cả buôn ngồi ăn uống ngay trên bãi cỏ Đêm ấy là đêm vui hoàn toàn với mọi người, không cấm cử, không kể già trẻ, trai gái Người ta thường chọn các đêm mùa khô, trăng sáng để tổ chức lễ bỏ mả Thanh niên vui chơi trò chuyện và nhảy múa, nam nữ hát đối đáp giao duyên Người già khề khà uống rượu trò chuyện tới khuya

Ngày thứ hai: Từ sớm người ta đã thịt heo, nhà giàu thì mổ trâu Rượu bày la liệt hàng chục ché nối dài, tất cả cần rượu quay về phía Đông Xương hàm dưới trâu treo ở cột Klao như chứng tích của sự phong lưu Thịt cơm bày dày đặc lên các ché rượu

Cúng xong cả buôn lại dự tiệc vui vẻ như hôm trước và không khí tưng bừng náo nức không kém

Vòng đời khép kín và ý nghĩa nhân văn của lễ bỏ mả: Điều đáng suy nghĩ là lễ bỏ mả có nghĩa là vĩnh viễn xa rời người thân mà lại tổ chức tưng bừng vui vẻ nhất, dường như trái với lương tâm con người? Vậy mối quan hệ giữa người sống và người chết ra sao? Hồn có hay không và mối quan hệ giữa hồn và xác thế nào? Quan hệ giữa chúng lúc người đang sống cũng như sau khi người đã chết ra sao? Người già kể rằng người ta có hồn, người chết thì hồn lìa xác bay đi và biến hóa

Người ốm là do hồn bỏ xác đi chơi hoặc bị lạc đâu đó Làm lễ rước được hồn về nhập vào xác, người ốm sẽ khỏi Hồn nhập vào cơ thể ở thóp, hồn ở trong đầu, hồn vận động trong người theo đường mạch máu chuyển động Khi chết mạch ngừng đập, hồn theo mạch tay và lên bàn tay và cứ thế hồn lìa khỏi xác ở đầu ngón tay

Vậy hồn được quan niệm là thực thể sống, dưới dạng vật chất Hồn được hiểu là thần kinh, ở tay hồn được hiểu là mạch máu Hồn không trông thấy được nhưng có thể quan nịêm mđược

Trang 23

23 |

Sau tang lễ, hồn người chết bơ vơ không thể vào Buôn Làng Người Sống với họ hàng nhưng cũng không về được Buôn Làng Tổ Tiên (Buôn Atâu, do vợ chồng thần Băng Bơ Đung, Băng Bơ Đai cai quản) Hồn vẫn bị ràng buộc quanh mộ địa, vì người sống vẫn giữ mồ (vẫn đem cơm cúng) Quanh mộ địa hồn thường hay bị hồn quỷ dữ hành hạ

Chỉ khi làm lể bỏ mã hồn mới được tự do về sống ở buôn Atâu (buôn của tổ tiên) Ở đây và từ đây hồn là thành viên bình đẳng “sống bình yên” Tuy vậy hồn vẫn vận động, sẽ biến hoá 7 lần để trở thành giọt sương của đất Giọt sương”hồn” trở lên mặt đất, nhập vào đứa trẻ sơ sinh, dòng máu của hồn trong lễ đặt tên, nhập hồn cho đứa bé Đứa bé lấy tên của hồn làm tên nó, tức là trùng tên với tổ tiên của nó

Vòng đời khép kin:

- Bằng không gian ba điểm (mặt đất, mộ, buôn Atâu)

- Với thời gian chưa định lượng (qua 7 lần biến hoá của hồn)

Như vậy hồn tổ tiên lại hiện diện trên mặt đất, lại trở về cõi sống dưới dạng một thành viên mới của cộng đồng Êđê Vậy dòng họ người Êđê vẫn còn, mãi mãi sẽ còn (về lý thuyết cũng như ý niệm) vì có một vòng đời của hồn được khép kín bằng không gian ba điểm:

Mặt đất, mộ, buôn Atâu: Với một thời gian chưa định lượng (vì chưa xác định được 7 lần biến hoá của hồn là bao lâu) hồn hiện diện bằng tên gọi, chỉ thay đổi xác (tổ tiên chuyển sang con cháu cùng dòng họ)

Vậy Buôn hồn người chết, thế giới thứ ba, có thực trong ý niệm chỉ là một “trạm tạm trú dưới đất” đã trở lại với cộng đồng thực tại của xã hội trên mặt đất (xã hội mặt đất trở thành thế giới lý tưởng của Buôn hồn người chết)

Đến đây có thể hiểu được ý nghĩa tinh thần lạc quan biểu lộ sâu sắc trong lễ bỏ mả Rằng bỏ mã hồn người chết sẽ hết đau khổ, được về nơi sống an toàn của mình, dòng họ như không mất người do sự không mất tên tôû tiên, tăng sức mạnh cho cộng đồng dân tộc Làm lễ vĩnh biệt bỏ mả lại chính là để ngày gặp gỡ mau tới hơn

Phải chăng đây cũng là hai mặt đối lập thống nhất trong tư duy truyền thống của người Êđê Bỏ mả nghĩa là người sống làm tròn nghĩa vụ với người chết, người quá bụa được trở lại hạnh phúc cá nhân (được quyền lấy chồng hay vợ mới)

Như vậy lễ bỏ mã mang tinh thần nhân đạo cao cả, tinh thần cộng đồng sâu sắc, thoả mãn người sống và người chết, thoả mãn cộng đồng nên phải vui, tưng bừng náo nhiệt

Ngọn lửa, ánh sáng vĩnh cửu của sự sống , được đốt lên trên nấm mồ, cháy sáng suốt ngày đêm như ngọnlửa thiêng giao hoà các thế giới, lửa tinh khiết không chết, xua đuổi quỷ dữ, thắp sáng diễn trường kễ hội

Có mối tương đồng sâu sắc giữa hai sự việc như đối lập:

- Sinh đẻ: Đón chào cái mới, cái sống

- Bỏ mả: Giã từ cái cũ, cái chết

Hai sự việc vẫn giống nhau ở nội dung “đón chào cái mới”

Sinh đẻ là đón chào cái mới đã có mặt Giã từ cái chết (bỏ mả) là đẩy nhanh thời gian tiếp cận cái mới trong tương lai đang đến gần Vĩnh biệt và đón chào gặp nhau, quy tụ tượng

Trang 24

- M’ngắt: “hồn vốn có” liền với xác đã được xác định (hồn nào xác nấy), khi ốm là đón hồn (vốn có) về với xác trong lễ rước hồn

- Dung (Yun) “hồn từ bên ngoài” (chưa có xác) nhập vào xác mới (xác chưa có hồn, trẻ sơ sinh) trong lễ đặt tên với lễ nhập hồn

- Dang (Yang): thần cũng có nghĩa khác là hồn, hồn trong một số tĩnh vật độing vật, thực vật nhưng không nằm trong hệ thống thần Ví dụ: hồn chiêng, hồn ché, hồn cây đa…

Hệ thống lễ nghi nông nghiệp

1.Lịch theo năm tháng, lịch nông nghiệp

Người Êđê không tính thời gian theo lịch dương, lịch âm mà tính:

- Ngày: theo sự vận động của mặt trời

- Tháng: theo vòng trăng sáng

- Năm: theo mùa làm rẫy

Tuy vậy người ta vẫn một năm làm 4 mùa (Yang), với tên gọi:

- Yang M’nga: Mùa xuân

- Yang Nhang: Mùa Hạ

- Yang M’Jao: Mùa Thu

- Yang Pu-út: Mùa Đông

Còn thời tiết biểu diễn lại là hai mùa:

- Mùa mưa từ tháng 5 – 10

- Mùa khô từ tháng 11 – 4

Người ta cũng định ra lịch làm ăn theo trình tự 12 thánmg với 12 tên gọi (Mlan) nhưng lại có lịch tính theo công việc gần với thực tiễn hơn, lấy đơn vị là Yan:

- Yan M’nga dap: Tháng 1 – 3, ăn uống vui chơi, làm lễ bỏ mả, thăm bà con

- Yan dzan: Tháng 3, chọn đất, đốt rẫy mới

- Yan gic: Tháng 4, xới đất làm nương đã cuốc

- Yan M-va: Tháng 5, cào cỏ

- Yan Hut: Tháng 5 – 6, mùa chở lúa

- Yan ric roc Mđiê: Tháng 6 – 7, mùa làm cỏ lúa

- Yan hua Đrê: tháng 8 – 9, mùa tuốt lúa ngắn ngày (3 tháng)

- Yan Potra: Tháng 10 – 11, thu hoạch lúa; tháng 12, lễ đóng kho lúa

2.Mùa lên rẫy:

Người Êđê làm lúa nương, lúa rẫy và hoạt động luân khoảnh Mùa lên rẫy bắt đầu từ khi tìm đất mới cho đến khi thu hái xong, làm lễ đóng kho thóc

Trang 25

25 |

Lễ tìm đất:

+ Ngày thứ nhất: Chủ nhà lên rừng tìm được khoảnh đất tốt thì lấy lá đánh dấu, cắm xà gạc rồi trở về, xem điềm, chờ nằm mộng, vật phẩm là ché rượu để đuổi thần xấu và cúng thần đất (Yang lăn)

+ Ngày thứ 2, 3: Mời dân làng đi giúp, phát rẫy, cúng một ché rượu

Ngoài lễ riêng từng nhà, chủ bến nước chủ trì những lễ chung cho cả buôn, cho các lễ hội, bàn bạc và tự nguyện đóng góp

Lễ cúng thần gió (Kăm angin): Cúng thần gió vào khoảng tháng 2, 3, mong tránh bão giông Mấy trai làng đi chặt ít cây nhỏ xếp một nơi cạnh buôn, tượng trưng cho rẫy phát Lễ cúng gồm một ché rượu, một con heo, một ống cơm lam Lại làm một cổng tượng trưng trên có sợi dây rừng, trên đó treo sợi dây mây săn voi và cây gậy săn voi Dùng dây và gậy này với dụng ý trị thần gió vì voi cũng khỏa như gió Trong dịp này cầu mùa lúa, người ta cầu cả việc bắt ong luôn

Lễ trỉa lúa cho cả buôn: Đây là lễ to, người ta dựng hai cái chòi ở nơi trước đây đã làm lễ cúng thần gió Lễ vật: một ché rượu, một con gà nhỏ, một con heo với ý nguyện:

Mong mưa phun đủ nước Mong mưa rào no rẫy

Lễ mở đầu bằng đám rước từ nhà chủ bến nước Người ta mang các tượng bằng gỗ vợ chồng Aê Điê (Ông bà trời) thần mưa và thần ÁcLiê Đầu thần này bị chém vỡ đôi, cổ đeo gông, chân mang xiềng, lại có cả tượng những thú lớn nhỏ (cọp, lợn rừng, nai, chuột, sóc…) Rồi trống và dàn chiêng tượng trưng bằng những quả bầu khô Tiếp theo là lớp thanh niên khiêng chiêng đồng và trống da lớn Sau khi các tượng vào vị trí quy định, nghi lễ bắt đầu, thầy cúng cầu nguyện và hát lễ ca, lại cầm bông gòn, được coi là lúa nước, gieo lên thửa nương tượng trưng gần đó, rồi làm động tác đổ lúa vào kho

Từng gia đình lúc này mới làm lễ riêng, xong lễ vợ chồng lên rẫy trỉa lúa Chồng đi trước chọc lỗ, vợ đi sautrỉa lúa, rẫy dốc thì đi từ dưới đi lên… Mọi nghi thức làm xong vợ chồng mới thật yên tâm chờ ngày hái quả

Lễ tuốt lúa: (thu hoạch): Khoảng cuối tháng 10 lúa chín đều, chín rộ, mọi gia đình sửa soạn thu hoạch bằng một lễ cúng mới: Lễ tuốt lúa Mâm cúng là gà, hai bát cơm, hai bát canh, để cạnh ché rượu

Hôm sau cả nhà đi tuốt lúa và tuốt đến hết, trừ cụm lúa giống, bao giờ cũng tuốt theo hướng Đông và tuốt quanh rẫy trước (chim thú thường ăn ở rìa rẫy)

Cũng có thể tuốt theo hướng Bắc – Nam, còn hướng Tây phải kiêng hẳn vì sợ hồn lúa theo mặt trời đi mất Trước khi tuốt, chủ thăm rẫy để lại gốc lúa tốt nhất, buộc túm 7 ngọn lại, úp giỏ đựng lúa lên trên Khóm lúa này sẽ dùng làm vật phẩm trong lễ đóng kho lúa

Lễ đóng kho lúa:

Mỗi nhà có kho lúa riêng, kho lúa là ngôi nhà sàn nhỏ dựng gần nhà ở, chỉ để lúa và các sản phẩm trồng trọt Làm lễ đóng kho lúa là cốt giữa cho hồn lúa đừng ra khỏi kho thì lúa mới luôn đầy kho Người và gia súc nhờ đó mà no đủ

Các lễ hội khác

Trang 26

26 |

1.Mùa săn và lễ cúng nỏ:

Sau mùa tuốt lúa, đất cần nghỉ, con người đi săn để cải thiện bữa ăn Mùa săn kéo dài gần hết mùa khô, chủ yếu là từ tháng 2 đến tháng 4, lúc chim thú hay ra kiếm mồi, nhất là sau trận mưa đầu mùa vì cỏ non nhiều

Lễ cúng nỏ: Cử hành trước lúc đi săn Nỏ và tên đặt trên mâm hướng về phía Đông, bên cạnh ché rượu, con gà nhỏ luộc dâng cúng

Săn và chia mồi:

+ Săn tập thể do Ana Căp, người đứng đầu nhóm săn chỉ huy Những người đi săn đều tự nguyện, tối yên lặng rủ nhau, sáng đi ngay không được ồn ào Đó là tục lệ cổ truyền

+ Có lối săn vây: Vây khu vực có thú, lùa 3 phía để một phía ngỏ, đón lỏng bắn nỏ + Có lối săn đuổi: Tốp đuổi thú làm ầm ĩ, gõ mõ đập lao, kêu la làm thú hoảng hốt, chạy theo lối đã định và có tốp đón bắt

+ Người Êđê cũng săn bằng chó Cuộc săn này thường phải từ 8-10 con, thường 2, 3 chủ chó rủ nhau mới đủ số chó cho cuộc săn

Việc chia phần săn cũng đã thành lệ:

+ Người bắn trúng mồi được phần lớn nhất gồm: đầu, thân, bộ lòng (tim, gan, lá lách) + Mọi người đi săn được chia phần bằng nhau, người bắn trúng cũng được hưởng suất chung này Nếu con chó nào vồ được mồi này thì chủ nó được đầu con mồi, về nhà chó được chia thịt, gan lòng mỗi thứ một tí

Họ hàng, bạn bè trong buôn được mời hoặc tự động dự mừng, vui chung thắng lợi

2.Lễ hội rước Kpan:

Kpan, chiếc ghế dài độc mộc với chiều dài thông thường từ 9-15m, mặt rộng 75cm, dày 6-8cm, cao 45-50cm, là tài sản quý bằng gỗ nguyên khối (liền chân), tượng trưng cho sự giàu có của gia đình, nhưng lại là niềm tự hào của các buôn làng

60-Một, hai người hay một gia đình không thể làm nổi Kpan, mà phải cả buôn với sức mạnh, lao động và tài năng của tập thể Vì vậy, hạ được cây rừng cao, to, thẳng, đẹp thuộc loại cổ thụ quý (dầu, hương, sao) rồi đẽo thành chiếc Kpan đồ sộ với đường cong khoẻ mượt mà và đường thẳng dứt khoát để tạo thành chiều dài vững vàng như con thuyền vươn dài mạnh mẽ trên sông nước, luôn luôn cần tới lòng dũng cảm, sức mạnh và trí tuệ của cả cộng đồng

Con người đã biến cây rừng, là hình ảnh thiên nhiên rộng lớn, thành tài sãn của người, trở thành niềm tự hào chung, chiến công chung nên phải mừng chiến công ấy

Kpan có giá trị trang trí, thẩm mỹ độc đáo của cả gia đình, lại có giá trị sử dụng tốt (nơi cả tốp nhạc công ngồi tấu đàn chiêng) do đó cũng có giá trị biểu tượng (không bán, không định giá)

Cũng do đó, công trình lao động kỹ thuật và công nghệ này từ khi khởi công tới lúc hoàn tất trở thành Hội rước Kpan, hội mừng công của toàn thể cộng đồng Luật tục còn định rằng muốn làm chủ Kpan phải là người đã tổ chức được các lễ hiến sinh cầu cúng cho bản thân mình, cầu sức khoẻ, nâng cao uy thế bằng tiền và sự khoản đãi cộng đồng

Trang 27

Tiến hành: Ngày đi chặt cây phải đẹp trời, buôn không có đám tang, con man rừng không giác Từ sáng sớm đoàn người đã lên đường, chủ nhân dẫn đầu 7 người đi chặt chính rồi tới thầy cúng và Pô Chát Đing (người quản lý toàn bộ lễ hội, kỹ thuật chặt và làm Kpan) Dân làng ai muốn giúp và muốn xem thì kéo nhau đi từng tốp sau cùng Người nhà mang cơm, rượu, thịt, gà, bầu nước phục dịch Mỗi người đều mang rìu và rìu là công cụ duy nhất trong việc hạ cây và đẽo Kpan Dùi sắt để thử gỗ, kiếm, khiên để biểu diễn và làm ma thuật, tù và để thổi động viên

Tới nơi, chủ vừa thổi tù và vừa đi quanh gốc cây 7 vòng, và thầy cúng múa khiên đi theo rồi thầy đóng dùi sắt vào cây, nếu dùi cắm chặt là được Thầy đứng trước cây cầu thần Pô Rông (bảo hộ chủ), thần Bưng (giữ số mệnh chủ) và thần Núi, thần Sông (nước)

Chủ bổ nhát rìu mở đầu (phạt mộc) rồi mọi người hò nhau hạ cây Chủ thổi tù và liên tục với mục đích báo mời Yàng và báo tin vui cho cả buôn Pô chắt đing điều khiển thợ chặt bổ sao cho cây đổ dọc bờ nước mới tốt

Khi đã hạ được cây đúng hướng rồi, thầy cúng cùng chủ nhà đi lên xuống thân cây 7 lần đuổi thần xấu đi xa

Khoảng 3 giờ sau việc sơ chế đã xong, thợ nghỉ hút thuốc, chủ nhà rót rượu mời từng người uống lấy sức và mừng đoạn mở đầu đã thuận lợi Tù và thổi liên tục đón chào thành quả mới, 7 thiếu nữ vui tươi đứng theo hàng dọc múa điệu chim Grứ, chúc tụng những người thợ giỏi

Kpan sơ chế được chuyển về buôn để hoàn thiện Tất cả thanh niên khoẻ mạnh, khoảng 40 người có mặt đều ghé vai khiêng chiếc ghế quý về buôn Lễ rước Kpan bắt đầu, một tốp thanh niên khác cùng các thiếu nữ trang phục ngày hội vừa tấu nhạc Đing năm, Đing buốt tút, tù và vừa múa theo trên suốt đường về

Kpan sơ chế đặt phía sau nhà Đêm ấy chủ nhà mỡ ché rượu thơm đãi thợ và trò chuyện tới khuya Ngày hôm sau, từ sớm tiếng rìu đã chan chát âm vang Gần trưa mọi người xong xuôi, chiếc ghế dài độc mộc cổ truyền với vẻ duyên dáng, mềm mại với các hình hoa văn truyền thống phía đầu đã trải dài trước nhà, đầu to ghếch lên sàn Lễ cúng được tổ chức ngay trên sàn trước nhà, chủ nhà cầm khiên, múa kiếm đi lại trên Kpan 7 lần để đuổi thần xấu ra khỏi Kpan Rồi ông thông báo cho mọi người biết tên Kpan mới này là Ydung hay Ydem, với mục đích khẳng định Kpan mới đã có chủ và ông là chủ Kpan này

Chiêng trống mặt sức âm vang trời đất, báo hiệu lễ rước Kpan vào nhà bắt đầu Đầu nhỏ vào trước, Kpan chạy dài suốt vách phía Tây gian khách

Thầy cúng lại thầm thì cầu mong Yàng, mong cây đem lại điều tốt lành cho gia chủ từ nay Mở đầu nghi lễ bằng việc cúng ông bà tổ tiên, bằng một con heo và 3 ché rượu Trên

Trang 28

3.Lễ rửa mặt

Đêm sâu lắng, chợt có tiếng gà gáy, người nhà bắt ngay con gà trống làm thịt nấu cháo, gọi là “Lễ rửa mặt” cho chủ nhà và mọi người tỉnh táo vì đã bước sang ngày mới

Giết trâu: Mặt trời vừa le lói ở phương Đông, những người được giao việc đã đi bắt trâu mổ thịt Phải lấy tiết trâu bôi 7 vòng vào cột Điê Chính (buộc ché rượu trung tâm, cắt đuôi trâu để trên xà dọc trước nhà làm bằng chứng của lễ vật)

Chủ nhà, thầy cúng, những người phục dịch, 7 cô gái múa đều mặt trang phục cổ truyền, các nhạc công cồng chiêng đã ngồi sẳn sàng trên Kpan, mỡ đầu cuộc lễ tấu 7 đợt liền, mỗi đợt kết thúc bằng một hồi trống da, chiêng nghỉ, tù và thổi tiếp, không khí thật sự náo động, tưng bừng chưa từng thấy Thầy cúng khấn mời các thần cùng về hưởng lễ, mừng công của gia chủ rồi thầy cúng cầu sức khoẻ cho cả nhà

Hưởng lễ vật:

Ăn: Theo tục lệ mỗi người gắp một miếng thịt, một gắp cơm nếp, một gắp cơm tẻ, uống một ngụm nước theo trình tự bà chủ, ông chủ, các con, họ hàng, thầy cúng, người già, khách đến dự

Uống rượu cần theo thứ tự trên

Trống kết thúc nhịp chiêng, tù và liên tiếp thổi 7 hồi liền, một người hầu thầy cúng

cầm khăn đỏ quàng vào cổ chủ nhà kéo tới bên ché rượu đầu, báo với Yàng: “Chủ nhà, chủ

Kpan đây Xin cuối chào Yàng” Chủ nhân cầm khiên, kiếm múa suốt dọc giữa nhà 7 lần,

thầy cúng nhận khiên múa tiếp 7 lần như thế rồi đâm vào đầu Kpan đồng thời phun nghệ với

ý đuổi thần xấu đi

Chiêng lại nổi lên hối hả thúc giục Ăn uống xong mỗi người dự lễ còn được nhận một gói nhỏ đựng thịt, là phần chia hưởng bình quân cho mọi người Thầy cúng cầu sức khỏe cho 7 người đi đầu hạ cây quý, rồi thầy mời từng người uống rượu và nhấm thức ăn (một ly rượu, một miếng thịt) Chủ nhà mời thầy cúng thứ hai tới cúng đền công lao cho thầy cúng đầu đã hết lòng vì gia chủ, chúc cầu thầy sức khỏe và cảm ơn thầy Lễ vật là một ché rượu và một con gà

Chiêng vẫn liên tục nổi lên náo nức không dứt, thầy cúng đầu được gia chủ đền ơn

“phần thịt nửa mảng bộ ngực thịt trâu” Nếu dùng voi kéo gỗ thì lúc này sẽ tổ chức lễ đền ơn voi ở sàn trước nhà Quản tượng đã dẫn voi đến, voi đứng yên chịu lễ, mọi việc thành công tốt đẹp, chủ nhà nghỉ hai ngày không lên rẫy

Ngày thứ 3 nhà chủ một ché rượu mời người thân tới uống mừng sự bình yên và may mắn trong việc nhận tài sản mới của núi rừng được thần vui lòng, bà con thừa nhận

4.Lễ cúng trống da: Trống da là nhạc cụ không thể thiếu trong gia đình có dàn chiêng

Trống da cũng là tài sản quý bên cạnh dàn chiêng, Kpan, ché rượu Việc làm trống cũng được thực hiện theo một hệ thống lễ thức

Trang 29

29 |

Đăm Đây, anh vợ chủ nhà lo việc tìm cây làm tang trống, đồng thời nhà sửa soạn một ché rượu, một con gà, 3 người (Đăm Đây, chủ nhà, thầy cúng) sẽ lên rừng cúng thần (hồn) cây

Trước cây tốt đã chọn, thầy cầu khấn: “Báo xin thân cây to cho chúng tôi đem về cho

nhà giàu dùng Chủ nhà đã lo rượu thịt, cơm, chọn được ngày lành tháng tốt Gỗ đem về làm trống…”

Thầy đóng rìu sắt vào gốc cây rồi ra về Hôm sau chủ nhà mời bà con trong buôn đi đốn cây, tang trống không phải là lắp ghép các mảnh gỗ mà là thân cây nguyên đục rỗng Có mặt trống đường kính 95cm (diện tích cây là 1,2m), đường kính giữa thân trống là 1,8m, chiều dài của trống (tang) là 1,14m

Đốn đổ cây, người ta chặt khúc chiều dài tang trống cúng ngay tại chỗ khúc gỗ này (Lễ Tring Keo) Cúng xong thầy, chủ, Đăm Đây, thợ uống rượu và hưởng lễ vật tại rừng (thịt heo)

Tang trống khoét ngay trên rừng, xong mới trùm khăn đỏ kín khiêng về, rồi hai Đăm Đây (anh, em trai vợ) đi kiếm tre già làm đinh căng mặt trống Hai tấm da trâu trên hai mặt trống phải là toàn bộ da của một con trâu cái, một con trâu đực

Trước lúc căng mặt trống cũng làm lễ báo tổ tiên (một bát cơm, một con gà), chủ, thầy, Đăm Đây lần lượt đóng 3 đinh theo tục lệ Mặt da đã căng xong, trống được rước lên nhà, 4 thanh niên khiêng, 8 thanh nữ đi hai bên trống, tất cả đều trang phục đẹp Thầy cúng

đi theo, tới chân cầu thang tù và bỗng nổi âm vang, tới đầu cầu thang bước lên sàn nhà, thầy báo tổ tiên, đám rước đi tiếp Qua cửa chính vào nhà, dàn chiêng mới nổi lên rạo rực chào đón, náo động trời đất, náo động buôn Plây Thanh niên múa khiêng, thiếu nữ múa điệu chim bay theo dọc nhà Trống đặt đúng vị trí cuối gian khách, kê trên đầu gỗ nhỏ của Kpan

Chiều tối lễ cúng mới lại bắt đầu Mâm cúng thật sang trọng với 5 ché rượu, một heo bày thành: 5 bát thịt, 5 bát rượu, 5 bầu nước, 5 bát cơm, 5 cây nến Thầy cúng kêu thần ở nơi nơi về dự hưởng và báo cáo với các thần chuyện xin cây rừng được cây tốt

Đêm đi qua, chủ nhà đón một ngày lễ mới bằng một lễ cúng mới nữa Hôm nay mới làm lễ cúng cho chủ nhà và trống Vợ chồng chủ nhà ngồi trước ché rượu đầu tiên, trống da được trang trí đẹp, mặt trống da trâu cái phía rtên được khoét một lỗ tròn đường kính 1cm gọi là lỗ tai trống Ở góc phía trên thẳng góc với hình tang, cách 14cm phía trên mặt trống treo một bộ 5 quả nhạc gọi là Ereo và đôi chập chõa nhỏ đường kính 6cm Mặt da trậu được bôi tiết heo hoặc trâu Lời cầu hồn trống:

“Gia đình vợ chồng cúng ông (trống) cây thiêng, cây to, cây đem lại sự giàu có tới… tấu lên ông kêu như sấm động, tấu lên ông vang như sét nổ Trống vang khắp buôn rẫy cầu báo chuyện vui…”

Một người giỏi trống đánh những tiếng trống đầu tiên hòa với dàn chiêng vang vang như không bao giờ dứt Lại làm lễ cúng ngôi nhà nơi trống trú ngụ, rồi cúng bếp khách, nơi mọi người vẫn trò chuyện, ca hát, uống rượu thâu đêm

Trang 30

30 |

Lễ kết thúc bằng việc cúng sức khỏe cho Đăm Đây, cho thầy cúng, những người đã hết lòng hết sức giúp gia chủ tới việc hoàn thiện hôm nay Gia chủ cũng buộc một ché rượu mới thơm ngon mời những thiếu nữ múa và những người giúp việc để tạ ơn

5.Lễ lên nhà mới: Muốn lên nhà mới trước hết phải lo xong gỗ cho bộ khung và dựng

nhà vào sau vụ thu hoạch và mùa khô nắng

+ Ngày thứ nhất: Đi tìm đất, một khoảnh đất bằng, cao, không xa họ hàng bà con, tiện

ra bến nước Đặt ché đầy nước qua đêm, nước vẫn nguyên là được

+ Ngày thứ hai: Chủ cúng một ché rượu rồi đi mời người đến làm giúp (như đã hẹn): Đào hốc, trồng cột nhà, dựng khung Xong bộ khung thì làm lễ cúng nền nhà và cột gắt (Gah), cột chính gian nhà khách, cột bên cạnh bếp khách, nơi Đăm Đây thường ngồi dựa lưng Ý nghĩa của việc làm cột chính của ngôi nhà sẽ vững bền như nhân vật chính đại diện cho gia đình là Đăm Đây

+ Ngày thứ 3: Mời người nhà làm sao cho số lượng đảm bảo trong một ngày phải dựng, lợp, lát sàn cho xong ngôi nhà để chủ có thể chuyển tất cả đồ đạt lên, trừ một vài việc nhỏ thì để lại như lắp cửa chính, cửa sổ…

Lễ lên nhà mới:

+ Cúng các thần : một ché rượu

+ Cúng tổ tiên: hai ché rượu, một con heo

+ Cúng thần nuôi dưỡng: 3 ché rượu, một con heo, 5 chén cơm, 5 chén thịt

+ Cúng nhà mới (rửa chân, rửa nhà): hai ché rượu, một con heo

Bắt đầu làm lễ thì nổi lửa Các bếp trong nhà đều đồng thời nhóm lửa, đặc biệt gian khách bừng lên từ ánh sáng nhựa chai, ánh sáng là sức sống xua đuổi mọi điều xấu ra khỏi nhà

Lễ cầu bếp có mục đích cầu tránh hoả hoạn, cầu may trong săn bắn (lửa dùng nướng con mồi để ăn) Mọi người vít cần uống rượu theo thứ tự: chủ nhà, thầy cúng, Đăm Đây, người già, nữ trước, nam sau Rồi vợ chồng chủ nhà ngồi trước hai ché rượu, đặt chân lên trước rìu đối diện với thầy cúng, thầy khấn xong vợ chồng chủ nhà đứng dậy đi ra, đó là lễ rửa chân

Tiếp theo là lễ rửa nhà: thầy cúng cầm chén rượu pha tiết heo, lấy một cành lá nhúng rượu quẹt từ cầu thang lên sàn, vào nhà, quét suốt dọc nhà 3 lần Chỗ rượu còn lại tưới vào giữa bếp khách Mọi người nhấm ít rượu thưởng thức như sau lễ cầu bếp

Thầy đến trước trống da đặt ở chân Kpan cuối gian khách cầu khấn vì hồn ông Tổ trú ngụ ở đây Thầy quét rượu tẩm huyết heo lên mặt trống, mặt chiêng, lên ché đựng rượu Rượu thừa thầy tưới vào bếp khách và ngồi tại đây cúng

Luật tục Êđê

Trong cộng đồng dân tộc Êđêâ thành viên trong các buôn làng đều tuân thủ những luật lệ đã định sẵn từ xa xưa Đồng bào gọi đó là Pi Duê thường được dịch là Luật Tục hay Tập Quán Pháp

Câu chuyện xưa kể rằng: Khi con người đã bắt đầu đông đúc, có loài chim xử án

Barling Bolang (khướu) một hôm gặp Y Loe, người mắc nợ rất nhiều, chim phán: “Loài người

Trang 31

31 |

không biết phân xử để nợ nần chồng chất lên vai anh, từ nay phải truyền cho mọi người biết rằng: Ai giết người phải đền trâu, ai bỏ thuốc độc hại người phải trả mười trâu, kẻ thông dâm phải phạt trâu cúng cho thần, Y Brot trộm lúa phải xử phạt, Y Branh thoá mạ cũng bị phạt vạ…” Từ khi có nạn Hồng Thuỷ loài chim ấy không còn biết nói nữa, nhưng việc xử án đã được các chủ làng, già làng tiếp tục giữ gìn

Luật tục Pi Duê đã khẳng định và nâng cao các phong tục tập quán thành các luật lệ như trong xã hội có Nhà nước Đây là bước chuyển tiếp từ tập tục lên luật pháp, cấp độ thấp hơn so với các lệ làng, hương ước của nông thôn trước Cách Mạng Tháng 8

Nền tảng của luật tục Êđê

1.Thiết chế xã hội truyền thống: Đơn vị cơ sở xã hội Êđê truyền thống là buôn, quy

mô gần như làng người Kinh Buôn thường mang tên ngườii hay dòng họ có công lao gây dựng đầu tiên Phổ biến cũng có buôn lấy tên của dòng sông, con suối, đồi núi, vật thể trong thiên nhiên gần gũi với dân làng đó Tên của buôn làng không thay đổi dù phải dời chuyển nhiều lần trong nhiều thế hệ

Những dấu vết của chế độ thị tộc mẫu hệ đến nay còn khá rõ nét trong các buôn làng Êđê, phản ánh trên các mặt: sự phân hóa của xã hội, những quan hệ và hình thức trong hôn nhân, các hình thái tín ngưỡgn sơ khai, phương thức sản xuất nương rẫy, chế độ sở hữu đất đai, phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa… Tất cả những điều đó vẫn còn đọng lại trong nội dung của luật tục Pi Duê

Quan niệm về giàu nghèo đặt trên cơ sở của sự no đủ, của việc có nhiều chiêng ché quý trong nhà Sự phô trương thanh thế, tài sản qua những buổi cúng lễ linh đình cũng chứng tỏ mối quan hệ tốt lành giữa người đó và các thần linh Các tầng lớp trong buôn dù chưa định hình rõ ràng nhưng cũng đã bắt đầu hình thành Có thể phân thành 3 loại:

+ Tầng lớp trên: Pô Lăn (chủ đất), Pô Pin Ea (chủ bến nước) là người đứng đầu buôn, M’tao (người do giàu sang hoặc có nhiềi tài năng, công trạng được dân làng kính phục, tôn sùng như một thủ lĩnh) Điều này khác biệt với chức vị của Pô Lăn và Pô Pin Ea đều truyền theo một gia đình

+ Tầng lớp trung gian: Pô Riu Rang (thầy cúng), Pô Pa Gê (thầy bói), M’tao (phù thủy) là những người được dân kính trọng vì họ có khả năng tiếp xúc với các thần linh Họ là gạch nối giữa con người và thế giới Thần, xây dựng mối quan hệ thiết yếu và thế cân bằng cần thiết cho đời sống tâm linh của con người công xã Mỗi buôn đều có ít nhất từ 3-5 thầy cúng, thầy bói và khoảng một đến hai Mjao, họ cũng là những người dân lao động như mọi thành viên khác, không sống bằng nghề cúng bói chuyên nghiệp, việc tiếp xúc vối các thần linh đối với họ tựa như là trách nhiệm, bổn phận đối với dân làng

+ Tầng lớp dưới: dân làng, nô lệ Nô lệ (Dik) có hai nguồn gốc phát sinh: tù binh chiến tranh hoặc do không đủ khả năng trả nợ, buộc phải đi làm nô lệ Những điều đáng lưu

ý là trong gia đình chủ, người nô lệ được đối xử bình đẳng như các thành viên khác và có quyền được lấy vợ, lấy chồng dù mang thân phận tôi tớ

2.Tín ngưỡng dân gian Êđê

Trang 32

32 |

Tín ngường dân gian Êđê mang nhiều sắc thái tôn giáo của thời kỳ cộng sản nguyên thủy Trong nhiều năm qua đã chứng kiến sự xâm nhập của những tôn giáo thế giới trong cộng đồng người Êđê

Cho đến giai đoạn hiện nay theo cách nghĩ của người Êđê, không phải mọi vật đều có Yang, mà chỉ giới hạn ở những sự vật nhất định tỏ rõ sức sống và có quan hệ gần gũi với con người như lúa, ngô, gia súc, thú rừng, sông suối, đồi núi,… những hiện tượng trong thiên nhiên (mưa, gió, sấm sét), những đồ vật mật thiết với con người như chiêng, ché, trống, bếp, nhà, cầu thang

Khái niệm Yang của người Êđê trong những đối tượng nhất định đã phần nào phản ánh sự phát triển nhận thức của con người đối với thế giới tự nhiên, được một số nhà nghiên cứu gọi khái niệm đó là Yanguisme

Riêng đối với con người, Yang được gọi tên khác là Mngắt, thường quen gọi là Hồn Hồn quyết định sự tồn tại của thân xác, khi Hồn đau thì thân thể cũng bị đau Hồn của con người rất yếu ớt, dễ bị các hồn khác làm hại Người khoẻ mạnh cũng chứng tỏ hồn của mình mạnh hơn hồn những kẻ khác và có thể làm hại hồn xung quanh, đặc biệt hồn của những M’tao rất mạnh Người ta nhận biết hồn qua mạch đập ở cườm tay, hình bóng, hoặc khi mệt mỏi nghe lùng bùng ở tai Cuộc sống của hồn được thấy rõ nhất trong những giấc chiêm bao Nhiều phong tục tập quán có liên quan đến tín ngưỡng và việc xúc phạm đến thần linh bị dân làng xử phạt rất nặng

3.Vai trò của Duê Kđi và Pô Phat Kđi

Luật tục Pi Duê được gìn giữ lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng cách ghi nhớ truyền khẩu Người có trách nhiệm bảo tồn luật tục trong buôn là Pô Lăn (chủ đất) và Pô Pin Ea (chủ bến nước) Người đứng ra trực tiếp xử các vụ vi phạm, tranh kiện là Pô Phat Kđi

Trong mỗi buôn thường có nhiều Pô Phat Kđi Mỗi dòng họ đều có riêng Pô Phat Kđi cho riêng mình, họ thường là Đăm Đây (ông cậu trong gia đình đó) Pô Phat Kđi là người am hiểu phong tục truyền thống, thông thuộc những câu Duê Kđi của ông bà để lại, có phẩm chất tư cách tốt, đối đáp giỏi và đã chứng tỏ qua nhiều lần phân xử trong buôn Khi trong gia đình dòng họ có chuyện phải tranh kiện, người ta thường mời tới phân xử cầu mong giành được phần thuận lợi hơn

Duê Kđi: Duê là lời nói có vần của người Êđê, được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống: âm nhạc, ca hát, cúng bái, trường ca,… Trong việc xử phạt, các Pô Phat Kđi thường hay vận dụng Duê, đồng bào quen gọi đó là Duê Kđi Người Êđê rất tôn trọng lời Duê Kđi vì coi đó là tiếng nói của ông bà tổ tiên ngàn xưa để lại răn dạy cho con cháu Do đó, luật tục Pi Duê có giá trị văn học rất cao, phong phú vì mỗi vùng có phương ngữ riêng

Cách thức phân xử và phạt vạ trong luật tục Êđê

Trong mỗi vụ xử kiện thường có hai Pô Phat Kđi, hai Đăm Đây của hai gia đình và người liên can trực tiếp Những vụ xử lớn hơn thường do Pô Pin Ea chủ trì

Nghi thức đầu tiên cho mỗi vụ phân xử là hai bên sẽ đặt lên chiếu hai cái vòng đồng (Kô Ông) tượng trưng cho hai bên gia đình Chỉ khi vụ kiện kết thúc, cả hai bên đều đã chấp nhận ý kiến giải quyết của các Pô Phat Kđi, khi đó mới được cầm lại chiếc vòng Trong

Ngày đăng: 24/07/2015, 00:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w