1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo An sinh xã hội Việt nam thời kỳ đổi mới thực trạng và thách thức

11 471 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 238,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì ASXH “là sự đảm bảo thực hiện các quyền của con người được sống trong hoà bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ lu

Trang 1

AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI:

THỰC TRẠNG VÀ THÁCH THỨC

TS Hoàng Thu Hương-

GS.TS Nguyễn Văn Khánh

An sinh xã hội (ASXH) được xem tương đương với thuật ngữ Social Security

(Mạc Văn Tiến, 2011), hoặc Social Protection (Viện Khoa học Lao động & Xã hội,

Tổ chức GIZ, 2011)

Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì ASXH “là sự đảm bảo thực hiện các quyền của con người được sống trong hoà bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật; được

học tập, được có việc làm, có nhà ở; được đảm bảo thu nhập để thoả mãn những nhu

cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già” (Mạc Văn Tiến, 2011) Theo nghĩa hẹp, ASXH được hiểu là “sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mất thu nhập do bị

giảm hoặc mất khả năng lao động hay mất việc làm; cho những người già cả, cô đơn,

trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người nghèo đói và những người bị thiên tai, dịch

hoạ…”(Mạc Văn Tiến, 2011) Theo cách hiểu này, ASXH là tổng thể các biện pháp

để đảm bảo các quyền tối thiểu của con người

Còn thuật ngữ Social Protection được hiểu là “hệ thống các chính sách can

thiệp của nhà nước (bảo hiểm xã hội/trợ giúp xã hội) và tư nhân (các chế độ không theo luật định hoặc của tư nhân) nhằm giảm mức độ nghèo đói và tổn thương, nâng cao năng lực tự bảo vệ của người dân và xã hội trước những rủi ro hay nguy cơ giảm

hoặc mất thu nhập, bảo đảm ổn định, phát triển và công bằng xã hội” (Viện Khoa học Lao động và Xã hội & Tổ chức GIZ, 2011: 10) Theo cách hiểu này, ASXH chính là

hệ thống các chính sách nhằm đảm bảo đời sống cho các nhóm đối tượng dễ bị tổn

thương trong xã hội

Khi xem xét về cấu trúc của hệ thống ASXH Việt Nam hiện nay, có thể thấy

rằng có nhiều quan điểm chưa thống nhất Theo một nghiên cứu của UNDP thì ở Việt Nam, an sinh xã hội “chỉ hệ thống bảo hiểm xã hội do Bảo hiểm xã hội Việt Nam…

Trang 2

quản lý” (Martin Evans và các tác giả, 2006: 1) Song có tác giả lại cho rằng ASXH

gồm hai bộ phận chính là bảo hiểm xã hội và cứu trợ xã hội, còn theo nghĩa rộng thì ASXH bao gồm cả các nội dung khác như: chính sách ưu đãi xã hội, chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình trợ giúp các địa phương đặc biệt khó khăn, và các loại

quỹ tiết kiệm và các loại hình bảo hiểm khác (Bùi Sỹ Lợi, 2010) Hệ thống ASXH

Việt Nam được cấu thành từ 3 bộ phận chính là bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội và ưu đãi xã hội (Mạc Văn Tiến, 2011) Cũng có người lại cho rằng ASXH gồm chính sách

thị trường lao động, chính sách bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, chính sách trợ giúp

xã hội (Nguyễn Trọng Đàm, 2009; Bộ LĐ, TB & XH, 2010), hay bảo hiểm xã hội,

bảo hiểm y tế và bảo trợ xã hội (Đặng Như Lợi, 2011) Ngoài ra, cũng có quan điểm cho rằng hệ thống ASXH gồm 4 nhóm là BHXH, bảo trợ xã hội, ưu đãi xã hội và các

dịch vụ xã hội khác (Đỗ Ngọc Huỳnh, 2010)

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc hệ thống ASXH, song nhiều tác giả cũng đã nhận định hệ thống ASXH ở Việt Nam hiện nay có sự tương thích và phù hợp với quan niệm về ASXH của Tổ chức lao động quốc tế trong Công ước 102

về quy phạm tối thiểu (Bùi Sỹ Lợi, 2010; Nguyễn Hữu Dũng, 2010)

Trước thực trạng thiếu thống nhất về cách hiểu an sinh xã hội giữa các học giả,

cơ quan nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách, trong quá trình xây dựng dự

thảo Chiến lược An sinh xã hội giai đoạn 2011 – 2020, Viện Khoa học Lao động và

Xã hội đã đề xuất thuật ngữ an sinh xã hội gồm 4 yếu tố: “bảo hiểm xã hội, chính sách

thị trường lao động chủ động, trợ giúp xã hội và các thành phần khác như bảo vệ trẻ

em, bảo hiểm mùa màng, bảo hiểm vi mô, quỹ cộng đồng và khác” (Viện Khoa học

Lao động& Xã hội và Tổ chức Giz, 2011: 8)

Tóm lại, mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về ASXH, song hai thành phần

cơ bản nhất của ASXH Việt Nam được nhiều quan điểm chia sẻ là bảo hiểm xã

hội(BHXH) và trợ giúp xã hội (TGXH) Dưới đây chúng tôi xin bàn luận về sự phát

triển của hai thành phần cơ bản nhất trong hệ thống ASXH Việt Nam

1 Thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam:

Những kết quả đạt được

Nhìn từ góc độ lịch sử, vấn đề ASXH đã được đặt ra ở Việt Nam từ rất sớm, ngay vào những năm đầu tiên xây dựng nhà nước độc lập Kể từ năm 1945 đến trước

Trang 3

1985, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản liên quan tới vấn đề ASXH như BHXH đối với công nhân viên chức nhà nước, cứu trợ xã hội đối với người nghèo, những người gặp rủi ro trong cuộc sống, ưu đãi đối với những người có công với đất nước Đặc trưng cơ bản của hoạt động ASXH trong giai đoạn này là vai trò của Nhà nước: Nhà nước vừa ban hành, vừa trực tiếp thực hiện các chính sách nói trên Chính do sự bao cấp của Nhà nước, cũng như cơ chế điều hành theo kiểu hành chính, mệnh lệnh nên một mặt các nguồn lực cho hoạt động an sinh xã hội trong giai đoạn này đã không được phát huy, mặt khác, người lao động nảy sinh tâm lý ỷ lại vào Nhà nước Năm

1986, thực hiện chính sách đổi mới toàn diện nền kinh tế Việt Nam, chuyển từ chế độ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần, có sự quản lý

của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cũng từ đây, hoạt động của hệ

thống ASXH Việt Nam có bước thay đổi căn bản, từ nguyên tắc bao cấp của nhà nước

sang nguyên tắc có sự tham của các thành phần khác trong xã hội

1.1 Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Điểm nổi bật nhất trong hệ thống ASXH Việt Nam chính là BHXH Việt Nam, được hiểu “là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã

hội” (Luật BHXH 2006, Điều 3) Theo báo cáo của UNDP thì Bảo hiểm xã hội “bắt đầu được thực hiện ở Việt Nam từ năm 1947 và được mở rộng năm 1993, từ phạm vi ban đầu là khu vực nhà nước sang khu vực doanh nghiệp tư nhân và công ty liên doanh Chương trình BHXH thực hiện bằng nguồn đóng góp bao gồm trả lương hưu trí, trợ cấp thương tật, trợ cấp thai sản và đến năm 2002 thì bổ sung thêm trợ cấp thất nghiệp (Martin Evans và các tác giả, 2006: 2) BHXH Việt Nam khi mới bắt đầu thực

hiện được áp dụng cho đối tượng công nhân viên chức nhà nước, lực lượng vũ trang, nguồn tài chính cho BHXH chủ yếu từ ngân sách nhà nước Cùng với sự đổi mới trong quản lý kinh tế - xã hội, BHXH dần dần được mở rộng, nguồn tài chính cho BHXH được xây dựng dựa trên nguyên tắc có sự tham gia của nhà nước, của người sử

dụng lao động và người lao động để giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước

Các chương trình BHXH Việt Nam hiện gồm hai hình thức: trợ cấp ngắn hạn

và trợ cấp dài hạn Trợ cấp ngắn hạn gồm có trợ cấp thai sản, trợ cấp ốm đau, trợ cấp

Trang 4

thương tật và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp thất nghiệp và mất việc làm do thừa lao động

Trợ cấp dài hạn gồm lương hưu và tử tuất

Bảng 1: Sự phỏt triển của hệ thống BHXH Việt Nam từ năm 2000 đến nay

Năm 2000 * 2004 * 2005 2006 2007 2008 2009 2010

Số người

tham gia

BH

4,1 triệu 5,8 triệu 6.189.962 6.746.553 7.429.002 8.545.577 8.856.124 9.404.456

Nguồn: Năm 2000, 2004: MOLISA, 2006; Năm 2005 – 2010: Điều Bỏ Được,

2011

Bảng số liệu trờn đó cho thấy sự phỏt triển của hệ thống BHXH Việt Nam,

trong vũng 10 năm, số người tham gia BHXH đó tăng hơn 2 lần (4,1 triệu người vào năm 2000 và 9,4 triệu người vào năm 2010) Trong đú, BHXH hiện vẫn phổ biến là hỡnh thức bảo hiểm bắt buộc BHXH tự nguyện bắt đầu được thực hiện từ năm 2008, ban đầu mới cú 6.110 người tham gia, đến năm 2010, số người tham gia BHXH tự

nguyện đó tăng gấp 10 lần, lờn tới 61.689 người Như vậy, số người tham gia BHXH

bắt buộc hiện gấp hơn 150 lần so với số người tham gia BHXH tự nguyện Theo luật BHXH, những đối tượng phải tham gia BHXH bắt buộc gồm cú những người làm

việc theo hợp đồng lao động khụng xỏc định thời hạn hoặc cú thời hạn từ 3 thỏng trở lờn, cỏn bộ, cụng chức, viờn chức, những người làm việc trong lực lượng vũ trang,

những người cú thời hạn làm việc ở nước ngoài mà trước đú đó đúng BHXH Theo số

liệu của BHXH Việt Nam cung cấp thỡ đối tượng tham gia BHXH hiện như sau:

Bảng 2: Tổng hợp đối tượng tham gia BHXH từ năm 2007- 2010

Đơn vị: người

2007

Năm

2008 Năm 2009 Năm 2010

I Bảo hiểm xã hội bắt buộc 8,172,502 8,529,567 8,814,931 9,342,767

1 HCSN, Đảng, ĐT, LLVT 3,226,873 3,118,309 3,273,260 3,303,918

2 Ngoài công lập 110,861 119,033 124,043 212,717

3 Xã, phường, thị trấn 210,834 212,800 122,207 126,989

Trang 5

4 Doanh nghiệp Nhà nước 1,367,167 1,315,102 1,282,490 1,280,698

5 Doanh nghiệp FDI, VPĐD 1,525,406 1,753,800 1,752,504 1,957,977

6 Doanh nghiệp NQD 1,677,765 1,951,153 2,166,009 2,392,140

8 LĐ có thời hạn ở nước ngoài 3,977 2,435 1,970 2,163

9 Đối tượng khác 8,478 10,429 42,723 15,360

II

Bảo hiểm xã hội tự

III Bảo hiểm thất nghiệp 0 0 5,993,300 7,054,962

Tổng số (I + II) 8,172,502 8,535,677 8,535,677 9,404,456

Nguồn: Trần Thị Thỳy Nga, 2011

Từ bảng số liệu trờn cú thể thấy rằng, số người tham gia BHXH là những người làm việc trong khu vực chớnh thức, nhất là khu vực nhà nước cú xu hướng giảm song

vẫn là đối tượng chủ yếu tham gia BHXH Bờn cạnh đú, nhúm tham gia BHXH là

những người làm việc trong cỏc doanh nghiệp FDI, văn phũng đại diện, doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang cú xu hướng gia tăng Nhỡn vào thành phần những người tham gia BHXH cú thể thấy rằng đa số họ thuộc nhúm cú thu nhập trung bỡnh và cao Trong khi đú, theo số liệu của Tổng cục Thống kờ, tớnh đến 1/7/2010, cả nước hiện cú 49,5 triệu người từ 15 tuổi trở lờn đang cú việc làm Như vậy, số lượng người tham gia BHXH tớnh đến năm 2010 mới chỉ chiếm gần 19% tổng số người lao động

1.2 Trợ giỳp xó hội

Chớnh sỏch trợ giỳp xó hội (TGXH) ở Việt Nam đó được hỡnh thành từ Cỏch

mạng thỏng 8 năm 1945 với mục đớch cứu trợ cho những người chịu hậu quả chiến tranh, thiờn tai, trẻ em mồ cụi, người khuyết tật Cựng với BHXH, TGXH là một trong hai trụ cột quan trọng trong hệ thống ASXH ở Việt Nam Ở nước ta hiện nay đang

thực hiện hai hỡnh thức trợ giỳp xó hội, đú là trợ giỳp xó hội thường xuyờn và trợ giỳp

đột xuất

Mục tiờu của chớnh sỏch TGXH thường xuyờn là hướng tới giải quyết vấn đề cụng bằng, ổn định và phỏt triển bền vững của quốc gia Để thực hiện mục tiờu này, Nhà nước đó cú hàng loạt cỏc chớnh sỏch cụ thể để trợ giỳp những đối tượng cần TGXH thường xuyờn như chớnh sỏch trợ cấp xó hội hàng thỏng, chớnh sỏch trợ giỳp y

Trang 6

tế, chính sách trợ giúp giáo dục, đào tạo và một số chính sách khác Đối tượng được

nhận trợ giúp xã hội thường xuyên theo quy định của pháp luật hiện hành gồm có: 1,

trẻ mồ côi; 2, người cao tuổi cô đơn hoặc không có người nương tựa trong gia đình nghèo; 3, người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp BHXH; 4, người khuyết tật nặng; 5, người mắc bệnh tâm thần mãn tính; 6, người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động và thuộc hộ nghèo; 7, gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi; 8, hộ gia đình có từ 2 người trở lên là người khuyết

tật (NKT) nặng; 9, người đơn thân thuộc hộ nghèo đang nuôi con dưới 16 tuổi Như

vậy, các đối tượng được TGXH thường xuyên là “bộ phận của đối tượng bảo trợ xã

hội đang sống tại cộng đồng, gặp một trong các hoàn cảnh không còn khả năng lao động, không tự chăm sóc được bản thân, có khó khăn kinh tế hoặc hoàn cảnh khác dẫn đến khó khăn trong việc tự đảm bảo các nhu cầu cơ bản của cá nhân như những người bình thường khác cần đến sự trợ giúp của Nhà nước, xã hội” (Nguyễn Ngọc Toản, 2011: 25) Những đối tượng được nhận TGXH thường xuyên như hiện nay đã mở

rộng phạm vi hơn so với trước đây Nếu từ năm 2000 trở về trước, đối tượng được hưởng TGXH thường xuyên chỉ gồm có người già cô đơn, người tàn tật nặng có hoàn

cảnh kinh tế khó khăn, trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi không nơi nương tựa, không

có người chăm sóc thì bắt đầu từ năm 2000, nhóm người cao tuổi từ 90 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp xã hội, người bị nhiễm HIV/AIDS không có khả năng lao động được hưởng TGXH thường xuyên Đến năm 2004, hai nhóm đối tượng được bổ sung thêm đó là hộ gia đình có 2 người khuyết tật nặng trở lên, hộ gia đình

nhận nuôi dưỡng trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi Từ năm 2007, có sự điều chỉnh về độ tuổi

của người cao tuổi được nhận TGXH thường xuyên theo hướng giảm từ 90 tuổi xuống

85 tuổi Theo số liệu của Cục Bảo trợ Xã hội (Bộ LĐ, TB & XH), tính đến năm 2010,

cả nước có 1439 ngàn người thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên cộng đồng

và về mức độ bao phủ của chính sách là “1,5% dân số vào năm 2009 và đã thực hiện cho 9,22% đối tượng bảo trợ xã hội Tuy nhiên, mức độ bao phủ của mỗi nhóm đối tượng khác nhau, cao nhất là người đơn thân, trẻ em mồ côi và thấp nhất là người nhiễm HIV/AIDS và người tàn tật Cụ thể đã bao phủ trên 95,58% người đơn thân nghèo đang nuôi con, 65,16% trẻ em mồ côi, 28,66% hộ có từ hai người tàn tật nặng, 8,71% người cao tuổi (bao gồm cả người cao tuổi cô đơn và người trên 85 tuổi),

Trang 7

7,47% người tàn tật (bao gồm cả tâm thần) và chỉ có 1,06% người nhiễm HIV/AIDS” (Cục Bảo trợ Xã hội, 2010: 16) Như vậy, nếu so sánh với mục tiêu đặt ra của chính sách thì mức độ bao phủ của TGXH thường xuyên với các đối tượng bảo trợ xã hội ở

Việt Nam hiện còn khá thấp

Về trợ giúp đột xuất (TGĐX), theo quy định của pháp luật hiện hành thì đối tượng thụ hưởng chính sách TGĐX là những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu

quả thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng gây ra

Bảng 3: Tổng hợp kết quả trợ giúp đột xuất giai đoạn 2001 – 2010

3 Nhà sập, đổ, trôi, cháy (nhà) 138.043

5 Người thiếu đói được cứu trợ (1000 người) 1.467

Nguồn: Cục Bảo trợ Xã hội, Bộ LĐ, TB & XH, 2011: 18

Tóm lại, qua xem xét hai trụ cột chính trong hệ thống ASXH Việt Nam là BHXH và TGXH, có thể thấy rằng hệ thống ASXH Việt Nam đang thay đổi không

ngừng, ngày càng mở rộng đối tượng thụ hưởng chính sách an sinh Song những kết

quả đạt được vẫn còn khá khiêm tốn, đối tượng được thụ hưởng chính sách vẫn chiếm

một phần nhỏ trong dân số và chưa vươn tới toàn bộ những đối tượng khó khăn nhất

2 Hệ thống an sinh xã hội Việt Nam: những thách thức trong quá trình phát triển

2.1 Thách thức từ đói nghèo

Việt Nam đã và đang đạt được nhiều thành tựu lớn trong đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có những thành tựu nổi bật về xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, Việt Nam vẫn luôn đối diện với vấn đề đói nghèo

Bảng 4: Thực trạng nghèo đói ở Việt Nam

Trang 8

3 - Nông thôn 21,2 18,0 16,1 13,2 17,4

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2011), Điều tra mức sống hộ dân cư năm 2010

Ghi chú: Tỷ lệ hộ nghèo năm 2004, 2006, 2008, 2010 tính theo Chuẩn nghèo

của Chính phủ giai đoạn 2006 – 2010, có tính theo trượt giá Tỷ lệ hộ nghèo năm 2010

(*) tính theo theo Chuẩn nghèo của Chính phủ giai đoạn 2011 – 2015

Theo kết quả Điều tra mức sống hộ dân cư năm 2010 do Tổng cục Thống kê

thực hiện thì tỷ lệ hộ nghèo liên tục giảm xuống (theo cách tính Chuẩn nghèo của Chính phủ giai đoạn 2006 – 2010) Nhưng nếu tính toán theo Chuẩn nghèo của Chính

phủ giai đoạn 2011 – 2015 thì tỷ lệ hộ nghèo không giảm; số hộ nghèo vẫn chiếm tới 14,2% tổng số hộ gia đình Thêm vào đó, tình trạng nghèo đói có xu hướng tập trung vào nhóm các dân tộc thiểu số Ngoài ra, khoảng cách giáo dục giữa dân tộc đa số (Kinh) và các dân tộc thiểu số vẫn còn lớn, trẻ em thuộc nhóm dân tộc thiểu số có tỷ lệ hoàn thành các cấp học thấp hơn so với dân tộc Kinh Điều đó có nghĩa là nhóm dân

tộc thiểu số có ít cơ hội về việc làm và ít cơ hội được hưởng lợi từ sự phát triển của

Việt Nam hơn là dân tộc đa số Đây chính là vấn đề mà hệ thống ASXH cần phải quan

tâm tới

2.2 Thách thức từ các rủi ro kinh tế

Phát triển trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, nền kinh tế Việt Nam luôn chịu tác động khi có những bất ổn về kinh tế trong khu vực cũng như trên

thế giới Trong những năm gần đây, nền kinh tế thế giới luôn gặp nhiều khó khăn, thêm vào đó, hàng năm Việt Nam vẫn phải nỗ lực để kìêm chế làm phát Chính những

bất ổn, rủi ro về kinh tế có tác động rất lớn tới các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, làm cho nhóm hộ cận nghèo dễ rơi lại vào tình trạng đói nghèo, những người lao động

dễ đứng trước nguy cơ mất việc làm khi doanh nghiệp gặp khó khăn, Hiện nay, BHXH đã có trợ cấp thất nghiệp dành cho người lao động, song số người được nhận

trợ cấp này vẫn còn khá khiêm tốn so với số lao động thất nghiệp Năm 2010, có 156.765 người hưởng trợ cấp thất nghiệp; 125.562 người được tư vấn giới thiệu việc làm (chiếm 80% số người hưởng trợ cấp thất nghiệp) (Trần Thị Thúy Nga, 2011) Trong khi đó, số người thất nghiệp ở Việt Nam tính đến năm 2010 là 1,3 triệu người (Tổng

cục Thống kê, 2011) Trước những thách thức như vậy, chỉ có ASXH mới là phao cứu

sinh cho các nhóm đối tượng này

Trang 9

2.3 Thách thức từ quá trình già hóa dân số

Già hóa dân số ở Việt Nam mặc dù mới chỉ bắt đầu, song cũng là một trong các

yếu tố quan trọng mà hệ thống ASXH cần tính tới Hiện nay, số người được BHXH chi trả lương hưu tăng dần, nếu vào năm 2005 có 1,43 triệu người có lương hưu thì đến năm 2010 tăng lên 1,8 triệu người (Điều Bá Được, 2011) Tuy nhiên, số lượng người già có lương hưu chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với số người già của Việt Nam

hiện nay Những người già không có lương hưu, đồng nghĩa với việc cuộc sống của họ chưa được đảm bảo tối thiểu Đây cũng là vấn đề đòi hỏi hệ thống ASXH cần quan

tâm giải quyết

* *

* Tóm lại, mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, nhất là trong thời kỳ đổi mới đến nay, nhưng chính sách ASXH ở nước ta cũng còn không ít hạn chế và bất

cập; trong đó hạn chế trước hết là chưa bảo đảm thực hiện (bao phủ) được tất cả các đối tượng cần sự bảo hiểm và trợ giúp Thêm vào đó, mức độ bảo hiểm và trợ giúp

cũng còn khiêm tốn, nói cách khác là đang ở mức thấp so với nhu cầu cơ bản của đối

tượng thực hiện chính sách ASXH

Để khắc phục các hạn chế và tạo nên bước chuyển biến mạnh mẽ và cơ bản trong hệ thống ASXH, thiết thực đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân

lực phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, việc xây dựng và thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam cần có sự cải cách một cách toàn diện, trên nguyên tắc

toàn dân Chỉ có như vậy mới đảm bảo mọi người đều có quyền và cơ hội tiếp cận hệ

thống ASXH , tạo điều kiện thực hiện đầy đủ quyền bình đẳng, quyền“ được sống và mưu cầu hạnh phúc” như Bác Hồ đã từng chỉ dạy , làm cơ sở cho sự phát triển bền

vững của đất nước trong tương lai

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Lao động Thương binh & Xã hội (2010), Dự thảo Chiến lược An sinh xã hội 2011

– 2020

Trang 10

2 Cục Bảo trợ Xã hội, Bộ Lao động Thương binh & Xã hội (2010), Số liệu về Bảo trợ

xã hội và giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010, NXB Lao động Xã hội, Hà Nội

3 Đặng Kim Chung & Matthias Meissner (2011), Public Private Partnership in Social

Protection, Background and discussion paper for “ASEM forum on Social Safety

Nets: Enhanced cooporation to address post – Crisis Challenges

4 Nguyễn Hữu Dũng (2010), Hệ thống chính sách An sinh xã hội ở Việt Nam : Thực trạng & định hướng phát triển Trong : Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế & Kinh

doanh (26), 118 – 128

5 Nguyễn Trọng Đàm (2009), Hệ thống chính sách an sinh xã hội nước ta trong giai đoạn phát triển mới, Trong : Bản tin Khoa học Lao động & Xã hội, Viện Khoa học

Lao động & Xã hội, Hà Nội tr 3-7

6 Điều Bá Được (2011), Báo cáo Tình hình quản lý và sử dụng quỹ Bảo hiểm Xã hội giai đoạn 2005 – 2011, Tham luận tại Hội thảo “Thi hành luật bảo hiểm xã hội và Luật bảo hiểm y tế” do UB về các vấn đề xã hội của Quốc hội tổ chức 3/2011, tp

HCM

7 Martin Evans và các tác giả (2006), An sinh xã hội Việt Nam lũy tiến đến mức nào,

Trong: Báo cáo đối thoại chính sách của UNDP

8 Đỗ Ngọc Huỳnh (2010), Bàn về cải cách hệ thống an sinh xã hội Việt Nam Trích từ

website của Bộ Lao động Thương binh & Xã hội: http://www.molisa.gov.vn

9 Đặng Như Lợi (2011), Nhận thức đúng, đầy đủ để hoạch định chính sách An sinh xã hội có hiệu quả, Tham lu ận tại Hội thảo Chính sách bảo hiểm xã hội và bảo trợ xã hội – Thực trạng, thách thức và định hướng phát triển, UB về các vấn đềxã hội của Quốc

hội phối hợp với World Bank tổ chức tháng 11/2011

10 Bùi Sỹ Lợi (2010), Cấu trúc hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam: từ hiện tại tới mô hình tương lai Nguồn: website chính thức của Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử

thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội: http://ttbd.gov.vn

11 Trần Thị Thúy Nga (2011), Tình hình thực hiện luật Bảo hiểm xã hội giai đoạn 2007 –

2010, Tham luận tại Hội thảo “Thi hành Luật Bảo hiểm xã hội và Luật Bảo hiểm y

tế”, Tp Hồ Chí Minh, 3/2011

12 Lê Thị Hoài Thu (2004), Pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và một số

kiến nghị, Trong Tạp chí Bảo hiểm Xã hội, số 6/2004

Ngày đăng: 08/07/2015, 19:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w