1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đề cương Lịch Sử Văn Minh Thế Giới

61 1,3K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 78,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚICâu 1: Những thành tựu chủ yếu của nền văn minh Ai Cập cổ đại.Câu 2: phân tích các hệ phái tư tưởng triết học của Trung Quốc cổ trung đại và sự ảnh hưởn

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚICâu 1: Những thành tựu chủ yếu của nền văn minh Ai Cập cổ đại.

Câu 2: phân tích các hệ phái tư tưởng triết học của Trung Quốc cổ trung đại và sự ảnh hưởng của Nho giáo đến Việt Nam

Câu 3: Phân tích ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ cổ trung đại đến khu vực Đông Nam Á – đặc biệt là đến văn hóa Việt Nam

Câu 4: phân tích những nội dung chủ yếu của đạoPhật ở Ấn Độ cổ trung đại và sự ảnh hưởng của nó đến diện mạo văn minh thế giới Câu 5:anh (chị) hãy nêu những thành tựu của văn minh Đông Nam

Á thời cổ trung đại và phân tích ý nghĩa của quá trình hình thành văn minh nông nghiệp lúa nước

Câu 6:Phân tích vai trò của văn minh Hy Lạp đối với sự phát triển của

Câu 7: Phân tích tính nhân văn của phong trào văn hóa Phục Hưng

ở châu Âu thế kỉ XIV-XVI lịch sửu văn minh thế giới

Câu 8: Phân tích những đặc điểm cơ bản của văn minh Công

nghiệp, liên hệ với quá trình CNH-HĐH ở nước ta hiện nay:

Câu 9: Phân tích những đặc điểm cơ bản của Văn minh Nông

nghiệp, liên hệ với tình hình xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay

Câu 10: Triết lí tư tưởng của đạo Ixlam và vị trí của văn minh Ả Rập trong quá trình phát triển văn minh nhân loại

Trang 2

Câu 1: Những thành tựu chủ yếu của nền văn minh Ai Cập cổ đại

Trên cơ sở công cụ bằng đồng và nền kinh tế nông nghiệp, cư dân Ai Cập cổ đại từ rất sớm đã sáng tạo nên một nền văn minh tinh thần vô cùng rực rỡ, trong đó, những thành tựu chủ yếu là chữ viết, văn học, kiến trúc và các kiến thức khoa học tự nhiên

1 Chữ viết;

Khoảng hơn 3000 nămTCN, người Ai Cập cổ đại đã sáng tạo ra chữ tượng hình

+Muốn chỉ một vật gì thì họ vẽ những nét tiêu biểu của sự vật đó

+ Để diễn tả những khái niệm trừu tượng thì họ mượn ý Ví dụ để diễn

tả trạng thái khát thì họ vẽ ba làn sóng nước và cái đầu bò đang cúi xuống; để nói lên sự công bằng thì họ vẽ lông chim đà điểu ( vì lông đà điểu hầu như dài bằng nhau )

+ Từ chữ tượng hình, sau này người Ai Cập cổ đại đã hình thành ra hệ thống 24 chữ cái

+ Vào thiên niên kỉ II TCN, người Híchxốt đã học cách viết của người

Ai Cập để ghi lại các ngôn ngữ của mình

Trang 3

+ Về sau này, loại chữ viết ấy lại ít nhiều ảnh hưởng tới người Phênixi

và người Phênixi đã sáng tạo ra vần chữ cái A , B

+ Những chữ tượng hình của người Ai Cập được khắc trên đá, viết trên

da, nhưng nhiều nhất là được viết trên vỏ cây sậy papyrus

+ Đây là một loại “giấy” cổ xưa nhất, do vậy ngôn ngữ nhiều nước trên thế giới, giấy được gọi là papes, papier

+ Năm 1822, một nhà ngôn ngữ học người Pháp là Sampôliông

( Champollion ) đã tìm cách đọc được thứ chữ này

=> Ý nghĩa: Người Ai Cập cổ đại có chữ viết từ rất sớm và nhờ hình thành chữ viết này họ đã để lại một di sản văn hóa vô cùng phong phú trên tất cả mọi lãnh vực

2.Văn học

Ai Cập cổ đại có một kho tàng văn học khá phong phú

+ Bao gồm tục ngữ, thơ ca trữ tình, các câu chuyện mang tính chất đại

lý, giáo huấn, trào phúng, truyện thần thoại…

+ Trong số đó, Truyện hai anh em, Nói Thật và Nói Láo, Lời răn dạy của Đuaup, Sống sót sau vụ đắm thuyền v.v…là những truyện tương đối tiêu biểu

3 Tôn giáo:

Người Ai Cập cổ đại theo đa thần giáo, họ thờ rất nhiều thần

Trang 4

+ Ban đầu, mỗi vùng thờ mỗi vị thần riêng của mình, chủ yếu là những

vị thần tự nhiên + Đến thời kì thống nhất quốc gia, bên cạnh những vị thần riêng của mỗi địa phương còn có các vị thần chung như - thần Mặt trời ( Ra ), thần sông Nin (Osiris

+ Người Ai Cập cổ tin rằng con người có hai phần : hồn và xác

= Khi con người chết đi, linh hồn thoát ra ngoài nhưng có thể một lúc nào đó lại tìm về nơi xác ( Họ tin rằng như khi bị ngất , hồn thoát ra ngoài tạm thời )

=>Vì vậy những người giàu có tìm mọi cách để giữ gìn thể xác Kĩ thuật ướp xác vì vậy cũng rất phát triển

+ Đã mấy ngàn năm qua các Kim tự tháp vẫn sừng sững với thời gian

Vì vậy người Ai Cập có câu “ Tất cả mọi vật đều sợ thời gian, nhưng

Trang 5

riêng thời gian phải nghiêng mình trước Kim tự tháp”.

+ Ngoài việc xây dựng các lăng mộ, người Ai Cập cổ còn để lại ấn tượng cho đời sau qua các công trình điêu khắc

+ Đặc biệt nhất là tượng Nhân Sư (Sphinx ) hùng vĩ ở gần Kim tự tháp Khephren + Bức tượng mình sư tử với gương mặt Khephren cao hơn 20m này có lẽ muốn thể hiện Khephren là chúa tể với trí khôn của con người và sức mạnh của sư tử

5 Khoa học tự nhiên :

+ Về thiên văn, người Ai Cập cổ đã vẽ được bản đồ sao, họ đã xác định

12 cung hoàng đạo và sao Thuỷ,Kim, Hoả, Mộc, Thổ

+ Người Ai Cập cổ làm ra lịch dựa vào sự quan sát sao Lang ( Sirius ) + Một năm của họ có 365 ngày, đó là khoảng cách giữa hai lần họ thấy sao Lang xuất hiện đúng đường chân trời

+ Họ chia một năm làm 3 mùa, mỗi mùa có 4 tháng, mỗi tháng có 30 ngày Năm ngày còn lại được xếp vào cuối năm làm ngày lễ Để chia thời gian trong ngày, họ đã chế ra đồng hồ mặt trời và đồng hồ nước.+ Về toán học, do yêu cầu làm thuỷ lợi và xây dựng nên kiến thức toán học của người Ai Cập cổ cũng sớm được chú ý phát triển

+ Họ dùng hệ đếm cơ số 10 Họ rất thành thạo các phép tính cộng trừ, còn khi cần nhân và chia thì thực hiện bằng cách cộng trừ nhiều lần

Trang 6

+ Về hình học, họ đã tính được diện tích của các hình hình học đơn giản;

đã biết trong một tam giác vuông thì bình phương cạnh huyền bằng tổng bình phương hai cạnh góc vuông Pi của họ tính = 3,14

Phân tích các hệ phái tư tưởng triết học Trung Quốc cổ trung đại

Thời cổ trung đại ở Trung Quốc, trong số hàng trăm nhà tư tưởng đương thời, có 4 hệ phái tư tưởng quan trọng nhất, ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa Trung Quốc và văn hóa Việt Nam đó là: Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia

Trang 7

Giáo dục

+hạt nhân tư tưởng Nho gia là “Quốc dân vi bản” Sau này Mạnh Tử phat triển thành mệnh đề”Dân vi quý, xã tắc thứ chi, dân vi khinh”

+hệ thống quy phạm của Nho giáo: Tam cương, ngũ thường, thuyết chính danh

Tam cương là 3 mối quan hệ rường cột của xã hội: thần, Phu-tử, Phu-phụ

Quân-Ngũ thường: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín

Chính danh: người quân tử trải qua 4 giai đoạn (tề gia, trị quốc, bình thiên hạ) và phải đạt đức, đạt đạo và chính danh, nữ(công, dung, ngôn, hạnh)

- Đạo đức: nhân là gốc, là nội dung còn lễ là biểu hiện của nhân

+Nhân: phẩm chất cần có của quân tử, được thể hiện trên 2 phương diên đối với mình và đối với người

+Lễ: những quy phạm đạo đức tốt đẹp thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người

- Giáo dục: mục đích là uốn nắn nhân cách, bồi dưỡng nhân tài

+Phương châm giáo dục”Tiên học lê, hậu học văn”

+Quan niệm “Hữu giáo vô loài”

 Đạo gia: hay còn gọi là đạo Lão Trang

Trang 8

- Người sáng lập: là Lão Tử, người phát triển là Trang Tử.

- Hạt nhân của hệ phái tư tưởng này nằm trong cuốn “Đạo đức kinh” của Lão Tử, lấy “Đạo là khởi thủy của sự sống, là nguồn gốc của vũ trụ”, “Đức là các đặc tính của sự vật, là sự thể hiện của đạo, là quy lật tiến hóa của sự vật”

- Lão Tử đã tìm ra mối quan hệ của Đạo và Đức, dùng đạo và đức để giả thích tính đa dạng và thống nhất của vũ trụ,

nguyên nhân hình thành và biên hóa các hiện tượng tự nhiên Lão Tử nhìn thấy mâu thuẫn xã hội nhưng không chủ trương giải quyết mâu thuẫn mà thường muốn giữ nguyên hiện trạng

“đạo thường vô vi”

- Trang Tử là người hiền nhưng kra làm quan Trang Tử kế thừa học thuyết của Lão Tử, nhưng sai lầm đi quá xa do phủ nhận việc con người dùng sức phá bỏ thiên nhiên, không nên

cố gắng phá bỏ mệnh trời từ đó ông phủ nhận tri thức khách quan, không còn coi đạo là bản thể ngoài ý muốn của con người như Lão Tử mà do chủ quan cua con người tưởng tượng ra Do đó mà sa vào quan niệm duy tâm chủ quan

- Đạo gia là sự hòa hợp học thuyết của Lão Tử và Trang Tử, coi “thên nhiên hợp nhất”, mà dấu ấn rõ nét nhất của nó còn lưu lại trong thi họa Trung Hoa, con người bé nhỏ trước thiênnhiên, đạo người cũng như đạo trời, con người hòa hợp với thiên nhiên Đó là khởi nguồn của chủ nghĩa thư pháp, nghệ thuật bon sai và chủ nghĩa lãng mạn

- Đạo giáo là học thuyết kết hợp giữa các hình thức mê tín dân gian với Đạo gia Gồm 2 trường phái là:

+ Đạo Thái BÌnh do Trương Giác tuyền bá, lấy Thái Bình kinh làm kinh điển

+ Đạo Năm Đấu Gạo do Trương Lăng thanh lập, tôn Lão Tử làm giáo chư, lấy sách Lão Tử làm kinh điển

Trang 9

+ Thuật: là thủ đoạn chế ngự thần dân của bậc quân chủ, quyền mưu của kẻ bề trên, là phương pháp điều hành chính sự.

+ Thế là quyền uy, thế lực

- Quan niệm: “Nhân chi sơ tính bản ác”, xã hội ổn định chỉ cầnchăm lo sản xuất và xây dựng lực lượng hùng hậu, tiến hành chiến tranh, thống nhất thiên hạ, xã hội chỉ cần canh-chiến, lấy nông dân và binh lính làm gốc, hạn chế các lực lượng khác

 Mặc gia

- Người sáng lập: Mặc Tử

- Xuất phát từ lập trường giai cấp Mặc Tử đề xướng 10 điều quan trọng: kiêm ái, phi công, thượng hiền, thượng đồng, tiết dụng, tiết táng, phi nhạc, phi mệnh, thiện chí, minh quỷ Trong đó 4 điểu quan trọng nhất là:

+ Kiêm ái: yêu thương mọi người như nhau, không phân biệt đẳng cấp

+ Phi công: phản đối chiến tranh, nhưng là chiến tranh phi nghĩa, tranh giành quyền lực, thôn tính quốc gia chứ không phải phản đối sự phòng thủ chính nghĩa trừ bọn vô đạo

Trang 10

+ Thượng hiền: quý trọng và đề cử người hiền tài, không phân biệt sang hèn.

+ Thượng đồng: mọi người đều bình đẳng, tam họ ngang thiên tử

1 Sự ảnh hưởng của nho giáo đến Việt Nam:

Nho giáo là hệ phái quan trọng nhất, là cội nguồn nhân đạo của văn hóa Trung Quốc, ảnh hưởng sâu sắc tới kết cấu văn hóa, đặc tính tâm lí và kết cấu luân lí của nhân dân Trung Quốc Không những thế, trong tiến trình lịch sử, thông qua nhiều con đường,đặc biệt vào thế kỉ I TCN Sĩ Nhiếp chính thức đưa Nho giáo vào

ViệtNam, từ đây Nho giáo đã có nhiều ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam:

- Chữ viết: người VN sử dụng chữ viết của Trung Quốc trong hành chính và văn tự sau đó người Việt đã biết sử dụng văn

tự chữ Hán phát triển thành chữ Nôm

- Tư tưởng: người Việt tiếp thu quan niệm của Nho giáo xây dựng tư tưởng văn chương giáo hóa đạo đức, lấy đạo đức là cái cốt của văn chương “Chở bao nhiêu đạo tuyền không khẳm – Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” Người quân tử lấy khí thế, hình mẫu “tùng, cuc, trúc mai” Lòng thương người cũng là tư tưởng chủ đạo trong văn hóa của người VN cũng như người TQ

- Tổ chức: triều đình tập quyền, vua là người đứng đầu

- Nghi thức: thờ cúng tổ tiên, người có công với nước

- Thi cử: khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn”, dùng thi cử để chọn người hiền tài, chế độ trọng văn

Tuy nhiên, người VN không tiếp thu Nho giáo 1 cách thụ động, mà còn cải biến, biến những yếu tố Nho giáo mang đậm màu sắc Vn:

Trang 11

- Tinh thần dân tộc dân chủ mạnh mẽ: Ngô Thì Nhậm, NguyễnTrãi không phò Trần mà phò Lê, Dương Vân Nga khoác áo bào cho Lê Hoàn.

- Trung Quốc: Trung quân, hiếu với cha; VN: Trung với nước, hiếu với dân

- Mối quan hệ vợ chồng trong văn hóa TQ là mối quan hệ 1 chiều (phu xướng, phụ tùy) ở VN nó là mối quan hệ 2 chiều (râu tôm, ruột bầu)

Câu 3: Phân tích ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ cổ trung đại đến khu vực Đông Nam Á – đặc biệt là đến văn hóa Việt Nam (

Văn minh của Ấn Độ có tầm ảnh hưởng rât lớn đối với Đg Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng trên rất nhiều phương diện nhưng tiêu biểunhất trên 5 phương diện sau: chữ viết, văn học, tôn giáo, nghệ thuật, triếthọc và khoa học tự nhiên Đối với Việt Nam thì văn minh Ấn Độ ảnh hưởng sâu sắc và đậm nét đến văn hóa Chăm Pa

a Chữ viết:

* Đông Nam Á:

Ấn Độ là đất nước có chữ viết từ rất sớm ( từ thời cổ đại ) và có đến hơn

3000 con dấu khắc chữ đồ họa dùng ghi âm và ghi vần thời cổ đại Qua đây ta cũng có thể thấy được sự phong phú và đa dạng trong ngôn ngữ của đất nước này Đến ngày nay đất nước này lại lấy cái cơ sở đó mà tiến xa hơn với 20.000 đầy sách/năm, đứng thứ 8 về sách in trên thế giới,đứng thứ 3 về số lượng sách xuất bản bằng tiếng Anh Chữ viết của Ấn

Độ cũng ảnh hưởng sâu rộng tới văn hóa Đông Nam Á là cơ sở hình thành chữ viết Chawmpa, chữ Lào, chữ Thái, chữ Khơme Khi tôn giáo

Trang 12

Ấn Độ trở thành tôn giáo thế giới, chữ viết Ấn Độ trở thành tài sản

chung của nhân loại, vì trước hết nó được sử dụng như một phương tiện

để truyền giáo, sau đó là truyền giáo giá trị văn hóa Đầu công nguyên, khi cần ghi chép các dân tộc Đông Nam Á đã vay mượn chữ Pali-

Sanskrit của Ấn Độ để xây dựng chữ viết của dân tộc mình

* Việt Nam:

Chữ viết Ấn Độ ảnh hưởng chủ yếu đến chữ viết của Chăm Pa Chăm Pa

đã sớm tiếp xúc với nền văn minh Ấn Độ, đã tiếp nhận văn tự Ấn Độ ngay từ ngày lập quốc Văn bia được khắc chữ từ thế kỉ IV đến thế kỉ

XV bằng văn tự Chăm cổ và chữ Sanskrit Nói đến chữ viết Chăm Pa là nói đến chữ Akhar Thrah, một loại chữ được dùng phổ biến cho tới ngàynay Tất cả các kiểu chữ và biến thế của nó hiện nay đều được bắt nguồn

từ chữ viết ở miền Nam Ấn Độ thuộc hệ văn tự Brami

b.Văn học:

* Đông Nam Á:

Ấn Độ có nền văn học đa ngữ, đa tầng phong phú với kho tàng thần thoại kì ảo, những sử thi nổi tiếng và những chuyện cổ giàu triết lý, chất ngụ ngôn đầy trí tuệ pha lẫn sắc màu huyền bí làm nên nét đặc trưng mang tinh thần Ấn Độ

Trong đó phải kể đến sử thi - 1 thể loại đặc trưng và nổi tiếng nhất trong văn học Ấn Độ đã có ảnh hưởng sâu sắc đến văn học của các nước ở khuvực Đông Nam Á Ramayana là 1 trong 2 bộ sử thi của Ấn Độ Nó

không chỉ in dấu ấn sâu đậm trong đời sống của dân tộc này mà còn hóa thân vào Riêmkê của Campuchia, Xỉnxay của Lào, Rama Kiên của Thái Lan, chuyện tình nàng Sita của Việt Nam

* Việt Nam:

Trang 13

Ấn Độ có 2 bộ sử thi đồ sộ là Mahabrahata và Ramayana và đã được dịch ra tiếng Sanskrit vào các thế kỉ đầu công nguyên.Người Chăm pa đãđón nhận 2 bộ sử thi này theo cách tư duy của họ và phù hợp với tâm lí của cộng đồng Văn học Chăm pa khá phát triển với nhiều thể loại

phong phú như: thần thoại, sử thi, truyện cổ, thơ ca, văn xuôi lấy cơ

* Việt Nam:

Nói đến ảnh hưởng của tôn giáo Ấn Độ đến tôn giáo Việt Nam ta có thấy rõ nét nhất qua tầm ảnh hưởng sâu rộng của đạo Phật Đạo Phật được du nhập vào nước ta trong những thế kỷ đầu công nguyên bằng conđường buôn bán của các thương gia người Ấn Độ Qua hàng ngàn năm tồn tại, Phật giáo đã có nhiều đóng góp cho dân tộc trên nhiều phương diện như xây dựng một nền văn hóa hòa giải và nhẹ nhàng, định hướng cho Phật tử Việt Nam có 1 đường sống đúng đắn và mang tính nhân bản sâu sắc Ngày nay nhân loại đang bước vào thời kỳ lịch sử mới với nhiềubiến đổi trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Phật giáo đương đại đangthể hiện nhiều vai trò quan trọng cho " quốc thái dân an" cũng như nó đãđóng góp cho lịch sử dân tộc

d Nghệ thuật:

Trang 14

* Đông Nam Á:

Ấn Độ có nền nghệ thuật phong phú Các công trình nghệ thuật Ấn Độ trong suốt lịch sử là trung tâm hoạt động tôn giáo, vừa là trung tâm văn hóa xã hội của các cộng đồng Nghệ thuật Ấn Độ là sự chung đúc của những tinh hoa âm nhạc- hội họa - điêu khắc- kiến trúc Đông Nam Á là khu vực có nhiều công trình nghệ thuật chịu nhiều ảnh hưởng từ nghệ thuật kiến trúc của Ấn Độ nhất so với các khu vực khác trên thế giới Trước hết ta vẫn thấy là sự sáng tạo của văn hóa Đông Nam Á, sau đó

họ tiếp nhận các phong cách kiến trúc Phật giáo, Ấn giáo, Hồi giáo, Kitôgiáo phương Tây rồi bản địa hóa chúng để sáng tạo nên những nền kiến trúc cổ Chămpa, kiến trúc xứ Ăngkor, kiến trúc xứ Chùa Vàng Mianma, kiến trúc Java- Inđônêxia

* Việt Nam:

Chăm pa cũng đón nhận dòng chảy của nền văn minh Ấn Độ từ biển đông Một điều dễ hiểu là kiến trúc luôn đi cùng với tôn giáo.Như các quốc gia Đông Nam Á cùng chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ, vật liệu cơ bản và chủ yếu để xây dựng đền, tháp là gạch và đá Trên tổng thể thân tháp bằng gạch, những thợ điêu khắc đã chạm trổ hoa văn,

những con vật thiêng liêng của Hinđu giáo.Hình thể của 1 tháp Chăm pa bao giờ cũng thu nhỏ dần khi càng lên cao Trên chóp đỉnh thường đặt 1 Linga Người Chăm pa đã tiếp thi kĩ thuật xây dựng tháp của Ấn Độ, qua bàn tay của kĩ sư Chăm pa các khôi tháp vẫn mang màu sắc của Ấn

Độ nhưng đã trở nên hài hòa, cứng rắn, mạnh mẽ và đầy bí hiểm

e Triết học và khoa học tự nhiên:

Về triết học thì có triết học của Hinđu ảnh hưởng đến tận Đông Nam Á

( em tìm mãi phần này mà không có j đâu)

Trang 15

Ấn Độ đã có những phát minh quan trọng trong khoa học tự nhiên mà ngày nay chúng ta vẫn phải công nhận và tôn trọng những phát minh đó.

Từ thời cổ đại họ đã có lich niên chia ra 1 năm 12 tháng, mỗi tháng có

30 ngày, mỗi ngày có 30 giờ Họ đã giải thích được hiện tượng nhật thực, nguyệt thực, biết được quỹ đạo mặt trăng Từ thế kỷ V TCN, xuất hiện nhiều công trình thiên văn học quan trọng Sitđanta.Ấn Độ có nhiều đóng góp về toán học Họ đã phát minh ra 10 chữ số mà ngày nay nhân loại đang dùng Tư liệu sớm nhất về những số này có trong Sitđanta, trênbia đá thời Ashôka vào thế kỷ III TCN Về sau, người Ả Rập dịch

SitĐanta nên truyền hệ chứ số này sang phương Tây Phát minh ra số 0,

Ấn Độ đã trở thành cái nôi của số học hiện đại Hện số thập phân là 1 đóng góp lớn của Ấn Độ cho toán học thế giới Trong lĩnh vực y học, văn minh Ấn Độ cũng đã khẳng định mình bằng việc đúc kết kinh

nghiệm và tri thức để viết lại 2 cuốn sách có gí trị, đó là Y học toát yếu

và Luận khảo về trị liệu

(Siddharta Gautama), sau khi thành Phật được đệ tử tôn xưng là Xakia Muni (Thích ca Mâuni), con vua Sutđôđana nước Capilavaxtu ở chân núi Hymalaya, miền đất bao gồm một phần miền Nam nước Nêpan và

Trang 16

một phần của Ấn Độ ngày nay.

Năm 29 tuổi, hoàng tử Xitđácta xuất gia đi tu để tìm kiếm con đường cứu vớt những nỗi khổ của loài người Đến năm 35 tuổi, Xitđácta đã nghĩ ra được cách giải thích bản chất của tồn tại, nguồn gốc của mọi khổđau, do đó cho rằng đã tìm được con đường cứu vớt Từ đó, ông được gọi là Buddha, ta quen gọi là Phật hoặc Bụt, nghĩa là "người đã giác ngộ", "người đã hiểu được chân lý"

Về niên đại của Phật, hiện nay đang có những ý kiến khác nhau Có một

số người cho rằng Phật sinh năm 563 và mất năm 483 TCN; một số người khác thì cho rằng Phật sinh năm 624 và mất năm 544 TCN Tín đồPhật giáo lấy năm 544 TCN làm năm mở đầu kỷ nguyên Phật giáo

Khổ đế là chân lý về các nỗi khổ Theo Phật, con người có tám nỗi khổ (bát khổ): sinh, lão, bệnh, tử, gần kẻ mình không ưa, xa người mình yêu,cầu mà không được, giữ lấy 5 uẩn (thủ ngũ uẩn)

"Uẩn (Skandha) là tập hợp, tích tụ Đạo Phật cho rằng con người không

có thực thể tự nó (vô ngã) mà chỉ là sự tập hợp 5 thứ: sắc (vật chất tạo thành thân thể), thụ (cảm giác), tưởng (quan niệm), hành (hành động), thức (nhận thức) Vì con người chỉ là sự tập hợp của 5 thứ đó, nên đó cũng là một nỗi khổ

Như vậy, đối với con người, ngoài khổ đau vô tận, không có cái gì khác

Trang 17

Tập đế là chân lý về nguyên nhân của các nỗi khổ Nguyên nhân chủ yếu

là luân hồi, mà nguyên nhân của luân hồi là nghiệp, sở dĩ có nghiệp là dolòng ham muốn như ham sống, ham lạc thú, ham giàu sang Ham muốnkhông dứt thì nghiệp không dứt, nghiệp không dứt thì luân hồi mãi mãi.Diệt đế là chân lý về sự chấm dứt các nỗi khổ, Nguyên nhân của khổ đau

là luân hồi, vì vậy muốn diệt khổ thì phải chấm dứt luân hồi Muốn chấm dứt luân hồi thì phải chấm dứt nghiệp Đó là một món nợ truyền từkiếp này sang kiếp khác do lòng ham muốn tạo nên, do đó nói vắn tắt muốn chấm dứt luân hồi thì phải trừ bỏ hết mọi ham muốn Một khi đã chấm dứt được luân hồi thì sẽ được yên tĩnh thanh thản, sáng suốt và như vậy đã đạt tới cảnh giới Niết bàn (Nirvana)

Đạo đế là chân lý về con đường diệt khổ tức là phương pháp thực hiện việc diệt khổ Con đường đó gọi là "bát chính đạo" (8 con đường đúng đắn), gồm:

Chính kiến: tín ngưỡng đúng đắn Chính tư duy: suy nghĩ đúng đắn Chính ngữ: nói năng đúng đắn Chính nghiệp: hành động đúng đắn Chính mệnh: sống đúng đắn Chính tịnh tiến: mơ tưởng những cái đúng đắn Chính niệm: tưởng nhớ những cái đúng đắn Chính định: tập trung

tư tưởng ngẫm nghĩ đúng đắn

Chung qui "bát chính đạo" là suy nghĩ, nói năng và hành động đúng đắn

Về giới luật, tín đồ Phật giáo chủ yếu phải kiêng 5 thứ (ngũ giới):

Không sát sinh Không trộm cắp Không tà dâm Không nói dối Không uống rượu Trong số đó, giới luật "không sát sinh" là không được giết người, còn giết các động vật thì luật cấm không khắt khe lắm Phật giáo ban đầu không cấm tín đồ ăn thịt

Tục tín đồ, nhất là các tăng ni phải ăn chay, không được ăn thịt động vật

là do vua Lương Vũ đế ( 502-549) của Trung Quốc đặt ra vào thời kỳ đạo Phật thịnh hành ở nước này.k

Về mặt thế giới quan, nội dung cơ bản của học thuyết Phật giáo là thuyếtduyên khởi Duyên khởi là chữ nói tắt câu "chư pháp do nhân duyên nhi

Trang 18

khởi" nghĩa là "các pháp đều do nhân duyên mà có".

"Pháp" (dharma) là tất cả mọi sự vật, bao gồm cả vật chất và tinh thần Giáo lý của đạo Phật cũng là sự vật nên cũng gọi là "pháp"

Còn nhân duyên là nguyên nhân, nhưng trong đó, nhân là nguyên nhân chủ yếu, duyên là nguyên nhân phụ Ví dụ: Sở dĩ một cái cây có thể nảy mầm và phát triển được là nhờ có hạt giống, đất, nước, khí trời, ánh sáng, trong đó, hạt giống là nhân, đất nước, khí trời ánh sáng là duyên.Như vậy mọi vật đều do nhân duyên hòa hợp mà thành Nhưng duyên khởi do đâu mà có? Học thuyết Phật giáo giải thích rằng duyên khởi do tâm mà ra Tâm là nguồn gốc của duyên khởi thì cũng là nguồn gốc của vạn vật

Do quan niệm duyên khởi sinh ra vạn vật nên đạo Phật chủ trương "vô tạo giả" tức là không có vị thần linh tối cao tạo ra vũ trụ Đây là một nội dung cơ bản mà đạo Phật nêu ra để chống lại đạo Bàlamôn và cũng là một sự khác biệt quan trọng giữa đạo Phật với nhiều tôn giáo khác

Bên cạnh thuyết "vô tạo giả", đạo Phật còn nêu ra các thuyết "vô ngã",

"vô thường"

Vô ngã là không có những thực thể vật chất tồn tại một cách cố định Con người cũng chỉ là sự tập hợp của 5 uẩn sắc, thụ, tưởng, hành, thức chứ không phải là một thực thể tồn tại lâu dài Đây là nội dung thứ hai

mà đạo Phật nêu ra để chống lại đạo Bàlamôn, vì đạo Bàlamôn chủ trương có bản ngã

Vô thường là mọi sự vật đều ở trong quá trình sinh ra, biến đổi, tiêu diệt chứ không bao giờ được ổn định

Như vậy về thế giới quan, tuy đạo Phật ban đầu chủ trương vô thần (vô tạo giả) nhưng chung qui vẫn là duy tâm chủ quan

Về mặt xã hội, đạo Phật không quan tâm đến chế độ đẳng cấp, vì đạo Phật cho rằng nguồn gốc xuất thân của mỗi người không phải là điều kiện để được cứu vớt Mọi người, dù thuộc đẳng cấp nào một khi đã tu hành theo học thuyết của Phật thì đều trở thành những thành viên bình

Trang 19

đẳng của một Tăng đoàn.

Đồng thời đạo Phật mong muốn có một xã hội trong đó vua thì có đạo đức và phải dựa vào pháp luật để trị nước, không được chuyên quyền độc đoán, còn nhân dân thì được an cư lạc nghiệp

Như vậy, đạo Phật ban đầu là một học thuyết khuyên người ta phải từ bỏham muốn, tránh điều ác, làm điều thiện để được cứu vớt chứ không thừa nhận thượng đế và các vị thần bảo hộ, do đó không cần nghi thức cúng bái và cũng không có tầng lớp thày cúng

2 Sự phát triển của đạo Phật ở Ấn Độ

Sau khi Phật tịch, đạo Phật được truyền bá nhanh chóng ở miền Bắc Ấn

Độ Để soạn thảo giáo lý, qui chế và trấn chỉnh về tổ chức, từ thế kỷ III TCN, đạo Phật đã triệu tập 3 cuộc đại hội ở nước Magađa, quốc gia lớn nhất ở Ấn Độ lúc bấy giờ Từ nửa sau thế kỷ III TCN, tức là sau đại hội lần thứ ba, đạo Phật trước tiên được truyền sang Xri Lanca, sau đó truyền đến các nước khác như Myanma, Thái Lan, Inđônêxia

V-Đến khoảng năm 100 sau CN, đạo Phật triệu tập đại hội lần thứ tư tại nước Cusan ở Tây Bắc Ấn Độ Đại hội này thông qua giáo lý của đạo Phật cải cách, và phái Phật giáo mới này được gọi là phái Đại thừa để phân biệt với phái Phật giáo cũ gọi là phái Tiểu thừa

Sự khác nhau chủ yếu giữa hai phái biểu hiện ở các mặt sau đây:

-Phái Tiểu thừa (Hinayana) nghĩa là "cỗ xe nhỏ" hoặc "con đường cứu vớt hẹp" cho rằng chỉ có những người xuất gia đi tu mới được cứu vớt.Phái Đại thừa (Mahayana) nghĩa là cỗ xe lớn hoặc "con đường cứu vớt rộng" thì cho rằng không phải chỉ những người tu hành mà cả những người trần tục quy y theo Phật cũng được cứu vớt

- Phái Tiểu thừa cho rằng chỉ có Phật Thích ca là Phật duy nhất Việc cứu độ chúng sinh chỉ có Phật mới làm được, những người thường

không thể thành Phật

Phái Đại Thừa cho rằng Phật Thích Ca là Phật cao nhất, nhưng ngoài

Trang 20

Phật Thích Ca còn có nhiều Phật khác như Phật A Di Đà, Phật Di Lặc, Phật Đại Dược Sư Phật A Di Đà hiện đang giáo hóa ở cõi cực lạc

phương Tây Phật Di Lặc là vị Phật tương lai sẽ nối nghiệp Phật Thích

Ca để giáo hóa cõi đời này mà sách Phật gọi là cõi Ta bà (Saha) nghĩa là nơi khó chịu đựng Phật Dược Sư ở cõi tĩnh lưu li ở phía Đông thế giới chúng ta Phật Dược Sư thường cứu giúp chúng sinh tai qua nạn khỏi.Hơn nữa phái Đại thừa cho rằng ai cũng có thể thành Phật và thực tế đã

có nhiều người đã đạt đến cõi Phật Đó là các Bồ tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm, Địa Tạng Tuy đã thành Phật, nhưng các Bồ Tát

không nên cõi Niết Bàn mà tự nguyện ở lại cõi trần để cứu độ chúng sinh

- Phái Tiểu thừa quan niệm Niết bàn là cảnh giới yên tĩnh gắn liền với giác ngộ sáng suốt, không còn phiền não khổ đau Phật Thích Ca đã đạt đến cảnh giới Niết bàn vào năm 35 tuổi, sau đó Phật vẫn tiếp tục sống vàhoạt động 45 năm nữa

Phái Đại Thừa thì quan niệm Niết bàn là thế giới của các Phật giống nhưthiên đường của các tôn giáo khác Đồng thời với quan niệm đó, phái Đại Thừa còn tạo ra địa ngục, nơi đày đoạ những kẻ tội lỗi

Phái Đại thừa còn đề cao vai trò của tầng lớp tăng ni, coi họ là những kẻ trung gian giữa tín đồ và Bồ tát

Từ đó tượng Phật được tạc, đúc rất nhiều, nghi thức cúng bái càng phức tạp, hương hoa cũng được sử dụng trong khi cúng Phật

Sau đại hội Phật giáo lần thứ tư, các nhà sư càng được khuyến khích ra nước ngoài truyền đạo; do đó đạo Phật càng được truyền bá mạnh mẽ sang Trung á và Trung Quốc Những thế kỷ tiếp sau đó, đạo Phật suy dần ở Ấn Độ, nhưng lại được phát triển ở phần lớn châu á và đã trở thành quốc giáo của một số nước như Xri Lanca, Mianma, Thái Lan, Campuchia, Lào

Trang 21

3,Ảnh hưởng của Đạo Phật tới diện mạo văn minh Thế giới:

Phật giáo được công nhận là tôn giáo vĩ đại nhất trên Thế giới, có ảnhhưởng sâu sắc đến diện mạo của nền văn minh nhân loại Số lượng tín

đồ Phật giáo ước lượng với nhiều con số khác nhau giữa 200 đến 500 triệu¸ ý kiến của phần lớn chấp nhận là khoảng 360 triệu, ( 6 phần trăm dân số Thế Giới) Theo sự thống kê này, Phật giáo là tôn giáo đứng hàngthứ 4 trong số tôn giáo có tín đồ đông nhất trên Thế giới Đạo Phật có ảnh hưởng rất sau rộng tới Đông Nam Á Vượt qua cao nguyên Tây Tạng, Phật giáo xâm nhập vào Trung Quốc, Mông Cổ, Triều Tiên, Nhật Bản…hoặc nguyên dạng, hoặc đã phân nhánh Tiểu Thừa- Đại Thừa, hoặc dưới hình thức đạo Lát ma, thờ tượng Phật và rao giảng lối sống tu hành Về căn bản tư tưởng bình đẳng bác ái của đạo Phật không phù hợpvới xã hội Ấn độ vốn bị quan niệm đẳng cấp và tín ngưỡng đa thần ăn sâu vào tiềm thức, nhưng lại phù hợp với khát vọng chung cuat các dân tộc trên Thế giới Phật giáo là một cống hiến lớn của Ấn độ cho văn minh tinh thần nhân loại

Câu 5:anh (chị) hãy nêu những thành tựu của văn minh Đông Nam

Á thời cổ trung đại và phân tích ý nghĩa của quá trình hình thành văn minh nông nghiệp lúa nước.

*Thành tựu văn minh Đông Nam Á

Cư dân ĐNA lấy sản suất nông nghiệp lúa nước làm phương thức hoạt động kinh tế chủ yếu Do đó không chỉ có những nét tương đồng về canhtác và hệ thồng thủy lợi, mà đến các phong tục tập quán ít nhiều cũng chịu ảnh hưởng của của nền nông nghiệp lúa nước

- Trước khi các tôn giáo được truyền bá vào ĐNA, cư dân nơi đây đã dùng thuyết “vạn vật hữu linh” để chỉ tất cả những hình thức tín ngưởng.Trong đó sớm nhất là bái vật giáo với những ý niệm về sức mạnh siêu nhiên của tự nhiên

Trang 22

Quan niệm “vạn vật hữu linh” đã tồn tại trong các tín ngưỡng dân gian

và có tác động không nhỏ đến các tôn giáo được truyền bá vào và một phần làm biến dạng nó, biến nó thành cái của mình: như Ăng co vát ở Campuchia, Bánh xe luân hồi bằng đá ở Thái Lan,

- Khác với văn hóa chữ viết của người Hán và Ấn Độ, văn hóa cư dân nông nghiệp ĐNA tắm mình trong nền văn hóa dân gian Tín ngưỡng, lễ hội gắn liền với chu ký nông nghiệp, thờ cúng tổ tiên Cơ cấu của lễ hội bao gồm hai phần đó là Lễ và Hội đan xen hòa quyện vào nhau rất

khăng khít, Ngoài ra lễ hội khu vực ĐNA còn mang tính chất thống nhấtcao như Tết cổ truyền ở các nước đều có với hình thức gần giống nhau

và thời điểm cũng tương đương nhau

-Qua các văn bia người ta biết rằng ĐNA cổ xưa đã sử dụng chữ viết đươc du nhập từ Ấn Độ là chính Tuy nhiên trong quá trình lịch sử lâu dài việc sang tạo ra chữ viết và quá trình cải tiến nó của các cư dân ĐNAkhông phải là một sự bắt chước đơn giản mà là cả một quá trình công phu và sang tạo, một thành tựu đáng kể về văn hóa của khu vực

Nền văn học dân gian của các dân tộc ĐNA cũng rất phong phú và đa dạng về thể loại đó là những truyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, ngụ ngôn, truyện trạng…mặc dù có chịu ảnh hưởng của vănhọc Hán và Ấn Độ song văn học ĐNA vẫn mang được bản sắc riêng.Ngoài ra văn hóa ĐNA còn rất nhiều bản sắc riêng biệt nữa như: Chiếc nhà sàn, Thích múa hát tập thể, hát đối…

*ý nghĩa của quá trình hình thành nền văn minh nông nghiệp lúa nước

Quá trình chuyển biến từ nền kinh tế phụ thuộc vào săn bắn hái lượm của thời công xã nguyeen thủy tiến lên nền kinh tế dựa trên cơ sở trồng trọt,chăn nuôi,trồng luas nước là một bước tiến vĩ đại của nhân loaị.Tưf khi nền nông nghiệp lúa nước được xác lập nó đã thúc đẩy quá trình khaikhẩn vùng đầm lầy ven song ,ven biển và vùng châu thổ bên các dòng song để tạo nên những cánh đồng màu mỡ trồng lúa nước

Trang 23

Khác với các nước phương Tây hoặc Bắc Trung Hoa thời cổ (bữa ăn thiên về thịt), bữa ăn của người Việt, thịt hầu như vắng bóng, để nhườngcho thủy sản, nhất là cá Đã đành người Việt thích ăn thủy sản, nhất là

cá, song, người dân còn đặc biệt thích thứ nước chấm được làm từ cá, đó

là nước mắm Không có nước mắm, bất thành bữa cơm Việt Người Việt

đi đâu cũng mang theo nước mắm để ăn cơm, và họ đã lan tỏa cái văn hóa nước chấm đặc biệt này qua biên giới Việt, khiến một số người nướcngoài cũng nghiện nước mắm, như nghiện phở Việt Khi dịch những từ này, các dịch giả thấy tốt nhất là để từ nguyên, không dịch và cũng

không để dấu: nuoc mam Viet, pho Viet…

Song, trong hàng trăm năm giao lưu với phương Tây, riêng về ẩm thực, người Việt cũng chịu ảnh hưởng từ phương Tây trong cách ăn uống, nhưmột tích hợp văn hóa Đông-Tây lành mạnh Một số người còn bị “Tây hóa”, chỉ thích ăn cơm và uống rượu Tây, mà từ khước rượu ta (rượu gạo nấu theo cách thủ công), nước chè, nước vối, nước ngô Bánh mỳ, patê, súp, xúc xích, bơ, sữa, các món quay, món nướng, các loại rượu mạnh, rượu vang… là cách ăn uống đã bước vào Việt Nam hàng trăm năm nay Hiện, chúng thâm nhập vào bữa cơm Việt một cách tự nhiên Bữa ăn Việt đang biến tấu rất nhanh theo sinh hoạt hiện đại, bắt nhịp theo trào lưu ẩm thực thế giới với những món ăn nhanh

Vấn đề ẩm thực của người Việt hiện đại, từ đó, đã đặt ra những bài toán cần giải quyết, khi người dân bị ngộ độc thực phẩm, hoặc ăn nhiều thịt đến mức béo phì, đẩy cơm ra khỏi vị trí cơ bản của bữa cơm Việt hay lạitheo về những món đồng quê truyền thống, và coi đó là đặc sản của ẩm thực hiện đại Vì vậy, văn hóa ẩm thực Việt hiện đại cũng đang đặt ra những thách thức cho sự phát triển

-con người chọn cây láu nước là loại cây lương thực chủ yếu đã thúc đẩy

cố kết cộng đồng,đẩy mạnh quá trình tụ cư thành những làng xóm ven sông ven biển

Trang 24

-cây lúa nước đã trở thành cây lương thực chiến lược,là tiền đề cho sựu phát triển dân số,ổn định cuộc sống

-văn minh nông nghiệp lúa nước đã thúc đẩy quá trình hình thành nền văn hóa nông nghiệp với những đặc điểm tiêu biểu là bám đất,bám

làng,tự túc,tuự cấp ,hướng nội và khép kín

Câu 6:Phân tích vai trò của văn minh Hy Lạp đối với sự phát triển của

*Vai trò của nền văn minh Hy Lạp được thể hiện nhuwgx thành tựu văn minh mà Hy Lạp đóng góp cho thế giới:

+Chữ viết

 Chữ viết Hy Lạp đã xuất hiện từ thời Crét- Misen, Bằng chứng là hàng ngàn tấm đất sét được tìm thấy cuối thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX

 Chữ tượng hình là loại chữ cổ nhất Hy Lạp, chữ có dạng thứcđơn giản được cấu tạo bởi 1 số đường nét ngắn ngọn, khá đềuđặn, hình thon dài Khi văn minh Crét lụi tàn thành Misen bị phá hủy, chữ viết sơ khai ấy trở thành tử ngữ

 TK VIII TCN người Hy Lạp giao lưu buôn bán với người Phoenica, họ đã tiếp thu hệ thống chữ viết của người Phoenica mà sáng tạo nên hệ thống chữ viết của mình gồm

40 chữ cái

 Năm 430 TCN hệ thống chữ viết được chấp nhận ở Aten Người Aten rút gọn từ 40 chữ còn 27 chữ và sau này chỉ còn

24 chữ

Trang 25

Giơí nghiên cứu đánh giá đây là bảng chữ cái đầu tiên và lâu đời, nó được sử dụng cho đến ngày nay, mặc dù 1 số kí tự đã được lược bỏ

Chữ viết Hy Lạp là nền tảng cho nhiều bảng chữ cái khác ở Châu Âu và Trung Đông, bao gồm cả bảng chữ cái La-tinh Chữ cái Hy Lạp còn được dùng cho các biểu tượng toán học ( α,β, ), vật lý học, tên các ngôi sao hay các cơn bão nhiệt đới,…

 Nôi dung thần thoại Hy Lạp có tính chất:

- Hiện thực: Phản ánh toàn bộ đời sống vật chất tinh thần của người Hy Lạp

- Triết lý: Dù các câu chuyện thấm đẫm thế giới quan thần linh nhưng giải thích các sự vật đều bắt nguồn

từ hiện thực và chủ nghĩa duy vật thô sơ

- Nhân văn: Thần linh chỉ là bệ phóng để ca ngợi vẻ đẹp con người từ tâm hồn đến trí tuệ Phân biệt rõ thiện ác đúng sai, thần đại diện cho điều thiện, yêu ghét rạch ròi Thể hiện ước mơ của nhân dân về 1 cuộc sống an nhàn, hạnh phúc

Khác với người phương Đông sùng kính linh thiêng với các vị thần , người Hy Lạp chỉ tôn kính suỗng sã với thần linh Mặc dùcác vị thần có sức mạnh siêu nhiên có phép thần thông biến hóa

Trang 26

nhưng họ cũng biết ghen tuông thù hận, cũng vụng trộm ái tình, cũng đố kị trả thù,…Thần thoại Hy Lạp cung cấp cho văn hóa thế giơí vô số điển tích nghệ thuật, cung cấp cảm hứng sáng tạo cho tất cả các lĩnh vực.

 Sử thi Ô-đi-xê ( 12 110 câu) thuật lại hành trình trở về quêhương của Uy-lít-xơ cùng đoàn dũng sĩ của mình Bài ca

ca ngợi trí tuệ, tài năng của con người, tình cảm vợ chồng thủy chung cùng khát vọng khám phá vùng đất mới

+ Kịch

Kịch có 1 vị trí đặc biệt trong đời sống Hy Lạp cổ đại và nó đặt nền móng cho kịch thế giới, Hoạt động sân khấu có quy mô cực hoành tráng: có sân khấu ca múa hóa trang với sức chứa 44 nghìn người ở Mê-ga lô-pô-lít, trung tâm Pê-lô-pô-ne-dơ

Các kịch gia lỗi lạc là:

+Etstin: Được coi là ông tổ của bi kịch sáng tác 90 vở kịch, nay chỉcòn lại 7 vở, nổi tiếng nhất là vở “Prô-mê-tê bị xiềng” : Khai thác con người chịu sự quyết định của thần linh

+Xô-phốc-lơ: - Được mệnh danh là “Hô-me của nghệ thuật kịch”, tác phẩm của ông phản ánh thời hoàng kim của Hy Lạp dân chủ Ông nổi tiếng bởi tài năng sáng chói cả về sáng tác kịch lẫn diễn xuất, lại hiểu biết sâu sắc vũ nhạc, có uy tín trong hoạt động chính trị

Trang 27

- Ông sáng tác 123 vở kịch nay chỉ còn 7 vở, nổi bật là “ E-đíp làm vua”

- Đề tài kịch của Xô-phốc-lơ cũng lấy cảm hứng từ thần thoại nhưng nội dung phản ánh hiện thực sâu sắc, ca ngợi ý chí conngười đấu tranh kiên cường chống lại sự quyết định của thần linh

+ Ơ-ri-pít: - Xuất hiện muộn hơn, sinh ra trong thời kì dân chủ suy tàn

- Sáng tác của ông được coi là bách khoa toàn thư của Hy Lạp

cổ đại nhưng đánh giá này chỉ được xác nhận sau khi ông quađời

- Ơ-ri-pít sáng tạo ra kịch tâm lý với khoảng 92 vở kịch nhưng nay chỉ còn 8 vở kịch và 1 vở hài kịch Tiêu biểu là Mê-đê

- Kịch của Ơ-ri-pít cũng xoáy vào chủ đề số phận nhưng số phận ở đây không đồng nghĩa với thế lực thần linh mà là kết quả của sự thôi thúc tình cảm sự đấu tranh giữa tình cảm cao thượng và thấp hèn Chính vì thế, có thể nói Ơ-ri-pít là người sáng tạo ra kịch tâm lý xã hội, là bậc tiền bối và là thầy của Sếch-xpia

+ Triết học

Các nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại đã đặt ra những vấn đề muôn thuởmang tính nhân loại vĩnh hằng: cuộc đấu tranh của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật, bản chất của sự tồn tại về quan hệ của con người với thế giới Triết học Hy Lạp là 1 đóng góp rất quan trọng cho nền triết học thế giới với các triết gia lỗi lạc như:

Triết học duy vật

 Hê-ra-clit: Nhấn mạnh sự vận động của vật chất thông qua sự đấu tranh của các mặt đối lập

Trang 28

 Đê-mô-crit: Thế giới vật chất được cấu tạo từ các hạt nhỏ nhất Chống lại tư tưởng của các thần, coi các thần chỉ là 1 hiện tượng tự nhiên.

Triết học duy tâm

 Xô-crat: Người phát minh ra phép biện chứng, đưa ra con đường tìm kiếm chân lý qua đối thoại

 Pla-tôn: Sáng lập ra học viện Aten

 A-rít-tốt: Là bộ bách khoa toàn thư của người HyLạp:

về mặt triết học A–rít-tốt là nhà nhị nguyên luận, vừa duy vật vừa duy tâm

+ Khoa học tự nhiên: toán học, vật lý, thiên văn học

 Ta-lét: Phát minh quan trọng là tỷ lệ thức và nhiều định lý quan trọng toán học Trong lĩnh vực thiên văn học ông đã tiên liệu đúng hiện tượng nhật thực

 Py-ta-go: Định lý Pytago quan hệ 3 cạnh của tam giác vuông.Ông cho rằng trái đất quay theo quỹ đạo nhất định

 Ác-si-mét: Là nhà toán học vĩ đại thời cổ đại và là người vĩ đại trong mọi lĩnh vực: là nhà vật lý, phát minh, thieen văn học nổi tiếng người Hy Lạp Ông tìm ra trị ssoos căn bậc 2, căn bậc 3 khá chính xác

Tóm lại: Nền văn minh Hy Lạp cổ đại phát triển rực rỡ đạt

được nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực chính những thành tựu

đó đã góp phần vào sự phát triển thế giới…

Câu 7: Phân tích tính nhân văn của phong trào văn hóa Phục Hưng ở châu Âu thế kỉ XIV-XVI

1.tính chất cách mạng, khoa học tiến bộ

-phong trào phục hưng chính là cuộc cách mạng văn hóa vĩ đại mà ngườicầm đầu là giai cấp tư sản tiến bộ đang lên với nội dung làm sống lại những truyền thông tốt đẹp của văn minh Hy-Lạp.phát huy những truyền

Trang 29

thống đó cho phù hợp với yêu cầu lịch sử hiện tại, chân trọng đề cao conngười, đấu tranh cho tự do của con người hướng về cổ đại để học tạp ánh sáng nhân văn cao cả và tinh thần khoa học dân chủ……

2 tính nhân văn của phong trào phục hưng:

Tính nhân văn được thể hiện rõ trong những thành tựu văn minh bao gồm những thành tựu chính la: giá trị nhân văn ,văn học, nghệ thuật kiếntrúc, khoa học tự nhiên

*Giá trị nhân văn

-đề cao giá trị của con người,ca ngợi tình yêu, tự do cá nhân,sự phát triển của tư tưởng, trí tuệ con người và ca ngợi đẳng cấp thứ 3 Chống lễ giáo phong kiến phản đọng lỗi thời và giáo lý hà khắc của nhà thờ đã đạp lên nhân phẩm của con người,kìm hãm sự phát triển của nhân loại

Vì vậy con người trở thành trung tâm của văn học , nghệ thuật,khoa học với vể đẹp và trí tuệ vô song, sánh tựa thần linh

Ý nghĩa nhân văn: thần khúc là hành trình thể hiện niềm tin mãnh liệt vào ty và trí tuệ của con người hướng con người đến chân, thiện , mỹ.+ tiểu thuyết: đại diện của văn học pháp thời phục hưng là :ph.Rabơle tiểu thuyết tiêu biểu nhất của ông là Gácgăngtoa và pangtaguyen 5 tập

Trang 30

được dánh giá là bách khoa bát hủ của nền phục hưng pháp, gạch nối vĩ đại giữa 2 thể loại sử thi và tiểu thuyết

_ chủ nghĩa nhân văn trong sáng tác của Ph Rabole k chỉ chủ trương chocon người dk quyên hưởng thụ mọi lạc thú trên đời mà còn lên án,đả kích một cách gay gắt sự tàn bạo, dốt nát,sự giả nhân giả nghĩa của tầng lớp giáo sĩ và quý tọc phong kiến

Tiểu thuyết: Đôn kihôtê của xecvan téc gồm 126 chương Dựng lại đầy

đủ xã hội Tây Ban Nha thế kỷ XVI ồn ào, náo nhiệt, đầy mâu thuẫn và biến động thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa phong kiến lên chủ nghĩa tư bản, biểu dương chính nghĩa và đạo dức trong sáng đòi chính nghĩa và lẽ phải

+kịch: một thiên tài tiêu biểu là Sếchxpia(1564-1616) sáng tác của ông

đã đi vào kho báu van hóa thế giới và giữu vị trí đặc biệt trong lịch sử tinh thần.Sếch xpia đã đưa kịch lên đỉnh cao của sự hoàn mỹ

Với 20 năm cầm bút ng nghệ sĩ này đã để lại 40 vở kịch, 2 bản trường

ca, 154 bài thơ, nhưng vở kịch tiêu biểu là; Rômêô và Juliet, Hămlét, Vua Lia, ng lái buôn thành vơnihio

*nghệ thuật:

Thời phục hưng nghệ thuật phát triên rực rỡ hơn bao giờ hết tách

ra thành 3 bộ môn đọc lập: kiến trúc,điêu khắc, hội họa

-Mikenlănggiêlô là nhà điêu khắc kiến trúc sư, nhà thơ

những tác phẩm để đời của ông là: tượng Maria và chúa gieessu, tượng Đavít với lòng tin tuyệt đối vào con ng.là biểu tượng của Phlorenxo

-bức tranh sáng tạo thế giới rộng 13m, dài 40m 343 nhân vật dk Mikenlănggiêlô vẽ trong 4 năm

-Ý nghĩa nhân văn,

Ngày đăng: 09/07/2015, 17:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w