Những đóng góp mới của Luận văn Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong Luận văn có một số điểm mới sau: - Tiếp tục làm rõ được một số vấn đề lý luận về HĐMBHH như: bản chất, khái niệm, đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Học viên xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng học viên Trong quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn, học viên có tham khảo một số bài viết, tài liệu của các tác giả khác, các nguồn trích dẫn tham khảo, thông tin từ các buổi hội thảo đã được chỉ ra trong mục Danh mục tài liệu tham khảo Các ví dụ và trích dẫn trong Luận văn được đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Hà N ội, ngày tháng năm 2016
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong th ời gian qua để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ Luật học này, bên
c ạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên
và h ướng dẫn của các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè trong suốt khóa học cũng
nh ư thời gian nghiên cứu đề tài luận văn
V ới lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành
đến PGS TS Nguyễn Trung Tín đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi
trong su ốt quá trình thực hiện và nghiên cứu Luận văn của mình
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám
hi ệu, toàn thể quý thầy cô, cán bộ trong Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa lu ật Viện đại học Mở đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình h ọc tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ
Tôi c ũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghi ệp đã luôn bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và
th ực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Cu ối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm
lu ận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn thiện luận văn này
Hà N ội, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu 2
3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 3
4 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
5 Những đóng góp mới của Luận văn 4
6 Bố cục của Luận văn 4
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 5
1.1 Khái quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa 5
1.2 Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa 11
1.3 Phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa 13
1.4 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam 13
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 20
2.1 Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 20
2.2 Hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa 34
2.3 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa 40
Trang 62.4 Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 45 2.5 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa 56 Chương 3 MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA .62 3.1 Một số nhận xét về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 62 3.2 Một số ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 69 KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 8thì phương tiện của “mối quan hệ xã hội” này là những âm thanh, dấu hiệu chung
của từng nhóm, bầy đàn Sau này, khi ngôn ngữ phát triển, trở thành một công cụ hữu hiệu nhất và không chỉ cho nhu cầu tồn tại, mà lớn hơn nhiều – nhu cầu của sự phát triển Để thỏa mãn nhu cầu ngày một lớn, người ta đã cần đến nhau trong việc trao đổi những gì mình có để có được những thứ mình cần
Thời kỳ phát sinh thêm một nghề là thương mại Nghề thương mại gắn liền với lịch sử văn minh nhân loại mà cơ sở tồn tại và phát triển của nó là quan hệ cung – cầu Từ khi con người biết trồng trọt thay cho hái lượm; biết chăn nuôi thay cho săn bắt; biết trao đổi sản vật theo phương thức hàng đổi hàng, khi đó một cái
gọi là “nền kinh tế” đã manh nha hình thành Bên cạnh đó, sự phát triển của ngôn
ngữ cũng hỗ trợ đắc lực cho công việc mua bán Ngôn ngữ giúp người ta tìm hiểu nhu cầu và khả năng của nhau, ngôn ngữ cũng giúp người ta đạt được sự thống nhất cho việc mua – bán Ngay từ thời kỳ này, về bản chất, hợp đồng mua bán đã thực tế tồn tại Sau này cùng với những phát minh lớn lao của con người là sự ra đời của tiền tệ và nền sản xuất hàng hóa, hoạt động mua bán hàng hóa đã phát triển mạnh mẽ và theo đó là sự đa dạng của các hoạt động mua bán hàng hóa
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Mua bán hàng hóa (MBHH) đã từng là hình thức chủ yếu của hoạt động thương mại Hiện nay, mặc dù có nhiều hình thức hoạt động thương mại mới xuất hiện nhưng mua bán hàng hóa vẫn chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động thương mại Hợp đồng mua bán hàng hóa (HĐMBHH) là một phương thức giao dịch phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội kể từ khi con người biết trao đổi sản phẩm
Trang 92
phục vụ cho nhu cầu và sự tồn tại của mình Cho đến nay, chúng ta không thể phủ nhận vai trò quan trọng của phương thức giao dịch này
Trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với các khái niệm đổi mới
và “mở cửa”, nền kinh tế Việt Nam đã được chuyển mình và bước đầu tự khẳng
định trên trường quốc tế bằng những chỉ số về tốc độ phát triển, về sự ổn định của môi trường kinh doanh Tuy nhiên, khi nhắc đến những cơ hội thì không thể bỏ qua những thách thức Những thách thức này luôn hiện hữu đối với mọi chủ thể của nền kinh tế Nó đòi hỏi chúng ta phải đạt tới một tầm cao mới Pháp luật về hợp đồng nói chung và HĐMBHH nói riêng là một lĩnh vực quan trọng cần được hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế Không thế nói tới một nền kinh
tế phát triển khi mà ở đó sự lưu thông hàng hóa ở một trình độ thấp Hậu quả của
nó đối với kinh tế quốc gia, hoặc là chậm phát triển kinh tế hàng hóa, hoặc là gánh chịu hậu quả của các giao dịch mua bán thiếu sự bảo đảm chặt chẽ của pháp luật
về hợp đồng Có thể hình dung, hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa như sự vận chuyển máu nuôi cơ thể và HĐMBHH giữ vai trò như một sự đảm bảo tính ổn định của dòng lưu chuyển ấy Vì vậy, việc nghiên cứu và tìm hiểu pháp luật điều chỉnh HĐMBHH là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết hiện nay, nhằm tạo điều kiện xây dựng và hoàn thiện các chế định pháp luật này, tạo ra môi trường pháp lý ổn định, bảo đảm được quyền và lợi ích của các chủ thể kinh doanh
Xuất phát từ lý do trên mà tôi chọn đề tài: “Hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam hiện hành” để làm Luận văn tốt nghiệp
2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là những vấn đề pháp luật về HĐMBHH như: Khái niệm HĐMBHH; đặc điểm HĐMBHH; vấn đề giao kết và thực hiện hợp đồng Lý luận về HĐMBHH là một lĩnh vực kiến thức khá rộng liên quan đến cả vấn đề kinh tế và vấn đề pháp lý Do đó, Luận văn còn đưa ra những vấn đề chung nhất về HĐMBHH, đưa ra những ưu điểm, nhược điểm Trên cơ sở
Trang 10tế quốc tế hiện nay Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về HĐMBHH, hiệu quả của việc tuân thủ pháp luật về việc thực hiện HĐMBHH
3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài, tác giả Luận văn sử dụng các phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp tổng hợp, phân tích; Phương pháp so sánh luật học; Phương pháp logic và lịch sử; nghiên cứu lý luận kết hợp với thực tiễn…
4 Tình hình nghiên cứu đề tài
HĐMBHH là vấn đề thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu khoa học pháp lý thời gian qua Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này
như: “Một số vấn đề pháp lý về HĐMBHH trong thương mại” của Nguyễn Ngoc Minh (2007); “Hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại trong điều
ki ện sửa đổi, bổ sung BLDS” của Dư Hoài Phương (2014); “Quyền tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam” của TS Phạm Hoài Giang (2007);
“Hi ệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam” của TS Lê Minh Hùng (2010); “So sánh chế định giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và
pháp lu ật Hoa Kỳ” của Th.S Nguyễn Thị Mai Hương (2010);… các công trình trên
Trang 115 Những đóng góp mới của Luận văn
Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong Luận văn có một số điểm mới sau:
- Tiếp tục làm rõ được một số vấn đề lý luận về HĐMBHH như: bản chất, khái niệm, đặc điểm, vai trò của HĐMBHH, xu hướng điều chỉnh của pháp luật Việt Nam…
- Nêu được các quy định của pháp luật hiện hành về HĐMBHH, như: đối tượng của hợp đồng, chủ thể ký kết hợp đồng, nội dung của HĐMBHH, thực hiện hợp đồng… đồng thời nêu những nhận xét về các quy định đó Từ đó đưa ra một
số ý kiến nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về HĐMBHH
- Đặc biệt, Luận văn có đưa ra được điểm mới đó là: sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam về HĐMBHH với thương nhân nước ngoài trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
6 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục các từ viết tắt, Mục lục và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có kết cấu 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa;
Chương 2: Thực trạng điều chỉnh của pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp
đồng mua bán hàng hóa;
Chương 3: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán
hàng hóa
Trang 125
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA
BÁN HÀNG HÓA 1.1 Khái quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa
Quan hệ mua bán hàng hóa được thực hiện trên cơ sở sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các chủ thể Nói cách khác, mua bán hàng hóa được thực hiện trên
cơ sở hợp đồng Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi
hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ Điều 388 BLDS 2005 quy định: “Hợp đồng dân
s ự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,
ngh ĩa vụ dân sự” Tại Điều 428 BLDS 2005 có đưa ra định nghĩa về một loại hợp
đồng cụ thể: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó
bên bán có ngh ĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa
v ụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán”
LTM 2005 quy định mua bán hàng hóa trong thương mại được thực hiện trên cơ sở hợp đồng Tuy nhiên, Luật không đưa ra khái niệm HĐMBHH trong thương mại mà chỉ đưa ra khái niệm mua bán hàng hóa Khoản 8, Điều 3 LTM
2005 quy định: “Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có
ngh ĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh
toán; bên mua có ngh ĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu
hàng hóa theo th ỏa thuận”
Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, các bên tham gia vào hoạt động mua bán hàng hóa đều hướng tới mục đích sinh lời, vì vậy HĐMBHH là một loại hợp đồng thương mại Căn cứ vào khái niệm mua bán hàng hóa kết hợp với các quy định của BLDS 2005 về hợp đồng dân sự và hợp đồng mua bán tài sản, có thể đưa ra khái niệm HĐMBHH như sau: HĐMBHH là sự thỏa thuận giữa các bên,
Trang 136
theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên
mua và nh ận thanh toán; còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán cho
bên bán
Như vậy, để hình thành HĐMBHH, phải có sự thống nhất ý chí giữa các bên và sự thống nhất ý chí đó sẽ làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ Sự thống nhất ý chí này phải được hình thành trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không chịu bất kỳ sự tác động nào từ bên ngoài
HĐMBHH và hợp đồng mua bán tài sản là hai khái niệm có nhiều điểm tương đồng Tuy nhiên, khái niệm hợp đồng mua bán tài sản có phạm vi rộng hơn Quan hệ mua bán hàng hóa trong thương mại là một quan hệ dân sư theo nghĩa rộng Vì vậy, HĐMBHH trước hết chịu sự điều chỉnh của BLDS Xét về bản chất, hàng hóa cũng là một loại tài sản Hàng hóa là đối tượng của HĐMBHH bao gồm: tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai (khoản 2, Điều 3, LTM 2005) Còn đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản lại bao gồm tất cả các tài sản được phép giao dịch bao gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản (Điều 163 và Điều 429 BLDS 2005) Như vậy, đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản có tính chất bao trùm so với đối tượng của HĐMBHH trong thương mại Chủ thể của hợp đồng mua bán tài sản rộng hơn chủ thể của HĐMBHH trong thương mại HĐMBHH trong thương mại phải có ít nhất một chủ thể là thương nhân còn với hợp đồng mua bán tài sản, chủ thể chỉ cần có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Tóm lại, có thể coi HĐMBHH là hợp đồng mua bán tài sản nhưng mang bản chất thương mại, vì mục tiêu lợi nhuận
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa
HĐMBHH trước hết mang những đặc điểm của hợp đồng mua bán tài sản nói chung Đó là:
- Th ứ nhất, HĐMBHH là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm
dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa
Trang 147
- Th ứ hai, HĐMBHH là hợp đồng song vụ, bên bán và bên mua đều có
quyền và nghĩa vụ Quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và có quyền yêu cầu bên mua trả tiền mua hàng hóa, ngược lại bên mua có quyền yêu cầu bên bán chuyển giao hàng hóa
và có nghĩa vụ trả tiền mua hàng hóa cho bên bán
- Th ứ ba, HĐMBHH là hợp đồng có đền bù Khoản tiền bên mua trả cho
bên bán chính là khoản tiền đền bù đối với việc chuyển giao hàng hóa và quyền sở hữu hàng hóa
HĐMBHH mang bản chất thương mại, hành vi của các chủ thể trong hợp đồng là hành vi thương mại, nhằm mục đích lợi nhuận, chính vì vậy, HĐMBHH mang những đặc trưng riêng so với hợp đồng mua bán tài sản, đó là:
- Th ứ nhất, về chủ thể của HĐMBHH
HĐMBHH gồm hai bên: bên bán và bên mua Các bên có thể là cá nhân, pháp nhân, các tổ chức không là pháp nhân hay tổ hợp tác, hộ gia đình… Tuy nhiên, bắt buộc một trong hai bên phải là thương nhân
Dựa vào tư cách thương nhân của các chủ thể, hợp đồng mua bán hàng hóa được chia thành hai loại, đó là HĐMBHH giữa thương nhân với thương nhân và HĐMBHH giữa một bên là thương nhân và một bên không phải là thương nhân Như vậy, chủ thể của HĐMBHH gồm các chủ thể là thương nhân và các chủ thể không phải là thương nhân
Để có thể tham gia giao kết HĐMBHH, các chủ thể không phải là thương nhân chỉ cần đảm bảo điều kiện có năng lực hành vi dân sự Các chủ thể này sẽ chịu sự điều chỉnh của LTM nếu họ chọn áp dụng LTM (xem khoản 3, Điều 1, LTM 2005)
Đối với các chủ thể là thương nhân, họ cần đảm bảo điều kiện có năng lực hành vi thương mại Điều kiện này cho phép các thương nhân bằng chính hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ thương mại Năng lực hành vi
Trang 158
thương mại cơ bản gồm các nội dung giống với năng lực hành vi dân sự Ngoài ra,
để có năng lực hành vi thương mại, chủ thể còn phải thỏa mãn các quy định đặc thù như yêu cầu về chứng chỉ hành nghề, yêu cầu về giấy phép kinh doanh các mặt hàng bị hạn chế lưu thông, yêu cầu đăng ký kinh doanh, yêu cầu bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp… Khoản 1, Điều 6, LTM 2005 quy định: “Thương nhân bao
g ồm tổ chức kinh tế được thành lập một cách hợp pháp, cá nhân hoạt động thương
m ại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Như vậy, thương
nhân là những chủ thể có năng lực hành vi thương mại, có đăng ký kinh doanh, thực hiện hành vi thương mại một cách độc lập, mang danh nghĩa chính mình và vì lợi ích của chính bản thân Hành vi thương mại của thương nhân phải được thực hiện một cách thương xuyên, liên tục và nhằm mục tiêu tạo ra nguồn thu nhập chính đáng cho thương nhân (không phân biệt là có thu được lợi nhuận trên thực tế hay không)
- Th ứ hai, đối tượng của HĐMBHH
Đối tượng của HĐMBHH là hàng hóa Hiểu theo nghĩa thông thường, hàng hóa là sản phẩm của lao động, được tạo ra nhằm mục đích thỏa mã nhu cầu của con người Theo Từ điển tiếng Việt của Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam:
“Hàng hóa là s ản phẩm lao động do lao động làm ra dùng để buôn bán trên thị
tr ường” [36, tr.422] Trong kinh tế chính trị học, hàng hóa được hiểu là một vật
thể thỏa mãn được nhu cầu nào đó của con người và được sản xuất ra không phải
để người sản xuất tiêu dùng mà để bán Cùng với sự phát triển của xã hội, hàng hóa ngày càng phong phú và đa dạng
Dưới khía cạnh pháp lý, có thể xem hàng hóa trong mua bán thương mại là một loại tài sản được đưa vào quan hệ lưu thông trên thị trường Hàng hóa có thể được chia thành nhiều loại khác nhau như động sản, bất động sản, tài sản hữu hình, tài sản vô hình Theo khoản 2, Điều 3 LTM 2005 thì hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai Theo đó, tất cả các tài sản là động sản được phép lưu thông đều có thể trở
Trang 169
thành hàng hóa Khi so sánh khái niệm hàng hóa theo quy định của LTM năm
2005 với khái niệm bất động sản trong BLDS, có thể nhận thấy, bất động sản là hàng hóa chỉ bao gồm các vật gắn liền với đất đai (các công trình xây dựng, các vật gắn liền với các công trình xây dựng đó…), còn đất đai và các tài sản khác mà pháp luật quy định là bất động sản không phải là hàng hóa (xem Điều 174 BLDS 2005) Như vậy, hàng hóa là đối tượng của HĐMBHH có thể là hàng hóa đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai, hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại
Hàng hóa là đối tượng của HĐMBHH phải là tài sản có thể tham gia vào giao dịch mua bán hàng hóa Nghĩa là hàng hóa phải xác định, có nguồn gốc hợp pháp, không do phạm tội mà có và không thuộc danh mục bị cấm lưu thông hay cấm xuất khẩu Đối với hàng hóa là động sản hình thành trong tương lai thi bên bán phải có căn cứ chứng minh hàng hóa đó chắc chắn sẽ được hình thành HĐMBHH sẽ bị coi là vô hiệu nếu có đối tượng là hàng hóa bất hợp pháp Việc mua bán hàng hóa bất hợp pháp sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Đối với các hàng hóa bị hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện thì việc mua bán hàng hóa chỉ được thực hiện khi hàng hóa và các bên mua bán hàng hóa đáp ứng
đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật
- Th ứ ba, hình thức của HĐMBHH
HĐMBHH trong thương mại đa dạng về hình thức Pháp luật của hầu hết các nước đều quy định HĐMBHH có thể được ký kết dưới nhiều hình thức, như: văn bản, lời nói hay hành vi cụ thể tùy thuộc vào sự lựa chọn của các bên tham gia hợp đồng
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 quy định hình thức của hợp đồng kinh tế phải bằng văn bản, tài liệu giao dịch, công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng là phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa Tuy nhiên, nó lại trở thành rào cản đối với quyền tự do định đoạt của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường Với xu hướng mở rộng quyền tự do định đoạt của các chủ thể khi tham gia giao kết
Trang 1710
hợp đồng, LTM 1997 cũng như LTM 2005 quy định HĐMBHH có thể được giao kết dưới hình thức lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể (khoản 2 Điều 49 LTM 1997; khoản 1 Điều 24 LTM 2005) Đối với các hợp đồng được thực hiện thông qua chứng từ điện tử, nếu thông tin chứa trong chứng từ điện tử đó có thể truy cập được để sử dụng khi cần thiết thì pháp luật cũng công nhận giá trị pháp lý như văn bản của các hợp đồng này (Điều 8 Nghi định số 57/2006/NĐ-CP của Chính phủ về thương mại điện tử) Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, pháp luật vẫn đòi hỏi hợp đồng phải được lập thành văn bản như đối với HĐMBHH quốc tế hay hợp đồng mua bán nhà ở (khoản 3 Điều 49 LTM 1997; khoản 2 Điều 24 LTM 2005)
- Th ứ tư, nội dung của HĐMBHH
Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa là toàn bộ các quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng về việc chuyển giao quyền sở hữu từ người bán sang người mua, làm thế nào đê người bán nhận được tiền và người mua nhận được hàng
Giao hàng và chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa là nghĩa vụ cơ bản nhất của bên bán Các nghĩa vụ khác của bên bán mà các bên thỏa thuận hay pháp luật có quy định đều có liên quan và đóng vai trò hỗ trợ cho việc thực hiện nghĩa
vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hóa từ bên bán sang bên mua Tương ứng với nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu của bên bán, nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán là nghĩa vụ cơ bản của bên mua Bên cạnh các nghĩa vụ cơ bản này, bên mua còn có nghĩa vụ hỗ trợ bên bán về thủ tục giao hàng, bốc dỡ hàng hóa, chuyển quyền sở hữu…
Ngoài các nghĩa vụ liên quan đến việc chuyển giao hàng hóa và thanh toán, nội dung của HĐMBHH trong thương mại còn bao gồm các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng Các quy định này có tính chất hỗ trợ, đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng diễn ra chính xác, nhanh chóng, hạn chế được việc vi phạm hợp đồng
Trang 1811
Từ những đặc trưng đã nêu trên, có thể phân biệt HĐMBHH với một số hợp đồng khác, như:
- V ới hợp đồng cung ứng dịch vụ liên quan đến hàng hóa: thì khác biệt lớn
nhất là đối tượng của các hợp đồng này là dịch vụ được cung ứng từ bên cung cấp dịch vụ (thực hiện công việc – hành vi phi vật chất) cho bên nhận dịch vụ, còn đối tượng của HĐMBHH là hàng hóa (vật chất hóa, hữu hình)
- V ới hợp đồng cho thuê tài sản: thì khác biệt lớn nhất là quyền chiếm hữu
và quyền sử dụng tài sản được chuyển giao cho bên thuê nhưng tài sản vẫn thuộc
sở hữu của bên cho thuê Trong khi với HĐMBHH, quyền sở hữu hàng hóa được chuyển giao từ bên bán hàng sang bên mua hàng
- V ới HĐMBHH chọn áp dụng LTM: chủ thể của hợp đồng này không bắt
buộc phải là thương nhân, còn HĐMBHH trong thương mại luôn có một bên chủ thể là thương nhân Do mang bản chất thương mại nên HĐMBHH trong thương mại luôn chịu sự điều chỉnh của LTM HĐMBHH chọn áp dụng LTM chỉ chịu sự điều chỉnh của LTM trong trường hợp các bên tham gia lựa chọn LTM để điều chỉnh hợp đồng
1.2 Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa
• HĐMBHH giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động thương mại
Mua bán hàng hóa chính là nhân tố cơ bản tạo ra nền kinh tế thị trường
Ngữ nghĩa của từ “thị trường” với ý nghĩa là nơi diễn ra các hoạt động mua bán,
nó đã bao hàm tính tổ chức rất cao, ở đó những tập quán, tiền lệ thương mại được hình thành và tồn tại với sự chấp nhận của các thương nhân Từ rất sớm trong lịch
sử loài người đã xuất hiện những thương nhân Trải qua nhiều thế hệ, họ sống bằng việc mua bán hàng hóa từ vùng này sang vùng khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác để kiếm lợi nhuận Thực tiễn của hoạt động buôn bán đã đặt ra cho họ những luật lệ, nguyên tắc và tập quán thương mại HĐMBHH qua nhiều thời kỳ đã tồn tại phổ biến dưới nhiều hính thức khác nhau Bằng lời nói hay bằng văn bản nó cũng chưa đựng những quy tắc chặt chẽ và buộc các bên ký kết phải tôn trọng nếu
Trang 1912
không muốn bị tẩy chay và đặt ra ngoài vòng của “thị trường” đó Bất cứ tổ chức
hay cá nhân nào tham gia thị trường, bằng một lời nói, một hành vi đơn giản hay bằng giấy tờ văn bản mà làm xuất hiện một sự lưu thông hàng hóa thì HĐMBHH được xem là đã phát sinh Giá trị của nó thực tế đã tồn tại và bảo đảm cho sự theo đuổi hiệu quả của các bên trong suốt quá trình thực hiện HĐMBHH Không có HĐMBHH – hình thức của giao dịch, thì không có hoạt động thương mại trong mua bán hàng hóa
HĐMBHH với tính ổn định của các tập quán thương mại và tính linh hoạt của thỏa thuận giữa các bên đã góp phần làm phát triển thị trường Ngược lại, thị trường với ý nghĩa là môi trường thực tiễn của hoạt động mua bán hàng hóa cũng
có tác động trở lại làm phong phú thêm cho HĐMBHH và các tập quán thương mại khác
• HĐMBHH là công cụ để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên
- Trên ph ương diện giữa các bên tham gia quan hệ mua bán hàng hóa: đây
là quan hệ song vụ, theo đó một bên có quyền nhận lấy hàng hóa như đã thỏa thuận
và bên kia có quyền nhận tiền sau khi đã thực hiện nghĩa vụ giao hàng và các nghĩa vụ khác theo hợp đồng Có thể nói đơn giản rằng quyền của bên này làm phát sinh nghĩa vụ tương ứng của bên kia Các bên đều có quyền yêu cầu đối tác của mình thực hiện trọn vẹn nghĩa vụ theo hợp đồng, nếu không, lập tức hợp đồng
sẽ làm phát sinh trách nhiệm cho bên đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ Trách nhiệm này buộc họ phải hoàn thành nốt phần nghĩa vụ còn lại, bồi thường thiệt hại cho bên kia (nếu có thiệt hại) và phải chịu một khoản phạt hợp đồng theo thỏa thuận và theo luật định
- Trên phương diên quản lý nhà nước: HĐMBHH nhằm đảm bảo trật tự
chung trong quan hệ mua bán hàng hóa, bằng quyền lực của mình, nhà nước sẽ căn
cứ vào pháp luật hoặc công nhận giá trị của các tập quán thương mại, can thiệp vào quan hệ mua bán giữa các bên để bảo vệ lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm
Trang 2013
1.3 Phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa
Căn cứ vào đặc điểm của các giao dịch mua bán hàng hóa trong thương mại, có thể chia HĐMBHH thành ba loại cơ bản như sau:
- Th ứ nhất, Hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường (nội địa): Là HĐMBHH mà các bên chủ thể của hợp đồng thực hiện các giao dịch về mua bán hàng hóa với nhau trên lãnh thổ Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa được quy định tại Điều 3 LTM 2005 bao gồm cả động sản và bất động sản gắn liền với đất đai
- Th ứ hai, Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: Là HĐMBHH có thêm
yếu tố quốc tế - là yếu tố vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia Tại Điều 27 LTM
2005 quy định: "Mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức
xu ất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu"
- Th ứ ba, Hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết thông qua Sở giao
d ịch hàng hóa: Mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa là hoạt động thương
mại, theo đó các bên thỏa thuận thực hiện việc mua bán một lượng nhất định của một loại hàng hóa nhất định qua Sở giao dịch hàng hóa theo những tiêu chuẩn của
Sở giao dịch hàng hóa, với giá được thỏa thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai (Điều 63 LTM 2005) Theo quy định tại Điều 64 LTM 2005, HĐMBHH qua Sở giao dịch hàng hóa bao gồm hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn
1.4 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam
Nhìn từ góc độ lịch sử, có thể chia quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về HĐMBHH của Việt Nam thành bốn giai đoạn chính:
• Giai đoạn 1954 – 1960
Đây là giai đoạn cách mạng Việt Nam phải thực hiện đồng thời hai nhiệm
vụ, đó là tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam Nền kinh tế nước ta trong thời kỳ này bao gồm nhiều thành phần kinh
Trang 21văn bản pháp luật Theo đó: “Hợp đồng là một bản quy định mối quan hệ giữa hai
hay nhi ều đơn vị kinh doanh tự nguyện cam kết với nhau thực hiện một số nhiệm
v ụ nhất định, trong những thời gian nhất định, nhằm mục đích phát triển kinh
doanh công th ương nghiệp góp phần thực hiện kế hoạch nhà nước” Phạm vi chủ
thể của hợp đồng kinh doanh theo pháp luật thời kỳ này khá dá dạng Điều lệ quy định: chủ thể của hợp đồng kinh doanh là tất cả các cơ sở kinh doanh không phân biệt quốc doanh hay tư doanh, là người Việt Nam hay người nước ngoài cư trú tại Việt Nam Bản Điều lệ với cách quy định khá rộng và bình đẳng đã tạo điều kiện thu hút các thành phần kinh tế tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, đóng góp đáng kể vào quá trình xây dựng đất nước khi hòa bình được lập lại
• Giai đoạn 1960 – 1989
Giai đoạn này gắn với thời kỳ xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa dưới sự quản lý và chỉ huy của nhà nước Trước đòi hỏi mới của nền kinh tế, Điều lệ 735-TTg ngày 10/4/1956 tỏ ra không còn phù hợp Để thay thế Điều lệ 735-TTg, Điều
lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế giữa các xí nghiệp quốc doanh và cơ quan nhà nước được ban hành kèm theo Nghị định số 04-TTg ngày 4/1/1960
Khác với quy định trong Điều lệ số 735-TTg, bản Điều lệ này không định nghĩa hợp đồng kinh tế mà liệt kê một số hợp đồng kinh tế Tuy nhiên, Điều lệ không điều chỉnh cụ thể từng loại hợp đồng Mọi vấn đề quy định trong Điều lệ được áp dụng chung cho tất cả các hợp đồng kinh tế Với quy định “ký kết hợp
đồng kinh tế là một kỷ luật bắt buộc trong quan hệ kinh tế giữa các xí nghiệp quốc
doanh, các c ơ quan nhà nước”, Điều lệ đã gạt bỏ hoàn toàn nguyên tắc tự định
Trang 2215
đoạt trong giao kết hợp đồng kinh tế Như vậy, các quy định về hợp đồng kinh doanh hoàn toàn mang tính chất phi hợp đồng, đi ngược lại với bản chất tự do thỏa thuận của hợp đồng
Kế thừa Điều lệ tạm thời ban hành kèm theo Nghị định 04-TTg là Điều lệ
về chế độ hợp đồng kinh tế mới được ban hành kèm theo Nghị định số 54/CP Đây
là bản Điều lệ chính thức đầu tiên của nước ta về chế độ hợp đồng kinh tế Tuy nhiên, cũng tương tự như bản Điều lệ tạm thời trước đây, bản Điều lệ này cũng mang nặng tính áp đặt, đi ngược lại với bản chất tự do thỏa thuận của hợp đồng Như vậy, pháp luật điều chỉnh hợp đồng kinh tế trong thời kỳ này hoàn toàn mang tính phi hợp đồng Hợp đồng kinh tế nói chung, HĐMBHH nói riêng đã đi ngược lại bản chất vốn có của nó, trở thành công cụ kinh tế để thực hiện quan hệ phân phối, lưu thông hàng hóa
• Giai đoạn 1989 – 2005
Cùng với công cuộc đổi mới về mọi mặt trong đời sống xã hội của đất nước, pháp luật thời kỳ này đã đưa quan hệ HĐMBHH trở lại đúng với bản chất của nó, phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường Trong giai đoạn này, HĐMBHH chịu sự điều chỉnh của ba văn bản pháp luật chính đó là Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế 1989, BLDS năm 1995, LTM 1997
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ban hành ngày 25/9/1989 quy định hợp đồng kinh tế phải được giao kết trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi Pháp lệnh còn nhấn mạnh, ký kết hơp đồng kinh tế là quyền của các đơn vị kinh tế Không một đơn vị kinh tế nào được phép áp đặt ý chí của mình cho các đơn vị kinh tế khác khi ký kết hợp đồng Ngoài ra, Pháp lệnh còn mở rộng phạm vi chủ thể của hợp đồng kinh tế đến mọi thành phần kinh tế
BLDS 1995 ra đời một lần nữa khẳng định lại bản chất của quan hệ hợp đồng BLDS 1995 quy định hợp đồng phải được giao kết trên cơ sở tự do, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác trung thực và ngay thẳng Bên cạnh đó, BLDS 1995 đã quy định các vấn đề cơ bản của hợp đồng như: Nội dung chủ yếu
Trang 23ký kết và thực hiện HĐMBHH trong thương mại
Pháp luật điều chỉnh quan hệ HĐMBHH trong thương mại thời kỳ này nhìn chung đã có nhiều thay đổi tích cực Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thiếu xót, đó là sự chống chéo, tính không đồng bộ, thiếu minh bạch của hệ thống pháp luật và việc chậm chễ trong quá trình tiếp nhận các quy định của pháp luật thế giới
• Giai đoạn từ 2005 đến nay
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu khách quan của quá trình phát triển Trước yêu cầu đó, pháp luật Việt Nam đã bộc lộ nhiều thiếu xót, bất cập, không đáp ứng được đòi hỏi của xã hội Vì vậy, nhà nước ta đã xây dựng và ban hành một loạt các văn bản pháp luật mới để điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong thời kỳ hội nhập Năm 2005 là năm nhiều văn bản pháp luật được ban hành, trong
đó có BLDS 2005 và LTM 2005 - hai văn bản pháp luật chính điều chỉnh HĐMBHH
Không chỉ dừng lại ở việc kế thừa các quy định hợp lý của BLDS 1995 và LTM 1997, BLDS 2005 cũng như LTM 2005 còn góp phần khắc phục sự chồng chéo trong các quy định điều chỉnh lĩnh vực hợp đồng nói chung, HĐMBHH trong thương mại nói riêng Cụ thể, khái niệm hợp đồng kinh tế đã bị xóa bỏ, pháp luật chỉ còn ghi nhận khái niệm hợp đồng thương mại LTM 2005 chỉ quy định các vấn
đề liên quan đến hoạt động thương mại, không nhắc lại các vấn đề mà BLDS 2005
Trang 2417
đã quy định Bên cạnh đó, các quy định của LTM và BLDS cũng tỏ ra phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế Ngoài ra, các quy định về hợp đồng được tiếp cận theo hướng mở rộng tối đa quyền tự định đoạt của các chủ thể, phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế thị trường
Thông qua lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về HĐMBHH của Việt Nam và thực tiễn quan hệ kinh tế, thương mại trong và ngoài nước, ta thấy:
- Th ứ nhất, HĐMBHH là một tồn tại tất yếu
HĐMBHH là sự thể hiện ra bên ngoài nhu cầu cải thiện cuộc sống, nhu cầu phát triển của con người HĐMBHH đã đưa mọi người đến thống nhất với nhau trong sự mua bán hàng hóa, theo những đòi hỏi của bản năng và điều kiện sống Ở
đó, các bên đều đáp ứng được cho nhau các nghĩa vụ và đạt được quyền lợi của mình Giống như quy luật cung – cầu trong kinh tế học, dòng chảy của chuỗi các HĐMBHH là bất tận Từ nhu cầu của mình, con người cần hàng hóa và sự phát triển của hàng hóa lại kích thích nhu cầu của con người
- Th ứ hai, HĐMBHH và hội nhập kinh tế
Bằng ngôn ngữ, HĐMBHH là phương tiện để các giao dịch mua bán hàng hóa được thực hiện Các giao dịch này diễn ra giữa hai hay nhiều người, trong phạm vi một quốc gia hoặc vượt ra ngoài biên giới quốc gia… Hàng nghìn năm trước đây, HĐMBHH đã theo những dòng chảy thương mại từ các châu lục Á, Âu, Phi gặp nhau và làm nên sự phồn thịnh của một số quốc gia, sự giàu có của nhiều thương nhân ở Trung Quốc, Ba Tư, La Mã và Carthage Ngày nay, hội nhập kinh
tế diễn ra mạnh mẽ hơn rất nhiều, người ta gọi nó dưới cái tên “xu hướng toàn cầu
hóa”. HĐMBHH ngày càng phát triển và không chỉ là HĐMBHH giữa các thương nhân, chủ thể HĐMBHH ngày nay còn được hiểu rộng ra là những quốc gia, khi
mà đối tượng của hợp đồng là những hàng hóa chiến lược như dầu lửa, lương thực Chính phủ nhiều nước thường đi tiền trạm cho những cuộc thương lượng các HĐMBHH loại này Sau khi đạt được một thỏa thuận khung về điều kiện mua, bán, tiêu chuẩn chất lượng… việc mua, bán được Chính phủ phân bố cho các
Trang 2518
thương nhân thực hiện Sự cố gắng để đạt được thỏa thuận đã đưa các thương nhân, các quốc gia đền gần nhau hơn, hình thành những nhóm, liên minh kinh tế
có chung quyền lợi
- Th ứ ba, HĐMBHH trong sự phát triển của pháp luật về hợp đồng
Pháp luật về hợp đồng từ khi ra đời đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa không tưởng – nghĩa là lợi ích của cá nhân luôn được đề cao hơn lợi ích của tập thể và các bên được cho là hoàn toàn tự do, độc lập và bình đẳng trong việc ký kết hợp đồng Ở Pháp trong những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, người ta quan niệm rằng cá nhân có quyền tự do giao kết hợp đồng, ý chí của họ không phụ thuộc vào những quy phạm pháp luật (Theo Dennis Mazeaud, Giáo sư luật Dân sự Pháp trường Đại học Paris XII) Ý chí của cá nhân còn thể hiện bằng quyền tự do ký kết hợp đồng và quyền tự do lựa chọn bên cùng tham gia ký kết Hợp đồng khi đã được ký kết thì không thể bị thay đổi ngoài ý chí của các bên ký kết, đặc biệt là Thẩm phán cũng không được can thiệp kể cả căn cứ vào lợi ích tập thể và lợi ích xã hội Đó thực sự là sự đẩy cao chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa không tưởng [28, tr.18]
Tuy nhiên, chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa không tưởng chỉ thể hiện mong ước của con người thời đó Trên thực tế, các bên đối tác của hợp đồng thường không ngang bằng nhau, luôn luôn là một bên mạnh – một bên yếu về kinh tế, vậy nên không có tự do ký kết hợp đồng Bên mạnh hơn hoàn toàn có thể lấn át bên kia dựa vào quyền tự do lựa chọn đối tác Hợp đồng thường do một bên thảo ra chứ không phải dựa trên ý chí chung của các bên Ví dụ như các hợp đồng gia nhập rất phổ biến trong mua bán hàng hóa – dịch vụ ngày nay Chính vì vậy, các nhà lập pháp qua thực tiễn đã dùng những đạo luật của mình can thiệp vào giai đoạn hình thành hợp đồng để bảo vệ bên yếu thế hơn và đảm bảo nguyên tắc cân đối Dần dần ý tưởng về lợi ích cá nhân trong buổi sơ khai của pháp luật hợp đồng đã được thay thế bằng lợi ích tập thể Sự thắng thế của lợi ích công cộng, lơi ích tập thể là
sự đòi hỏi tất yếu của đời sống kinh tế Nó không cho phép bất kỳ một sự che giấu
Trang 2619
nào của nhà sản xuất, của thương nhân đối với sản phẩm, hàng hóa đem ra thị trường Họ buộc phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho các đối tác của hợp đồng trước khi ký kết Về giá cả, pháp luật đòi hỏi ở các thương nhận phải bằng mọi cách thông tin công khai và trực tiếp cho người mua để tránh những sự lạm dụng, gây biến động giá làm ảnh hưởng đến lợi ích người mua và làm mất ổn định cho thị trường Trường hợp mà một bên trong HĐMBHH là người tiêu dùng, lợi ích của số đông, của tập thể còn được bảo vệ bởi pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng
Trang 2720
Chương 2 THỰC TRẠNG ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA 2.1 Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
• Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
- Th ứ nhất, nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp
lu ật, đạo đức xã hội
Đối với HĐMBHH trong thương mại, các cá nhân, tổ chức không kể là thương nhân hay không phải là thương nhân, nếu có đủ các điều kiện mà pháp luật quy định đều có thể tham gia giao kết HĐMBHH trong thương mại mà không bị ai ngăn cản Nguyên tắc này cũng cho phép các bên được tự do thỏa thuận tất cả những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên Tuy nhiên, quá trình giao kết hợp đồng phải đảm bảo hợp pháp và không trái đạo đức xã hội, hợp đồng phải được giao kết hợp pháp cả về nội dung cũng như hình thức, đúng thẩm quyền của các bên
- Th ứ hai, nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực,
ngay th ẳng
Nguyên tắc này thể hiện bản chất của quan hệ hợp đồng Trong quá trình giao kết hợp đồng, các bên đều bình đẳng với nhau Không ai được áp đặt ý chí của mình lên người khác, các bên phải thỏa thuận với nhau trên cơ sở trung thực, ngay thẳng và hợp tác Tất cả những hợp đồng giao kết do nhầm lẫn, bị lừa dối hoặc bị đe dọa đều không đáp ứng được nguyên tắc này Vì vậy, những hợp đồng
đó sẽ bị coi là vô hiệu
Trang 2821
• Thẩm quyền giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Chủ thể của HĐMBHH có thể là cá nhân, pháp nhân, các tổ chức không là pháp nhân, tổ hợp tác và hộ gia đình Vì vậy, thẩm quyền ký kết HĐMBHH trong thương mại có sự khác biệt đối với từng loại chủ thể
Đối với chủ thể là cá nhân, tổ chức, tổ hợp tác, hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân thì thẩm quyền ký kết hợp đồng thuộc về chính cá nhân đó, tổ trưởng tổ hợp tác, chủ hộ, chủ doanh nghiệp tư nhân Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thẩm quyền ký kết HĐMBHH trong thương mại
Trong trường hợp người có thẩm quyền ký kết HĐMBHH không thể tự mình tham gia đàm phán và ký kết hợp đồng được thì họ có thể ủy quyền cho người khác Việc ủy quyền có thể được thực hiện bằng văn bản Nội dung ủy quyền có thể là ủy quyền thường xuyên hoặc ủy quyền theo vụ việc Về mặt pháp
lý, người được ủy quyền chỉ có thể thực hiện việc ký kết hợp đồng trong phạm vi được ủy quyền Trong trường hợp vượt quá phạm vi được ủy quyền mà không có
sự đồng ý của người ủy quyền thì hợp đồng sẽ không có hiệu lực
là các hợp đồng có giá trị lớn và hợp đồng dài hạn; (ii) tạo thói quen thận trọng khi giao kết hợp đồng và tạo ra các chuẩn mực trong giao kết hợp đồng; (iii) nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích của các bên giao kết hợp đồng và người thứ ba có liên quan khi xảy ra tranh chấp
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, HĐMBHH có thể được giao kết bằng văn bản, lời nói hoặc hành vi cụ thể, nếu pháp luật không quy định
Trang 2922
hình thức nhất định Trường hợp pháp luật quy định hợp đồng phải được công chứng, chứng thực, đăng ký hay xin phép thì bắt buộc phải tuân thủ yêu cầu này (Điều 401 BLDS năm 2005; LTM năm 2005 và một số luật chuyên ngành khác):
- H ợp đồng bằng lời nói
Hợp đồng bằng lời nói là những hợp đồng được giao kết dưới hình thức ngôn ngữ nói Theo đó, các bên giao kết hợp đồng trao đổi với nhau bằng lời nói, trực tiếp hoặc thông qua điện thoại, điện đàm, gửi thông điệp điện tử bằng âm thanh (tiếng nói) để diễn đạt tư tưởng và ý muốn của mình trong việc xác lập, giao kết hợp đồng Trừ những loại hợp đồng pháp luật quy định hình thức bắt buộc, các hợp đồng đều có thể được lập bằng lời nói Thực tiễn pháp lý cho thấy, do việc giao kết hợp đồng bằng lời nói có ưu điểm là cách thức giao kết đơn giản, gọn nhẹ, nhanh chóng và ít tốn kém nên được sử dụng rất phổ biến trong giao dịch dân sự, nhưng ít được sử dụng hơn trong giao dịch thương mại
- H ợp đồng bằng hành vi
Với ý nghĩa là phương tiện công bố ý chí của các bên tham gia ký kết hợp đồng, hình thức của hợp đồng còn bao gồm cả việc biểu hiện ý chí của chủ thể ra bên ngoài bằng một hành vi cụ thể - đó là xử sự có ý thức của các bên
Hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể được thể hiện ra bên ngoài khá đa dạng Hành vi cụ thể thường được sử dụng để xác lập các hợp đồng thông dụng, được thực hiện ngay, và trở thành thói quen phổ biến của lĩnh vực hoạt động liên quan, tại nơi giao dịch được xác lập
Hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể được sử dụng phổ biến trong các hoạt động dịch vụ dành cho số đông đại chúng mà bên cung cấp dịch vụ đã có quy chế hoạt động rõ ràng, đã được công bố, hoặc giữa các bên đã có sự thỏa thuận về việc một bên chấp nhận hành vi cụ thể của bên kia như là một hình thức giao kết, thực hiện hợp đồng theo những quy ước, những điều kiện về pháp lý và kỹ thuật
mà các bên đã cam kết chấp nhận
Trang 3023
- H ợp đồng bằng văn bản
Theo nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận, các bên có thể xác lập hợp đồng dưới bất kỳ hình thức nào, theo cách mà họ muốn, chỉ cần đạt được sự thỏa thuận, thống nhấ ý chí của các bên, hợp đồng coi như được hình thành Tuy vậy,
để bảo vệ trật tự công cộng hoặc vì lý do quản lý nhà nước, pháp luật thực định hiện hành của Việt Nam có quy định về những hình thức bắt buộc mà hợp đồng phải tuân thủ: Những loại hợp đồng bắt buộc phải được lập thành văn bản:
Theo quy định của BLDS 2005, các hợp đồng dân sự thông dụng (hợp đồng
mua bán tài sản thông qua đấu giá – khoản 2 Điều 458; hợp đồng ủy quyền trong trường hợp pháp luật có quy định – khoản 2 Điều 142…); các hợp đồng bảo đảm (hợp đồng cầm cố tài sản – Điều 327); hợp đồng thế chấp tài sản – Điều 343…) phải được lập thành văn bản
Theo quy định của LTM năm 2005, những hợp đồng thương mại sau bắt buộc phải được lập thành văn bản: HĐMBHH quốc tế (khoản 2 Điều 27), hợp đồng dịch vụ khuyến mại (Điều 90), hợp đồng dịch vụ quảng cáo (Điều 110), hợp đồng dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hóa, dịch vụ (Điều 124), hợp đồng đại diện cho thương nhân (Điều 142), hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa (Điều 159), hợp đồng đại lý (Điều 168), hợp đồng gia công (Điều 179), hợp đồng nhượng quyền thương mại (Điều 285)…
Ngoài ra, các luật chuyên ngành cũng quy định các hợp đồng phải bằng văn bản gồm: hợp đồng tín dụng (Điều 51 Luật các tổ chức tín dụng), hợp đồng bảo hiểm (Điều 14 Luật kinh doanh bảo hiểm, Điều 570 BLDS 2005), hợp đồng mua bán điện có thời hạn (Điều 22 Luật Điện lực năm 2004)…
Bên cạnh hình thức văn bản truyền thống, pháp luật hiện hành Việt Nam
cũng thừa nhận một thể thức tương đương văn bản, đó là “thông điệp dữ liệu” Các
hợp đồng, giao dịch bằng hình thức thông điệp dữ liệu được ghi nhận trong BLDS năm 2005 (khoản 1 Điều 124), LTM năm 2005 (khoản 15 Điều 3 và Điều 15) Các nội dung cụ thể được quy định trong Luật Giao dịch điện tử 2005 Theo quy định
Trang 3124
tại khoản 1 Điều 124 BLDS 2005 thì “Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản” Khoản 15 Điều 3 Luât thương mại 2005 có quy định: “Các hình thức có giá trị
t ương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình
th ức khác theo quy định của pháp luật” Điều 15 LTM năm 2005 cũng thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại: “Trong họat động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ
thu ật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản”
Cũng giống như văn bản truyền thống, thông điệp dữ liệu muốn được công nhận thì phải đáp ứng được những yêu cầu ký thuật và pháp lý nhất định, sao cho bảo đảm tính nguyên gốc (phản ánh trung thành với bản gốc đã khởi tạo lần đầu tiên) và sự toàn vẹn về nội dung thông tin (không bị sửa chữa, thay đổi, cắt xén hoặc đưa thêm thông tin khác vào), có thể lưu trữ và truy cập để tham chiếu khi cần thiết
Có thể nói, những hợp đồng mà pháp luật quy định bắt buộc phải lập bằng văn bản là những loại hợp đồng có nội dung phức tạp cần phải được thể hiện ra bằng những điều khoản cụ thể, chi tiết để quá trình thực hiện hợp đồng được thuận lợi, dễ dàng hơn và hạn chế sự tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng
Bên cạnh hình thức văn bản thông thường, pháp luật còn quy định một số loại hợp đồng bắt buộc phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực Ngoài ra, pháp luật còn quy định một số khác phải làm theo thủ tục đặc biệt như phải đăng ký, xin phép(Khoản 2 Điều 401 BLDS năm 2005)
Theo quy định của BLDS năm 2005, hợp đồng phải được lập thành văn bản
có công chứng, chứng thực gồm: hợp đồng mua bán nhà ở (Điều 450), hợp đồng hợp tác (Điều 111)…
Trang 3225
Hợp đồng phải đăng ký, xin phép gồm: hợp đồng chuyển giao công nghệ (khoản 2 Điều 757 BLDS năm 2005); hợp đồng thế chấp tàu bay (Điều 32 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, sửa đổi năm 2014); hợp đồng thế chấp tàu biển (Điều 35 Bộ Luật hàng hải Việt Nam năm 2005); hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (điểm a Khoản 1 Điều 130 Luật đất đai 2013)…
• Phương thức giao kết hợp đồng
Tuy BLDS 2005 không quy định cụ thể các phương thức giao dịch, nhưng
từ các quy định khác và thực tế giao kết hợp đồng, có hai phương thức giao dịch
chính là phương thức giao kết trực tiếp và phương thức giao kết gián tiếp Ngoài
ra còn có sự kết hợp hai phương thức này tạo thành phương thức giao kết hỗn hợp:
- Ph ương thức giao kết trực tiếp là việc các bên hoặc đại diện hợp pháp của
các bên gặp gỡ trực tiếp (hoặc gọi điện thoại trực tiếp) để bàn bạc và đi đến sự thống nhất các nội dung của hợp đồng và trực tiếp ký kết hợp đồng
- Ph ương thức giao kết gián tiếp là việc các bên tham gia giao dịch không
cần phải trực tiếp gặp nhau để đàm phán về nội dung của hợp đồng mà chỉ cần trao đổi thông tin thông qua các phương tiện thông tin, liên lạc như thư tín, điện tín, mạng internet và xác nhận các nội dung đã thống nhất được Ví dụ: khách hàng A gửi thông điệp dữ liệu cho doanh nghiệp B (bán hàng trên mạng) đề nghị mua một máy ảnh loại X, với giá Y, phương thức thanh toán Z và giao dịch tại địa chỉ K B
đã gửi văn bản (bằng thư bảo đảm) xác nhận sự đồng ý đối với đơn đặt hàng của A
và hứa sẽ giao hàng đúng như đơn đặt hàng
Tuy nhiên, trên thực tế, còn tồn tại một phương thức giao kết khác, kết hợp
cả phương thức trực tiếp và phương thức gián tiếp, tạm gọi là phương thức giao kết
h ỗn hợp Theo đó, phương thức giao kết hỗn hợp là việc các bên tiến hành trao đổi
thông tin, thống nhất nội dung hợp đồng một cách gián tiếp và gặp nhau để ký hợp đồng trực tiếp Nhìn chung, pháp luật thực định Việt Nam về vấn đề phương thức giao kết hợp đồng còn khá mờ nhạt
Trang 3326
• Trình tự giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
o Đề nghị giao kết hợp đồng
Khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng
Đề nghị giao kết hợp đồng có bản chất là hành vi pháp lý đơn phương của một chủ thể, có nội dung bày tỏ ý định giao kết hợp đồng với chủ thể khác theo những điều kiện xác định Theo quy định tại khoản 1 Điều 390 BLDS năm 2005,
đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể Như vậy, yêu cầu lần lượt đối với đề nghị giao kết hợp đồng đó là:
- Th ứ nhất, phải thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng: Để thể hiện rõ ý định
giao kết hợp đồng, thì bên đưa ra đề nghị phải nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng (bao gồm đối tượng và những điều khoản cơ bản khác của hợp đồng mà nếu thiếu thì hợp đồng không thể hình thành hoặc giao kết được) sao cho bên được đề nghị chỉ cần trả lời chấp nhận là đủ để giao kết hợp đồng, mà không cần thêm bất
kỳ điều kiện bổ sung hay một cuộc trao đổi nào nữa
Thông thường, trong HĐMBHH, bên đề nghị thường thể hiện rõ ý định của mình về số lượng, chất lượng và giá cả hàng hóa mà mình muốn mua hoặc muốn bán Về vấn đề này, theo khoản 1 Điều 14 của Công ước Viên 1980 của Liên Hợp
Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG): “Một đề nghị ký kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu có đủ
chính xác và n ếu nó chỉ rõ ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình
trong tr ường hợp có sự chấp nhận chào hàng đó Một đề nghị là đủ chính xác khi
nó nêu rõ hàng hóa và ấn định số lượng và giá cả một cách trực tiếp hoặc gián
ti ếp hoặc quy định thể thức xác định những yếu tố này”
BLDS năm 2005 và LTM năm 2005 không quy định các bên bắt buộc phải thỏa thuận những nội dung cụ thể nào trong hợp đồng Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất của quan hệ hợp đồng trong thương mại, có thể thấy những điều khoản quan trọng của hợp đồng trong thương mại gồm: đối tượng, chất lượng và giá cả
Trang 3427
- Th ứ hai, tính xác định của chủ thể được đề nghị: Tính xác định thể hiện ở
chỗ bên nhận đề nghị phải là chủ thể xác định, hay nói cách khác, đề nghị giao kết hợp đồng phải chỉ rõ ý chí của bên đề nghị muốn giao kết hợp đồng với ai, người nào Còn nếu đề nghị không được gửi tới một hoặc một số người cụ thể nào, nó chỉ
là một phần bảng báo giá hoặc được gửi ra ngoài theo một thông báo rộng rãi thì sẽ không được thừa nhận là đề nghị giao kết hợp đồng Điều 390 BLDS 2005 quy định: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và
ch ịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ
th ể” Tính xác định của bên được đề nghị hoàn toàn dựa vào ý chí của bên đưa ra
đề nghị
Ngoài ra, trên thực tế vẫn tồn tại hình thức đề nghị giao kết hợp đồng mà bên đưa ra đề nghị không chỉ rõ là muốn giao kết hợp đồng với những đối tượng được xác định trước Ví dụ: hình thức bán hàng tại các siêu thị, niêm yết của ngân hàng về lãi suất cho vay, nhận tiền gửi hay cam kết hứa thưởng, thi có giải… dưới dạng đề nghị này, các bên mặc nhiên thừa nhận và thực hiện hợp đồng mà không cần phải có sự thỏa thuận Một số tác giả cho rằng đây là dạng đặc biệt của đề nghị giao kết hợp đồng mà trong khoa học pháp lý gọi là đề nghị giao kết hợp đồng công cộng [24]
- Th ứ ba, bên đưa ra đề nghị phải chịu sự ràng buộc đối với bên đã được
xác định cụ thể: Việc ghi nhận yêu cầu này được lý giải bởi một lẽ đơn giản: nếu
bên đề nghị không thể hiện dứt khoát tham gia quan hệ hợp đồng khi gửi cho bên đối tác những nội dung chủ yếu của hợp đồng thì tất nhiên hợp đồng đó chưa thể giao kết Và vì thế, nếu không đáp ứng yêu cầu này, một lời chào mặc dù hướng tới chủ thể xác định và chứa nội dung chủ yếu của hợp đồng vẫn sẽ không có giá trị của đề nghị giao kết mà chỉ được xem như bản thông báo [32, tr.222-224] Nhìn chung, khái niệm về đề nghị giao kết hợp đồng quy định tại tại khoản
1 Điều 390 còn chưa rõ và gây tranh chấp cho các doanh nghiệp trong quá trình đàm phán để giao kết hợp đồng BLDS năm 2005 không giải thích và cũng không
Trang 3528
hướng dẫn thế nào là bên đã được xác định cụ thể và thế nào là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng Cách hành văn trong quy định này gây sự khó hiểu, vì trong thực tế, với các doanh nghiệp, việc gửi đề nghị giao kết hợp đồng (còn gọi là gửi chào hàng cố định hoặc gửi đặt hàng cố định) thường dễ bị nhầm lẫn với gửi báo giá hay gửi lời mời chào hàng (còn gọi là chào hàng tự do) Sự khác nhau giữa một đề nghị về việc giao kết hợp đồng được gửi đích danh cho một người (một doanh nghiệp) hoặc một số người (một số doanh nghiệp) và do đó người gửi đề nghị giao kết hợp đồng phải tự ràng buộc mình với những nội dung đã đưa ra trong
đề nghị đó, còn báo giá hay hỏi hàng không gửi đích danh cho ai cả, nó mới chỉ là một sự thăm hỏi chung chung và nó không ràng buộc người báo giá hay hỏi hàng
Để giúp doanh nghiệp hiểu rõ mục đích và bản chất của đề nghị giao kết hợp đồng, khái niệm này cần được viết một cách rõ ràng hơn
Trong BLDS năm 2015 sắp có hiệu lực từ 01/01/2017, khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng đã có sự thay đổi lớn khi đối tượng hướng đến của lời đề nghị
giao kết có thêm cụm từ “công chúng”: “ Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể
hi ện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề
ngh ị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị).” Khi quy định này đi vào cuộc sống thì rõ ràng, rất nhiều thông
báo giá hay hỏi hàng sẽ trở thành đề nghị giao kết hợp đồng, đặc biệt là trong bối
cảnh các giao dịch điện tử qua internet ngày càng phổ biến bởi “công chúng”
trong rất nhiều trường hợp được coi là bên được đề nghị giao kết hợp đồng, chứ không nhất thiết chỉ là một hay một nhóm chủ thể như hiện nay
Hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng
Về nguyên tắc, hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng phải phù hợp với hình thức của hợp đồng BLDS năm 2005 không quy định về hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng, song có thể dựa vào quy định về hình thức của hợp đồng để xác định hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng Theo đó, đề nghị giao kết hợp đồng
Trang 3629
có thể được thể hiện bằng văn bản, hình thức tương đương văn bản như fax, thông điệp dữ liệu…, lời nói hoặc hành vi cụ thể, hoặc kết hợp giữa các hình thức này
Hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng
Thời điểm có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng có ý nghĩa rất quan trọng đối với bên chủ thể đưa ra đề nghị Khi đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực có nghĩa là bên đưa ra đề nghị sẽ bị ràng buộc bởi đề nghị này, có trách nhiệm bồi thường thiệt hại vì không giữ đúng cam kết gây thiệt hại cho bên nhận đề nghị Pháp luật hiện hành cho bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng một ưu thế quyết định thời điểm có hiệu lực và hết hiệu lực của đề nghị mình đưa ra Đây là quyền của bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng thương mại được ấn định thời điểm có hiệu lực và thời hạn trả lợi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Nghĩa là bên đưa
ra đề nghị giao kết hợp đồng có thể ấn định thời điểm có hiệu lực, thời hạn hết hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng Nếu bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng không ấn định thời điểm có hiệu lực của lời đề nghị giao kết hợp đồng thì đề nghị này sẽ có hiệu lực tại thời điểm mà bên nhận đề nghị giao kết hợp đồng nhận được
đề nghị này
Khi đề nghị giao kết được đưa ra một cách gián tiếp, tức là đề nghị giao kết được đưa ra bằng văn bản hoặc hình thức tương đương văn bản và đề nghị này không thể đưa trực tiếp, ngay lập tức cho bên nhận đề nghị Trong trường hợp này, bên nhận đề nghị được coi là đã nhận được đề nghị khi mà đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được chuyển đến trụ sơ, nếu bên được đề nghị là pháp nhân; đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị; bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác (khoản 2 Điều 391 BLDS 2005)
o Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Khái niệm chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị (Điều 396 BLDS
Trang 3730
2005) Cũng giống như đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là hành vi pháp lý đơn phương nhưng nó là sự đáp lại của bên được đề nghị với bên đề nghị về chấp nhận giao kết hợp đồng
Theo pháp luật hiện hành thì chấp nhận giao kết hợp đồng có các đặc điểm chính như: chấp nhận không điều kiện, chấp nhận tự nguyện và chấp nhận toàn bộ nội dung đề nghị đưa ra:
- Ch ấp nhận không điều kiện, nghĩa là việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp
đồng phải không kèm theo một điều kiện nào do người được đề nghị đưa ra Trong trường hợp ngược lại, sẽ có một đề nghị mới từ bên được đề nghị đối với bên đưa
ra đề nghị trước đó
- Ch ấp nhận tự nguyện, việc chấp nhận đề nghị phải hoàn toàn tự nguyện,
đây là một trong những nguyên tắc cơ bản phải tuân thủ khi tiến hành giao kết hợp đồng Việc trả lời chấp nhận của bên nhận đề nghị hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi ý chí của chủ thể khác, hay bất cứ vấn đề gì Tuy nhiên, hoạt động mua bán hàng hóa, người kinh doanh có thể bị chế tài trong trường hợp không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của người có nhu cầu bình thường đối với việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ của mình, nhất là khi việc không chấp nhận đề nghị đó có thể dẫn đến tình trạng khủng hoảng trong lĩnh vực kinh doanh đó
- Ch ấp nhận toàn bộ, theo quy định của pháp luật thì đề nghị giao kết hợp
đồng phải được chấp nhận toàn bộ thì mới có ý nghĩa xác lập hợp đồng Đối với trường hợp chấp nhận một phần đề nghị, việc này có nghĩa là bên được đề nghị đưa ra điều kiện rằng sẽ đồng ý giao kết hợp đồng nếu bên đề nghị chịu bỏ bớt một
số nội dung của đề nghị mà bên được đề nghị không chấp nhận Như vậy, việc chấp nhận một phần nội dung đề nghị sẽ trở thành một lời đề nghị ngược lại của bên được đề nghị với bên đưa ra đề nghị
Hình thức của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Sự chấp nhận có thể chia thành ba loại cơ bản, căn cứ vào hình thức của nó là: (i) chấp thuận rõ ràng, cụ thể như trường hợp tuyên bố rõ ý chí ưng thuận với
Trang 3831
đề nghị, hoặc (ii) chấp thuận thông qua cách hành xử ngụ ý về sự chấp nhận, hoặc (iii) im lặng hay không hành động Giống như hình thức của hợp đồng, chấp nhận cũng có hình thức biểu hiện như vậy chứng minh cho sự chấp nhận Các hình thức
đó bao gồm văn bản, lời nói, cử chỉ hay hành động, hoặc sự im lặng (không hành động) BLDS 2005 quy định hai hình thức đầu nói trên tại khoản 1 Điều 401 Còn hình thức thứ ba được quy đinh tại khoản 2 Điều 404, có nghĩa là người được đề nghị có thể bằng sự im lặng của mình ngụ ý về sự chấp nhận đề nghị với điều kiện
là phải có thỏa thuận “im lặng là chấp nhận” Trong BLDS 2015 thì không quy
định rải rác như vậy, mà chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng được quy định đầy
đủ trong một điều khoản riêng (Điều 393) và đặc biệt là sự bổ sung: sự im lặng là
chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể xuất phát từ sự thỏa thuận “im lặng là đồng ý” nhưng cũng có thể xuất phát từ “thói quen của các bên”: “2 Sự im lặng
c ủa bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ
tr ường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.” (khoản 2 Điều 393 BLDS 2015)
Hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Thời điểm có hiệu lực theo quy định của pháp luật Việt Nam chính là thời điểm người đề nghị nhận được chấp nhận Mặc dù khoản 1 Điều 397 BLDS năm
2005 không có quy định rõ ràng về thời điểm này, song nếu giải thích nó trong mối quan hệ với khoản 1 Điều 391 và Điều 400 BLDS thì có thể khẳng định như vậy
• Sửa đổi, chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hóa
o Sửa đổi hợp đồng
Khoản 1 Điều 423 BLDS 2005 quy định: “Các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng và giải quyết hậu quả của việc sửa đổi, trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác” Sửa đổi hợp đồng là việc các bên tham gia giao kết hợp đồng thỏa
thuận với nhau làm thay đổi một số điều khoản trong nội dung của hợp đồng đã giao kết Quá trình sửa đổi hợp đồng cũng cần phải tuân thủ theo các thủ tục như quá trình giao kết hợp đồng trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Việc sửa
Trang 3932
đổi hợp đồng phải được ghi nhận dưới hình thức phù hợp với hình thức của hợp đồng đã giao kết Khoản 2 Điều 423 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp
h ợp đồng được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc cho
phép thì vi ệc sửa đổi hợp đồng cũng phải tuân thủ theo hình thức đó”
Trong BLDS 2015, vấn đề sửa đổi hợp đồng có sự thay đổi lớn khi Điều
421 BLDS 2015 quy định về 2 trường hợp sửa đổi hợp đồng: (i) Do các bên thỏa thuận (giống quy định cụ) và (ii) Sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
và dẫn chiếu tới Điều 420 BLDS 2015 Đây là điểm mới của BLDS 2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, một trong hai bên hoặc các bên có
quyền: (i) Đề nghị sửa đổi hợp đồng hoặc (ii) Yêu cầu Tòa án giải quyết: “Điều
420 Th ực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
1 Hoàn c ảnh thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) S ự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng;
b) T ại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh;
c) Hoàn c ảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã
không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;
d) Vi ệc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ
gây thi ệt hại nghiêm trọng cho một bên;
đ) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng
cho phép, phù h ợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu
m ức độ ảnh hưởng đến lợi ích
2 Trong tr ường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có
quy ền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý
3 Tr ường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong
m ột thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án:
Trang 4033
a) Ch ấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định;
b) S ửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn
c ảnh thay đổi cơ bản
Tòa án ch ỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt
h ợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi
4 Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ
vi ệc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ
tr ường hợp có thỏa thuận khác.”
Quy định mới này là phù hợp với tính đa dạng, phức tạp của quan hệ hợp đồng trong thời kỳ mới, bảo vệ lợi ích chung, bảo vệ bên yếu thế (do hoàn cảnh thay đổi cơ bản gây ra cho họ)
o Chấm dứt hợp đồng
HĐMBHH được chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
- Th ứ nhất, hợp đồng chấm dứt trong trường hợp hợp đồng đã hoàn thành
Hợp đồng được coi là hoàn thành khi các bên đã thực hiện toàn bộ các nghĩa vụ được thỏa thuận trong hợp đồng, bên bán đã giao hàng cho bên mua và nhận tiền, bên mua đã nhận hàng và thanh toán cho bên bán
- Th ứ hai, hợp đồng chấm dứt theo thỏa thuận của các bên Các bên tham
gia hợp đồng có thể thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, hợp đồng đã giao kết được coi
là chấm dứt tại thời điểm các bên thỏa thuận
- Th ứ ba, hợp đồng chấm dứt trong trường hợp bên giao kết hợp đồng là cá
nhân chết hoặc các chủ thể khác chấm dứt mà hợp đồng phải do chính các chủ thể
đó thực hiện
- Th ứ tư, hợp đồng chấm dứt khi một bên đơn phương chấm dứt thực hiện
hợp đồng (Điều 426 BLDS 2005)