1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Quản lý chất lượng không khí

24 303 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 397,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cácphương tiện giao thông công cộng ngày càng gia tăng cùng với hiện trạng quy hoạch vềmạng lưới các tuyến đường không đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân đã góp phần rấtlớn gây ô nhiễm

Trang 1

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 1:

Lương Duy Hà 90900703

Diệp Đăng Khoa 90901220

Lại Minh Trang 90902860

Trang 2

QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG KHÔNG KHÍCHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG Ô NHIỂM KHÔNG KHÍ Ở VIỆT NAM

Ngày nay, vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm môi trường không khí nóiriêng đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn ở Việt Nam Trên các phương tiệnthông tin đại chúng hằng ngày, chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những hình ảnh, nhữngthông tin về việc môi trường bị ô nhiễm Bất chấp những lời kêu gọi bảo vệ môi trường,tình trạng ô nhiễm càng lúc càng trở nên trầm trọng

Ở Việt Nam ô nhiễm môi trường không khí đang ở mức báo động, đặc biệt tại các đô thịlớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh đang là mối quan tâm của các cơ quan quản lý nhànước cũng như cộng đồng Phần lớn các nhà máy, xí nghiệp chưa có hệ thống xử lý ônhiễm không khí hoặc có nhưng hoạt động không thật hiệu quả và đôi khi mang tính chấtđối phó Bên cạnh đó, với đặc điểm của một nền công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mangtính chất sản xuất nhỏ, công nghệ lạc hậu đã thải vào môi trường sống một khối lượnglớn bụi, hơi khí độc gây ảnh hưởng không chỉ cho các công nhân trực tiếp sản xuất màcho cả dân cư khu vực lân cận Quá trình phát triển kinh tế cùng với mức độ gia tăngđáng kể các khu đô thị, khu dân cư, KCN thiếu sự quy hoạch đồng bộ, tổng thể lại cànggây phức tạp thêm cho công tác quản lý và kiểm soát ô nhiễm từ các nguồn thải Cácphương tiện giao thông công cộng ngày càng gia tăng cùng với hiện trạng quy hoạch vềmạng lưới các tuyến đường không đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân đã góp phần rấtlớn gây ô nhiễm môi trường không khí ở các khu đô thị, đặc biệt là các đô thị lớn như HàNội, TP Hồ Chí Minh

Hoạt động giao thông vận tải, các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp và hoạt động xâydựng là những nguồn chính gây ô nhiễm không khí ở các khu đô thị Theo đánh giá củacác chuyên gia, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông gây ra chiếm tỷ lệ khoảng 70%

Đô thị càng phát triển thì số lượng phương tiện GTVT lưu hành trong đô thị càng tăngnhanh (Biểu đồ 1) Đây là áp lực rất lớn đối với môi trường không khí đô thị

Trang 3

Biểu đồ 1 Số lượng ô tô và xe máy hoạt động hàng năm của Việt Nam

Nguồn: Cục Đăng kiểm Việt Nam và Vụ KHCN&MT, Bộ GTVT, 2009

Số lượng phương tiện cơ giới này tập trung chủ yếu rất lớn tại các đô thị lớn, đặc biệt là ở

Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội (Biểu đồ 2)

Một đặc trưng của các đô thị Việt Nam là phương tiện giao thông cơ giới 2 bánh chiếm tỷtrọng lớn Ở các đô thị lớn, trong những năm qua, tỷ lệ sở hữu xe ôtô tăng nhanh, tuynhiên lượng xe máy vẫn chiếm tỷ lệ rất lớn

Biểu đồ 2 Số lượng xe máy trên 1.000 dân ở các thành phố lớn của Việt Nam

năm 2006 (Nguồn: Cục Đăng kiểm Việt Nam, 2007)

Trang 4

Tp Hồ Chí Minh có tới 98% hộ dân thành phố có sở hữu xe máy (Nguồn: Chi cục BVMT

Tp Hồ Chí Minh, 2007) Tại Hà Nội, xe máy chiếm hơn 87% tổng lưu lượng xe hoạt động trong nội thành Hà Nội (Nguồn: Sở TNMT&NĐ Hà Nội, 2006).

Các khí CO, SO2, NO2 trong không khí tại các đô thị nhìn chung vẫn trong ngưỡng chophép Tuy nhiên, tại một số địa điểm và trong một số thời điểm, nồng độ các chất này cótăng lên, một số trường hợp đã vượt trị số cho phép

Do ảnh hưởng của các hoạt động giao thông, nồng độ NO2 ở gần các trục đường giaothông cao hơn hẳn các khu vực khác Đặc biệt tại những đô thị có mật độ phương tiệngiao thông cao như TP Hồ Chí Minh, nồng độ NO2 trong không khí cao hơn hẳn những

đô thị khác (Biểu đồ 3) Điều này chứng tỏ NO2 được phát sinh chủ yếu từ các hoạt độnggiao thông trong thành phố

Biểu đồ 3 Diễn biến nồng độ NO 2 ven các trục giao thông của một số đô thị trong

toàn quốc

Trang 5

Nguồn: Các trạm QT&PTMT vùng (Đất liền 1,2,3) – Mạng lưới QT&PTMT quốc gia,

2010

Nồng độ SO2 và CO trung bình năm tại các khu vực trong thành phố nhìn chung vẫntrong giới hạn cho phép của QCVN 05:2009/BTNMT

Do phần lớn SO2 phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp nên sự chênh lệch nồng

độ SO2 giữa khu vực dân cư và trục đường giao thông không nhiều và có xu hướng giảm

đi do một phần các cơ sở sản xuất được di dời ra khỏi các thành phố trong các năm vừaqua Ước tính cho thấy, hoạt động giao thông đóng góp tới gần 85% lượng khí CO, 95%lượng VOCs Trong khi đó, các hoạt động công nghiệp là nguồn đóng góp khoảng 70%khí SO2 Đối với NO2, hoạt động giao thông và hoạt động sản xuất công nghiệp có tỷ lệđóng góp xấp xỉ nhau (Biểu đồ 5 và Bảng 3)

Bảng 3 Ước tính thải lượng các chất gây ô nhiễm từ các nguồn thải chính của

Việt Nam năm 2005 (Đơn vị: tấn/năm)

5

301.02 2

415.09 0

49.70 5

Nguồn: Cục BVMT, 2006

Trang 6

Môi trường không khí xung quanh của hầu hết các khu vực trong thành phố đều bị ônhiễm bụi, đặc biệt là ở các nút giao thông, các khu vực có công trường xây dựng và nơitập trung hoạt động sản xuất công nghiệp.

PM10 trung bình năm của các thành phố lớn của Việt Nam như TP.Hồ Chí Minh, HàNội, Đà Nẵng, Hải Phòng nhìn chung đều vượt ngưỡng trung bình năm theo khuyến nghịcủa WHO (20 µg/m3)

So sánh với tiêu chuẩn Việt Nam, tại hầu hết các khu vực của Hà Nội và TP.Hồ ChíMinh, nồng độ bụi PM10 các năm gần đây đều vượt quy chuẩn cho phép (50 µg/m3),(Biểu đồ 7)

Biểu đồ 7 Diễn biến nồng độ bụi PM 10 trung bình năm trong không khí xung

quanh một số đô thị từ năm 2005 đến 2009

Nguồn: TTKTTV Quốc gia, 2010; Chi cục BVMT Tp Hồ Chí Minh, 2010

Không chỉ ở các tuyến đường giao thông đường phố mà các khu vực dân cư của các đô

thị cũng gặp phải vấn đề ô nhiễm bụi, đặc biệt là các khu vực dân cư nằm sát khu vựcđang có hoạt động xây dựng hoặc gần đường có mật độ xe lớn

Trang 7

CHƯƠNG 2: PHÂN LOẠI NGUỒN GÂY Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ

Để phân loại ôn nhiễm không khí thì có nhiều cách, phân loại theo nguồn tự nhiên vànguồn nhân tạo bao gồm nguồn điểm, nguồn đường và nguồn vùng hoặc là phân loại theomức độ ô nhiễm nhiều hay ít tác động tới môi trường Trong bài này, nhóm sẽ phân loạitheo nguồn điểm, đường và vùng

1 Ô nhiễm nguồn điểm.

Ô nhiễm không khí theo nguồn điểm là những nơi phát sinh ô nhiễm phân tán Ví dụ nhưcác nhà máy hoạt động riêng lẻ, các xí nghiệp, các cơ sở sản xuất hoặc các hộ dân đunnấu sinh hoạt Ô nhiễm do nguồn điểm thường mang tính cục bộ trong khu vực Các nhàmáy, xí nghiệp phát thải hầu hết các loại khí thải gây ô nhiễm môi trường như CO2, SOx,

NOx, bụi, THC…gây ô nhiễm nội bộ nhà máy và khu vực dân cư xung quanh

Đa số các nhà máy, xí nghiệp ở nước ta phân bố riêng lẻ và không theo quy hoạch cụ thể.Chính vì điều này khiến cho việc quản lý, kiểm tra tiêu chuẩn phát thải ra môi trường củacác nhà máy, xí nghiệp Ngoài ra, do nước ta còn khá nghèo, thu nhập của người dân cònthấp nên nhiều hộ gia đình vẫn còn phải đun nấu, sinh hoạt bằng cách đốt các nguyên liệusẵn có như gỗ, rơm hoặc là vỏ trâu, vỏ điều…

2 Ô nhiễm nguồn đường

Ô nhiễm theo nguồn đường thường là do những nguồn phát sinh ô nhiễm di động như cácphương tiện giao thông hoặc do các nguồn phát sinh theo tuyến đường như các ống dẫn.Việc kiểm soát không tốt sự phát triển của xe gắn máy, ôtô không chỉ khiến các đô thị lớn

ở VN khổ sở vì tình trạng giao thông hỗn loạn, mà còn nảy sinh một vấn đề hết sứcnghiêm trọng nhưng không được quan tâm đúng mức, đó là ô nhiễm không khí

Ông Shintaro Fujii - chuyên gia của Cục Quản lý môi trường - Bộ Môi trường Nhật Bản,người đứng đầu dự án giúp đỡ VN hoàn thành kiểm kê phát thải trên toàn quốc; biên soạnsách hướng dẫn quy định kiểm kê phát thải tại VN; xây dựng mô hình mô phỏng về ônhiễm không khí TP Hà Nội - cho rằng môtô, xe máy là phương tiện giao thông phổ biếnnhất, chiếm 95% về số lượng và đáp ứng 90% nhu cầu đi lại tại các thành phố lớn

Hằng năm có khoảng 3 triệu môtô, xe máy và 150.000 ôtô mới tham gia giao thông.Môtô, xe máy lưu hành chưa được kiểm soát khí thải một cách nghiêm ngặt Đa số môtô,

xe máy không được bảo dưỡng, sửa chữa trong quá trình sử dụng nên mức phát thải vàtiêu hao lớn Ý thức bảo vệ môi trường kém Đa số dân không hiểu rõ tác hại của khí thải

và tác dụng của bảo dưỡng, sửa chữa đến giảm khí thải độc hại và tiết kiệm tiêu haonhiên liệu

Trang 8

Tính đến năm 2010 có 1.394.858 ôtô đang lưu hành, trong đó ôtô con 617.473, ôtô khách163.514 và ôtô tải 660.324 Tổng số môtô, xe máy đang lưu hành xấp xỉ 33 triệu chiếc.Đại diện phía Nhật Bản kết luận sự gia tăng xe máy, ôtô tạo ra mức độ ô nhiễm không khínghiêm trọng ở đô thị, chiếm 70% nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm không khí.

Và mọi chuyện vẫn chưa dừng tại đó, thông tin từ hội thảo do Sở Giao thông vận tảiTP.HCM và Ban tư vấn hợp tác công tư về hạ tầng cơ sở (thuộc Ngân hàng Thế giới) vừa

tổ chức cho biết từ nay đến năm 2015, TP.HCM sẽ có gấp đôi lượng ôtô và xe gắn máy

so với hiện nay, tức là 8 triệu xe gắn máy và 800.000 ôtô

3 Ô nhiễm nguồn vùng

Ô nhiễm theo vùng thường là các khu vực ô nhiễm tập trung, những nguồn phát sinh ônhiễm có diện tích vùng phát thải lớn như các khu công nghiệp, khu chế xuất, bãi rác.Theo thống kê, đến tháng 6/2012 cả nước có 334 khu chế xuất, khu công nghiệp đã đượcphê duyệt thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên là 90.900 ha, trong đó có 232 khucông nghiệp đã đi vào hoạt động và 102 khu công nghiệp đang trong giai đoạn đền bùgiải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản Vùng kinh tế trọng điểm miền nam có 159 khucông nghiệp chiếm gần 50% tổng số khu công nghiệp trên cả nước Việc phát triển cáckhu công nghiệp trên cả nước là chủ truong đúng đắn của Đảng và nhà nước ta, hiệu quảkinh tế xã hội mà các khu công nghiệp mang lại đã thấy rõ, hằng năm tạo ra 40% giá trịsản xuất công nghiệp, hơn 60% giá trị xuất khẩu của cả nước và giải quyết việc làmthường xuyên cho gần 2 triệu người lao động Nhưng bên cạnh đó các khu công nghiệpcũng phát thải một lượng khí thải lớn vào môi trường

Hiện tại, các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam ít được trú trọng đầu tư hệ thống

xử lý khí thải

Trang 9

CHƯƠNG 3: TÁC HẠI CỦA CÁC CHẤT Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ

1 Tác hại của bụi

Thành phần hóa học, thời gian tiếp xúc là các yếu tố ảnh hưởng đến các cơ quan nội tạng.Mức độ bụi trong bộ máy hô hấp phụ thuộc vào kích thước, hình dạng, mật độ hạt bụi và

cá nhân từng người

Bụi vào phổi gây kích thích cơ học, xơ hóa phổi dẫn đến các bệnh về hô hấp như khó thở,

ho và khạc đờm, ho ra máu, đau ngực …

TCVN 2005 qui định bụi tổng cộng trong không khí xung quanh 0,5 mg/m3

Bụi đất đá không gây ra các phản ứng phụ: tính trõ, không có tính gây độc Kích thướclớn (bụi thô), nặng, ít có khả năng đi vào phế nang phổi, ít ảnh hưởng đến sức khỏe.Bụi than: thành phần chủ yếu là hydrocacbon đa vòng (VD: 3,4-benzenpyrene), có độctính cao, có khả năng gây ung thư, phần lớn bụi than có kích thước lớn hơn 5 micromet bịcác dịch nhầy ở các tuyến phế quản và các lông giữ lại Chỉ có các hạt bụi có kích thướcnhỏ hơn 5 mm vào được phế nang

2 Tác hại của SO 2 và NO 2

SO2, NOX là chất kích thích, khi tiếp xúc với niêm mạc ẩm ướt tạo thành axít (HNO3,H2SO3, H2SO4) Các chất khí trên vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc hòa tan vào nướcbọt rồi vào đường tiêu hoá, sau đó phân tán vào máu tuần hoàn

Kết hợp với bụi => bụi lơ lửng có tính axít, kích thước < 2-3µm sẽ vào tới phế nang, bịđại thực bào phá hủy hoặc đưa đến hệ thống bạch huyết

SO2 nhiễm độc qua da làm giảm dự trữ kiềm trong máu, đào thải amoniac ra nước tiểu vàkiềm ra nước bọt

Độc tính chung của SO2 thể hiện ở rối loạn chuyển hóa protein và đường, thiếu vitamin Giới hạn phát hiện thấy bằng mũi SO2 từ 8 – 13 mg/m3

Giới hạn gây độc tính của SO2 là 20 – 30 mg/m3, giới hạn gây kích thích hô hấp, ho là50mg/m3

Giới hạn gây nguy hiểm sau khi hít thở 30 – 60 phút là từ 130 đến 260mg/m3

Giới hạn gây tử vong nhanh (30’ – 1h) là 1.000-1.300mg/m3

Tiêu chuẩn cho phép của Bộ Y Tế Việt Nam đối với SO2, SO3, NO2 týõng ứng là 0,5;0,3 và 0,085 mg/m3 (nồng độ tối đa 1 lần nhiễm)

3 Tác hại của CO

Trang 10

Ôxít cacbon (CO) kết hợp với hemoglobin (Hb) trong máu thành hợp chất bền vững làcacboxy hemoglobin (HbCO) làm cho máu giảm khả năng vận chuyển ôxy dẫn đến thiếuôxy trong máu rồi thiếu ôxy ở các tổ chức.

Mối liên quan giữa nồng độ CO và triệu chứng nhiễm độc tóm tắt dưới đây:

4 Tác hại của NH 3

NH3 không ăn mòn thép, nhôm, tan trong nước gây ăn mòn kim loại màu: kẽm, đồng vàcác hợp kim của đồng NH3 tạo với không khí một hỗn hợp có nồng độ trong khoảng từ

16 đến 25% thể tích sẽ gây nổ

NH3 là khí độc có khả năng kích thích mạnh lên mũi, miệng và hệ thống hô hấp

Ngưỡng chịu đựng đối với NH3 là 20 – 40 mg/m3

Tiếp xúc với NH3 với nồng độ 100 mg/m3 trong khoảng thời gian ngắn sẽ không để lạihậu qủa lâu dài

Tiếp xúc với NH3 ở nồng độ 1.500 – 2.000 mg/m3 trong thời gian 30’ sẽ nguy hiểm đốivới tính mạng

5 Tác hại của H 2 S

Phát hiện dễ dàng nhờ vào mùi đặc trưng

Xâm nhập vào cơ thể qua phổi, H2S bị oxy hoá tạo thành sunfat, các hợp chất có độc tínhthấp Không tích lũy trong cơ thể.Khoảng 6% lượng khí hấp thụ sẽ được thải ra ngoài quakhí thở ra, phần còn lại sau khi chuyển hóa được bài tiết qua nước tiểu

Ở nồng độ thấp, H2S có kích thích lên mắt và đường hô hấp

Hít thở lượng lớn hỗn hợp khí H2S, mercaptan, ammoniac… gây thiếu oxy đột ngột, cóthể dẫn đến tử vong do ngạt

Trang 11

Dấu hiệu nhiễm độc cấp tính: buồn nôn, rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy, mũi họng khô và cómùi hôi, mắt có biểu hiện phù mi, viêm kết mạc nhãn cầu, tiết dịch mủ và giảm thị lực.Sunfua được tạo thành xâm nhập hệ tuần hoàn tác động đến các vùng cảm giác – mạch,vùng sinh phản xạ của các thần kinh động mạch cảnh.

Thường xuyên tiếp xúc với H2S ở nồng độ dưới mức gây độc cấp tính có thể gây nhiễmđộc mãn tính Các triệu chứng có thể là: suy nhược, rối loạn hệ thần kinh, hệ tiêu hóa,tính khí thất thường, khó tập trung, mất ngủ, viêm phế quản mãn tính…

6 Tác hại của Formaldehyde

Formaldehyde với nồng độ thấp kích thích da, mắt, đường hô hấp, ở liều cao có tác độngtoàn thân, gây ngủ

Nhiễm theo đường tiêu hoá với liều lượng cao hơn 200mg/ngày sẽ gây nôn, choáng váng.Người bị nhiễm độc mãn tính có tổn thương rất đặc trưng ở móng tay: móng tay màu nâu,mềm ra, dễ gẫy, viêm nhiễm ở xung quanh móng rồi mưng mủ

Nồng độ tối đa cho phép của hơi formaldehyde trong không khí là 0,012mg/m3 (TCVN5938-1995), trong khí thải là 6 mg/m3

Tổ chức Y tế Thế giới: nồng độ giới hạn formandehyde là 100 mg/m3 trong không khívới thời gian trung bình 30 phút

7 Tác hại của Benzen

Benzen là một chất lỏng dễ bay hơi, khi hỗn hợp với không khí có thể gây nổ

Benzen xâm nhập vào cơ thể người qua da (tiếp xúc trực tiếp) và qua phổi Khi xâmnhập, chừng 75-90% được cơ thể thải ra trong vòng nửa giờ; phần còn lại tích luỹ trong

mỡ, tuỷ xương, não, sau đó được bài tiết rất chậm ra ngoài

Phần Benzen tích luỹ sau này có thể gây các biểu hiện sinh lý: gây ra sự tăng tạm thời củabạch cầu; gây rối loạn ôxy hoá - khử của tế bào dẫn đến tình trạng xuất huyết bên trong

cơ thể; nếu hấp thụ nhiều Benzen trong cơ thể sẽ bị nhiễm độc cấp với các hội chứng khóchịu, đau đầu, nôn, có thể tử vong vì suy hô hấp

Nếu thường xuyên tiếp xúc với Benzen có thể gây độc mãn tính; lúc đầu là rối loạn tiêuhoá, ăn kém ngon, xung huyết niêm mạc miệng, rối loạn thần kinh, đau đầu, chuột rút,cảm giác kiến bò, thiếu máu nhẹ, xuất huyết trong, phụ nữ hay bị rong kinh, khó thở dothiếu máu; tiếp theo là xuất huyết trong nặng, thiếu máu nặng, giảm bạch cầu và cả hồngcầu; phụ nữ đẻ non hoặc sẩy thai Đây là bệnh nguy hiểm vì Benzen có thể tích luỹ lâudài trong tuỷ xương, có thể sau hai năm mới phát bệnh kể từ khi nhiễm Benzen

Trang 12

CHƯƠNG 4: TÁC ĐỘNG CỦA Ô KHÔNG KHÍ ĐẾN KHÍ HẬU VÀ THIÊN NHIÊN

 Hai vấn đề quy mô Thế giới là hiện tượng nhiễm bẩn thượng tầng khí quyển và sựthay đổi thời tiết

 Sự tập trung dân cư và hiện tượng ô nhiễm vi khí hậu như các hiện tượng “đảonhiệt”, biến đổi kiểu mưa…

 Hiện tượng nồng độ CO2 tăng lên trong khí quyển làm bức xạ hồng ngoại từ TĐ

bị giữ lại khiến nhiệt độ mặt đất tăng lên gọi là “hiệu ứng nhà kính” gây ra sự bất

ổn về thời tiết ở quy mô toàn cầu

 Do sự tích lũy càng lớn hợp chất chloroflorometan (freon) trong tầng bình lưu làmgiảm ozon tạo ra lỗ hổng ozon để tia tử ngoại xâm nhập gây ung thư da, gây chếtnhiễm sinh vật…

1 Trái Đất nóng lên

 Nhiệt độ TĐ đã nóng lên 0.5oC trong 100 năm qua

 Nguyên nhân: gia tăng số lượng khí nhà kính (CO2, CFC, O3, NO2, N2O…);khai thác làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên; ô nhiễm ngày càng quan trọngtrong môi trường không khí, biển, nước trên đất liền; nhiều hệ sinh thái bị mấtcân bằng nghiêm trọng trên Thế giới

 Hậu quả:

o Mực nước biển dâng cao

o Thời tiết trên TĐ sẽ bị đảo lộn, các thiên tai, hạn hán, bão, lũ lụt diễn ra

thường xuyên và mạnh hơn

2 Mưa axit

 Sự kết hợp của mưa, sương mù, tuyết, mưa đá với oxit lưu huỳnh, oxit nitơ sinh ra

do quá trình đốt cháy các nhiên liệu khoáng tạo thành axit sulfuric, axit nitric cónồng độ pH <5.6 theo mưa tuyết rơi xuống mặt đất là mưa axit

 Theo dự đoán, đến giữa TK XXI, hàm lượng SO2 trong khí quyển sẽ tăng gấp đôi

so với hiện nay

 Hậu quả: làm sông hồ bị axit hóa, cây cối khô héo, các loại cá chết, đe dọa sứckhỏe con người, sản lượng nông nghiệp bị giảm, gây ăn mòn các vật liệu kiếntrúc…

3 Suy giảm tầng ozone

 Tầng ozone ở trạng thái bình thường ngăn được 90% tia tử ngoại do mặt trời chiếuxuống gây bệnh ung thư, làm biến đổi gen của sinh vật, hủy hoại hệ sinh thái Hiệnnay tầng ozone trên khí quyển ngày càng mỏng đi và những lỗ thủng ozone ngàycàng to lên

Ngày đăng: 17/07/2015, 16:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. Ước tính thải lượng các chất gây ô nhiễm từ các nguồn thải chính của - Tiểu luận Quản lý chất lượng không khí
Bảng 3. Ước tính thải lượng các chất gây ô nhiễm từ các nguồn thải chính của (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w