1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Baigiang hoạch định ngân sách vốn đầu tư 2015

61 310 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 787 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo luật đầu tư năm 2005: “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung hạn và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong một khoảng thời gian xác định”.Dự án đầu tư được xem xét dưới các góc độ:Về mặt hình thức: là một tập hồ sơ tài liệu trình bày chi tiết, hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được các kết quả và thực hiện được các mục tiêu trong tương lai.Trên góc độ quản lý: là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài.Trên góc độ kế hoạch hóa: là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của việc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, là tiền đề để ra các quyết định đầu tư và tài trợ vốn.Về mặt nội dung: là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo kế hoạch chặt chẽ với thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai.1.1.2. Đặc điểm của dự án đầu tư đầu tưDự án đầu tư có những đặc điểm cơ bản:Dự án đầu tư có mục đích, mục tiêu rõ ràng.Dự án đầu tư có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn.Dự án đầu tư có sự tham gia của nhiều bên như: chủ đầu tư , nhà thầu, cơ quan cung cấp dịch vụ trong đầu tư , cơ quan quản lý nhà nước.Sản phẩm dự án đầu tư mang tính chất đơn chiếc, độc đáo.Môi trường hoạt động của dự án đầu tư là: “va chạm”, có sự tương tác phức tạp giữa dự án đầu tư này với dự án đầu tư khác, giữa bộ phận quản lý này với bộ phận quản lý khác.Dự án đầu tư có tính bất định và độ rủi ro cao do đặc điểm mang tính chất dài hạn của hoạt động đầu tư phát triển.1.1.3. Chu kỳ của dự án đầu tưChu kỳ của một dự án đầu tư là các bước, các giai đoạn mà một dự án đầu tư phải trải qua bắt đầu từ khi dự án đầu tư mới chỉ là ý đồ cho đến khi kết thúc hoạt động. Chu kỳ dự án đầu tư được minh họa như sau:Sơ đồ 1.1: Chu kỳ dự án đầu tư Bảng 1.1: Các giai đoạn của một chu kỳ dự án đầu tưChuẩn bị đầu tư Thực hiện đầu tư Vận hành kết quả đầu tư Nghiên cứu phát triển các cơ hội đầu tư Nghiên cứu tiền khả thi (nghiên cứu sơ bộ để lựa chọn dự án đầu tư)Nghiên cứu khả thi (lập dự án đầu tư)Đánh giá và quyết định (thẩm định dự án đầu tư)Hoàn tất các thủ tục để triển khai thực hiện đầu tư Thiết kế và lập dự toán thi công xây lắp công trìnhThi công xây lắp công trìnhChạy thử và nghiệm thu công trìnhSử dụng chưa hết công suấtSử dụng công suất ở mức cao nhấtCông suất giảm dần và kết thúc dự án đầu tưTrong 3 giai đoạn, giai đoạn chuẩn bị là quan trọng nhất là tiền đề và quyết định đến dự thành công hay thất bại ở các giai đoạn sau, đặc biệt là giai đoạn vận hành kết quả đầu tư .1.1.4. Công dụng của dự án đầu tưĐối với cơ quan quản lý nhà nước và các định chế tài chính: dự án đầu tư là cơ sở để thẩm định, ra quyết định đầu tư và tài trợ vốn cho dự án đầu tư.Đối với chủ đầu tư : dự án đầu tư là:Căn cứ quan trọng nhất để quyết định bỏ vốn đầu tư .Cơ sở để xin phép được đầu tư (hoặc ghi vào kế hoạch đầu tư) và cấp giấy phép hoạt động.Cơ sở để xin phép được nhập khẩu máy móc thiết bị, xin hưởng các khoản ưu đãi trong đầu tư .Phương tiện để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầu tư.Phương tiện thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nước tài trợ hoặc cho vay vốn.Căn cứ quan trọng để xem xét giải quyết các mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên tham gia liên doanh.1.2. Tình hình vĩ mô có liên quan đến dự án đầu tưViệc nghiên cứu, đánh giá các điều kiện kinh tế vĩ mô có ý nghĩa quan trọng trong quá trình lập và quản lý dự án đầu tư.

Trang 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ

1.1 Khái quát về dự án đầu tư

1.1.1 Khái niệm

Theo luật đầu tư năm 2005: “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốntrung hạn và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trongmột khoảng thời gian xác định”

Dự án đầu tư được xem xét dưới các góc độ:

Về mặt hình thức: là một tập hồ sơ tài liệu trình bày chi tiết, hệ thống cáchoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được các kết quả và thực hiệnđược các mục tiêu trong tương lai

Trên góc độ quản lý: là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, laođộng để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời gian dài

Trên góc độ kế hoạch hóa: là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết củaviệc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, là tiền đề để ra cácquyết định đầu tư và tài trợ vốn

Về mặt nội dung: là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trítheo kế hoạch chặt chẽ với thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộnghoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhấtđịnh trong tương lai

1.1.2 Đặc điểm của dự án đầu tư đầu tư

Dự án đầu tư có những đặc điểm cơ bản:

Dự án đầu tư có mục đích, mục tiêu rõ ràng

Dự án đầu tư có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn

Dự án đầu tư có sự tham gia của nhiều bên như: chủ đầu tư , nhà thầu, cơquan cung cấp dịch vụ trong đầu tư , cơ quan quản lý nhà nước

Sản phẩm dự án đầu tư mang tính chất đơn chiếc, độc đáo

Môi trường hoạt động của dự án đầu tư là: “va chạm”, có sự tương tácphức tạp giữa dự án đầu tư này với dự án đầu tư khác, giữa bộ phận quản lý nàyvới bộ phận quản lý khác

Dự án đầu tư có tính bất định và độ rủi ro cao do đặc điểm mang tính chấtdài hạn của hoạt động đầu tư phát triển

1.1.3 Chu kỳ của dự án đầu tư

Chu kỳ của một dự án đầu tư là các bước, các giai đoạn mà một dự án đầu

tư phải trải qua bắt đầu từ khi dự án đầu tư mới chỉ là ý đồ cho đến khi kết thúchoạt động

Trang 2

Chu kỳ dự án đầu tư được minh họa như sau:

Sơ đồ 1.1: Chu kỳ dự án đầu tư

Bảng 1.1: Các giai đoạn của một chu kỳ dự án đầu tư

Chuẩn bị đầu tư Thực hiện đầu tư Vận hành kết quả

án đầu

tư)

Đánhgiá vàquyếtđịnh(thẩmđịnh

dự ánđầu

tư)

Hoàntất cácthủtục đểtriểnkhaithựchiệnđầu tư

Thiết

kế vàlập dựtoánthicôngxâylắpcôngtrình

Thicôngxâylắpcôngtrình

Chạythử vànghiệmthucôngtrình

Sửdụngchưahếtcôngsuất

Sửdụngcôngsuất ởmứccaonhất

Côngsuấtgiảmdần vàkếtthúc

dự ánđầu tư

Trong 3 giai đoạn, giai đoạn chuẩn bị là quan trọng nhất - là tiền đề vàquyết định đến dự thành công hay thất bại ở các giai đoạn sau, đặc biệt là giaiđoạn vận hành kết quả đầu tư

1.1.4 Công dụng của dự án đầu tư

Đối với cơ quan quản lý nhà nước và các định chế tài chính: dự án đầu tư

là cơ sở để thẩm định, ra quyết định đầu tư và tài trợ vốn cho dự án đầu tư

Đối với chủ đầu tư : dự án đầu tư là:

Căn cứ quan trọng nhất để quyết định bỏ vốn đầu tư

Cơ sở để xin phép được đầu tư (hoặc ghi vào kế hoạch đầu tư) và cấp giấyphép hoạt động

Cơ sở để xin phép được nhập khẩu máy móc thiết bị, xin hưởng các khoản

ưu đãi trong đầu tư

Phương tiện để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầu tư.Phương tiện thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nướctài trợ hoặc cho vay vốn

Vận hành các kết quả đầu tư

Ý đồ về

dự án đầu tư mới

Trang 3

Căn cứ quan trọng để xem xét giải quyết các mối quan hệ về quyền lợi vànghĩa vụ giữa các bên tham gia liên doanh

1.2 Tình hình vĩ mô có liên quan đến dự án đầu tư

Việc nghiên cứu, đánh giá các điều kiện kinh tế vĩ mô có ý nghĩa quantrọng trong quá trình lập và quản lý dự án đầu tư

Tác động của các yếu tố của môi trường kinh tế vĩ mô đến dự án đầu tưđược minh họa ở sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.2: Tác động của môi trường vĩ mô đến dự án đầu tư

Tốc độ tăng trưởng kinh tế: là chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản mà các nhà đầu

tư quan tâm Tình hình tăng trưởng của một quốc gia có thể ảnh hưởng tới tìnhhình đầu tư và phát triển của một ngành, một lĩnh vực và sau đó là kết quả vàhiệu quả của dự án đầu tư

Lãi suất: ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn và sau đó là hiệu quả đầu tư.Nếu lãi suất cao, sẽ có ít dự án đầu tư thỏa mãn hiệu quả khi đánh giá cơ hội đầu

tư và ngươc lại khi lãi suất thấp hơn, chi phí sử dụng vốn thấp sẽ có nhiều dự ánđầu tư thỏa mãn chỉ tiêu hiệu quả Tuy nhiên, nếu mức lãi suất trong nước nhỏhơn lãi suất ở thị trường vốn quốc tế, trong bối cảnh mở cửa thị trường vốn có thểdẫn tới dòng chảy vốn đầu tư trong nước chảy ra nước ngoài làm giảm cơ hộiđầu tư trong nước

Tỷ lệ lạm phát: lạm phát có thể là rủi ro tiềm tàng làm suy giảm hiệu quảđầu tư Trong điều kiện giảm phát do suy giảm nhu cầu cũng sẽ có tác động tiêucực đến đầu tư và tính hiện thực hóa các cơ hội đầu tư

Tình hình ngoại thương và các định chế liên quan: đó là các chính sáchthuế, hàng rào phi thuế quan, chính sách tỷ giá hối đoái, cán cân thương mại quốc

Môi trường kinh tế

vĩ mô

Dự án đầu tư

Tốc độ tăng trưởng

Trang 4

tế, Những chính sách này ảnh hưởng lớn đến các dự án đầu tư có liên quan đếnxuất nhập khẩu.

Tình hình thâm hụt ngân sách: thâm hụt ngân sách ở mức cao có thể dẫnđến chính phủ đi vay nhiều hơn, điều này có thể ảnh hưởng đến mức lãi suất cơbản của nền kinh tế và sau đó là chi phí sử dụng vốn tác động đến hiệu quả củađầu tư

Hệ thống kinh tế và chính sách điều tiết vĩ mô của nhà nước: cần nghiêncứu cơ cấu tổ chức hệ thống kinh tế theo ngành, theo quan hệ sở hữu, theo vùnglãnh thổ để làm cơ sở đánh giá trình độ và lợi thế so sánh của dự án đầu tư, trongmột chừng mực, khía cạnh này ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả đầu tư; nghiêncứu các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước trong từng giai đoạn để nắm bắttình hình và triển vọng đầu tư

1.3 Thị trường sản phẩm, dịch vụ của dự án đầu tư

1.3.1 Khái quát về phân tích thị trường sản phẩm, dịch vụ của dự án đầu tư

Phân tích thị trường sản phẩm, dịch vụ của dự án đầu tư là quá trình thuthập, phân tích và xử lý các thông tin có liên quan đến thị trường tiêu thụ sảnphẩm, dịch vụ nhằm trả lời câu hỏi dự án đầu tư có thị trường hay không, để đánhgiá khả năng đạt được lợi ích trong tương lai

Nói một cách khác, việc phân tích thị trường sản phẩm và dịch vụ của dự

án đầu tư là nhằm xác định rõ các vấn đề sau:

Sản phẩm, dịch vụ (gọi chung là sản phẩm) mà dự án đầu tư sẽ sản xuất làcái gì? Nhằm thỏa mãn nhu cầu gì cho sản xuất hoặc đời sống? Người ta sử dụng

nó trong những trường hợp nào?

Có những sản phẩm nào có thể cạnh tranh với sản phẩm của dự án đầu tưnày? Trong quá khứ, hiện tại và tương lai sản phẩm của dự án đầu tư được tiêuthụ như thế nào? Trong những trường hợp nào thì sản phẩm của dự án đầu tư cónguy cơ hoặc bị các sản phẩm khác cạnh tranh và đẩy lùi? Khi các tình huốngtrên xảy ra liệu có những giải pháp nào để đối phó? Và tính khả thi của các giảipháp đó trong hiện tại và tương lai như thế nào?

Các sản phẩm mà dự án đầu tư sẽ sản xuất cần phải được sử dụng kèm theonhững loại sản phẩm nào? Trong quá khứ, hiện tại và tương lai việc sản xuất vàcung cấp các sản phẩm đi kèm đó có những thuận lợi và khó khăn gì? Quy cáchchất lượng và giá cả của chúng sẽ thay đổi như thế nào, điều đó có ảnh hưởng gìđến việc tiêu thụ sản phẩm của dự án đầu tư?

Trang 5

Vùng thị trường tiêu thụ sản phẩm của dự án đầu tư ở đâu, khả năng tiêuthụ (số lượng nhu cầu, khả năng thanh toán), thị hiếu, tập quán tiêu dùng của thịtrường mục tiêu trong quá khứ, hiện tại và tương lai sẽ diễn biến như thế nào?

Trong tương lai có những cá nhân hoặc công ty nào thuộc các thành phầnkinh tế nào sẽ chuẩn bị cho ra đời các dự án đầu tư tương tự và khi điều đó xảy rathì liệu nó có trở thành đối thủ cạnh tranh hay không? Tính chính xác của cácthông tin này cần được kiểm tra để có những đối sách phù hợp

Phân tích môi trường kinh doanh, bản chất của thị trường mà dự án đầu tưtham gia là thuận lợi hay khó khăn? Phức tạp hay không phức tạp? Từ đó xácđịnh rõ sản phẩm cụ thể cho dự án đầu tư Nhận dạng những nhân tố tác độngtích cực hoặc tiêu cực đến khả năng thâm nhập thị trường của sản phẩm/ dịch vụcủa dự án đầu tư cũng như khả năng tiêu thụ sản phẩm/ dịch vụ của dự án đầu tưtrong tương lai

Nói tóm lại, phân tích thị trường sản phẩm, dịch vụ của dự án đầu tư làphải xác định được bản chất của thị trường tiêu thụ sản phẩm của dự án đầu tư.Muốn vậy, nhà đầu tư phải tiến hành nghiên cứu thị trường một cách khoa học

và hiệu quả

1.3.2 Thị trường và nghiên cứu thị trường sản phẩm, dịch vụ của dự án đầu tư

1.3.2.1 Thị trường, thị trường mục tiêu:

Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầuhay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãnnhu cầu và mong muốn đó

Thị trường mục tiêu là một hay vài đoạn thị trường mà doanh nghiệp lựachọn và quyết định tập trung nỗ lực marketing vào đó nhằm đạt mục tiêu kinhdoanh của doanh nghiệp

Thị trường mục tiêu là một hay vài nhóm khách hàng mà doanh nghiệp cóthể thỏa mãn với vị thế cạnh tranh thuận lợi hơn đối thủ nhằm đạt được mục tiêu

của doanh nghiệp.

1.3.2.2 Khái quát về nghiên cứu thị trường:

- Khái niệm: Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập và phân tích có

hệ thống các dữ liệu về các vấn đề có liên quan đến các hoạt động Marketing về

hàng hóa và dịch vụ (Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ).

- Sự cần thiết của việc nghiên cứu thị trường:

Trang 6

Nghiên cứu thị trường là công cụ kinh doanh thiết yếu và là công việc cầnlàm trong một thị trường cạnh tranh, nơi có quá nhiều sản phẩm phải cạnh tranhgay gắt để dành sự chấp nhận mua và/hoặc sử dụng của khách hàng Do đó, cànghiểu rõ về thị trường và khách hàng tiềm năng chúng ta càng có nhiều cơ hộithành công Việc hiểu biết về nhóm khách hàng mục tiêu tại một địa phương vàthói quen mua sắm của họ sẽ giúp chúng ta tìm ra biện pháp thích hợp để đưa sảnphẩm của mình vào thị trường một cách thành công.

Qua nghiên cứu thị trường, chúng ta có thể sẽ hình thành nên ý tưởng pháttriển một sản phẩm mới và lựa chọn chiến lược định vị đúng cho sản phẩm đó tạitừng thị trường cụ thể Ví dụ, qua nghiên cứu, chúng ta có thể phát hiện thấyhương vị của một loại thực phẩm cụ thể rất phổ biến ở thị trường này nhưng lạiđược coi là đặc biệt ở một thị trường trường khác và đó sẽ là thông tin marketingcần thiết nếu chiến lược kinh doanh của chúng ta có liên quan đến lĩnh vực đó

Việc nghiên cứu sẽ cung cấp những chi tiết rất quan trọng hỗ trợ chúng ta

từ việc phát hiện ra thị trường "ngách" cho đến việc hoạch định một chiến lượcmarketing có hiệu quả Nhờ nghiên cứu, chúng ta không phải lãng phí tiền bạc vàcông sức cho những hy vọng sai lầm, đặc biệt khi chúng ta tiến hành kinh doanhlần đầu Mặt khác, cũng cần lưu ý rằng nghiên cứu thị trường không phải là điềuđảm bảo chắc chắn cho sự thành công trong kinh doanh, tuy nhiên nó sẽ giúpchúng ta tránh được nhiều quyết định sai lầm

- Tác dụng của nghiên cứu thị trường

Nghiên cứu thị trường có thể hỗ trợ:

Giúp tìm ra những thị trường lớn nhất cho sản phẩm của chúng ta, các thịtrường tăng trưởng nhanh nhất, các xu hướng và triển vọng của thị trường, cácđiều kiện, tập quán kinh doanh và cơ hội dành cho sản phẩm của chúng ta trên thịtrường

Cho phép thu gọn tầm nhìn và nỗ lực một cách hiệu quả vào một lĩnh vực,phạm vi nhất định Từ đó chúng ta có thể đặt ra các ưu tiên đối với một thị trườngmục tiêu cụ thể và lên kế hoạch cho các thị trường tương lai ở mức độ dài hạnhơn

Giúp chúng ta xác định các "thủ thuật" giới thiệu sản phẩm tốt nhất Saumột thời gian, ví dụ một năm, qua nghiên cứu chúng ta có thể đánh giá được các

nỗ lực của mình cũng như của các đối tác thương mại để từ đó có thể tiến hànhnhững điều chỉnh cần thiết ở từng thị trường

Giúp hiểu rõ về các đối thủ cạnh tranh, bao gồm cả điểm mạnh và điểmyếu, những sai lầm cũng như nguyên nhân thành công của họ

Có thể giúp tìm ra các ý tưởng để phát triển sản phẩm mới

Trang 7

Giúp củng cố quan hệ làm ăn nghiêm túc với đối tác do quan tâm và amhiểu về thị trường của họ

- Nghiên cứu thị trường - Cách tiếp cận "chủ động"

Nghiên cứu thị trường giúp chúng ta nắm được các diễn biến mới nhất trênthị trường mục tiêu, từ đó đưa ra các quyết định marketing nhanh chóng Trongmôi trường kinh doanh quốc tế biến động rất nhanh, chúng ta cần một cách tiếpcận chủ động như vậy và đó thực sự là lợi thế cạnh tranh của chúng ta

Ngay cả trong giai đoạn dân số tăng trưởng chậm vẫn xuất hiện những xuhướng và những nhóm khách hàng mục tiêu mới, chảng hạn như số lượng ngườicao tuổi hoặc các hộ độc thân ngày càng đông Cả hai nhóm này đều tìm kiếmnhững sản phẩm tiện dụng Qua nghiên cứu thị trường, chúng ta có thể xác địnhđược quy mô của các nhóm này cũng như sự khác biệt của mỗi nhóm ở các quốcgia khác nhau và có thể dự đoán những mối quan tâm của họ để đáp ứng

Cách tiếp cận "chủ động" sẽ dẫn đến thành công qua việc nhanh chóng đápứng và giới thiệu sản phẩm được thiết kế phù hợp về kích cỡ, kiểu dáng…chotừng khách hàng nói trên

- Nghiên cứu thị trường đòi hỏi sự cam kết mạnh mẽ

Nghiên cứu thị trường đòi hỏi phải có sự đầu tư về thời gian và tiền bạc.Nhiều công ty hiện vẫn thực hiện hoạt động xuất khẩu theo phương thức "tự trangtrải", nghĩa là, bắt đầu kinh doanh sau đó sử dụng lợi nhuận thu được từ việc bánsản phẩm trên thị trường này để tiến hành đầu tư lại Điều này không thể áp dụngđối với nghiên cứu thị trường Ở đây, chúng ta cần phải đầu tư một khoản tiền đểnghiên cứu thị trường trước khi giới thiệu sản phẩm và điều đó sẽ giúp chúng tatránh phải trả giá đắt cho những sai lầm trên thị trường mục tiêu sau này

- Các sai lầm về công tác nghiên cứu thị trường:

Nghiên cứu là việc của đội ngũ trí thức và hàn lâm: Có sự hiểu lầm này là

một phần do một số nhà nghiên cứu đã sử dụng những khái niệm và thuật ngữphức tạp chuyên nghành Tuy nhiên, những người làm nghiên cứu giỏi đều ý thức

rõ rằng mọi người đều có thể dễ dàng thiết kế và thực hiện nghiên cứu thị trường

Nghiên cứu thị trường quá tốn kém: Nghiên cứu thị trường không nhất

thiết là phải tiến hành khảo sát, phỏng vấn thật nhiều người và thực hiện các phântích phức tạp trên máy tính vốn rất tốn kém, mà có thể sử dụng nhiều kỹ thuận íttốn kém (ví dụ như kỹ thuật nghiên cứu tại văn phòng hoặc tìm kiếm trên mạnginternet, )

1.3.2.3 Nghiên cứu thị trường

a Quy trình nghiên cứu thị trường:

Trang 8

Hoạt động nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp được tiến hành theo 5bước cơ bản sau:

- Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu

- Lập kế hoạch nghiên cứu

- Thu thập thông tin

- Xử lý dữ liệu và phân tích thông tin

- Báo cáo kết quả

Bước 1 Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu

Bước này gồm một số nội dung cơ bản: Mô tả vấn đề; Thiết lập mục tiêunghiên cứu; Xây dựng các câu hỏi nghiên cứu: dự định làm gì? Đang cân nhắcnhững quyết định nào? Những trở ngại nào có thể ảnh hưởng đến quyết định đó?

Bước 2 Lập kế hoạch nghiên cứu

Lập kế hoạch nghiên cứu thị trường sản phẩm dự án đầu tư bao gồm cácnội dung cụ thể:

(1) Nguồn dữ liệu:

Dữ liệu thứ cấp: Là những thông tin đã có được tổng hợp từ những nguồn

như: báo, sách, tài liệu nghiên cứu của chính phủ, tìm kiếm trên mạng, báo cáonghiên cứu thương mại,

Để xác nhận tính chính xác của thông tin thì cần phải tìm những thông tintương tự ở những nguồn khác để so sánh

Dữ liệu sơ cấp/ban đầu: số liệu từ điều tra, khảo sát do công ty nghiên cứu

tổ chức thu thập

(2) Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu:

- Các phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu thăm dò: nhằm làm rõ vấn đề, đưa ra các giả thiết thông qua

việc thu thập những thông tin một cách không chính thống như: nói chuyện với

khách hàng, nghiên cứu tại bàn, thảo luận với các chuyên gia,

Nghiên cứu mô tả: liên quan tới các biện pháp và qui trình, ai trả lời, cái gì,

tại sao và như thế nào?,

Nghiên cứu nhân quả: được thực hiện bằng cách kiểm soát những nhân tố

khác nhau để xác định xem nhân tố nào gây ra kết quả, thường cần sự thử nghiệmkhá phức tạp và đắt tiền

- Các phương pháp thu thập dữ liệu:

Trang 9

Nghiên cứu tại bàn: đối với dữ liệu thứ cấp

Nghiên cứu định tính: nhằm khám phá và hiểu về hành vi của thị trường,

gồm các phương pháp như: phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm,

 Phương pháp phỏng vấn sâu:

Phương pháp phỏng vấn sâu được áp dụng trong các trường hợp: Chủ đềnhiên cứu mới và chưa được xác định rõ; Nghiên cứu thăm dò, khi chưa biếtnhững khái niệm và biến số; Khi cần tìm hiểu sâu; Khi cần tìm hiểu về ý nghĩahơn là tần số

Tuy nhiên phương pháp phỏng vấn sâu có những điểm hạn chế là: Các câu

trả lời không được chuẩn hóa nên khó lượng hóa; Phỏng vấn viên đòi hỏi phải cótay nghề cao và nhiều kinh nghiệm; Việc phân tích thông tin tốn nhiều thời gian

 Phương pháp thảo luận nhóm:

Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng khi: muốn tìm hiểu nhữngthông tin trái ngược nhau thông qua việc tranh luận về một ý kiến với những cáchnhìn nhận vấn đề khác nhau

Để phương pháp thảo luận nhóm có hiệu quả, khi thực hiện phương phápnày cần phải có một số kỹ thuật thảo luận nhóm như sau:

Người điều hành nhóm đưa ra câu hỏi mở, khuyến khích đáp viên trao đổi

Số lượng người tham gia: 8 - 12 người

Số lượng nhóm: phụ thuộc vào quy mô, thời gian, tầm quan trọng và kinhphí của dự án đầu tư

Thời gian: 2 - 3 tiếng

Nghiên cứu định lượng: nhằm đo lường thị trường, tính toán số liệu về thị

trường với phương pháp phỏng vấn trực tiếp, điều tra bằng bảng câu hỏi

 Phỏng vấn trực tiếp:

Phương pháp này có những thuận lợi là: Người phỏng vấn có thể thuyếtphục đối tượng trả lời; Quan sát để có thể hiểu thông tin về gia cảnh mà khôngcần hỏi; Có thể kết hợp hỏi và dùng hình ảnh để giải thích; Có thể giải thích cáccâu hỏi; Chọn mẫu chính xác;

Trang 10

Tuy nhiên, phương pháp này cũng có những hạn chế như: Chi phí cao, tốnnhiều thời gian; Có thể sẽ bị né tránh trả lời,

 Phỏng vấn qua điện thoại:

Những ưu điểm của phương pháp này là: Giảm chi phí khảo sát; Tiết kiệmthời gian; Khối lượng mẫu lớn, địa bàn rộng;

Phương pháp này có những hạn chế như: Không quan sát được hoàn cảnh;Thông tin thiếu chuẩn xác; Người được phỏng vấn nghi ngờ; Trở ngại về hệthống công nghệ; Không có số điện thoại;

Nội dung của bảng câu hỏi phải liên quan trực tiếp đến nhu cầu thông tin

để thực hiện mục tiêu của cuộc nghiên cứu

Khi dùng bảng câu hỏi cần tránh tình huống người được hỏi không có khảnăng trả lời hay không muốn trả lời

Về hình thức của bảng câu hỏi cần lưu ý: Sử dụng câu hỏi đóng và câu hỏimở; Từ ngữ đơn giản không bao hàm hai nghĩa Về thứ tự câu hỏi cần chú ý yếu

tố tâm lý khi đặt câu hỏi ở phần đầu hay phần cuối

Câu hỏi đóng:

Có nhiều hình thức câu hỏi đóng, trong đó cả hai vấn đề câu hỏi và câu trảlời đều được cấu trúc Nét phân biệt chủ yếu giữa các hình thức câu hỏi đóng làdựa trên câu trả lời

Câu hỏi phân đôi: cho phép hai khả năng trả lời “Có” hoặc “Không”,

“Đúng” và “Sai”

Câu hỏi sắp hàng thứ tự: sắp xếp thứ tự tương đối của các đề mục được liệtkê

Trang 11

(4) Chọn mẫu:

Đơn vị chọn mẫu: là các đơn vị cơ bản hoặc nhóm đơn vị cơ bản được xácđịnh rõ ràng, tương đối đồng đều và có thể quan sát được, thích hợp cho mụcđích chọn mẫu VD: doanh nghiệp, hộ gia đình,

Dàn chọn mẫu: có thể là danh sách đơn vị chọn mẫu hoặc bản đồ chỉ raranh giới của các đơn vị dùng làm căn cứ tiến hành chọn mẫu

Chọn mẫu ngẫu nhiên: Chọn các đơn vị từ tổng thể vào mẫu một cách ngẫu

nhiên (Ví dụ rút thăm)

Chọn mẫu hệ thống: Chọn các đơn vị từ tổng thể vào mẫu theo một khoảng

cách cố định sau khi đã chọn ngẫu nhiên một nhóm nào đó

Tổ chức chọn mẫu

Chọn mẫu một cấp: Từ một loại danh sách của tất cả các đơn vị thuộc tổng

thể chung, tiến hành chọn mẫu một lần trực tiếp đến các đơn vị điều tra khôngqua một phân đoạn nào khác Có thể dùng cách chọn ngẫu nhiên, cách chọn hệthống

Chọn mẫu nhiều cấp: Điều tra theo nhiều công đoạn, mỗi công đoạn là mộtcấp chọn mẫu

Trang 12

Chọn mẫu phân tổ: Phân chia tổng thể thành những tổ khác nhau theo một(hoặc một số) tiêu thức nào đó liên quan đến tiêu thức điều tra, sau đó phân bổ cỡmẫu cho từng tổ và trong mỗi tổ lập một danh sách riêng và chọn đủ số mẫu phân

tổ đó

Chọn mẫu chùm: Điều tra chia thành nhiều cấp, các cấp tiến hành trước thìchọn từng đơn vị mẫu, nhưng ở cấp cuối cùng thì chọn cả nhóm đơn vị để điềutra

Bước 3 Thu thập thông tin:

Đây là giai đoạn quan trọng nhưng dễ sai lầm của quá trình nghiên cứu thịtrường Khi thu thập thông tin thường gặp một số trở ngại như:

Không gặp được người cần hỏi;

Họ từ chối cung cấp thông tin;

Trả lời sai lệch, trả lời cho xong việc;

Làm dối thông tin thu thập;

Bước 4 Xử lý dữ liệu và phân tích thông tin:

Phân tích thống kê để đánh giá định lượng: tập hợp thông tin vào bảng, sau

đó xem xét sự phân bố thông tin, có số liệu bao nhiêu người đồng ý, không đồngý,

Phân tích nội dung để đánh giá định tính: căn cứ vào mật độ trả lời hoặctần suất xuất hiện,

Bước 5 Báo cáo kết quả:

Báo cáo nghiên cứu là bản trình bày hoàn chỉnh về tất cả mọi thứ được làmtrong nghiên cứu thị trường Báo cáo thường gồm các phần viết về giai đoạn củanghiên cứu, trao đổi về những phát hiện và đề xuất chiến lược, trao đổi về cáchạn chế của nghiên cứu

Nội dung của một báo cáo nghiên cứu thị trường thường được kết cấu nhưsau:

Trang 13

b Ứng dụng nghiên cứu thị trường:

Nghiên cứu về thị trường: Trả lời các câu hỏi, các tính chất của sản phẩm

ở vùng lãnh thổ của thị trường như thế nào? Tiềm năng thương mại của thịtrường

Nghiên cứu về sản phẩm: Sản phẩm của hãng được chấp nhận như thế

nào? Các sản phẩm của hãng khác cạnh tranh với ta về điều gì? Việc phát triểnsản phẩm hiện tại theo hướng nào?

Nghiên cứu về phân phối: Mạng lưới kênh phân phối như thế nào?

Phương thức phân phối thế nào?

Nghiên cứu về giá cả: Quan niệm của khách hàng về giá cả? Khả năng

chấp nhận, khả năng chi trả ra sao?

Nghiên cứu quảng cáo: Đánh giá hiệu quả của quảng cáo, cần quảng cáo

trên phương tiện nào, nội dung quảng cáo như thế nào?

Nghiên cứu dự báo: Dự báo thị trường trong ngắn hạn (1 năm), dự báo

trung hạn và dài hạn (2-3 năm)

1.4 Tổ chức nhân sự và tiền lương của dự án đầu tư

1.4.1 Tổ chức nhân sự của dự án đầu tư

1.4.1.1 Các khái niệm về tổ chức và cấu trúc tổ chức

- Tổ chức là một nhóm người được sắp xếp theo một trật tự nhất định để cóthể cùng phối hợp hoạt động với nhau để đạt đến mục tiêu của tổ chức

- Cấu trúc tổ chức là một kiểu mẫu được đặt ra để phối hợp hoạt động giữanhững người trong tổ chức

1.4.1.2 Các hình thức và mô hình quản lý dự án đầu tư

a Các khái niệm

- Hình thức chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án đầu tư : Chủ đầu tư sử

dụng bộ máy sẵn có của mình để trực tiếp quản lý thực hiện dự án đầu tư hoặcchủ đầu tư lập ra ban quản lý dự án đầu tư riêng để quản lý việc thực hiện cáccông việc của dự án đầu tư

- Hình thức chủ nhiệm điều hành dự án đầu tư : Chủ đầu tư giao cho ban

quản lý dự án đầu tư chuyên ngành hoặc thuê một doanh nghiệp, tổ chức có đủđiều kiện, năng lực chuyên môn đứng ra quản lý toàn bộ quá trình chuẩn bị và

Trang 14

thực hiện dự án đầu tư Ban quản lý dự án đầu tư là một pháp nhân độc lập chịutrách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về toàn bộ quá trình chuẩn bị và thựchiện dự án đầu tư.

- Hình thức chìa khóa trao tay: Chủ đầu tư giao cho một nhà thầu (có thể

do một số nhà thầu liên kết lại với nhau) thay mình thực hiện toàn bộ các côngviệc từ lập dự án đầu tư đến thực hiện dự án đầu tư và bàn giao toàn bộ dự án đầu

tư đã hoàn thành cho chủ đầu tư khai thác, sử dụng

- Mô hình tổ chức quản lý dự án đầu tư theo các bộ phận chức năng: Là

mô hình trong đó chủ đầu tư không thành lập ra ban quản lý dự án đầu tư chuyêntrách mà thành viên của ban quản lý dự án đầu tư là các cán bộ từ các phòng banchức năng làm việc kiêm nhiệm; Hoặc chức năng quản lý dự án đầu tư được giaocho một phòng chức năng nào đó đảm nhiệm

- Mô hình tổ chức quản lý dự án đầu tư có ban quản lý dự án đầu tư chuyên trách: Chủ đầu tư thành lập ra ban quản lý dự án đầu tư chuyên trách,

chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện toàn bộ các công việc của dự án đầu tư

- Mô hình tổ chức quản lý dự án đầu tư theo ma trận: Là mô hình trong đó

thành viên của nhóm dự án đầu tư được tập hợp từ các cán bộ của các bộ phậnchức năng khác nhau dưới sự điều hành của nhóm trưởng còn gọi là giám đốc(chủ nhiệm) dự án đầu tư Mỗi cán bộ có thể tham gia cùng lúc vào hai hoặcnhiều dự án đầu tư khác nhau và chịu sự chỉ huy đồng thời của cả trưởng nhóm

dự án đầu tư và trưởng bộ phận chức năng

b Một số cơ cấu quản lý tổ chức có thể áp dụng

Để dễ dàng cho việc nghiên cứu về nhu cầu nhân sự cho dự án đầu tư vàhoàn thiện hệ thống tổ chức điều hành khi hệ thống đi vào thực thi, cần phải xâydựng một cơ cấu tổ chức quản lý Công việc này phải được thực hiện ngay trongthời kỳ nghiên cứu soạn thảo dự án đầu tư

Việc xây dựng một cơ cấu tổ chức quản lý là một công việc phức tạp.Công việc này đòi hỏi phải nắm vững mục tiêu của dự án đầu tư, quy mô của cáchoạt động trong quá trình vận hành dự án đầu tư và hình thức tổ chức doanhnghiệp mà dự án đầu tư đã chọn

Tùy theo điều kiện cụ thể của mỗi dự án đầu tư chủ đầu tư có thể xâydựng một cơ cấu tổ chức quản lý phù hợp với một mô hình tổ chức quản lý cóthể thích ứng với điều kiện cụ thể của dự án đầu tư này nhưng không phù hợp vàhiệu quả dự án đầu tư khác

Sơ đồ: Kiểu trực tuyến

GIÁM ĐỐC

Quản đốc phân xưởng 2

Tổ trưởng sản xuất

Tổ trưởng sản xuất

Tổ trưởng sản xuất

Tổ trưởng sản xuất

Trang 15

Sơ đồ: Kiểu chức năng

Là cơ cấu mà trong đó các tổ chức được phân chia theo các bộ phận chứcnăng riêng lẻ và giám đốc điều khiển tổ chức thông qua các bộ phận chức năng

Sơ đồ: Kiểu trực tuyến - chức năng

TỔNG GIÁM ĐỐC

Bộ phận maketing

Bộ phận sản xuất

Bộ phận TC-KT

Bộ phận hành chính

Bộ phận

kỹ thuật

Tổng Giám Đốc (hoặc Giám Đốc)

Bộ

phận

maketing

Bộ phận sản xuất

Bộ phận TC-KT

Bộ phận nhân sự

Quản đốc phân xưởng 1 phân xưởng 3Quản đốc

Quản đốc phân xưởng 2

Bộ phận

kỹ thuật

Bộ phận hành chính

Tổng Giám Đốc (hoặc Giám Đốc)

Bộ phận sản xuất

Bộ

phận

maketing

Bộ phận tài chính

Bộ phận nhân sự

Lãnh đạo nhà

máy A (xưởng

A)

Lãnh đạo nhà máy B (xưởng B)

Lãnh đạo nhà máy C (xưởng C)

Bộ phận

kỹ thuật

Bộ phận hành chính

Trang 17

Sơ đồ: Tổ chức quản lý theo nhiệm vụ

Ưu nhược điểm của các dạng cơ cấu này được phân loại dựa vào các tiêu chuẩn sau:

5 Nguy cơ quá tải cho việc quyết định ở các

7 Di chuyển nhân sự và tài nguyên Rất tốt Kém Trung bình

8 Khả năng xử lý nhiều nhiệm vụ Tốt Kém Trung bình

Đọc thêm:

Trong tổ chức thường phân biệt 3 loại quyền hạn:

Quyền hạn trực tuyến: thuộc về những người quản lý trực tuyến và những người quản lý chung Những người quản lý trực tuyến có quyền ra quyết định và chỉ thị đối với cấp dưới trong các lĩnh vực sản xuất, tiêu thụ và tài chính Họ giám sát các nhân viên sản xuất sản

Tiếp thị theo từng khu vực

Quảng cáo Khuyến mại

Nghiên cứu thị trường

Giám đốc dịch vụ

Trung tâm dịch vụ A

Trung tâm dịch vụ B

Trung tâm dịch vụ C

Giám đốc tài chính

và hành chính

Nhân sự hành chính ccchính

-Kế toán Tài chính

Trang 18

phẩm và dịch vụ của tổ chức, họ chịu trách nhiệm ra các quyết định tác nghiệp các đơn vị được giám sát bởi những người quản lý trực tuyến có trách nhiệm tới cùng đối với thực hiện tác nghiệp thắng lợi của tổ chức Những người quản lý chung chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động của một bộ phận sản xuất hay toàn bộ tổ chức.

Quyền hạn tham mưu: thể hiện ở quyền tham dự các cuộc họp bàn về các phương án phát triển, cải tổ tổ chức có liên quan đến nguồn nhân lực; quyền phát biểu, giải thích, thuyết phục,

tư vấn, cho lời khuyên đối với các cán bộ quản lý và lãnh đạo về tất cả những vấn đề có liên quan đến nguồn nhân lực.

Quyền hạn chức năng: thể hiện ở quyền nhận thu thập các tài liệu, thông tin từ các bộ phận khác trong tổ chức có liên quan để xử lý các vấn đề nguồn nhân lực; quyền tổ chức, phối hợp hoạt động của các nhân viên nguồn nhân lực với các nhân viên bộ phận khác trong tổ chức cũng như các cán bộ chuyên gia ngoài tổ chức để nghiên cứu phổ biến các vấn đề nguồn nhân lực cũng như thực hiện các biện pháp, phương án quản lý nguồn nhân lực.

c Dự kiến nhân sự và cơ cấu lao động

Sau khi xây dựng được sơ đồ tổ chức vận hành dự án đầu tư, cần dự kiến

số lượng nhân viên, công nhân, bao gồm cả công việc phụ như tạp dịch, bảo vệ,tiếp tân, lái xe, cần phân rõ:

- Người trong nước, người nước ngoài; Yêu cầu chuyên môn (bằng cấp),ngoại ngữ, vi tính; Công nhân có chuyên môn, phổ thông; Nam, nữ (nếu cầnthiết); Tuổi nghề, tuổi đời

- Lao động trực tiếp: trong bảng kê về nhu cầu lao động thì công nhân trựctiếp sản xuất có số lượng lớn nhất, đông đảo nhất, vì vậy ta cần tiến hành tínhtoán cụ thể, như tính toán về định mức thời gian và định mức sản lượng

- Lao động gián tiếp và cán bộ quản lý điều hành: đối với lao động giántiếp, lao động bán hàng cũng có thể tính toán bằng công thức Tuy nhiên, trongkhi lập dự án đầu tư, người ta thường dự tính số lao động gián tiếp, lao động bánhàng dựa vào sơ đồ tổ chức, các chức dự án đầu tư nh cần có và có xét đến kiêmnhiệm

- Cơ cấu lao động: khi dự kiến nhân sự cho dự án đầu tư, người lập dự ánđầu tư phải dự kiến được cơ cấu lao động của dự án đầu tư mà mình đang nghiêncứu cơ cấu lao động là cơ cấu giữa lao động trực tiếp, cơ cấu động gián tiếp vànhân viên quả trị điều hành không có con số nào thích hợp để đưa ra một tỷ lệ cụthể về cơ cấu lao động cho dự án đầu tư mà điều này tùy thuộc vào từng dự ánđầu tư

d Chế độ làm việc của lao động

Thời gian làm việc không quá 8 giờ trên một ngày hoặc 48 giờ trên tuần.Người sử dụng lao động có quyền quy định thời gian làm việc theo ngày hoặctheo tuần, nhưng phải thông qua trước cho người lao động biết Người lao độngđược nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong các dịp: lễ, tết, nghỉ phép…

Trang 19

Thời gian làm việc hằng ngày được rút ngắn từ một đến hai giờ đối vớinhững người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo dự án đầu tư nhmục do Bộ lao động Thương binh và Xã hội và Bộ y tế ban hành

e Tuyển dụng và đào tạo

- Tuyển dụng: có thể áp dụng hoặc kết hợp một số hình thức tuyển dụngnhư sau: thông qua quảng cáo, thông qua văn phòng dịch vụ lao động, tuyển sinhtốt nghiệp từ các trường đại học; các hình thức khác như theo giới thiệu của nhânviên, bạn bè, người quen, giới thiệu của chính quyền địa phương…

- Phương thức đào tạo: đối với một số dự án đầu tư, công tác tuyển dụngkhông phải lúc nào cũng đáp ứng được nhu cầu của dự án đầu tư do đó công tácđào tạo cần được quan tâm trong quá trình vận hành dự án đầu tư

- Phân tích nhu cầu đào tạo: đào tạo thường được sử dụng để nâng caonăng suất, hiệu quả làm việc của nhân viên trong tổ chức, doanh nghiệp, dự ánđầu tư các nhà lãnh đạo nên chú ý đến các nguyên nhân dẫn đến năng suất vàhiệu quả thấp rất đa dạng: năng lực nhân viên kém; không có hệ thống kích thíchnhân viên; cách thức tổ chức nhân viên kém; nhân viên không biết các yêu cầu,tiêu chuẩn mẫu trong thực hiện công việc… Nhu cầu đào tạo thường được đặt rakhi nhân viên không đủ các kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc Để xác địnhnhu cầu đào tạo cần thực hiện các nghiên cứu

- Thực hiện quá trình đào tạo: sau khi cân nhắc các vấn đề chiến lược trongđào tạo, xác định nhu cầu đào tạo, doanh nghiệp cần đi đến bước tiếp theo là xácđịnh nội dung chương trình và phương pháp đào tạo Đây là vấn đề đòi hỏi cácdoanh nghiệp cần thận trọng vì tất cả các chi phí trong đào tạo đều được hoànvốn Các phương pháp đào tạo được áp dụng phổ biến như: đào tạo tại nơi làmviệc và đào tạo ngoài nơi làm việc

Đọc thêm

1 Nhà quản trị

- Khái niệm: Nhà quản trị là người điều khiển, chỉ huy công việc của người khác hay nhà

quản trị là người tổ chức thực hiện hoạt động quản trị tổ chức

- Các kỹ năng của nhà quản trị: Để thực hiện công việc tốt, nhà quản trị cần có những kỹ

năng cơ bản sau:

+ Kỹ năng về chuyên môn: là kỹ năng cần thiết của nhà quản trị để thực hiện một công việc cụ thể, nó thường được đánh giá thông qua ngành nghề được đào tạo.

+ Kỹ năng về nhân sự: là kỹ năng liên quan đến khả năng tổ chức và điều hành nhân sự Nhà quản trị cần hiểu biết tâm lý của người lao động, từ đó bố trí đúng người đúng việc và sử dụng đúng khả năng của đội ngũ lao động của mình Cũng như biết cách xây dựng bầu không khí tâm lý và môi trường văn hóa của tổ chức.

+ Kỹ năng về tư duy: Đây là kỹ năng quan trọng đối với các nhà quản trị đặc biệt là các nhà quản trị cấp cao vì nếu có tư duy chiến lược tốt họ sẽ đưa ra được đường lối chính sách đúng, phải hoạch định chiến lược để đối phó với những sự thay đổi không lường trước đe dọa đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức.

2 Phân cấp quản trị trong tổ chức

Trang 20

Theo tính chất công việc thì lao động trong tổ chức được chia thành 2 loại là lao động trực tiếp và lao động gián tiếp Bộ máy điều hành tổ chức là lao động gián tiếp, lao động quản lý Tất cả những người chỉ huy trong bộ máy điều hành tổ chức đều gọi là quản trị viên.

a) Quản trị viên cấp cao (cấp lãnh đạo): Bao gồm giám đốc, các phó giám đốc phụ trách từng phần việc; chịu trách nhiệm về đường lối, chiến lược, các công tác tổ chức hành chính tổng hợp của tổ chức Có thể nêu lên những nhóm công tác chính sau:

- Xác định mục tiêu từng thời kỳ, phương hướng, biện pháp lớn.

- Tạo dựng bộ máy quản trị: Phê duyệt về cơ cấu tổ chức, chương trình hoạt động và vấn

đề nhân sự như: tuyển dụng, lựa chọn quản trị viên cấp dưới, giao trách nhiệm, uỷ quyền, thăng cấp, quyết định mức lương…

- Phối hợp hoạt động của các bên liên quan.

- Xác định nguồn lực và đầu tư kinh phí cho các hoạt động của tổ chức.

- Quyết định các biện pháp kiểm tra kiểm soát như chế độ báo cáo, kiểm tra, thanh tra, định giá khắc phục hậu quả

- Chịu trách nhiệm hoàn toàn về mỗi ảnh hưởng tốt, xấu đến tổ chức.

- Báo cáo trước hội đồng quản trị và đại hội công nhân viên chức.

Quản trị viên cấp cao: Quản trị các mối quan hệ bên ngoài là chủ yếu

b) Quản trị viên cấp trung (cấp điều hành): Bao gồm quản đốc, trưởng phòng, ban chức năng và các cấp phó Đó là đội ngũ những quản trị viên có nhiệm vụ chỉ đạo thực hịên phương hướng, đường lối của quản trị viên hàng đầu đã phê duyệt cho ngành mình, bộ phận chuyên môn của mình.

Như vậy, quản trị viên trung gian là người đứng đầu một ngành hay một bộ phận, là người chịu trách nhiệm duy nhất trước quản trị viên hàng đầu Nhiệm vụ của quản trị viên trung gian là:

- Nghiên cứu, nắm vững những quyết định của quản trị viên hàng đầu về nhiệm vụ của ngành, bộ phận mình trong từng thời kỳ, mục đích, yêu cầu, phạm vi quan hệ với các bộ phận các ngành khác.

- Đề nghị những chương trình, kế hoạch hoạt động, đưa ra mô hình tổ chức thích hợp, lựa chọn, đề bạc những người có khả năng vào những công việc phù hợp, chọn nhân viên kiểm tra, kiểm soát.

- Dự trù kinh phí trình cấp trên phê duyệt và chịu trách nhiệm về việc sử dụng kinh phí ấy.

- Thường xuyên rà soát kết quả và hiệu quả của từng công việc.

- Báo cáo kịp thời với quản trị viên hàng đầu về kết quả, vướn mắt theo sự uỷ quyền và chịu trách nhiệm hoàn toàn về công việc của đơn vị và việc làm của nhân viên cấp dưới.

- Những điều chú ý đối với quản trị viên trung gian:

+ Phải nắm vững mục đích, ý định của cấp trên Báo cáo kịp thời cho cấp trên biết về các hoạt động của đơn vị mình.

+ Tìm hiểu, xác định mối quan hệ của đơn vị mình với đơn vị khác và tìm cách phối hợp hoạt động nhiệt tình, chặc chẽ với các đơn vị khác có liên quan.

+ Phải nắm vững lý lịch của từng người trong đơn vị Hướng dẫn công việc cho mọi người

và đánh giá đúng mức kết quả của từng người, động viên, khích lệ họ làm việc.

Quản trị viên cấp trung: Quản trị các mối quan hệ bên trong là chủ yếu

c) Quản trị viên cấp thấp (cấp thực hiện ): gồm những quản trị viên thực hiện những công việc rất cụ thể Quản trị viên cấp cơ sở có nhiệm vụ sau:

- Hiểu rõ công việc mình phụ trách, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ đúng kế hoạch, tiến trình, tiêu chuẩn quy định về số lượng và chất lượng.

- Luôn cải tiến phương pháp làm việc, rèn luyện tinh thần kỷ luật lao động tự giác để trở thành thành viên đáng tin cậy của đơn vị, giữ gìn nơi làm việc gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ.

- Báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo kịp thời của thủ trưởng đơn vị, có tinh thần đồng đội, quan hệ mật thiết với đồng nghiệp…

Quản trị viên cấp thấp: Quản trị các mối quan hệ bên trong là chủ yếu

Trang 21

- Ở Pháp: sự trả công được hiểu là tiền lương hoặc lương bổng bình

thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, các khoản phụ khác được trả trực tiếp haygián tiếp bằng tiền hay hiện vật mà người sử dụng lao động trả cho người laođộng theo việc làm của người lao động

- Ở Đài Loan: tiền lương chỉ mọi khoản thù lao mà người công nhân nhận

được do làm việc, bất luận là dùng tiền lương cơ bản, phụ cấp có tính chất lương,tiền thưởng hoặc dùng mọi dự án đầu tư nh nghĩa khác để trả cho họ theo giờ,ngày tháng hay theo sản phẩm

- Ở Nhật Bản: tiền lương, bất luận được gọi là tiền lương, lương bổng, hay

những khoản thù lao khác là chỉ thù lao lao động mà người sử dụng lao động chitrả cho người lao động

- Theo quan điểm cải cách tiền lương ở Việt Nam:

+ Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành qua thỏa thuận giữangười sử dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức laođộng trong nền kinh tế thị trường

+ Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng laođộng và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc

+ Ngoài ra các chế độ phụ cấp, tiền thưởng, nâng bậc lương, các chế độkhuyến khích khác có thể được thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước tậpthể hoặc quy định trong tổ chức

- Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): Tiền lương là sự trả công hoặc thu

nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền vàđược ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao độnghoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia do người sử dụng lao động phải trả chongười lao động theo một hợp đồng lao động được viết ra hay bằng miệng cho mộtcông nhân đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay

* Tiền lương tối thiểu

Ở Việt Nam, mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, đảm bảocho người lao động làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình

Trang 22

thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức laođộng mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại laođộng

* Tiền lương dự án đầu tư nh nghĩa và tiền lương thực tế

Tiền lương dự án đầu tư nh nghĩa: Tiền lương trả cho người lao động dưới

hình thức tiền tệ

Tiền lương thực tế: Tiền lương được sử dụng để xác định số lượng hàng

hóa tiêu thụ và dịch vụ mà người lao động có được thông qua tiền lương dự ánđầu tư nh nghĩa

Như vậy tiền lương dự án đầu tư nh nghĩa phụ thuộc vào hai yếu tố: sốlượng tiền lương dự án đầu tư nh nghĩa và chỉ số giá cả hàng hóa và dịch vụ Mốiquan hệ giữa tiền lương dự án đầu tư nh nghĩa và tiền lương thực tế: Wr =

Wm/CPI

b Cơ cấu thu nhập

* Tiền lương cơ bản

Tiền lương cơ bản là tiền lương được xác định trên cơ sở tính đủ các nhucầu cơ bản về sinh học, xã hội học, về độ phức tạp và mức độ tiêu hao lao độngtrong những điều kiện lao động trung bình của từng ngành nghề, công việc Kháiniệm tiền lương cơ bản được sử dụng rộng rãi đối với những người làm việctrong các doanh nghiệp quốc doanh hoặc trong khu vực hành chính sự nghiệp ởViệt Nam và được xác định qua hệ thống thang bảng lương của nhà nước Trongthực tế người lao động trong khu vực nhà nước thường coi lương cơ bản như mộtthước đo chủ yếu về trình độ lành nghề và thâm niên nghề nghiệp

* Phụ cấp lương

Phụ cấp lương là tiền trả công lao động ngoài tiền lương cơ bản, nó bổsung cho lương cơ bản, bù đắp thêm cho người lao động khi họ phải làm việctrong những điều kiện không ổn định hoặc không thuận lợi mà chưa tính đến khixác định lương cơ bản Ở Việt Nam trong khu vực kinh tế nhà nước, có rất nhiềuloại phụ cấp khác nhau như phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp độc hại nguy hiểm, phụcấp đắt đỏ, phụ cấp khu vực,…Tuy nhiên trong khu vực phi quốc doanh thườngkhông có các loại phụ cấp này Khi trả các mức lương khác nhau cho người laođộng, người sử dụng lao động đã có ý tính đến những sự khác nhau đó Ngoài ratrong thực tế có một số loại phụ cấp khác không phải là phụ cấp lương, cách tínhkhông phụ thuộc mức lương của người lao động như phụ cấp di chuyển, phụ cấp

đi đường,… Phần lớn các loại tiền phụ cấp được xác định trên cơ sở đánh giá ảnhhưởng của môi trường làm việc không thuận lợi đến sức khỏe, sự thoải mái củangười lao động tại nơi làm việc Tiền phụ cấp có ý nghĩa kích thích người laođộng thực hiện tốt công việc trong những điều kiện khó khăn, phức tạp hơn bìnhthường

Trang 23

* Tiền thưởng

Tiền thưởng là một loại kích thích vật chất có tác dụng rất tích cực đối vớingười lao động trong việc phấn đấu thực hiện công việc tốt hơn Thưởng có rấtnhiều loại, trong thực tế các doanh nghiệp có thể áp dụng một số hoặc tất cả cácloại thưởng sau đây:

- Thưởng năng suất, chất lượng: áp dụng khi người lao động thực hiện tốt

hơn mức độ trung bình về số lượng, chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ

- Thưởng tiết kiệm: áp dụng khi người lao động sử dụng tiết liệm các loại

vật tư, nguyên liệu có tác dụng giảm giá thành sản phẩm dịch vụ mà vẫn đảm bảođược chất lượng theo yêu cầu

- Thưởng sáng kiến: áp dụng khi người lao động có các sáng kiến, cải tiến

kỹ thuật, tìm ra các phương pháp làm việc mới,… có tác dụng làm nâng cao năngsuất lao động, giảm giá thành, hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ

- Thưởng theo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chung của doanh nghiệp: áp dụng khi doanh nghiệp làm ăn có lời, người lao động sẽ được chia một

phần tiền lời dưới dạng tiền thưởng Hình thức này được áp dụng trả cho nhânviên vào cuối quý, sau nửa năm hoặc cuối năm tùy theo cách thức tổng kết hoạtđộng của tổ chức

- Thưởng do tìm được nơi cung ứng, tiêu thụ, ký kết hợp đồng mới: áp dụng

cho các nhân viên tìm thêm được các địa chỉ tiêu thụ mới, giới thiệu khách hàng,

ký kết thêm được hợp đồng cho doanh nghiệp,… hoặc có các hoạt động khác cótác dụng làm tăng lợi nhuận cho tổ chức

- Thưởng bảo đảm ngày công: áp dụng khi người lao động làm việc với số

ngày công vượt mức quy định của tổ chức

- Thưởng về lòng trung thành, tận tâm với tổ chức: áp dụng khi người lao

động có thời gian phục vụ trong tổ chức vượt quá một giới hạn thời gian nhấtđịnh; hoặc khi người lao động đã có những hoạt động rõ ràng đã làm tăng uy tíncủa tổ chức

Cách tính tiền thưởng rất đa dạng Thông thường các loại tiền thưởng năngsuất, chất lượng; thưởng tiết kiệm; thưởng sáng kiến và thưởng cho nhân viên tìmđược khách hàng mới, các địa chỉ tiêu thụ mới được xác định bởi tỷ lệ phần trăm

so với phần lợi ích mà nhân viên mang lại cho tổ chức

* Phúc lợi

Các loại phúc lợi mà người lao động được hưởng rất đa dạng và phụ thuộcvào nhiều yếu tố khác nhau như quy định của Chính phủ, tập quán trong nhândân, mức độ phát triển kinh tế, khả năng tài chính và các yếu tố, hoàn cảnh cụ thểcủa tổ chức Phúc lợi thể hiện sự quan tâm của tổ chức đến đời sống của ngườilao động, có tác dụng kích thích nhân viên trung thành, gắn bó với tổ chức Dù ở

Trang 24

Cơ cấu hệ thống trả lương

Thù lao vật chất

Thù lao phi vật chất

Thưởng Phụ cấp

Sự thú vị của C.Việc

Cơ hội thăng tiến

Điều kiện làm việc

Lương cơ bản

Phúc lợi

cương vị cao hay thấp, hoàn thành tốt công việc hay chỉ ở mức độ bình thường,

có trình độ lành nghề cao hay thấp, đã là nhân viên trong tổ chức kinh tế thì đềuđược hưởng phúc lợi Phúc lợi của tổ chức kinh tế gồm có:

- Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y yế, hưu trí, nghỉ phép, nghỉ lễ, ăn trưa dodoanh nghiệp đài thọ, trợ cấp của doanh nghiệp cho các nhân viên đông con hoặc

có hoàn cảnh khó khăn, quà tặng của doanh nghiệp cho nhân viên nhân dịp sịnhnhật, cưới hỏi, mừng thọ cha mẹ nhân viên,…

- Các khoản tiền bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y yế, hưu trí, nghỉ phép,nghỉ lễ thường được tính theo quy định của Chính phủ và theo mức lương củangười lao động Các khoản phúc lợi khác thường được tính đồng hạng, hoặc cóthể tùy thuộc và cấp bậc và chức vụ công việc

Ngày nay khi cuộc sống của người lao động đã được cải thiện rõ rệt, trình

độ văn hóa chuyên môn của người lao động được nâng cao, người lao động đilàm không chỉ có các yếu tố vật chất như lương cơ bản, thưởng, trợ cấp, phúc lợi

mà còn muốn được có những cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp, được thực hiệnnhững công việc có tính chất thách thức, thú vị,… ở một số nước công nghiệpphát triển trên thế giới đã áp dụng khái niệm trả công lao động để bao hàm cả cácyếu tố vật chất lẫn các yếu tố phi vật chất đã mang lại sự thỏa mãn cho người laođộng tại nơi làm việc Như vậy, theo quan niệm này, hệ thống trả công lao động

có cơ cấu như sau:

c Mục tiêu của hệ thống tiền lương

Tiền lương luôn luôn là một vấn đề thách thức nhất cho các nhà quản trịdoanh nghiệp Các doanh nghiệp thường có nhiều quan điểm mục tiêu khác nhaukhi xếp đặt hệ thống trả công, nhưng nhìn chung đều hướng đến 4 mục tiêu cơbản: thu hút lao động, duy trì lao động giỏi, kích thích động viên người lao động

và đáp ứng yêu cầu của luật pháp

d Nguyên tắc trong hệ thống trả lương

Trang 25

Để đảm bảo sử dụng lao động có hiệu quả, khai thác được tiềm năng củangười lao động đúng các quy định của pháp luật và mang tính cạnh tranh caotrong cơ chế kinh tế thị trường, công tác thù lao lao động phải được xây dựngtheo các nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất, nguyên tắc phân phối theo lao động

Thứ hai, kết hợp nguyên tắc phân phối theo lao động với các vấn đề xã hội khác

Thứ ba, nguyên tắc thù lao lao động mang tính cạnh tranh

1.4.2.2 Các hình thức trả lương

Thông thường có 3 hình thức tiền lương chủ yếu áp dụng trong các tổ chứckinh tế: tiền lương thời gian; tiền lương trả theo trình độ, năng lực của nhân viên,gọi tắt là tiền lương trả theo nhân viên; và tiền lương trả theo kết quả thực hiệncông việc (sản phẩm)

a Trả lương theo sản phẩm

- Trả lương sản phẩm trực tiếp cá nhân

Theo hình thức này tiền lương được xác định và trả trực tiếp cho từngngười lao động làm ra sản phẩm, công việc của họ có tính chất tương đối độc lập,

có thể định mức, kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể, riêng biệt

TLtt = ĐGtl x SPtt ĐGtl x SPttTrong đó: TLtt : tiền lương mà người lao động được lĩnh

SPtt : số lượng sản phẩm (bộ phận, chi tiết) thực tế đạt đượcĐGtl : đơn giá tiền lương theo sản phẩm

với: ĐGtl = L/Q (L là lương theo cấp bậc)

hoặc ĐGtl = LxT (T là mức thời gian tính theo giờ)

Ví dụ 1: một công nhân làm công việc bậc 5, mức lương ngày là 40.000

đồng mức sản lượng ca là 5 sản phẩm Vậy đơn giá sản phẩm là: 40.000/5=8.000đồng/sp

Ví dụ 2:một công nhân làm việc bậc 6, mức thời gian để chế tạo một đơn vị

sản phẩm là 8 giờ, mức lương giờ của công việc bậc 6 là 5.315 đồng

Vậy đơn giá sản phẩm là: 5.515 x 8 = 42.492 đồng/sản phẩm

Trong trường hợp muốn trả công theo đơn giá lũy tiến hoặc lũy thoái thìphải xây dựng bảng đơn giá khuyến khích Bảng đơn giá khuyến khích là bảngquy định mức đơn giá tiền lương cho một đơn vị sản phẩm theo các mức năngsuất

Bảng đơn giá được xây dựng theo trình tự sau:

Bước 1: xác định đơn giá tiêu chuẩn dựa trên mức lương cấp bậc và mức lao động.

Trang 26

Ví dụ: mức lương cấp bậc là 5000 đồng/giờ, mức sản phẩm là 100 sảnphẩm/giờ Vậy đơn giá tiêu chuẩn là 50 đồng/sản phẩm.

Bước 2 Xác định mức tiền công tối đa mà tổ chức muốn trả cho người lao động ở mức năng suất tối đa

Mức năng suất tối đa là mức năng suất có thể đạt được bởi không nhiềuhơn 5% số người lao động Việc này nhằm khống chế mức tăng của tiền công vàđảm bảo tính công bằng trong tương quan với các công việc khác

Bước 3 Phân chia các mức đơn giá tương ứng với từng mức năng suất.

Lưu ý khi phân chia các mức tiền lương với đơn giá lũy tiến hay lũy thoáicông ty thường khó giải thích tính hợp lý của nó đối với người lao động, vì thế hệthống này ít được sử dụng Trong hệ thống tiền công với đơn giá lũy tiến, mứctăng của tiền công lớn hơn mức tăng của năng suất lao động Vì thế tổ chức cũngcần cân nhắc khi đưa ra quyết định sử dụng hệ thống này

Ưu điểm của chế độ trả công theo sản phẩm trực tiếp cá nhân là mối quan

hệ giữa tiền công mà công nhân nhận được và kết quả lao động thể hiện rõ ràng,

do đó kích thích công nhân nâng cao năng suất lao động nhằm nâng cao thu nhập.Việc tính toán tiền công đơn giản, công nhân có thể dễ dàng tính được số tiềncông nhận được sau khi hoàn thành nhiệm vụ

Tuy nhiên, chế độ tiền công này có nhược điểm là làm cho công nhân ítquan tâm đến việc sử dụng tốt máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu, ít chăm lođến công việc chung của tập thể,

- Trả lương sản phẩm gián tiếp

Hình thức lương sản phẩm gián tiếp được tính toán và trả cho bộ phận laođộng phục vụ cho lao động trực tiếp sản xuất chính căn cứ vào kết quả đạt đượccủa bộ phận này Công thức: TLtt = TLTG x Hđm

Trong đó:

TLTG: mức lương trả theo thời gian của cá nhân (bộ phận) phục vụ

Hđm : hệ số vượt mức của bộ phận sản xuất chính vượt mức được phụcvụ

- Trả lương theo sản phẩm lũy tiến

Đây là hình thức trả lương theo sản phẩm kết hợp với hình thức tiền

thưởng khi lao động có số lượng sản phẩm thực hiện cao hơn định mức quy định

Công thức xác định: TL=(Q1 x ĐGtl)+(Q1-QO) x P x K

Trong đó:

TL : tổng tiền lương công nhân được lĩnh

Q1 : sản lượng thực tế công nhân sản xuất ra

QO : định mức sản lượng

Trang 27

ĐGtl : đơn giá tiền lương theo sản phẩm

K : hệ số tăng đơn giá tiền lương sản phẩm

Thời gian trả công không nên quy định quá ngắn để tránh tình trạng khônghoàn thành mức hàng tháng Thời gian trả công nên quy định hàng tháng

Đơn giá được nâng cao nhiều hay ít cho những sản phẩm vượt mức khởiđiểm là do mức độ quan trọng của bộ phận sản xuất đó quyết định

Khi dự kiến và xác định hiệu quả kinh tế của chế độ tiền công tính theo sảnphẩm lũy tiến, không chỉ dựa vào khả năng tiết kiệm chi phí sản xuất gián tiếp, cốđịnh và hạ giá thành sản phẩm, mà còn dựa vào nhiệm vụ sản xuất cần phải hoànthành

Áp dụng chế độ trả công này, tốc độ tăng tiền công của công nhân lớn hơntốc độ tăng năng suất lao động Do đó không được dùng nó một cách rộng rãi

- Trả lương theo sản phẩm có thưởng

Chế độ trả công này về thực chất là các chế độ trả công theo sản phẩm kểtrên kết hợp với các hình thức tiền thưởng

Khi áp dụng chế độ tiền lương này toàn bộ sản phẩm được áp dụng theođơn giá cố định, còn tiền thưởng sẽ căn cứ vào trình độ hoàn thành và hoàn thànhvượt mức các chỉ tiêu về số lượng của chế độ tiền thưởng theo quy định

- Trả lương theo sản phẩm tập thể

Chế độ trả công này thường được áp dụng với những công việc cần mộtnhóm công nhân, đòi hỏi sự phối hợp giữa các công nhân và năng suất lao độngchủ yếu phụ thuộc vào sự đóng góp của cả nhóm như lắp ráp các thiết bị, sản xuất

ở các bộ phận làm việc theo dây chuyền, trông nom máy liên hợp Đơn giá ở đâyđược tính theo công thức:

Li : lương cấp bậc của công việc bậc i

Ti : mức thời gian của công việc bậc i

n : số công việc trong tổLtb : lương cấp bậc bình quân của cả tổ

T : mức thời gian của sản phẩm

Ví dụ 1: tổ công nhân A lắp ráp sản phẩm gồm có:

2 công nhân bậc 1 làm công việc bậc 1, với mức lương giờ 1.950 đồng

Trang 28

3 công nhân bậc 2 làm công việc bậc 2, với mức lương giờ 2.160 đồng

3 công nhân bậc 3 làm công việc bậc 4, với mức lương giờ 2.676 đồng

1 công nhân bậc 5 làm công việc bậc 6, với mức lương giờ 3.960 đồngMức sản lượng giờ của cả tổ làm 3 sản phẩm

Vậy đơn giá của sản phẩm là:

(1.950 đ x2+2.160 đ x3+2.676 đ x3+3.960 đ x1)/3=7.465 đồng

Ví dụ 2: nhóm công nhân B lắp ráp sản phẩm có cơ cấu công việc với mức

thời gian như sau: 15 giờ công việc bậc 1 với mức lương giờ là 1.950 đồng; 20giờ công việc bậc 2 với mức lương giờ là 2.160 đồng; 5 giờ công việc bậc 4 vớimức lương giờ là 2.676 đồng

Vậy đơn giá tiền lương của sản phẩm là:

(15 giờ x 1.950đồng) + (20 giờ x 2.160 đồng) + (5 giờ x 2.676 đồng) =85.830 đồng/sản phẩm

Ví dụ 3: Nhóm công nhân C lắp ráp sản phẩm có cấp bậc công việc bình

quân là bậc 4 với mức tiền lương giờ là 2.676 đồng mức thời gian quy định đểhoàn thành 1 sản phẩm là 30 giờ

Vậy đơn giá của sản phẩm là: 2.676 đồng x 30 giờ = 80.280 đồng

Tiền công của tổ công nhân cũng tính theo công thức: TC=ĐGxQtt

Theo chế độ trả công này, vấn đề cần chú ý khi áp dụng là phải phân phốitiền công cho các thành viên trong tổ, nhóm phù hợp với bậc lương và thời gianlao động của họ

Ví dụ 4: Một nhóm công nhân lắp ráp sản phẩm với mức sản lượng là 4 sản

phẩm/ngày Trong tháng tổ lắp ráp được 110 sản phẩm với cơ cấu lao động nhưsau:

1 công nhân bậc 2 làm 170 giờ công việc bậc 2 với mức lương 3.238 đồng/giờ

1 công nhân bậc 3 làm 180 giờ công việc bậc 3 với mức lương 3.668 đồng/giờ

1 công nhân bậc 5 làm 175 giờ công việc bậc 4 với mức lương 4.148 đồng/giờ

1 công nhân bậc 6 làm 160 giờ công việc bậc 5 với mức lương 4.687 đồng/giờ

Chế độ làm việc theo quy định là 8 giờ/ngày và 22 ngày/tháng

Đơn giá 1 đơn vị sản phẩm được tính là:

[(3.238 +3.668 +4.148 +4.687) x 8 giờ]/4 = 31.482 đồng

Tiền công của cả tổ là: 31.482 x 110 sản phẩm = 3.463.020 đồng

Trang 29

Bước 2: xác định hệ số điều chỉnh của tổ bằng cách lấy tổng số tiền thực

lĩnh chia cho số tiền công vừa tính trên

Hệ số điều chỉnh là: 3.463.020 đồng/2.686.520 đồng = 1,289

Bước 3: tính tiền công của từng người

Do tổng số tiền công thực lĩnh của cả nhóm cao hơn 28,9% so với tiềncông lĩnh theo cấp bậc và thời gian làm việc nên tiền công của từng người cũngcao hơn 28,9%

Cụ thể tiền công của từng người là:

Quá trình tính toán như sau:

Bước 1: tính đổi số giờ thực tế của từng công nhân với cấp bậc khác nhau

thành số giờ làm việc thực tế ở bậc 1 để so sánh Muốn thế cần phải biết hệ sốlương ở từng bậc

Trong nhóm công nhân nêu trên, hệ số lương của bậc 2 là 1,14; bậc 3 là1,29; bậc 4 là 1,46; bậc 5 là 1,65 Do đó số giờ thực tế của mỗi công nhân đổi ragiờ bậc 1 là:

- Công nhân bậc 2: 170 x 1,14 = 193,8 giờ bậc 1

- Công nhân bậc 3: 180 x 1,29 = 232,2 giờ bậc 1

- Công nhân bậc 5: 1750 x 1,46 = 255,5 giờ bậc 1

- Công nhân bậc 6: 160 x 1,65 = 264,0 giờ bậc 1

Cộng: 945,5 giờ bậc 1

Trang 30

Bước 2: lấy tổng số tiền công thực tế nhận được chia cho số giờ làm việc

đã tính đổi để biết tiền công thực tế của mỗi giờ bậc 1: 3.643.020/945,5 = 3.662,6đồng

Bước 3: tính tiền công thực lĩnh của mỗi công nhân theo tiền lương cấp bậc

và số giờ đã tính lại:

- Công nhân bậc 2: 3.662,6 x 193,8 giờ = 709.812 đồng

- Công nhân bậc 3: 3.662,6 x 232,2 giờ = 850.456 đồng

- Công nhân bậc 5: 3.662,6 x 255,5 giờ = 935.794 đồng

- Công nhân bậc 6: 3.662,6 x 264,0 giờ = 966,926 đồng

Cộng: 3.462.988 đồng

Chế độ trả công theo sản phẩm tập thể có ưu điểm là khuyến khích côngnhân trong tổ, nhóm nâng cao trách nhiệm trước tập thể, nâng cao kết quả cuốicùng của tổ Song nó có nhược điểm là sản phẩm của mỗi công nhân không trựctiếp quyết định tiền công của họ, do đó ít kích thích công nhân nâng cao năngsuất cá nhân

b Trả lương theo thời gian

Tiền lương theo thời gian là tiền lương thanh toán cho người lao động căn

cứ vào trình độ kỹ thuật và thời gian công tác của họ

Tiền lương trả theo thời gian chủ yếu áp dụng với những người làm côngtác quản lý, văn phòng

Đối với công nhân sản xuất chỉ áp dụng cho những bộ phận không thể tiếnhành định mức một cách chặt chẽ và chính xác Hoặc vì tính chất của sản xuấthạn chế, nếu thực hiện trả công theo sản phẩm sẽ không đảm bảo chất lượng sảnphẩm, không đem lại hiệu quả thiết thực

- Trả lương theo thời gian giản đơn

Chế độ tiền lương theo thời gian giản đơn là chế độ trả lương mà tiềnlương nhận được của mỗi người do mức lương cấp bậc cao hay thấp và thời gianthực tế làm việc nhiều hay ít quyết định

Chế độ tiền lương giản đơn chỉ áp dụng ở những nơi khó xác định mức laođộng chính xác, khó đánh giá công việc chính xác

Nhược điểm của chế độ trả lương này là mang tính bình quân, khôngkhuyến khích sử dụng hợp lý thời gian làm việc, tiết kiệm nguyên vật liệu, tậptrung công suất của máy móc thiết bị để tăng năng suất lao động

- Trả lương theo thời gian có thưởng

Là sự kết hợp giữa chế độ trả công theo thời gian giản đơn với tiền thưởngkhi đạt được những chỉ tiêu về số lượng hoặc chất lượng đã quy định

Ngày đăng: 16/07/2015, 09:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Chu kỳ dự án đầu tư - Baigiang hoạch định ngân sách vốn đầu tư  2015
Sơ đồ 1.1 Chu kỳ dự án đầu tư (Trang 2)
Bảng 1.1: Các giai đoạn của một chu kỳ dự án đầu tư - Baigiang hoạch định ngân sách vốn đầu tư  2015
Bảng 1.1 Các giai đoạn của một chu kỳ dự án đầu tư (Trang 2)
Sơ đồ 1.2: Tác động của môi trường vĩ mô đến dự án đầu tư - Baigiang hoạch định ngân sách vốn đầu tư  2015
Sơ đồ 1.2 Tác động của môi trường vĩ mô đến dự án đầu tư (Trang 3)
Bảng xác định vốn lưu động - Baigiang hoạch định ngân sách vốn đầu tư  2015
Bảng x ác định vốn lưu động (Trang 49)
Bảng kế hoạch đầu tư - Baigiang hoạch định ngân sách vốn đầu tư  2015
Bảng k ế hoạch đầu tư (Trang 52)
Bảng kế hoạch khấu hao - Baigiang hoạch định ngân sách vốn đầu tư  2015
Bảng k ế hoạch khấu hao (Trang 54)
Bảng kế hoạch chi phí hoạt động - Baigiang hoạch định ngân sách vốn đầu tư  2015
Bảng k ế hoạch chi phí hoạt động (Trang 56)
BẢNG XÂY DỰNG DÒNG TIỀN CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ - Baigiang hoạch định ngân sách vốn đầu tư  2015
BẢNG XÂY DỰNG DÒNG TIỀN CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w