1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

Critical thinking for student vnese

104 845 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 646,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức tầm quan trọng của lập luận Tranh luận, giải thích và tổng kết Đưa ra lý do phù hợp với kết luận Bài tập Nhận dạng những lý do và kết luận Kiểm tra vai trò của lý do Trình bày

Trang 1

Roy Van Den Brinkbudgen

Critical Thinking for Students:

Learn the Skills of Critical Assessment and Effective Argument

[BẢN DỊCH CHƯA HOÀN CHỈNH CHỈ LƯU HÀNH NỘI BỘ DÀNH CHO K55XHH]

Cuốn sách được chia sẻ bởi một giáo viên tại Đại học Hoa Sen

Publication Date: November 15, 2000 | ISBN-10: 1857036344 | ISBN-13: 978-1857036343 | Edition: 3rd

Revised and updated for the third edition, this practical guide covers critical thinking skills for students, including: how to develop good arguments, how to evaluate other people's arguments, and how to deal with assumptions and the use of evidence

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Kể từ lần xuất bản đầu tiên vào năm 1996 của cuốn sách này, môn học Tư Duy Phản Biện (Critical Thinking) đã không ngừng phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ Đây là một môn học mà trước đây hầu hết các giáo viên (và cả các sinh viên) chưa từng được nghe đến nhưng đến nay nó đã được hàng ngàn người ở hàng trăm các trường trung học, cao đẳng và đại học chú tâm nghiên cứu, sự phát triển của Tư Duy Phản Biện là một sự kiện đáng lưu ý Với hàng chục ngàn bản đã được bán ra, giáo trình này đã có một đóng góp đáng kể vào sự phát triển của môn học, và đó chính là sự khích lệ lớn lao đối với tôi

Giáo trình này sẽ giới thiệu cho bạn những kỹ năng cơ bản của Tư Duy Phản Biện Đặc điểm chính của môn học này là nghiên cứu về những lập luận: làm cách nào

để phân tích và đánh giá những lâp luận này Hầu như ở đâu chúng ta cũng thấy xuất hiện những lập luận Chúng có mặt trong các quảng cáo, cùng với lời đề nghị nên mua một món hàng mà người ta giới thiệu vì những lý do nhất định nào đó (chẳng hạn, 68% trong số 42 người phụ nữ đều nói rằng các nếp nhăn hầu như biến mất sau hai tuần sử dụng loại mỹ phẩm „Vĩnh biệt nếp nhăn – No More Wrinkles‟) Báo chí cũng thường dùng những lập luận nhằm thuyết phục chúng ta tin vào những điều mà họ đưa

ra (chẳng hạn, chúng ta nên ủng hộ đề nghị xin cấp chứng minh nhân dân bởi vì chứng minh nhân dân sẽ giúp làm giảm thiểu vấn đề tội phạm) Tất nhiên, chính chúng ta cũng phải sử dụng những lập luận nhất định nào đó trong hoạt động hàng ngày của mình: “Tôi không đồng ý với bạn bởi vì…”

Việc xem xét một cách rõ ràng những điều đang diễn ra trong một lập luận là một kỹ năng rất hữu ích Nó có thể giúp bạn nghiên cứu khá kỹ càng bất kỳ đề tài nào, giúp bạn xem xét những chứng cứ và những yêu cầu được thiết lập xung quanh nó Nó cũng khuyến khích bạn tìm kiếm những lý giải tương ứng cho các chứng cứ, và xem xét xem những lý giải này có tác động gì đến lợi thế trong lập luận của người nói hay không Bằng cách này hay cách khác, Tư Duy Phản Biện có thể giúp bạn trở nên năng động hơn trong những nghiên cứu của mình Hơn nữa, môn học này đem lại một kỹ năng rất hữu ích Bạn có thể sử dụng nó để xem xét các vấn đề trong những lập luận của riêng mình và của những người khác

Trang 3

Nếu nghiên cứu Tư Duy Phản Biện để đánh giá trong thi cử, thì giáo trình này

sẽ thực sự có ích để giới thiệu với bạn những kỹ năng mà bạn sẽ cần Nếu bạn muốn tìm một quyển sách về Tư Duy Phản Biện dễ hiểu, dễ tiếp cận và ngắn gọn, thì giáo trình này sẽ phù hợp với những yêu cầu của bạn Nếu bạn dự định đi thi trắc nghiệm như TSA, BMAT, LNAT, thì giáo trình này sẽ giúp bạn chuẩn bị hiệu quả nhất để đối phó với những tình huống đó

Thoạt đầu khi viết giáo trình này, tôi phải công nhận là các con tôi phải chịu trận nhiều Tuy nhiên, càng lớn chúng càng chúng càng có khuynh hướng tranh luận nhiều hơn, giờ thì tôi lại phải cám ơn các cháu của tôi về sự chịu đựng của chúng Hy vọng, môn học Tư Duy Phản Biện sẽ phát triển và có ảnh hưởng mạnh hơn nữa đối với các thế hệ sinh viên Xin cảm ơn Daisy, Darcey, Eleanor, Hannie, Martha, Noah, Ruby

và Thomas, những người đã đóng góp cho sự phát triển của môn học Tư Duy Phản Biện Mặc dù trong số trên có người tóc đã bạc nhưng vẫn nỗ lực làm cho môn học này ngày càng phát triển hơn nữa

Roy Van den BrinkBudgen

Trang 4

Nhận thức tầm quan trọng của lập luận

Tranh luận, giải thích và tổng kết

Đưa ra lý do phù hợp với kết luận

Bài tập

Nhận dạng những lý do và kết luận

Kiểm tra vai trò của lý do

Trình bày cấu trúc của lập luận dưới dạng sơ đồ

Phân biệt câu lý do với những câu khác

Quyết định rút ra kết luận

Bài tập

Tìm hiểu thêm những kết luận trong một lập luận

Khắc phục những khiếm khuyết khi nêu lý do

Sử dụng phép loại suy

Bài tập

Điều kiện cần và đủ

Nhầm lẫn giữa nguyên nhân và kết quả

Công kích người tranh luận chứ không phải lập luận

Lẩn quẩn

Giảm thiểu xu hướng tuột dốc

Xuyên tạc quan điểm của người đối lập

Ngộ nhận (Hai sai thành một đúng)

Giới hạn những giải pháp

Thực hiện những lời kêu gọi không xác đáng

Trang 6

CHƯƠNG 1

Nhận dạng những lập luận

THUYẾT PHỤC VÀ TRANH LUẬN

Nếu người ta yêu cầu bạn phát biểu xem “lập luận” là gì, thì có lẽ bạn sẽ dùng những

từ đại khái như “sự bất đồng” hay “sự tranh cãi” để lý giải cho nó Ví dụ sau đây sẽ phù hợp với cách mô tả này:

Tôi không thể hiểu được khi nghe người ta nói rằng người hút thuốc không được phép hút ở những nơi công cộng Tôi nghĩ, mọi người đều được phép hút thuốc ở bất kỳ nơi nào

Trong ví dụ này, rõ ràng người nói diễn tả sự bất đồng Lập luận này có thể giúp chúng

ta hiểu được quan điểm của những người muốn giới hạn quyền của những người hút thuốc Bạn có thể nêu ra những ví dụ khác từ những bất đồng đơn giản giữa bạn bè với nhau cho đến những bất đồng phức tạp hơn như những bất đồng giữa các đảng phái chính trị

Tuy nhiên, trong tư duy phê phán, từ “lập luận” có ý nghĩa sâu hơn, không chỉ dừng lại ở “sự bất đồng” Bất đồng vẫn chưa đủ mà phải có một nỗ lực để thuyết phục người khác để họ thấy rằng luận điểm này thích hợp hơn luận điểm kia Trở lại với ví

dụ đầu tiên, người nói làm cách nào để thuyết phục chúng ta khi cho rằng “mọi người đều được phép hút thuốc ở bất kỳ nơi nào”?

Câu trả lời thật đơn giản: không thể thuyết phục được

Thuyết phục bằng cách nêu những lý do

Người nói ở ví dụ đầu tiên bất đồng nghiêm trọng với những ai cho rằng không được phép hút thuốc ở nơi công cộng Cho dù người ta có nói gì đi nữa thì không có gì làm cho bạn thay đổi quan điểm của mình về một chủ đề nào đó Tuy nhiên, hãy xem xét

kỹ ví dụ sau:

Mọi người đều được phép hút thuốc ở bất kỳ nơi nào Hút thuốc không trái luật,

Trang 7

và hàng triệu người cảm thấy thích thú việc hút thuốc

Như vậy, sự khác biệt nằm ở chỗ nào? Như bạn thấy, người nói giờ đây đã đưa ra cho chúng ta hai lý do để giải thích tại sao “người ta lại được phép hút thuốc ở bất kỳ nơi nào” Lý do thứ nhất, hút thuốc không trái luật; lý do thứ hai, hàng triệu người thích hút thuốc Cho dù bạn có đồng ý với những lý do này hay không, thì cái chính vẫn là,

trong ví dụ thứ hai này người nói đang cố gắng thuyết phục người khác Cố gắng vượt

qua sự bất đồng đơn giản

Ví dụ này cũng gợi ra cho chúng ta một hướng giải quyết, đó là, vẫn chưa có đầy đủ cơ sở để nói rằng bạn bất đồng Mặc dù vẫn chưa thuyết phục được bạn nhưng những lý do mà người nói đưa ra ít nhất cũng đã được người khác công nhận Để giải quyết một lập luận, bạn phải đưa ra những lý do của riêng mình Nói cách khác, lập luận này phải được giải quyết bằng một lập luận khác

Như vậy, từ đầu đến giờ chúng ta đã thiết lập được những vấn đề gì?

 Phải nêu lý do trong cách lập luận

 Lập luận phải hướng đến việc thuyết phục người khác

Bạn có thể nhận thấy rằng lập luận của người có tư duy phê phán không phải là cố gây

áp lực để bắt người khác chấp nhận một luận điểm nhất định nào đó Họ không đưa ra những mệnh lệnh mang tính ép buộc để xem xét các vấn đề theo kiểu một chiều mà xem xét nó dưới góc độ đa chiều Hơn nữa, họ còn thiết lập những lý do theo cách này, nếu bạn chấp nhận những lý do đó, thì chắc chắn bạn sẽ bị thuyết phục bằng một luận điểm nhất định nào đó

Rút ra kết luận bằng những lý do

Trở lại với ví dụ thứ hai Câu đầu tiên có chức năng gì?

Như chúng ta đã thấy, đây là câu nói mà người nói muốn thuyết phục chúng ta chấp nhận Nếu bạn muốn thì câu này là điểm chính mà người nói muốn nói Câu này

là cách diễn tả mà chúng ta gọi là kết luận của một lập luận

Chúng ta thường cho rằng “kết luận” là cái đạt được sau cùng Chẳng hạn, chúng ta bàn về phần kết của một chương trình truyền hình nhiều kỳ Nhưng khi chúng

Trang 8

ta dùng từ “kết luận” trong tư duy phê phán, thì có nghĩa là chúng ta đang dùng từ này theo một nghĩa chuyên dụng Chúng ta không dùng nó theo nghĩa là câu kết cho một đoạn văn nào đó, mặc dù kết luận của một lập luận có thể được đặt ở cuối câu, nhưng không nhất thiết cứ câu cuối mới được xem là kết luận Kết luận có thể đứng ở bất cứ

vị trí nào – thậm chí ở ví dụ thứ hai nó lại đứng ở đầu câu Tuy nhiên, nếu không rút ra kết luận, thì lập luận được xem như chưa được hoàn thành Lý do có thể được viện dẫn bằng nhiều cách nhưng phải có sức thuyết phục chúng ta

Đây chính là đặc điểm của một lập luận, những lý do có thể được viện dẫn bằng nhiều cách nhưng phải đưa chúng ta đến ý nghĩa rõ ràng của “kết luận” với tư cách là cái “kết thúc” Mặc dù kết luận của một lập luận không cần phải máy móc từng chữ được đặt ở cuối câu, nhưng nó phải được đặt ở một vị trí nào đó để có thể “kết thúc” được một lập luận, thể hiện được những điều mà mình muốn thiết lập

Giờ dây chúng ta có thể ghi chú thêm một đặc điểm nữa của lập luận

 Lập luận phải có kết luận

Đến đây, có lẽ bạn sẽ phải trả lời một số vấn đề Cần phải trả lời những vấn đề này trước khi chuyển sang phần khác

Đặt vấn đề và trả lời

Làm thế nào để có thể nhận ra được là mình đang giải quyết một lập luận?

Bạn cần phải tìm ít nhất một phần nào đó đề cập đến lý do có thể dẫn đến một kết luận

và tất nhiên phải dẫn đến một kết luận đích thực

Làm thế nào có thể phân biệt được đâu là lý do và đâu là kết luận?

Cách đơn giản nhất để phân biệt là xem xét chức năng riêng có của chúng là gì Kết luận là mục đích chính của lập luận, diễn tả người lập luận muốn thuyết phục người khác chấp nhận một vấn đề nào đó Lý do là cái hỗ trợ cho chính cái kết luận này, có thể hiểu một cách nôm na, lý do giải quyết câu hỏi tại sao chúng ta lại chấp nhận điều

đó

Trang 9

Một lập luận phải đưa ra bao nhiêu lý do?

Một lập luận phải có tối thiểu một lý do Tuy nhiên, không có giới hạn về con số khi đưa ra lý do

Bạn từng cho rằng lập luận là cố gắng thuyết phục người khác về một luận điểm nhất định nào đó Điều gì xảy ra nếu như không thuyết phục được người khác? Có phải một lập luận phải thuyết phục được người khác thì mới được gọi là một lập luận?

Miễn là có tối thiểu một lý do hỗ trợ cho kết luận thì đó được xem là một lập luận Mặc dù đó là một lập luận rất dở - một lập luận có thể (hoặc không) thuyết phục được người khác – tuy nhiên đó vẫn là một lập luận

Như vậy, nếu đưa ra lập luận nhằm mục đích thuyết phục người khác, thì có phải nỗ lực thuyết phục người khác mới được gọi là lập luận?

Không phải Có nhiều trường hợp cho thấy những nỗ lực thuyết phục người khác vẫn không phải là những lập luận Chẳng hạn, người quảng cáo đôi khi cố tìm mọi cách để bán một sản phẩm nào đó (tức là cố thuyết phục chúng ta mua) bằng cách chẳng nói gì

cả Thật đơn giản, nếu bạn đặt cơ sở cho một lập luận thì đó cũng chính là một nỗ lực mang tính thuyết phục rồi; nhưng nếu bạn đặt cơ sở cho một vấn đề nào đó nhằm nỗ lực thuyết phục người khác thì vấn đề đó không nhất thiết là một lập luận

TÌM HIỂU NHỮNG LẬP LUẬN

Đến đây thì bạn đã biết một lập luận phải có lý do và kết luận, và biết cách xem xét lý

do và kết luận đó để làm gì Như đã nói ở trên, ở một góc độ nào đó lý do sẽ hỗ trợ cho kết luận Hãy nhớ lại ví dụ bàn về việc hút thuốc ở nơi công cộng Nếu chúng ta thay đổi phần nào cách nói và chuyển sang nhấn mạnh hơn phần kết luận, thì bạn có thể thấy được tác dụng của những lý do đã đưa ra

Hút thuốc không trái luật Hơn nữa, hàng triệu người cảm thấy thích thú việc hút thuốc Do đó, mọi người đều được phép hút thuốc ở bất kỳ nơi nào

Trang 10

Đi tìm những từ đóng vai trò là đầu mối

Bằng cách này cho thấy, kết luận được xây dựng bằng từ “do đó” Một số loại từ thường dùng này sẽ báo cho bạn biết kết luận nằm ở đâu Những từ dẫn đến kết luận thường dùng như “do vậy”, “vì thế”, “thế thì”, và “như vậy thì” Hãy đặt một trong những từ này thay thế cho từ “do đó” thì bạn sẽ thấy chúng có cùng chức năng như thế nào Xét ví dụ trên, bạn cũng sẽ thấy từ “nên” sẽ đem lại cho bạn một đầu mối nhất định khi đưa ra một kết luận (một từ khác nữa là “phải”) Tuy nhiên, kết luận không phải lúc nào cũng được đặt trên một cơ sở có lý, như trong ví dụ này Điều này cho thấy, để trở thành một người có tư duy phê phán có sức thuyết phục, thì bạn có thể tìm

ra những kết luận mà không cần sử dụng những từ đóng vai trò làm đầu mối

Sẽ không có những từ đóng vai trò làm đầu mối hữu ích hoàn toàn để chỉ ra sự hiện diện của những lý do Hơn nữa, bạn sẽ phải thực hiện việc thiết lập những từ này cho dù những lý do có được quy định hay không

Bài tập thực hành để tìm hiểu những lập luận

Giới thiệu

Đến đây thì bạn đã biết thế nào là một lập luận, sự hiểu biết này sẽ giúp bạn thực hành những kỹ năng nhận dạng ra chúng Sau đây là bốn đoạn văn ngắn mà bạn phải đọc và tìm hiểu xem cái nào là lập luận và cái nào không phải là lập luận Hãy nhớ rằng, bạn

sẽ tìm những đoạn văn có chứa những lý do hỗ trợ cho một kết luận Để giúp bạn thực hiện, chúng tôi sẽ bắt đầu bằng một ví dụ Hãy kiểm tra xem đây có phải là một lập luận hay không?

Nếu không trang bị máy tính ở nhà thì người ta sẽ bị lạc hậu đối với những thay đổi mạnh mẽ về công nghệ, và sẽ làm ảnh hưởng đến cuộc sống của họ Ngày nay máy tính rẻ hơn so với trước Hầu như mọi đứa trẻ đều cảm thấy hoàn toàn thoải mái khi dùng máy tính

Đây không phải là một lập luận Cho dù bạn có thay đổi trật tự của ba câu này vẫn không có câu nào có thể là một kết luận được rút ra từ hai câu còn lại (Hãy kiểm tra lại) Nói cách khác, bạn không thể dùng hai câu bất kỳ trong ba câu này dùng làm lý

do cho câu còn lại Tất cả những dữ kiện mà bạn có hiện nay là ba câu nhận định về

Trang 11

máy tính mà thôi Xem nội dung của ví dụ tiếp theo

Trẻ em có thể học ở trường tốt hơn nhiều nếu như các em được quyền dùng máy tính ở nhà Giá của loại máy tính gia đình đã xuống thấp đáng kể trong mấy năm qua Do vậy, các bậc phụ huynh nên mua máy tính cho con mình dùng ở nhà

Đây là một lập luận Câu kết luận (“Do vậy, các bậc phụ huynh…”) được hỗ trợ bằng những câu đóng vai trò là lý do ở hai câu đầu Nói cách khác, ở đây có một nỗ lực thuyết phục các bậc phụ huynh nên mua máy tính

(2) Đa số những người đến sở thú đều muốn xem các loài động vật Những loài động vật nguy hiểm được trưng bày, cho dù có đẹp cỡ nào cũng chẳng bao giờ có thể làm cho chúng ta hứng thú bằng những con sư tử thật và voi thật Các sở thú cần tập trung vào việc nuôi nhiều động vật sống chứ không phải là trưng bày chúng

(3) Một số sở thú đang nỗ lực cứu các loài động vật nguy hiểm để đưa chúng về với thế giới hoang dã Những chương trình về đời sống hoang dã trên tivi rất phổ biến Những vùng nuôi thú hoang dã để quan sát đem lại cơ hội cho những ai muốn xem các loài thú đi lang thang tự do trong đó

(4) Những biện pháp làm cho xe chạy chậm lại trong giao thông ngày càng trở nên

Trang 12

cần thiết ở những khu dân cư Xe hơi chạy quá nhanh dọc theo những con đường

có dân cư Việc áp đặt giới hạn tốc độ không làm giảm được tốc độ của xe lưu thông ở khu vực này

ta đều muốn xem các loài động vật”, và “xem động vật trưng bày có thể chẳng bao giờ thích bằng những con vật thật” Đây là cách duy nhất để bạn xây dựng một lập luận trong đoạn văn này, còn nếu bạn có cách khác để giải quyết thì hãy xem lại đoạn văn này

(3) Đây không phải là một lập luận Mọi dữ kiện mà bạn có chỉ là ba câu nhận định

về sở thú, các chương trình về đời sống hoang dã và những vùng nuôi thú hoang dã

để quan sát Bất cứ câu nào mà bạn đã đưa ra cũng không thể là kết luận được rút

ra từ hai câu còn lại

(4) Đây là một lập luận Câu đầu là kết luận được rút ra từ hai câu kia Lý lẽ của vấn đề nằm ở chỗ: vì xe hơi chạy quá nhanh dọc theo những con đường có dân cư,

và vì việc giới hạn tốc độ không có hiệu quả, do đó những biện pháp làm cho xe chạy chậm lại trong giao thông ngày càng trở nên cần thiết

Hãy nhớ rằng, khi tiến hành những lập luận thì bạn không tiến hành vấn đề có thể được tranh luận mà phải tiến hành vấn đề thực sự cần được tranh luận Nói cách

khác, bạn đang tìm chất liệu để cho những lý do được đưa ra sẽ hỗ trợ cho kết luận

NHẬN THỨC TẦM QUAN TRỌNG CỦA LẬP LUẬN

Trang 13

Đến đây thì bạn có thể đã nhận ra các lập luận, tuy nhiên một vấn đề mang tính thủ tục vẫn còn bị bỏ ngỏ

Việc tìm hiểu xem lập luận là gì rất thú vị, nhưng tại sao chúng ta lại phải tìm hiểu vấn đề này?

Đây là một câu hỏi thú vị Nếu bạn thành thạo các kỹ năng như đã mô tả ở trên, bạn có thể nắm bắt được những điều cần thiết mà bạn đang tìm hiểu

Lập luận có mặt trong mọi vấn đề Chúng hiện diện trên báo, tạp chí, truyền hình, truyền thanh, các môn học ở trường, các cuộc tranh cãi, vấn đề kiện tụng Có những lập luận hay, nhưng cũng có những lập luận dở; có những lập luận quen thuộc đến nỗi bạn không nghĩ đó là những lập luận; và có những lập luận lại khiến bạn nghi ngờ nhiều hơn Nguyên nhân phần lớn là do người ta mất nhiều công sức để cố thuyết phục chúng ta về một vấn đề nhất định nào đó chứ không thuyết phục chúng ta về vấn

đề mà chúng ta cần để phát triển kỹ năng đánh giá những lập luận Hơn nữa, việc phát triển khả năng lập luận của mình cũng rất quan trọng, nhất là khi chúng ta đã trở nên tương đối khá trong lập luận về những chủ đề mang tính học thuật

Chẳng hạn, khi nghiên cứu các vấn đề khoa học xã hội, bạn sẽ gặp những lập luận có mặt trong mọi ngóc ngách của vấn đề học thuật như: những lập luận bàn về nguyên nhân phạm tội, thay đổi xã hội, tầm quan trọng của gia đình, v.v… Hay khi nghiên cứu về lịch sử, bạn cũng sẽ phải đối diện với những lập luận như: ý nghĩa của cuộc Cách mạng Pháp, những nguyên nhân dẫn đến Chiến tranh Thế giới lần Thứ nhất, và vai trò của tôn giáo trong xã hội đổi thay

Nếu nghiên cứu những môn học như sinh học và động vật học, bạn sẽ đối đầu với những lập luận nói đến bản chất của những thay đổi liên quan đến tiến hóa như tại sao và làm thế nào mà não bộ của người sơ khai lại phát triển mạnh đến nỗi số liên kết

có thể lớn hơn số nguyên tử trong vũ trụ

Thực hiện những phán đoán

Thành thạo một chủ đề nhất định nào đó có lẽ tốt hơn là biết hàng loạt các sự kiện Rõ ràng, không có thứ tri thức sự kiện, nghĩa là, bạn không những phải biết nhiều mà còn phải đánh giá và phân tích những tài liệu mà bạn nghiên cứu nữa Nhiều lúc bạn cần

Trang 14

thực hiện những công việc đòi hỏi bạn phải đưa ra những phán đoán trong những tài liệu mà bạn nghiên cứu Sẽ rất thuận lợi nếu như bạn có được những kỹ năng tư duy phê phán từ việc yêu cầu thực hiện phân tích thông tin cho đến những yêu cầu còn bỏ ngỏ để “thảo luận” về một chủ đề chung nào đó

TRANH LUẬN, GIẢI THÍCH VÀ TỔNG KẾT

Trước khi tìm hiểu sâu hơn về những lập luận, chúng ta cần xem xét lại sự khác nhau giữa giải thích, tổng kết và tranh luận

Giải thích và tranh luận

Không phải mọi thứ có dáng dấp của một lập luận đều là một lập luận thực sự Hãy nhớ rằng, bên cạnh những lý do và kết luận, thì lập luận có vai trò dùng để thuyết phục người khác Hãy nhận xét ví dụ sau:

Tàu cập cảng lúc 7 giờ 30 30 phút sau hành khách lên bờ Vì thế nhân viên Hải quan sẽ làm nhiệm vụ từ lúc đó cho đến 7giờ 55

Ví dụ này có hình thức của một lập luận, với hai lý do được nêu hỗ trợ cho một kết luận Tuy nhiên nó vẫn không phải là cách viết dùng để thuyết phục: vì nó không giải thích nhiều về việc điều gì sẽ xảy ra Nó chỉ chứng minh thời gian làm nhiệm vụ mà không chứng minh công việc nào khác của nhân viên hải quan

Vì thế chúng ta có thể phân biệt giữa giải thích với lập luận theo mục đích được đặt ra

Không thể nói rằng những giải thích không được tư duy phê phán quan tâm Thường thì một lập luận sẽ dựa vào một giải thích riêng để hỗ trợ cho kết luận của nó Trong những trường hợp như thế, bạn phải đánh giá giải thích đó để xem nó có sự hỗ trợ nào cho lập luận ấy hay không Hãy xem ví dụ sau:

Cháy rừng gây ra do một số người đi cắm trại nấu ăn và để lại những cục than còn cháy đỏ trên mặt đất Nếu muốn làm giảm nguy cơ những vụ cháy rừng trong tương lai thì chúng ta phải cấm không cho cắm trại trong rừng nữa

Trang 15

Trong ví dụ này, người nói dùng cách giải thích nạn cháy rừng để lập luận rằng chúng

ta cần phải cấm việc cắm trại Cách giải thích này không tương đương với lập luận mà

nó chỉ được dùng như một lý do để dẫn đến kết luận Giải thích về nguyên nhân của cháy rừng có thể được chấp nhận, nhưng có người lại muốn giải thích rằng cách giải thích như thế vẫn chưa đủ để hỗ trợ cho kết luận

Như chúng ta đã thấy, từ “vì thế” thường chỉ ra sự hiện diện của một kết luận Tuy nhiên, trong trường hợp này, câu bắt đầu bằng từ này vẫn không phải là một kết luận

Ba câu đầu có thể đóng vai trò là những câu lý do của lập luận, nhưng câu cuối cùng lại không dùng ba câu này với vai trò là những câu lý do để dẫn đến câu kết luận Như bạn thấy, câu cuối cùng chỉ là tổng kết nội dung của ba câu đầu Đây không phải là một kết luận dựa vào những lý do đã nêu Để thấy rõ được sự khác biệt này, hãy xem xét cách giải thích khác cho ví dụ trên, trong đó, ba câu đầu thực sự được dùng làm lý

do

Mua một ngôi nhà sẽ mất thời gian xem xét nhiều ngôi nhà khác Cũng như

sẽ phải mất tiền để khảo sát Ngoài ra còn phải kiên nhẫn và quyết đoán nữa Vì thế người mua nhà cần phải có thời gian, tiền bạc, sự kiên nhẫn và tính quyết đoán Hầu như mọi người không có nhiều thời gian, tiền bạc và rất ít kiên nhẫn cũng như tính quyết đoán Vì thế, họ không cần cố gắng mua nhà

Như bạn thấy, câu cuối không phải là tổng kết của những câu đầu Nó rút ra kết luận dựa trên những lý lẽ trước Nói cách khác, nó rộng nghĩa hơn những câu đã được

Trang 16

khẳng định trước đó Bằng bản chất của mình, tổng kết có thể hiệu quả hơn là khẳng định lại những khẳng định trước đó

ĐƯA RA LÝ DO PHÙ HỢP VỚI KẾT LUẬN

Phân biệt giữa tổng kết và tranh luận là một vấn đề quan trọng cần phải nhớ, trong đó

nó khiến chúng ta phải chú ý vào mối quan hệ giữa lý do và kết luận Chúng ta bàn về một kết luận được rút ra từ những lý do được nêu, vì thế những lý do phải hỗ trợ đầy

đủ cho kết luận Nếu không, sẽ dẫn đến việc rút ra kết luận sai

Mối quan hệ giữa việc nêu lý do và kết luận có thể được minh họa bằng bài tập ngắn sau đây Trong bài tập này, bạn sẽ thấy một kết luận đứng sau ba lựa chọn, chỉ có một trong ba lựa chọn này đóng vai trò là lý do dẫn đến kết luận Nhiệm vụ của bạn là nhận ra lý do trong số ba lựa chọn có thể hỗ trợ cho kết luận

Bài tập

Kết luận: Không được phép gọi điện thoại di động tại công ty

Lý do:

(A) Hầu hết các nhân viên của công ty đều có điện thoại di động

(B) Việc sử dung điện thoại di động có thể làm nhiễu các máy tính trong công ty

(C) Đa phần công việc trong công ty đều được thực hiện bằng Fax chứ không phải bằng điện thoại

Trong (A), (B) và (C), câu nào đóng vai trò là lý do tốt nhất để dẫn đến kết luận?

Trả lời

Câu trả lời là (B) Nếu điện thoại di động có thể làm nhiễu các máy tính, thì đây là đây

là một lý do đúng để không cho phép sử dụng điện thoại di động tại công ty vì có thể việc đó làm ảnh hưởng bất lợi đến công việc của công ty

(A) không phải là lý do đúng để dẫn đến kết luận Nếu không giải thích thêm, thì khẳng định cho rằng, “hầu hết các nhân viên của công ty đều có điện thoại di động” vẫn chưa đủ để kết luận cấm điện thoại (cách giải thích thêm có thể là các nhân viên mất quá nhiều thời gian vào việc sử dụng điện thoại riêng và vì thế làm việc không hiệu quả) Bạn có thể kết hợp câu (A) với câu (B) để đưa ra một lập luận chắc chắn hơn là chỉ đưa ra câu (B), tuy nhiên bạn có thể nhận thấy nếu không có câu (B) thì câu

Trang 17

(A) không thể đảm nhận vai trò là lý do để đƣa ra kết luận này

(C) cũng không phải là lý do đúng Ý nghĩa của câu này có thể là các nhân viên

có lẽ chƣa từng sử dụng điện thoại di động, tuy nhiên cách giải thích này (có vẻ không xác đáng tí nào) không đƣa ra lý do đầy đủ để kết luận cấm sử dụng điện thoại di động

Đi tìm tính xác đáng

Khi đƣa ra những lý do phù hợp với một kết luận, nhƣ đã trình bày ở bài tập trên, thì

một trong những điều mà bạn đi tìm chính là tính xác đáng Bạn tự hỏi, dẫn chứng

hay khẳng định này có xác đáng đối với kết luận đó không?

Có những sự xác đáng nhất định trong những lý do khả thi, tuy nhiên nó bị giới hạn trong câu (A) và ngay cả trong câu (C) nữa Câu (A) thể hiện tính xác đáng đối với điện thoại di động, câu (C) liên quan đến việc sử dụng điện thoại trong công ty, câu (B) không chỉ có tính xác đáng đối với điện thoại di động mà còn có tính xác đáng đối với những rắc rối xung quanh việc sử dụng điện thoại

Một việc cần nhớ khi bạn đánh giá những lý do để tìm tính xác đáng là đôi khi chỉ có một lý do duy nhất thì sẽ không có tính xác đáng, nhƣng với nhiều lý do thì tính xác đáng là hiển nhiên Ví dụ về điện thoại di động đã minh họa quan điểm này, khi chúng ta giải thích rằng câu (A), mặc dù không có tính xác đáng theo cách riêng của

nó, sẽ trở nên có tính xác đáng khi kết hợp với câu (B)

Khi đánh giá câu (A), (B) và (C) là những lý do, thì có nghĩa là bạn đang tìm

những điều khác bên cạnh tính xác đáng, đó là tính đầy đủ

Đi tìm tính đầy đủ

Mặc dù câu (A) và (C) có một số tính xác đáng nhất định với kết luận, nhƣng cả hai đều không phải là lý do đầy đủ để đƣa ra kết luận Cho dù cả câu (A) và (C) đều đúng thì cả hai đều không đầy đủ (kể cả khi đứng một mình hay kết hợp với nhau) để đƣa ra kết luận nhƣ đã cho Nói cách khác, chúng không đem lại những hỗ trợ đầy đủ để đƣa

ra kết luận Nhƣ vậy, làm cách nào để xác định một lý do đầy đủ?

Chúng ta hãy xem lập luận yêu cầu những gì Nếu nó muốn chứng minh một điều gì đó thì việc nêu lý do phải đạt đƣợc sự đầy đủ ở mức độ cao Tuy nhiên, nếu kết luận chỉ đạt đƣợc ở mức độ yếu thì việc nêu lý do vì lẽ đó cũng yếu hơn Để minh họa cho vấn đề “lý do đầy đủ”, hãy xem bài tập sau:

Trang 18

(1) Chính phủ sẽ thất cử trong lần bầu cử tới

(2) Chính phủ có thể thất cử trong lần bầu cử tới

(3) Chắc chắn chính phủ sẽ thất cử trong lần bầu cử tới

Hãy xác định xem câu nào có lý do đầy đủ để đƣa ra kết luận

Trả lời

Nội dung câu (A) chắc chắn đƣa ra đƣợc lý do đầy đủ để dẫn đến kết luận số (2) và nó cũng cung cấp nội dung đầy đủ chấp nhận đƣợc để đƣa ra kết luận số (3) Nhƣ bạn thấy, câu số (2) là một kết luận không thuyết phục lắm, câu này dùng từ “có thể” và do

đó mức độ đầy đủ rất thấp Tuy nhiên, câu số (3) thuyết phục hơn do dùng từ “chắc chắn”

Nội dung câu (B) đáp ứng đầy đủ cho kết luận câu số (2) Hơn nữa, bản chất không chắc chắn của kết luận câu số (2) đƣợc phản ánh trong lý do hầu nhƣ không chắc chắn Nội dung câu (C) rõ ràng liên quan với kết luận số (2) và khá đầy đủ đối với kết luận

số (3) hơn câu (A) Điều này là do chứng cứ đƣa ra khiến chúng ta thấy kết luận chắc chắn hơn, và lý do đƣa ra để dẫn đến kết luận cũng quyết định hơn

Nhƣ bạn thấy, không có khẳng định nào thỏa mãn đƣợc kết luận (1), nghĩa là kết luận

Trang 19

này đòi hỏi một lý do chắc chắn hơn Trên thực tế, rất khó đưa ra được một lý do hoàn toàn đầy đủ cho kết luận này Tuy nhiên, kết luận loại này cũng thường xảy ra Để trả lời cho vấn đề này, bạn cho rằng, vấn đề đã được chứng minh khi rút ra kết luận số (2) hoặc số (3) rồi, tuy nhiên bạn vẫn đang tập để trở thành một người có tư duy phê phán, cho nên hy vọng bạn sẽ đạt được

Đã đến lúc cần phải tiếp cận với những vấn đề này

BÀI TẬP

1 Hãy rút ra kết luận trong một lập luận của một chủ đề bất kỳ nào đó

(giống như dạng “Nên có …” hoặc “Chúng ta không được …”) Sau đó đưa ra lý do thuyết phục để hỗ trợ cho kết luận này

2 Hãy viết một lập luận có sức thuyết phục phản lại một luận đề mà bạn sẽ

cố bảo vệ Hãy nêu lý do tại sao lập luận này lại không thuyết phục được bạn?

3 Hãy viết một lập luận có sức thuyết phục cho một luận đề mà bạn muốn

bảo vệ Phân tích những lý do đầy đủ và xác đáng mà bạn sử dụng

Trang 20

CHƯƠNG 2

Phân tích những lập luận giản đơn

NHẬN DẠNG NHỮNG LÝ DO VÀ KẾT LUẬN

Đến đây thì bạn đã có thể nhận ra được những lập luận bằng cách đi tìm những lý do

và kết luận, và có thể đưa ra nhận định ban đầu về lý do Chúng ta cần củng cố những

kỹ năng để xác định xem phần nào trong lập luận đang đảm nhiệm điều đó

Khi bạn gặp một lập luận nào đó trong sách hay trên báo chí , thường thì bạn sẽ thấy những lập luận này không có một kết cấu chặt chẽ Đôi khi những đoạn văn thiếu chặt chẽ đó bị tối nghĩa do không có sự liên kết hay những minh họa Hãy phân biệt những câu trong một đoạn văn có khả năng giúp bạn đánh giá được những ưu điểm và

cả những khuyết điểm của một lập luận

Chúng ta bắt đầu bằng một bài tập ngắn để kiểm tra xem bạn có thể đưa ra đâu

là lý do và đâu là kết luận trong lập luận ngắn này

(3) (A) Chiến dịch chống ma túy được đưa ra không có hiệu quả lắm đối với những thanh niên dùng ma túy (B) Chiến dịch chống ma túy được đưa ra sẽ nhấn mạnh

Trang 21

những nguy cơ có liên quan đến việc dùng ma túy (C) Một trong những quyến rũ chính yếu của ma túy đối với thanh niên là kích thích sự liều lĩnh

Đối với nhiều nạn nhân vi phạm pháp luật, một chế độ lao tù cứng rắn dành cho các phạm nhân sẽ được mọi người hoan nghênh Hơn nữa, Nhiều phạm nhân sẽ không phạm tội nếu các nhà tù có luật lệ cứng rắn hơn Như vậy, Chính phủ luôn đúng khi đưa ra những chế độ lao tù cứng rắn hơn

(2) (B) và (C) là những lý do để dẫn đến kết luận (A) Hãy xem cách hiểu thế nào khi câu (A) được xem là câu kết luận:

Công chúng rất quan tâm đến cuộc sống của những người nổi tiếng Hơn nữa, Công chúng có quyền biết những thông tin về cách ứng xử trong cuộc sống hàng ngày của những người nổi tiếng Vì thế Không nên hạn chế quyền công bố hình ảnh và đời tư về những người nổi tiếng của báo chí

Không có sự kết hợp nào khác có thể thực hiện được vai trò của một lập luận

(3) (B) và (C) là những lý do để dẫn đến kết luận (A) Không có sự kết hợp nào khác

có thể thực hiện được vai trò của một lập luận Để xem nó hoạt động như thế nào, hãy xem cách giải thích chặt chẽ hơn sau đây:

Một trong những quyến rũ chính yếu của ma túy đối với thanh niên là kích thích

sự liều lĩnh Chiến dịch chống ma túy được đưa ra sẽ nhấn mạnh những nguy cơ

có liên quan đến việc dùng ma túy Vì thế chiến dịch chống ma túy được đưa ra không có hiệu quả lắm đối với những thanh niên dùng ma túy

Trang 22

Trong bài tập này, bạn đang thực hiện một việc rất quan trọng Khi chỉ ra câu nào là là câu lý do và câu nào là câu kết luận, thì có nghĩa là bạn đang phát triển những

kỹ năng thiết lập những lập luận Đặc biệt hơn:

 Bạn đang xem xét đến mối quan hệ giữa những lý do với một kết luận

Ngoài ra, chúng ta còn phải xem xét đến mối quan hệ giữa chính những lý do

với nhau Vấn đề này có thể thay đổi một lập luận này thành một lập luận khác

KIỂM TRA VAI TRÕ CỦA LÝ DO

Nhưng tôi đã biết vai trò của những lý do rồi Chúng sẽ hỗ trợ cho một kết luận nếu như đó là những lý do xác đáng và đầy đủ Như vậy, tôi phải kiểm tra vấn đề gì nữa?

Tất nhiên, điều bạn quan tâm là đúng Bạn đã biết vai trò của những lý do, tuy nhiên

có những vấn đề mà chúng ta vẫn chưa xem xét, đó là, những lý do thể hiện vai trò của mình bằng nhiều cách khác nhau Hãy xem lại lập luận trên:

Đối với nhiều nạn nhân vi phạm pháp luật, một chế độ lao tù cứng rắn dành cho các phạm nhân sẽ được mọi người hoan nghênh Hơn nữa, Nhiều phạm nhân sẽ không phạm tội nếu các nhà tù có luật lệ cứng rắn hơn Như vậy, Chính phủ luôn đúng khi đưa ra những chế độ lao tù cứng rắn hơn

Hai lý do trên đã hỗ trợ cho kết luận như thế nào? Chúng có vai trò hỗ trợ giống nhau như những lý do hỗ trợ cho kết luận trong ví dụ sau đây hay không?

Tình trạng quá tải tù nhân trong nhà tù là nguyên nhân của nhiều vụ nổi loạn gây rối trong tù, và hầu hết các nhà tù đều quá tải Do vậy, nhiều vụ nổi loạn gây rối trong hệ thống nhà tù của chúng ta có khả năng xảy ra trong những tháng tới

Câu trả lời thật đơn giản: không thể xảy ra Ở ví dụ đầu, những lý do hỗ trợ cho kết luận một cách độc lập với nhau Nói cách khác, nếu bạn tách rời những lý do này

Trang 23

ra, thì từng lý do vẫn có khả năng độc lập rút ra kết luận Chẳng hạn, chúng ta tách lý

do đầu tiên ra

Nhiều phạm nhân sẽ không phạm tội nếu các nhà tù có một chế độ cứng rắn hơn Như vậy, Chính phủ luôn đúng khi đưa ra những chế độ lao tù cứng rắn hơn

Kết luận có lẽ trở nên yếu hơn do thiếu điểm nhấn về những nạn nhân muốn có một chế độ cứng rắn hơn, tuy nhiên vẫn không ảnh hưởng đến việc rút ra kết luận Một trong hai lý do trong ví dụ này vừa là lý do xác đáng vừa là lý do đầy đủ

Tuy nhiên, ở ví dụ thứ hai, những lý do lại không hoạt động một cách độc lập Nếu bạn loại bỏ một trong hai lý do này, thì lý do còn lại sẽ không đầy đủ để rút ra kết luận (Xem lại ví dụ) Chúng ta chỉ có thể rút ra kết luận khi cả hai lý do cùng hoạt động

Tại sao trong những lập luận có những lý do không hoạt động độc lập với nhau

sẽ ảnh hưởng đến việc rút ra kết luận nhiều hơn so với những lập luận có những lý do hoạt động độc lập với nhau? Bởi vì mỗi bước trong một lập luận có những lý do hoạt động độc lập với nhau đều cần cả sự xác đáng và cả sự đầy đủ Chẳng hạn, nếu bạn trình bày rằng hầu hết các nhà tù đều không quá tải, thì có thể rút ra được kết luận về tình trạng nổi loạn gây rối trong tù (mặc dù lý do đầu tiên vẫn đúng)

TRÌNH BÀY CẤU TRÖC CỦA LẬP LUẬN DƯỚI DẠNG SƠ ĐỒ

Mặc dù bạn không phải dùng đến sơ đồ của lập luận để trở thành một người có tư duy phản biện hiệu quả, nhưng có thể cũng rất hữu ích nếu bạn xem xét một lập luận được cấu trúc như thế nào Việc xem nhanh cấu trúc của một lập luận sẽ giúp bạn đánh giá lập luận đúng hơn Điều này không chỉ áp dụng cho những lập luận mà bạn bắt gặp ở nhiều văn bản khác nhau trong khóa học của mình, mà còn áp dụng cho những lập luận mà bạn tự đưa ra Kiểm tra hữu ích này cho thấy, lập luận đang hoạt động theo cách mà bạn nghĩ

Chúng ta bắt đầu bằng một ví dụ đơn giản Kiểu lập luận ngắn này cho thấy, chúng ta đúng ngay từ đầu:

Trang 24

Hút thuốc không trái luật Do vậy, người ta được phép hút thuốc ở bất kỳ nơi nào

Trong lập luận này, chỉ có một lý do duy nhất hỗ trợ cho kết luận Để sơ đồ hóa cấu trúc của lập luận này, chúng ta đặt lý do là R, kết luận là C, và mối quan hệ giữa

Mọi người đều được phép hút thuốc ở bất kỳ nơi nào Hút thuốc không trái luật,

và hàng triệu người cảm thấy thích thú việc hút thuốc

Để thấy được có hai lý do tồn tại, chúng ta đặt cho mỗi lý do một ký hiệu: R1: Hút thuốc không trái luật

R2: Hàng triệu người cảm thấy thích thú việc hút thuốc

Chúng ta có thể lập sơ đồ của lập luận này như sau:

C

Trong ví dụ này, các lý do đều hỗ trợ cho kết luận một cách độc lập, do đó quan

hệ của chúng đối với kết luận được trình bày một cách phù hợp Trong một ví dụ trước nữa, chúng ta có một lập luận, trong đó, những lý do cùng hoạt động với nhau để hỗ trợ cho kết luận:

(R1) Tình trạng quá tải tù nhân trong nhà tù là nguyên nhân của nhiều vụ nổi

Trang 25

loạn gây rối trong tù, và hầu hết các nhà tù đều quá tải Do vậy, nhiều vụ nổi loạn gây rối trong hệ thống nhà tù của chúng ta có khả năng xảy ra trong những tháng tới

Chúng ta sẽ trình bày lập luận này như thế nào?

Bài tập

Hãy trình bày cấu trúc của những lập luận sau Đặt ký hiệu cho mỗi lý do sao cho phù hợp (R1, R2,…):

(1) Trẻ em rất dễ bị ảnh hưởng sự hấp dẫn của quảng cáo Những đứa trẻ hút thuốc

có khuynh hướng mua những nhãn hiệu thường được quảng cáo Chắc là quảng cáo đã ảnh hưởng khiến trẻ em tập tành hút thuốc

(2) Ly dị nên được thực hiện dễ dàng hơn chứ không nên khó quá Sự đổ vỡ trong hôn nhân đang gây nên nhiều phiền toái đối với những cặp vợ chồng phải ly dị nhưng việc ly dị lại rất khó khăn Hơn nữa, bằng chứng cho thấy rằng, nếu thủ tục

ly dị mà khó khăn thì cay đắng và giận dữ sẽ ngày càng nhiều hơn là nếu thủ tục

ly dị dễ dàng

Trang 26

(3) Đa số người ta không đi xem bóng đá Vì chi phí giữ an ninh cho mình quá cao Các câu lạc bộ thường phải chịu chi phí này, nhưng hầu hết hóa đơn lại rơi về phía chúng ta Những người hâm mộ bóng đá phải chuẩn bị mua vé với giá cao hơn để gánh luôn phần lớn những chi phí này

Trả lời

(1) Lập luận này có một cấu trúc đơn giản

R1: Trẻ em rất dễ bị ảnh hưởng sự hấp dẫn của quảng cáo

R2: Những đứa trẻ hút thuốc có khuynh hướng mua những nhãn hiệu thường được quảng cáo

C: Chắc là quảng cáo đã ảnh hưởng khiến trẻ em tập tành hút thuốc

R1 và R2 cùng hoạt động để hỗ trợ cho kết luận (mặc dù kết luận có thể được rút

ra trên cơ sở mạnh mẽ của một mình R2)

R2: bằng chứng cho thấy rằng, nếu thủ tục ly dị mà khó khăn thì cay đắng và giận

dữ sẽ ngày càng nhiều hơn là nếu thủ tục ly dị dễ dàng

C: Ly dị nên được thực hiện dễ dàng hơn chứ không nên khó quá

C

(3) Lập luận này có ba lý do hoạt động cùng nhau để hỗ trợ cho kết luận

R1: Đa số người ta không đi xem bóng đá

R2: Vì chi phí giữ an ninh cho mình quá cao

Trang 27

R3: Các câu lạc bộ thường phải chịu chi phí này, nhưng hầu hết hóa đơn lại rơi về phía chúng ta

C: Những người hâm mộ bóng đá phải chuẩn bị mua vé với giá cao hơn để gánh luôn phần lớn những chi phí này

C

PHÂN BIỆT CÂU LÝ DO VỚI NHỮNG CÂU KHÁC

Trong những ví dụ mà chúng ta đã xem ở những phần trước, lập luận gồm việc nêu lý

do và đưa ra một kết luận Bạn không cần phải đi tìm những vấn đề khác Tuy nhiên, trong thực tế, lập luận thường sẽ không được trình bày một cách gọn gàng như thế Có

lẽ bây giờ bạn phải xem qua các loại câu khác để tìm hiểu sâu hơn một lập luận Hãy xem ví dụ sau:

Phòng trưng bày của các ga ra ô tô có nhiều sự mời chào mua xe hơi Những lời mời chào này bao gồm tín dụng phi lãi suất, những giao dịch đổi xe cũ lấy

xe mới rất ưu đãi và nhiều khoản miễn phí khác Các nhà sản xuất cạnh tranh nhau để bán nhanh cho chúng ta những cỗ máy mơ ước hợp thời nhất Tuy nhiên xe có an toàn không? Có nhiều tiêu chuẩn an toàn đã được ban hành, và thực tế cho thấy, nếu như xe có đầy đủ những tiêu chuẩn an toàn này thì những người lái xe không những không bị tai nạn mà còn ngăn ngừa được những tai nạn có thể xảy ra Chúng ta nên yêu cầu các nhà sản xuất xe hơi tập trung vào vấn đề an toàn để ngăn ngừa những tai nạn có thể

Trong ví dụ này, mãi đến nửa sau của đoạn văn thì lập luận mới bắt đầu hoạt động Ba câu đầu chỉ mô tả lập luận để rút ra kết luận rằng chúng ta nên yêu cầu các nhà sản xuất sản xuất xe an toàn hơn Thông tin về những lời mời chào đặc biệt ở câu đầu cung cấp cơ sở cho lập luận nhưng vẫn không phải là yếu tố quyết định của lập luận

Trang 28

Phản hồi thích hợp

Tại sao việc phân biệt câu lý do với những câu khác lại có tầm quan trọng như thế?

Tầm quan trọng trong việc phân biệt câu lý do với những câu khác như những minh họa và thông tin cơ sở ở ví dụ trên phụ thuộc vào khả năng phản hồi thích hợp với các lập luận của bạn Ví dụ, đứng trước đoạn văn trên về vấn đề an toàn xe hơi, có phản hồi như “tuy nhiên, nhiều lái xe lại bị hấp dẫn bởi những giao dịch đổi cũ lấy mới”, chú trọng vào sự hấp dẫn đó mà lại bỏ qua giá trị của vấn đề Đó chỉ là phản hồi về một phần nhỏ trong thông tin cơ sở chứ không phải là phản hồi của bản thân lập luận

Bài tập sau đây yêu cầu bạn phân biệt lập luận với loại câu khác đi kèm

Bài tập

Hãy nhận dạng phần nào trong mỗi đoạn văn sau đây là lập luận:

(1) Trong một thùng rác loại trung bình, bạn sẽ thấy nhiều nguồn chất liệu có giá

trị khác nhau như kim loại, giấy, thủy tinh Phần lớn những vật này đều có thể được tái sinh một cách rất kinh tế Nên khuyến khích mọi người sử dụng những vật phẩm tái sinh ngay tại địa phương thay vì phải vất bỏ đi những thứ như chai, lon, giấy Mặc dù các nhà sản xuất đã quan tâm rất nhiều đến việc sản xuất bao bì để sử dụng nhưng họ lại thường không quan tâm đến việc điều gì sẽ xảy ra khi vòng đời của các loại bao bì này kết thúc Bao bì có sức hấp dẫn khi nằm trên kệ trong siêu thị nhưng khi nó bay ngang qua vỉa hè hay vất vương vãi trên ghế ngồi thì lại khác

(2) Hầu như nước nào cũng có xổ số quốc gia Chương trình Xổ số Quốc gia của

Vương quốc Anh được đưa ra năm 1994 và mức độ tham gia ngày càng cao hơn nhiều so với dự báo Một trong những đặc điểm gây lo lắng của chương trình Xổ số Quốc gia là, sau khi được phát hành, ở Vương quốc Anh lượng tiền chi cho vấn đề cờ bạc ngày càng gia tăng Chắc là chương trình Xổ số đã kích thích người ta nghĩ đến việc cờ bạc như một giải pháp cho vấn đề tài chánh của mình Tuy nhiên, kết quả là những người thắng đậm trong cá cược bóng đá hay trúng số lớn đều không nhất thiết phải cảm nhận đó là hạnh phúc

Trang 29

Trả lời

(1) Ba câu đầu tiên cung cấp dữ kiện cho lập luận Có thể rút gọn như sau:

Nguồn chất liệu có giá trị bị vất đi Nhiều thứ trong số này có thể được tái sinh một cách rất kinh tế Vì thế, nên khuyến khích mọi người sử dụng những vật phẩm tái sinh

Phần còn lại của đoạn văn này đưa ra lời phê bình về việc sản xuất bao bì để sử dụng Mặc dù câu cuối cùng có vẻ như đưa ra một lý do xác đáng cho kết luận, nhưng lập luận lại liên quan đến những nguồn chất liệu có giá trị được tái sinh một cách rất kinh tế Như vậy thì, câu cuối cùng được nối với lập luận tái sinh một cách rất giới hạn (có thể dễ dàng liên kết lập luận với vấn đề biết cách vất

bỏ chất thải sao cho hiệu quả)

(2) Lập luận này gồm câu thứ ba và câu thứ tư Đây là một lập luận khá đơn giản

(không nhất thiết phải là một lập luận hay cho lắm): sau khi đưa ra chương trình

Xổ số Quốc gia, lượng tiền chi cho vấn đề cờ bạc ngày càng gia tăng Như thế, chương trình Xổ số đã kích thích người ta nghĩ đến việc cờ bạc như một giải pháp cho vấn đề tài chánh của mình Chất liệu xung quanh lập luận này không phải là thông tin cơ sở (những nước khác và ngày đưa ra chương trình Xổ số Quốc gia) và khẳng định rằng ăn được tiền vẫn không đảm bảo được hạnh phúc

QUYẾT ĐỊNH RÖT RA KẾT LUẬN

Những lập luận mà bạn sẽ sử dụng hoặc xem xét sau này, phần lớn cho thấy, việc bạn

có thể kết luận được một vấn đề nào đó thực ra là gần đúng chứ không phải là chắc

chắn đúng Điều này là do có những khẳng định hay những bằng chứng mà bạn đưa ra

sẽ không hỗ trợ cho kết luận

Kết luận có tính chắc chắn hay kết luận có tính gần đúng

Trang 30

Những lập luận có kết luận được rút ra có tính chắc chắn được gọi là những lập luận

suy diễn Trong khi đó những lập luận được rút ra chỉ có tính gần đúng thì gọi là

những lập luận quy nạp Ví dụ sau đây là một lập luận suy diễn:

Nếu lực lượng gìn giữ hòa bình có đủ quân, thì cuộc Nội chiến ở Bosnia sẽ chấm dứt Liên Hiệp Quốc hứa sẽ cung cấp đủ quân, vì thế cuộc chiến ở đất nước này chắc chắn sẽ phải chấm dứt

Với loại lập luận này, nếu những lý do đưa ra mà đúng, thì kết luận cũng sẽ đúng Trong ví dụ này, rõ ràng nếu cung cấp đủ quân thì cuộc Nội chiến sẽ kết thúc, vậy thì cung cấp đủ quân chắc chắn chấm dứt được cuộc Nội chiến Tuy nhiên, hãy xét một lập luận khác cũng cùng chủ đề này:

Liên Hiệp Quốc đang lên kế hoạch đưa quân đến Bosnia Tuy nhiên, trong quá khứ, việc đem quân của Liên Hiệp Quốc vào những nước đang có nội chiến lại không giải quyết được vấn đề gì Vì thế việc đưa quân vào sẽ không giải quyết được vấn đề

Ở ví dụ thứ hai này, kết luận (việc đưa quân vào Bosnia sẽ không làm cho cuộc nội chiến dừng lại) được rút ra bằng sức mạnh của những kinh nghiệm trước đây khi đưa quân của Liên Hiệp Quốc vào các nước đang có nội chiến Mặc dù kinh nghiệm trước có thể là một chỉ dẫn rất có ích trong việc nhận xét điều gì sẽ xảy ra, nhưng nó vẫn không phải là một chỉ dẫn chắc chắn, nhất là khi nó có liên quan đến kinh nghiệm của những nước khác Bạn có thể nghĩ đến đủ loại lý do tại sao lại rút ra kết luận như thế Chẳng hạn, quân Liên Hiệp Quốc ở Bosnia hiện nay có lẽ được trang bị tốt hơn trước đây, hay tình hình ở Bosnia có thể có những khác biệt quan trọng so với những cuộc nội chiến khác Loại ví dụ này mặc dù lý do đưa ra là đúng, nhưng chưa chắc kết luận đã đúng

Như các bạn thấy, kết luận của những lập luận diễn dịch chỉ đúng khi hình thức của bản thân lập luận được cho sẵn Qua ví dụ đầu về quân Liên Hiệp Quốc ở Bosnia, nếu bạn chấp nhận cái đúng của lý do nêu ra, thì bạn cũng phải chấp nhận cái đúng của kết luận Nói cách khác, đồng ý với lý do được nêu ra nhưng lại phủ nhận kết luận đó

Trang 31

là phi lý Bất kỳ tranh cãi nào có sử dụng lập luận thì đều phải có lý do Ví dụ, bạn muốn đặt vấn đề rằng, đưa đủ số quân của Liên Hiệp Quốc vào một cuộc nội chiến nào

đó đều làm cho cuộc chiến đó chấm dứt Như thế thì, bạn có thể thấy tại sao kết luận lại không được rút ra

Cùng một lý do có thể rút ra những kết luận khác nhau

Qua những lập luận quy nạp, bạn có thể chấp nhận lý do được nêu ra, nhưng vẫn thắc mắc về kết luận Do vậy, người ta có thể đưa ra những kết luận khác nhau dựa trên cùng một lý do Ví dụ, hãy xem lại lập luận về vấn đề cờ bạc và chương trình Xổ số Quốc gia bạn đã khảo sát ở bài tập trước

Rút ra một kết luận

Một trong những đặc điểm gây lo lắng của chương trình Xổ số Quốc gia là, sau khi được phát hành, ở Vương quốc Anh lượng tiền chi cho vấn đề cờ bạc ngày càng gia tăng Chương trình Xổ số đã kích thích người ta nghĩ đến việc cờ bạc như một giải pháp cho vấn đề tài chánh của mình

Nếu người ta khẳng định với bạn rằng, vấn đề cờ bạc nói chung đã ngày càng tăng kể từ khi phát hành Chương trình Xổ số, vậy chúng ta có thể kết luận rằng chính Chương trình Xổ số là nguyên nhân của việc cờ bạc ngày càng tăng? Đó là một kết luận mà người ta đã rút ra, và trong một số trường hợp nào đó có thể đó là một kết luận

có lý (trong trường hợp đó việc phát hành Chương trình Xổ số là bằng chứng chắc chắn có liên đới trong việc xem xét tại sao vấn đề cờ bạc ngày càng tăng) Tuy nhiên, kết luận này lại không có tính chắc chắn Bạn có thể rút ra một kết luận khác dựa trên cùng một bằng chứng

Rút ra một kết luận khác

Sau khi Chương trình Xổ số Quốc gia được phát hành, ở Vương quốc Anh lượng tiền chi cho vấn đề cờ bạc ngày càng gia tăng Vì thế, ngày càng có nhiều người mê mẩn cờ bạc hơn trước đây

Trang 32

Ở ví dụ thứ hai này, người nói nhận thấy sự quan trọng của bằng chứng giống như ở ví dụ đầu, nhưng kết luận đưa ra lại sâu sắc hơn Kết luận này đòi hỏi bằng chứng phải chứng minh nhiều vấn đề, trong đó bằng chứng phải có một sự chuyển đổi đột ngột Tuy nhiên, ví dụ thứ ba sau đây lại cho thấy bằng chứng lại có sự quan trọng hoàn toàn khác

Rút ra một kết luận khác nữa

Sau khi Chương trình Xổ số Quốc gia được phát hành, ở Vương quốc Anh có một lượng tiền lớn chi cho vấn đề cờ bạc ngày càng gia tăng Vì thế, hiện nay những người chơi cờ bạc trước khi Chương trình Xổ số Quốc gia được phát hành lại đang tiêu tiền vào cờ bạc nhiều hơn

Ở ví dụ này, người ta sử dụng bằng chứng để rút ra kết luận về việc cờ bạc hiện nay, chứ không phải dùng bằng chứng để rút ra kết luận về việc số người cờ bạc đang gia tăng

Ở mỗi ví dụ, kết luận không có khả năng đúng nhiều, như vậy chúng ta có thể chấp nhận những lý do nêu ra mà không cần chấp nhận kết luận được rút ra Điều mà bạn sẽ nhận ra là những kết luận khác nhau đều dựa trên cơ sở những giải thích về ý nghĩa của bằng chứng sẽ khác nhau

Chúng ta sẽ xem xét vấn đề có tính chắc chắn và có tính gần đúng chi tiết hơn trong Chương 5 Trước khi xem xét Chương 5, bạn gặp phải một vấn đề đặc biệt hơn

Rõ ràng, chúng ta có thể tranh luận về vấn đề nào đó có tính chắc chắn nhiều hơn những vấn đề chỉ có tính gần đúng Vì dụ, những lập luận trong khoa học phải có tính chắc chắn chứ không phải tính gần đúng Như vậy những lập luận này có thể đúng có thể không?

Tất nhiên, chúng ta có thể tranh luận về vấn đề nào đó có tính chắc chắn nhiều hơn những vấn đề chỉ có tính gần đúng Đó chính là cơ sở lập luận thực tế của những

“trường hợp” không cần bàn cãi Tuy nhiên, liệu chúng ta có thể kết luận một vấn đề

có tính chắc chắn hay không khi kết luận vẫn còn phụ thuộc vào bản chất hay hình thái

Trang 33

của lập luận Mặc dù dựa trên cơ sở lập luận thực tế, nhưng những lập luận trong khoa học cũng thường xuyên gắn liền với tính gần đúng chứ không phải là tính chắc chắn Điều này là do tri thức của chúng ta không phải lúc nào cũng đấy đủ, do vậy những kết luận chúng ta rút ra cũng dựa trên những thông tin có giới hạn Ví dụ, trên thực tế, một

số băng ở Nam Cực đang tan ra, tuy nhiên, có một bất đồng lớn xuất hiện cho là, liệu bạn có thể rút ra kết luận từ bằng chứng có thực này để từ đó khẳng định trái đất đang

ấm dần lên hay không Hãy xem xét lập luận được đặt ở hai dạng khác nhau như sau:

Nếu một số băng ở Nam Cực đang tan ra, thì đây là bằng chứng về việc trái đất đang ấm dần lên Vì băng đang tan nên hiện tượng trái đất đang ấm dần lên là tất nhiên

Một số băng ở Nam Cực đang tan ra Vì thế hiện tượng trái đất đang ấm dần lên

là tất nhiên

Ở ví dụ đầu, dạng lập luận này có nghĩa là, nếu lý do nêu ra là đúng, thì kết luận đúng Ở ví dụ thứ hai, lý do nêu ra có thể đúng nhưng kết luận thì không đúng

BÀI TẬP

1 Mỗi lần gặp một lập luận, hãy cố thiết lập sơ đồ hóa cấu trúc của lập luận

2 Hãy khảo sát chứng cứ của một chủ đề nhất định nào đó Nêu kết luận có sức thuyết phục nhất mà bạn có thể rút ra từ đó?

3 Sử dụng chứng cứ ở câu 2 để rút ra một kết luận có sức thuyết phục mạnh hơn nữa

Để rút ra kết luận có sức thuyết phục mạnh hơn này, bạn cần sử dụng thêm chứng

cứ nào?

Trang 34

CHƯƠNG 3

Đi sâu hơn vào những lập luận

TÌM HIỂU THÊM NHỮNG KẾT LUẬN TRONG MỘT LẬP LUẬN

Đến đây chúng ta nhận thấy lập luận khá đơn giản, trong đó người nói sử dụng lý do

để rút ra một kết luận trong một lập luận Tuy nhiên, bạn cũng nhận thấy có những lập luận có thể rút ra vài kết luận Vấn đề nằm ở chỗ là người nói rút ra một kết luận rồi lại tiếp tục sử dụng kết luận này để rút ra một kết luận khác nữa Ví dụ:

Vì một số băng ở Nam Cực đang tan ra, nên hiện tượng trái đất đang ấm dần lên

là tất nhiên Vì thế, chúng ta có thể nghĩ rằng mực nước biển sẽ dâng lên, gây ra nạn lụt thảm khốc ở nhiều khu vực ven biển

Kết luận của lập luận này rất dễ nhận ra (Vì thế, chúng ta có thể nghĩ rằng…) Tuy nhiên, bạn có thấy một kết luận khác đứng ngay trước kết luận này không? Hãy xem lại câu đầu tiên Câu này là một lập luận: một số băng ở Nam Cực đang tan ra, nên hiện tượng trái đất đang ấm dần lên là tất nhiên Kết luận này sau đó được dùng để rút ra kết luận của câu thứ 2: hiện tượng trái đất đang ấm dần lên là tất nhiên Vì thế, chúng ta có thể nghĩ rằng mực nước biển sẽ dâng lên, gây ra nạn lụt thảm khốc ở nhiều khu vực ven biển

Sử dụng kết luận làm lý do cho một kết luận khác

Ví dụ trên cho chúng ta thấy một vấn đề hoàn toàn mới mẻ, đó là, một kết luận có thể dùng làm lý do cho một kết luận khác Kết luận về việc mực nước biển dâng lên được rút ra từ khẳng định trái đất đang ấm dần lên Nếu mở rộng lập luận này sâu hơn, thì bạn có thể thấy rằng kết luận về việc mực nước biển dâng lên có thể được dùng làm lý

do để rút ra một kết luận khác sâu hơn nữa

Vì một số băng ở Nam Cực đang tan ra, nên hiện tượng trái đất đang ấm dần lên

là tất nhiên Vì thế, chúng ta có thể nghĩ rằng mực nước biển sẽ dâng lên, gây ra nạn lụt thảm khốc ở nhiều khu vực ven biển Chúng ta nên hành động ngay để giảm thiểu những nguyên nhân gây nên hiện tượng trái đất đang ấm dần lên

Trang 35

Để phân loại kết luận này với kết luận khác, chúng ta cần phân biệt kết luận chính với kết luận trung gian

Kết luận chính là kết luận hướng đến vấn đề mà cả lập luận đang nhắm vào;

còn kết luận trung gian là kết luận được rút ra ở từng bộ phận

 Một lập luận có thể có nhiều kết luận trung gian, nhưng rõ ràng chỉ có một kết luận chính

Chúng ta sẽ đặt những kết luận trung gian này vào sơ đồ biểu thị cấu trúc của lập luận như thế nào?

Chúng ta có thể dùng ví dụ đầu tiên để trình bày sơ đồ này:

(R – lý do) Vì một số băng ở Nam Cực đang tan ra, (IC – kết luận trung gian) nên hiện tượng trái đất đang ấm dần lên là tất nhiên (C – kết luận) Vì thế, chúng ta có thể nghĩ rằng mực nước biển sẽ dâng lên, gây ra nạn lụt thảm khốc

ở nhiều khu vực ven biển

Trang 36

nhiều loài sinh vật sống ở các con sông này sẽ không còn tồn tại nữa

Câu thứ ba là kết luận trung gian, còn hai câu đầu đóng vai trò là những lý do

để rút ra kết luận này Nếu vẫn nghi ngờ về cách giải thích này, mời bạn đọc lại ba câu đầu, tạm thời quên đi hai câu cuối Kết luận trung gian này, cùng với câu thứ tư, được

sử dụng để rút ra kết luận chính Mời các bạn xem lại hoạt động của lập luận này:

Nếu chúng ta không sớm làm gì đó về vấn đề ô nhiễm ở các con sông, thì nhiều loài sinh vật sống dưới nước ở các con sông này sẽ ngày càng mất dần Tuy nhiên, chưa có kế hoạch hiệu quả nào có thể làm giảm thiểu vấn đề ô nhiễm các con sông Do đó, nhiều loài sinh vật sống ở các con sông này sẽ không còn tồn tại nữa

Đặt những kết luận trung gian vào cấu trúc một cách thích hợp

Như bạn thấy, kết luận trung gian đóng vai trò là lý do hỗ trợ cho kết luận chính Chúng ta sẽ đưa kết luận trung gian này vào sơ đồ theo cách sau:

(R1) Ô nhiễm ở các con sông đang ngày càng tăng với tốc độ nhanh (R2) Sông càng bị ô nhiễm, thì động vật sống dưới đó càng bị đe dọa nhiều (IC) Nếu chúng ta không sớm làm gì đó về vấn đề ô nhiễm ở các con sông, thì nhiều loài sinh vật sống dưới nước ở các con sông này sẽ ngày càng mất dần (R3) Tuy nhiên, chưa có kế hoạch hiệu quả nào có thể làm giảm thiểu vấn đề ô nhiễm các con sông (C) Do đó, nhiều loài sinh vật sống ở các con sông này sẽ không còn tồn tại nữa

Trang 37

khác), thì bạn đã thực hiện được việc đánh giá đầy ý nghĩa của lập luận đó rồi Hơn nữa, nếu bạn có thể trình bày được rằng có thể rút ra được kết luận trung gian, nhưng lại chứng minh rằng kết luận trung gian được dùng làm lý do để rút ra một kết luận nữa thể hiện mơ hồ như thế nào, thì bạn sẽ có thể nhìn thấy phần nào của lập luận đang hoạt động, còn phần nào không hoạt động Cũng như vậy, bạn sẽ có thể hạn chế việc nêu lý do của riêng mình Để thực hành kỹ năng tìm kết luận trung gian, hãy thực hành bài tập sau:

(2) Chính phủ đã yêu cầu các trại giam cắt giảm chi tiêu Tuy nhiên, số người bị tống giam ngày càng tăng Đội ngũ quản lý trong nhà tù nhận thấy ngày càng khó khăn hơn trong việc đối phó với số tù nhân gia tăng Chính phủ có thể thực hiện tiết kiệm bằng cách khác Rõ ràng, không nên cắt giảm chi tiêu đối với các nhà tù (3) Có những điều luật chống lại sự ngược đãi đối với những con vật nuôi và vật phục vụ ở nông trại Lý do đưa ra là không nên bắt những con vật này chịu đựng quá mức cần thiết Tuy nhiên, về mặt này cũng như về mặt khác, không có những phân biệt về khả năng chịu đựng giữa động vật hoang với những con vật nuôi và vật phục vụ ở nông trại Chúng ta không thể biện minh cho việc đối xử khác giữa động vật hoang với những động vật khác Vậy thì chúng ta nên đưa ra luật chống lại việc ngược đãi với động vật hoang

Trả lời

(1) Câu đầu tiên là kết luận trung gian Nó được rút ra từ nội dung của câu thứ hai:

Trang 38

(R1) Kế hoạch làm đường vòng (để tránh kẹt xe…) không được đa số cư dân địa phương hỗ trợ (R2) Nó sẽ làm ảnh hưởng đến mỹ quan của nhiều khu vực (IC) Do

đó nên bỏ kế hoạch này Kết luận trung gian này sau đó được sử dụng kết hợp với một lý do nữa để hỗ trợ cho kết luận chính: (IC) Nên bỏ kế hoạch này (R3) Một kế hoạch thay thế khác gần đây đã được triển khai và được nhiều người địa phương ủng hộ (C) Do đó, Chính phủ nên mở lại một cuộc điều tra công khai

(3) Câu thứ tư là kết luận trung gian Kết luận này được lý do ở ba câu đầu hỗ trợ (chú

ý cách mà từng bước lập luận được thiết lập):

(R1) Có những điều luật chống lại sự ngược đãi đối với những con vật nuôi và vật phục vụ ở nông trại (R2) Lý do đưa ra là không nên bắt những con vật này chịu đựng quá mức cần thiết (R3) Tuy nhiên, không có những phân biệt về khả năng chịu đựng giữa động vật hoang với những con vật nuôi và vật phục vụ ở nông trại (IC) Do đó, chúng ta không thể biện minh cho việc đối xử khác giữa động vật hoang với những động vật khác

Trang 39

Kết luận trung gian “chúng ta không thể biện minh cho việc đối xử khác biệt với động vật hoang” sau đó được dùng làm lý do cho kết luận chính:

Chúng ta không thể biện minh cho việc đối xử khác giữa động vật hoang với những động vật khác (C) Do đó, (từ đó chúng ta đưa ra luật bảo vệ những con vật nuôi và vật phục vụ ở nông trại) chúng ta nên đưa ra luật chống lại việc ngược đãi với động vật hoang

Ở ví dụ này, chúng ta có một kết luận trung gian được dùng làm lý do theo cách riêng để hỗ trợ cho kết luận chính:

IC ↓

C

KHẮC PHỤC NHỮNG KHIẾM KHUYẾT KHI NÊU LÝ DO

Đến đây chúng ta đã xem xét những lập luận dựa vào những lý do được trình bày một cách rõ ràng Nói cách khác, chúng ta chỉ mới xem xét đến những bộ phận trong một lập luận được xác định Tuy nhiên, nhiều lập luận sẽ có những bộ phận khác mặc dù không được xác định, những bộ phận này đóng một vai trò quan trọng Chúng ta gọi

những bộ phận không được xác định này là giả định

Người ta thường nói, giả định là từ dùng để loại bỏ lập luận của người khác

“giả sử bạn cho rằng” là một cáo buộc khẳng định rằng “bạn không có bằng chứng về điều đó” Thực ra đây không phải là cách mà chúng ta dùng để nói về thuật ngữ này Giả định là một bộ phận không được xác định của một lập luận không có kết luận được rút ra Cách dùng này sẽ được làm sáng tỏ bằng cách xem xét một ví dụ cụ thể

Tìm hiểu những giả định

Đa số học sinh ở trường này đạt được Chứng chỉ Giáo dục phổ thông Trung học (GCSE) và cấp cao hơn trong các kỳ thi lấy chứng chỉ Giáo dục phổ thông không tốt lắm so với học sinh ở những trường khác trong khu vực Chắc chắn

Trang 40

đây là vấn đề của chất lượng giảng dạy

Trong ví dụ này, kết luận rằng chất lượng của việc giảng dạy phải chịu trách nhiệm về kết quả đáng buồn của kỳ thi dựa vào một lý do duy nhất Nhưng trên thực

tế, kết quả này phải được dựa vào nhiều lý do hơn chứ không chỉ dựa vào một lý do đã được xác định Để đưa ra kết luận rằng, những kết quả đáng buồn này là kết quả của việc giảng dạy kém chất lượng, câu này giả định rằng những kết quả đó không có lời giải thích nào khác Ví dụ, giả sử rằng không có những khác biệt xác đáng giữa học sinh ở các trường khác nhau Phải giả định điều này bởi vì, nếu không, thì kết luận không thể rút ra được (mà không trình bày lý do tại sao giả định này lại không xác đáng) Chắc chắn bạn sẽ nghĩ đến những giả định khác sẽ được thực hiện trong lập luận này

Làm sáng tỏ hiệu quả của một giả định

Sau đây là một lập luận khác:

Nếu người ta đầu tư tiền bạc vào đồ cổ cách đây khoảng 20 năm, thì mãi cho đến bây giờ họ mới nhận ra khó mà kiếm được lãi trong đầu tư của mình Vì thế, những người không đủ khả năng làm tăng thêm số tiền tiết kiệm của mình thì nên đầu tư tiền bạc vào cái khác hay hơn là đầu tư vào đồ cổ

Giả định được thực hiện ở đây là gì? Trong giả định này chỉ có một lý do và một kết luận, tuy nhiên bạn có thể thấy rằng, bất kỳ giả định nào cũng phải có thêm một lý do nữa hoạt động giữa hai lý do khác Lý do thiếu vắng cần có để rút ra kết luận

ở đây là “giá đồ cổ hơn 20 năm qua là một chỉ dẫn hữu ích cho giá đồ cổ trong tương lai” Nếu không có giả định này, không thể rút ra kết luận được Để hiểu rõ hơn, hãy thử đặt giả định đối lập với giả định này (“… không phải là một chỉ dẫn hữu ích”) vào lập luận Hiệu quả xảy ra giống như việc chuyển lý do đã được xác định rõ (câu đầu tiên) vào giả định đối lập: không thể đơn giản rút ra kết luận

Do vậy, khi bạn đưa ra hay đánh giá một lập luận, bạn cần phải xem xét những giả định được thực hiện giống như việc bạn xem xét những lý do mà người nói muốn làm sáng tỏ

Ngày đăng: 09/07/2015, 10:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w