1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm giữa tăng trưởng và công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới Vấn đề và giải pháp Tài liệu, ebook, giáo trình

17 418 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 4,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

có thể kể đến một số các bài viết tiêu biểu: "Bàn về công bằng trong thu nhập và ảnh hưởng của nó đến vấn đề kinh tế” của tác giả Trịnh Huy Quách trên tạp chí những vấn đề kinh tế thế gi

Trang 1

1.GS.TS Nguyễn Ngọc Long - Viện Triết học

2.GSTS Trần Phúc Thăng - Viện Triết hoc 3.PGS.TS Nguyễn Tĩnh Gia - Viện Triết học

TONG QUAN KHOA HOC 5.PGSTS Nguyễn Thế Kiệt - Viện Triết học

8.PGS.TS Lê Ngọc Tong - Vụ Quản lý khoa học 9.TS Hoang Thi Thanh - Tap chi ly luan chinh tri

QUAN HE GIUA TANG TRUONG KINH TE H a ~ =~ mâa 2 = 10.TS VaHéag.Som = Vigm rit hee 11 TS Trần Sỹ Phán - Viện Triết học VỮI CONG BANG XA HOI 0 VIET NAM ` ~ , kh TY fe 8 12 TS Hoàng Hải Bằng - Viện Triết học aa: ps mm

_14.Th.s Đào Hữu Hải - Viện Triết học

15 Th.s Trần Sỹ Dương - Viện Triết học

16 Th.s Vũ Thanh Hương - Viện Triết học 17.CN Phạm Anh Hùng - Viện Triết học 18.CN Đăng Quang Định - Viện Triết học

Thư ký đề tài: Th.S Đào Hữu Hải

Cơ quan chủ trì: Viện triết học -

Học viện CTQG Hồ Chí Minh

Trang 2

MỤC LỤC

Phần mở đầu

Chương 1: Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã

hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới - những vấn đề lý

UẬN L2 HS.» HzTnH TH ngà hưu

1.1 Thực chất của tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

1.2 Một số quan niệm khác nhau về mối quan hệ giữa tăng

trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong nền kinh tế thi

00201757

1.3 Quan hệ tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong nền

kinh tế thị trường định hướng XHCN - Quan điểm chỉ đạo của

2 0

Chương 2: Kết hợp tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHƠN

Ở nước ta hiện nay - Một s6 vấn đề đặt ra

2.1 Kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội là yêu cầu

tất yếu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở

nước ta hiỆn nay ác ng th tr

2.2 Một số thành tựu về tăng trưởng kinh tế và công băng xã hội

trong thời kỳ đối mới cv c2 re

2.3 Những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện tăng trưởng

kinh tế và công bảng xã hội ở nước ta hiện nay

2.4 Một số dự báo xu hướng vận động của tăng trưởng kinh tế

với công bằng xã hội ở nước ta - c.cc<cxccSc

Chương 3: Kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội

trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng

XHCN ở Việt Nam - Những giải pháp cơ bản

3.1 Bài học thực tế từ một số mô hình nước ngoài

3.2 Một số nguyên tắc để giải quyết vấn để gắn tăng trưởng

kinh tế với thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh

tế thị trường ở nước ta hiện nay coi,

3.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm kết hợp tăng trưởng kinh tế

với công bằng xã hội ở nước ta hiện nay

3.4 Một số kiến 2:0

(28.1.0000

Tài liệu tham khảo các ngàn nu

Trang

12

16

21

21

25

36

34

58

58

67

76

100

104

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế kỷ XX nhân loại đã đạt đến những bước tiến vượt bậc về khoa học kỹ thuật và công nghệ, làm cho lực lượng sản xuất có sự phát triển chưa

từng thấy, nhờ đó kinh tế có những bước tăng trưởng nhảy vọt Dù vậy, văn minh và sự tiến bộ xã hội không chỉ phụ thuộc vào sự phát triển, tăng trưởng của kinh tế mà còn phụ thuộc vào rất nhiều các tiêu chí khác như việc phát triển giáo dục, y tế, thực hiện nhân quyền, bình đẳng giới trong đó việc

thực hiện công bằng xã hội là một nhân tố cực kỳ quan trọng Tăng trưởng

ˆ kinh tế và thực hiện công bằng xã hội là đích vươn tới của xã hội văn minh

Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, xây dựng một nước Việt Nam độc lập thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,

văn mình là mục tiêu tổng quát Không nghỉ ngờ gì nữa tăng trưởng kinh tế

và thực hiện công bằng xã hội là những tiêu chí cần phải đạt tới

Thực tế cho thấy, tăng trưởng kinh tế có thể tạo cơ sở để thực hiện

công bằng xã hội và ngược lại, tăng trưởng kinh tế cũng có thể làm cho công bằng xã hội bị vi phạm nghiêm trọng hơn, vì vậy nó cũng ảnh hưởng đến các vấn đề khác của xã hội Cũng như thế, việc thực hiện công bằng xã hội

không chỉ thể hiện tính nhân văn của xã hội mà nó còn có thể thúc đẩy hay kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế Dù vậy, giữa chúng không phải là quan hệ đồng thuận có tính tự phát Hiệu quả của mối quan hệ này được phát huy đến đâu - điều này không chỉ phụ thuộc tính tất yếu khách quan của một nền

kinh tế mà còn phụ thuộc vào sự lựa chọn, định hướng, vận dụng, điều chỉnh

của nhân tố chủ quan ở từng nước, trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Trên thế giới và cả ở Việt Nam có nhiều quan niệm và cách giải quyết khác nhau về vấn dé này song việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với

công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như ở nước ta thời kỳ đối mới là chưa có tiền lệ Thực tế này cho thấy chúng ta đang phải đối mat voi nhiều khó khăn thách thức, đòi hỏi một quá

Trang 3

trình không ngừng khảo nghiệm - tổng kết - điều chỉnh Giai quyết mối quan

hệ này như thế nào để tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội không chỉ là

mục tiêu hiện thực mà còn là động lực cho quá trình xây dựng xã hội mới

Đó là vấn đẻ đã và đang thu hút được nhiều sự quan tâm nghiên cứu Lựa

chọn đề tài theo hướng này, chúng tôi mong muốn đóng góp thêm một tiếng

nói vào vấn đề thực tiễn dang dat ra

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội những năm đổi mới

vừa qua được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến Về sự tăng trưởng kinh tế

- nói chung và sự ảnh hưởng của vấn để này đến các lĩnh vực của đời sống xã

hội được các tác giả đề cập đến qua các công trình nghiên cứu Có thể kể đến

một số công trình như: "Tăng trưởng và chính sách xã hội ở Việt Nam trong

quá trình chuyển đổi từ 1991 đến nay - kinh nghiệm của cdc nude ASEAN"

của tác giả Lê Đăng Doanh và Nguyễn Minh Trí (Viện nghiên cứu quản lý

kinh tế Trung ương), Nxb Hà Nội, 2001; "Các giải pháp thúc đấy tăng trưởng

kinh tế ở Việt Nam” của tác giả Vũ Đình Bách (Nxb CTQO Hà Nội, 1998):

"Việt Nam tăng trưởng kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng” của tác giá Tào

Hữu Phùng (Tạp chí kinh tế và phát triển, số 7/ 1995) Những năm gần đây

vấn để này được đề cập đến trong hàng loạt các công trình Có thể kể đến

một số tác giả như: Tào Hữu Phùng, Vũ Hiền, Bùi Hoài Nam

Vấn đề công bằng xã hội cũng được một số các nhà nghiên cứu đề

cập đến một cách khá độc lập như một vấn đề xã hội Có thể kể đến một bài

viết đã đăng tải như: "Về công bằng xã hội” của tác giả Lê Hữu Tầng (Tạp

chí cộng sản số 19/1996); "Về phân tầng xã hội và công băng xã hội ở nước

ta hiện nay” của tác giả Trịnh Duy Luân và Bùi Thế Cường (Tạp chí xã hội

học số 2/2001); "Công bằng xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại

hóa” của tác giả Bùi Đình Thanh CTạp chí cộng sản số 19/1996) Gần đây có

các tác giả khác như Dương Xuân Ngọc, Lương Việt Hải, Trần Thao

những công trình nghiên cứu vấn đề này

Nguyên, Bùi Hoài Nam cũng c

2

Về phát triển kinh tế gắn với công bằng xã hội cũng được một số tác giả để cập có thể kể đến một số các bài viết tiêu biểu: "Bàn về công bằng

trong thu nhập và ảnh hưởng của nó đến vấn đề kinh tế” của tác giả Trịnh Huy Quách trên tạp chí những vấn đề kinh tế thế giới số 4/1996; "Tang

trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Trần

Quế đăng trên tạp chí những vấn đề kinh tế thế giới số 6/1997; "Phát triển kinh tế và công bằng xã hội, đánh giá thành quả đổi mới và suy nghĩ về

chiến lược phát triển của Việt Nam" của tác giả Trần Văn Thọ (đại học

Obirin, Tokyo) và Th.s Hitomi Asano (Tap chi sinh hoat ly luan 1/1999);

ˆ "Giải quyết mâu thuẫn nhằm thực hiện tốt việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh

tế và công bằng xã hội ở nước ta" của tác giả Nguyễn Tấn Hùng (Tạp chí

Triết học số 5/1999) Gần đây có một số bài viết của các tác giả Trương Giang Long, Phạm Xuân Nam, Nguyễn Tấn Hùng Vũ Thị Ngọc Phùng,

Trần Văn Chử cũng trực tiếp để cập tới vấn đề Tại Học viện CTQG Hồ Chí Minh cũng đã thực hiện một đề tài "Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và

công bằng xã hội trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường ở nước ta (1998) do TS Hoàng Thị Thành làm chủ nhiệm Các bài viết phần nào khảo sát việc kết hợp tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới

Qua tham khảo các công trình nghiên cứu trên đây chúng tôi thấy

cần thiết có sự khái quát những thành tựu và vấn đề chúng ta phải đối mặt

trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Với hy vọng

phân tích và tổng kết được một số vấn đẻ có tính phương pháp luận, đưa ra những giải pháp có tính định hướng để giải quyết vấn đề thực tiễn đang đặt

ra

3 Giới hạn của đề tài

Đây là vấn đề rất rộng và là đối tượng nghiên cứu của nhiều bộ môn khoa học liên ngành Ở đề tài này trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những kết

Trang 4

quả nghiên cứu trước đó Chúng tôi tiếp tục nghiên cứu vấn đề dưới góc độ

Triết học - qua đó nhằm rút ra một số bài học và hướng giải quyết có tính

phương pháp luận

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để

xem xét sự tác động qua lại giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

Cùng với nó, các phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát thực tiễn, điều

tra xã hội học giúp đề tài chỉ ra những vấn đề có tính nguyên tac, những

giải pháp có tính định hướng để giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng

-_ kinh tế và công bằng xã hội

5 Mục tiên và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở khái quát những thành tựu và những

vấn đề đang đặt ra trong việc kết hợp hai mục tiêu tăng trưởng kinh tế và

thực hiện công bằng xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới, từ đó đề xuất

những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc kết hợp tăng trưởng kinh

tế và công bằng xã hội ở nước ta trong những năm tới

Để thực hiện được mục tiêu trên đề tài có nhiệm vụ:

+ Nghiên cứu quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

trong điều kiện kinh tế thị trường - Quan điểm và thực tiễn giải quyết mối

quan hệ này ở một số nước trên thế giới

+ Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tăng trưởng kinh tế và

công bảng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa

+ Khái quát một số các thành tựu và vấn đề đặt ra trong việc kết hợp

tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta trong điều kiện kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa

+ Trên cơ sở lý luận và thực tiễn và bài học kinh nghiệm của một số

nước đề xuất một số các nguyên tắc, giải pháp để giải quyết vấn đề kết hợp

tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta hiện nay

4

6 Cái mới của đề tài

+ Khái quát một số các thành tựu và vấn đề đặt ra trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta trong điều kiện kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa

+ Để xuất một số nguyên tắc, giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội

7 Nội dung chủ yếu của đề tài: gồm 3 chương

Chương ¡: Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở

nước ta trong thời kỳ đổi mới - những vấn đề lý luận

Chương 2: Kết hợp tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay - một số vấn đề đặt ra

Chương 3: Kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội trong

điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - những

giải pháp cơ bản

ổ Lực lượng nghiên cứu

Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thị Nga

Những người tham gia:

.GS.TS_ Nguyễn Ngọc Long - Viện Triết học

.GS.TS Trần Phúc Thăng - Viện Triết học PGS.TS Nguyễn Tĩnh Gia - Viện Triết học PGS.TS Trần Thành - Viên Triết học PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt - Viện Triết học

PGS.TS Nguyễn Hùng Hậu - Viện Triết học PGS.TS Trần Văn Phòng - Viện Triết học

PGS.TS Lê Ngọc Tòng - Vụ Quản lý khoa học

.TS Hoàng Thị Thành - Tạp chí lý luận chính trị

10 TS Vũ Hồng Sơn - Viện Triết học

5

Trang 5

I1.TS

12.T5

13 Th.s

14 Th.s

15 Th.s

16 Th.s

17 CN

18 CN

19 CN

Tran S¥ Phan - Vién Triét hoc

Hoàng Hải Bằng - Viện Triết học

Thiéu Quang Đồng- Viện Triết học

Đào Hữu Hải — - Viện Triết học

Trần Sỹ Dương - Viện Triết học

Vũ Thanh Hương - Viện Triết học

Phạm Anh Hùng - Viện Triết học

Đăng Quang Định - Viện Triết học

Hoàng Kim Oanh - Viện Triết học

Phần hai: Nội dụng

Chương Ï

QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI CONG BANG XA HOI G NUGC TA TRONG THOI KY DOI MOE - NHUNG VAN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1 Thực chất của tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

Tăng trưởng kinh tế (economic growth) là một phạm trù của kinh tế học Tuy nhiên phạm trù này cũng thu hút sự chú ý của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, đặc biệt ở nước ta, khi chuyển từ nên kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phạm trù "tăng trưởng kinh tế” trở thành một trong những phạm trù trung tâm của các khoa học kinh tế, khoa học xã hội và nhân văn

Hiện nay thuật ngữ tăng trưởng kinh tế được sử dụng rộng rãi và có nhiều cách tiếp cận khác nhau Tăng trưởng kinh tế là "sự gia tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế theo thời gian”; là "sự tăng lên của sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong một nước do sự tang lên của thu nhập quốc dan va

sản phẩm bình quân đầu người"

Tăng trưởng kinh tế được đo bằng nhiều hình thức khác nhau như:

Tổng sản phẩm quốc dân GNP; tổng sản phẩm quốc nội GDP; GNP/người/

năm; GDP/người/năm Tốc độ tăng trưởng kinh tế là mức (%) được tăng thêm của sản lượng GNP, GDP, GNP/người; hay GDP/đầu người của năm này so với năm trước hay giai đoạn so với giai đoạn trước

Khát niệm “Tăng trưởng kinh tế” chỉ phản ánh sự gia tăng về mat

lượng của một trạng thát, một nền kinh tế; nó chưa nói lên điều gì về mặt

bản chất xã hội của nền kinh tế đó Đây là kinh tế "tự thân”; kinh tế vì kinh

tế Để khác phục tình trạng này, các nhà kinh tế học đưa ra phạm trù thứ hai phản ánh được cả mặt “lượng” lắn mặt “chất” của nền kinh tế, phạm trù “phát triển kinh té” (economic development)

Trang 6

Phát triển kinh rế có một nội hầm rộng hơn "tăng trưởng kinh tế”

Phát triển kinh tế bao gồm cả tăng trưởng kinh tế (sự gia tăng về mặt lượng)

và sự đạt được các các chỉ tiêu về chất - trước hết là chất lượng cuộc sống

(mức tiêu dùng vật chất; sự hưởng thụ về phúc lợi xã hội và dịch vụ: sự bình

đẳng về quyền con người v.v )

Trong báo cáo về phát triển thế giới năm 1992, Ngân hàng thế giới

đưa ra định nghĩa về phát triển kinh tế như sau: "Phát triển là nâng cao phúc

lợi của nhan dan Nâng cao tiêu chuẩn sống và cải tiến giáo dục, sức khỏe và

bình đẳng về cơ hội là tất cả những thành phần cơ bản của phát triển kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là một cách cơ bản để có thể có được sự phát triển,

nhưng trong bản thân, nó là một đại điện rất không toàn vẹn của sự tiến bộ”"

Như vậy "tăng trưởng kinh tế" là yếu tố hợp thành cua phat triển kinh

tế Không có tăng trưởng kinh tế thì không có gì để nói về phát triển kinh tế

Tuy nhiên, đây chỉ là điều kiện "cần" chứ không phải là điều kiện “đủ” của

sự phát triển kinh tế

Phát triển kinh tế là quá trình vận động của nền kinh tế từ thấp đến

cao cả về lượng lẫn về chất Trong bản chất nhân đạo của nó, tăng trưởng

kinh tế và phát triển kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội

Công bằng xã hội là vấn dé được đặt ra từ lâu trong lịch sử xã hội

loài người, ngay từ khi con người ý thức được những bất công trong xã hội

Ph.Angghen ting nhận xét: Công bằng của người Hy Lạp và người La Mã là

công bằng của chế độ nô lệ, công băng các giai cấp tư sản những năm 1789

là đã xóa bỏ chế độ phong kiến mà nó cho là bất công Nhận thức của con

người về bất công ở mức độ nào sẽ hướng con người vươn tới sự công bảng ở

mức độ tương ứng Việc đặt ra và giải quyết vấn đề này không chỉ phụ thuộc

vào những điều kiện lịch sử cụ thể mà còn phụ thuộc rất nhiều vào trình độ

nhận thức, đặc biệt sự chi phối lợi ích của các giai cấp, các nhóm chủ thể xã

hội Công bằng xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, với những thể chế chính trị khác nhau có những tiêu chí khác nhau

_ Từ điển bách khoa triết học định nghĩa: "Công bằng là khái niệm đạo

đức - pháp quyền, đồng thời là khái niệm chính trị - xã hội Khái niệm công bằng bao hàm trong nó yêu cầu về sự phối hợp giữa vai trò thực tiễn của cá nhân (nhóm xã hội) với địa vị của họ trong đời sống xã hội, giữa những quyền và nghĩa vụ của họ, giữa lầm và hưởng, giữa lao động và sự trả công,

giữa tội phạm và sự trừng phạt, giữa công lao và sự thừa nhận của xã hội Sự

không phối hợp trong những quan hệ đó được đánh giá là sự bất công" `, Nhu vậy, công bằng vĩ hói là khái niệm có nội dung kinh tế, chính trị phức tạp hơn nhiều so với khái niệm tăng trưởng kinh tế Công bằng xã hội hiểu

theo nghĩa chung nhất là sự ngang bằng nhau trong mối quan hệ giữa người

và người dựa trên nguyên tắc thống nhất giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa

cống hiến và hưởng thụ Từng thành viên gắn bó với cộng đồng xã hội trong mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua sự cống hiến theo khả năng trí tuệ, sức lực của mình cho sự phát triển xã hội và được xã hội bù đắp, chăm sóc trở lại một cách tương xứng, không có sự tương xứng ấy là bất

công Việc thực hiện công bằng xã hội về thực chất, là sự ứng xử một cách hợp lý nhằm điều tiết mối quan hệ xã hội giữa các cá nhân, các nhóm xã hội,

các vùng, miền : trong quá trình tìm kiếm lợi ích

Đo tính phức tạp trong việc điều tiết các mối quan hệ xã hội nên công bằng xã hội được nhìn nhận một cách cụ thể hoặc có thể nói cách khác,

việc giảm bất công bảng xã hội ở một mức độ nào đó phụ thuộc vào những

yếu tổ khác nhau về trình độ kinh tế, chính trị, chế độ xã hội và cả những quan niệm của các nhóm chủ thể Nói đến công bằng xã hội không chỉ nói tới những tiên để khách quan mà nó còn liên quan đến sự cảm nhận cũng

! Từ điển bách khoa triết học, M 1982, r.630

Trang 7

như quan niệm của các nhóm chủ thể Tất cá điều này chỉ mang tính tương

đốt

Do nội hàm của công bằng xã hội phức tạp như vậy, nên việc định

lượng mức độ thực hiện công bằng xã hội là rất khó khăn Người ta đã sử

dụng nhiều thước đo khác nhau, nhưng kết quả cũng chỉ có ý nghĩa tương

đối

Phương pháp phổ biến nhất để đo mức độ công bằng trong phân phối

thu nhập là tính tỷ lệ thu nhập giữa 20% số người giàu nhất với 20% số

người nghèo nhất Tỷ lệ này càng lớn, mức độ bất công bằng càng cao và

_ ngược lại Để thấy rõ hơn sự phân cực trong thu nhập, người ta còn so sánh

mức thu nhập của 5% số người giàu nhất với thu nhập của 5% số người

nghèo nhất

Một công cụ đề biểu đạt mức độ bất công bằng trong thu nhập được

sử dụng trong kinh tế học là đường cong Lo ren, Đường cong Lo ren được

biểu thị trong một hình vuông, cạnh bên trái thể hiện số phần trăm thu nhập,

cạnh đáy là phần trăm dân số xếp từ nhóm có thu nhập thấp đến cao Đường,

chếo của hình vuông là đường công bằng tuyệt đối Trong trường hợp bất

công bằng tuyệt đối, đường cong lo ren chạy theo cạnh đáy và cạnh bên phải

(tức là I% dân số nhận được 100% thu nhập) Thông thường đường cong lo

ren nằm ở khoảng giữa đường công bằng và đường bất công bằng tuyệt đối,

đường cong càng cách xa đường chéo thì mức độ bất công bằng càng cao

Hé sé Gini tính bằng tỷ lệ giữa hình được tạo bởi đường chéo của

hình vuông với đường cong lo ren và tam giác vuông được tạo bởi đường

chéo của hình vuông với cạnh đáy và cạnh bên phải Hệ số này tính từ 0 đến

1, trong đó O là công bảng hoàn toàn, 1 là bất công bảng hoàn toàn Hiện

nay, theo tính toán của UNDP, hệ số Gini bằng 0,4 là giới hạn giữa công

bằng va bat cong bang

Các phương pháp đo mức độ chênh lệch trong thu nhập chưa đủ để

xác định mức độ bất công bằng trong một quốc gia, chẳng hạn có thể có sự

L0

công bằng trong phân phối thu nhập nhưng xét thêm những yếu tế khác như

điều kiện sống, các dịch vụ được hưởng thì có thể mức độ công bằng xã

hội lại khác đi Bởi thế người ta còn đưa ra nhiều tiêu chí xác định khác như:

- Mức độ nghèo khổ: xác định ranh giới tối thiểu về thu nhập để tính

số người nghèo trong một quốc gia, chẳng hạn, những người có mức sống dưới 1 USD 1 ngày ở các nước đang phát triển và dưới !4 USD I ngày ở các

nước phát triển được coi là nghèo Hoặc người ta quy định những chuẩn nghèo quốc gia để xác định số người nghèo trong từng nước

- Mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người bạo gồm mức

tối thiểu về định dưỡng, sức khỏe, mức sống, nhà ở và các điều kiện đảm bảo

sự phát triển của cá nhân, Những nhu cầu này ở mỗi nước thực hiện khác nhau Tuy nhiên một xã hội không thể được coi là công bằng khi dại bộ phận dân cư không bảo đảm được những nhu cầu tối thiểu

- Chỉ số phát triển xã hội tổng hợp do Liên hợp quốc đưa ra với 73 chỉ tiêu bao gồm cả các chỉ tiêu về phát triển kinh tế, về chăm sóc sức khỏe nhân dân, về văn hóa, giáo dục

- Gần đây Liên hợp quốc đưa ra chỉ số phát triển con người (HDD và được sử dụng khá phổ biến để đánh giá sự phát triển của một nước Chỉ số

này được tính toán theo 3 tiêu chí có tính bao quát, thể hiện được những yếu

tố quan trọng nhất trong phát triển con người, đó là tuổi tác, trí tuệ và mức

sống Cụ thể là: GDP bình quân đầu người, tỷ lệ biết chữ của người lớn, tuổi thọ bình quân của dân số Chỉ số này được tính theo dãy giá trị từ 0 (mức độ phát triển con người thấp nhất) đến 1 (mức độ phát triển con người cao nhất) Trong những năm đổi mới ở nước ta, vấn để công bằng xã hội trở

thành một trong những mục tiêu cơ bản phát triển đất nước Các tiêu chí về công bằng xã hội được cụ thể hóa trong các văn kiện lớn của Đảng và Nhà nước Đại hội VIII của Đảng chỉ rõ: "Công bằng xã hội không chi được thực hiện trong phân phối kết quả sản xuất mà còn được thực hiện ở khâu phân phối tư liệu sản xuất, ở việc tạo ra những điều kiện cho mọi người phát huy

Trang 8

tốt năng lực của minh" ' Nhu vay, ở nước ta hiện nay, công bằng xã hội

được nhìn nhận ở các khía cạnh cụ thể sau:

Thứ nhất, Từ góc độ phân phối kết quả sản xuất, đó là sự tương xứng

giữa lao động và thu nhập, giữa cống hiến và hưởng thụ Sự cống hiến ở đây

cũng được hiểu ở nhiều góc độ: cống hiến về lao động (số lao động mà người

lao động bỏ ra cho công việc sản xuất vật chất); Cống hiến về nguồn vốn để

đầu tư cho sản xuất; Cống hiến sức lực và cả xương máu, tính mạng (của

những người làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh tổ quốc, trật tự xã hội), Cống hiến

trong quá khứ (sự đóng góp của đồng bào, chiến sĩ trong chiến tranh);

Thứ hai, Từ việc có cơ hội ngang nhau trong việc tiếp nhận các

nguồn tư liệu sản xuất xã hội như các nguồn vốn, tài nguyên, thông tin, khoa

học - kỹ thuật và các dịch vụ xã hội khác

Thứ ba, Từ góc độ cơ hội và điều kiện để các cá nhân, các nhóm xã

hội thể hiện phát huy năng lực của chính mình

1.2 Một số quan niệm khác nhau về mối quan hệ giữa tăng

trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong nên kinh tế thị trường

Trong lịch sử phát triển xã hội thế giới, có nhiều quan điểm khác

nhau dẫn đến cách giải quyết mối quan hệ tang trưởng kinh tế và cong bang

xã hội cũng rất khác nhau:

- Quan điểm cho rằng tăng trưởng kinh tế đối lập với công bằng xã

hội, mà tăng trưởng kinh tế có tính quyết định đến sự sống còn của một đất

nước nên cần ưu tiên tập trung mọi nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế Việc

phân phối lợi nhuận từ tăng trưởng kinh tế một cách có lợi nhất cho các nhà

đầu tư là yếu tố bảo đảm cho việc tích lũy vốn để phát triển kinh tế Bất bình

đăng trong thu nhập là tiền đề, nguyên nhân và kết quả của tăng trưởng kinh

tế Thậm chí, bất bình đẳng về thu nhập còn là động lực cho tăng trưởng kinh

' Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb

CTQG H.1996, tr.31

12

tế Ricácđô (nhà kinh tế học người Anh) cho rằng tăng trưởng kinh tế được

bảo đảm bằng mức tiết kiệm cao của tầng lớp tư sản, do đó ông chống lại

việc phân phối thu nhập bất lợi cho giai cấp tư sản Lập luận này có cơ sở từ

thực tế phát triển của CNTP Thực tế những nước đi theo mô hình nền kinh

tế thị trường tự do, chạy theo tăng trưởng kinh tế, hy sinh công bằng xã hội, cho rằng phân hóa giàu nghèo càng cao, càng tạo được động lực cho tăng

trưởng kinh tế, rằng khi của cải tập trung vào tay một số ít người thì mức độ đầu tư cho sản xuất kinh doanh sẽ cao do mức độ tiêu dùng thấp Nếu của cải phân phối cho toàn xã hội mội cách rộng rãi thì mức độ tiêu dùng sẽ lớn và

ˆ đầu tư sản xuất sẽ ít đi gây bất lợi cho tăng trưởng kinh tế

Tuy nhiên trong thực tế quan điểm trên đây đã gặp trắc trở Sản xuất

gia tăng đòi hỏi phải có tiêu dùng mới có tái sản xuất Nền kinh tế tăng

trưởng cao, nhưng đa số đân cư nghèo, hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ

được do người đân không có tiền mua dẫn đến sản xuất bị đình trệ bế tác,

trong nền kinh tế TBCN đã từng có những cuộc khủng hoảng thừa, hàng hóa

phải tiêu hủy trong khi đời sống nhân dân rất thiếu thốn Mặt khác nhờ có quá trình tích tụ tập trung tư bản kéo theo sự bần cùng hóa của đông đảo đân

cư trong xi hội mà cuộc cách mạng công nghiệp có động lực mạnh mẽ Song

sự bản cùng của đông đảo nhân dân đã dẫn đến những bất ổn về mặt xã hội

Để vỗ về dân chúng, giai cấp tư sản cho rằng sự bất bình đăng trong thu nhập không phải là vĩnh viễn, nó chỉ tăng lên trong giai đoạn đầu của quá trình tăng trưởng, khi nền kinh tế phát triển cao, bất bình đẳng sẽ giảm đi do nén

kinh tế phát triển sẽ có khả năng thu hút hết mọi lao động dư thừa và đồng

thời sẽ có điều kiện để tăng lương thực tế trên điện rộng Bất bình đẳng là cái giá phải trả cho sự thành công, mọi sự phân phối lại vội vã sẽ có nguy cơ bóp

chết tăng trưởng kinh tế

Quan điểm này được chấp nhận rộng rãi ở các nước TBCN, có khi

còn được thực hiện một cách cực đoan hơn: tăng trưởng kinh tế bằng mọi

giá, hy sinh công bằng xã hội, điển hình là ở Mỹ Mặc dù kinh tế Mỹ phát

13

Trang 9

triển giàu có nhất thế giới, nước Mỹ luôn tự cho là quốc gia có thể chế chính

trị dân chủ tự do, nhưng thực tế xã hội lai day ray những bất công Sự bất

công bang trong thu nhập, trong các quyền cơ ban cua cong dan và những

cuộc đấu tranh liên miên đòi sự công bằng xã hội đã khiến cho nước Mỹ

không lúc nào yên ốn Không phải cứ tăng trưởng kinh tế cao là tự khắc sẽ

có công bàng xã hội Bởi vì khi của cải tập trung trong tay một số ít người

giàu, họ trở thành những người có thế lực không chỉ về kinh tế mà còn về

chính trị Bất bình đẳng cao độ về kinh tế và chính trị có xu hướng dẫn đến

những thể chế kinh tế và cách thức tổ chức xã hội ưu đãi lợi ích của những

-_ người có thế lực lớn Nhà nước trở thành công cụ phục vụ cho nhóm người

giàu có Sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã hội có xu hướng tự tái điễn

qua thời gian và qua các thế hệ, tạo thành "cái bẫy bất bình đẳng" Người

nghèo chí có thể ở trong cái "vòng nghèo khô khép kín" ay ma khong bao

giờ có thể thoát ra được Số liệu thống kê cho thấy, 1% dân số giàu nhất

nước Mỹ nắm giữ 40% tài sản của cả xã hội Sự nghèo khế của số đông dân

chúng có nguy cơ đe doa đến tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội Vì thế,

CNTB đã tìm cách giảm bớt sự căng thẳng xã hội, chuyển mâu thuẫn ra bên

ngoài bằng cách tìm kiếm thị trường để đầu tư và tiêu thụ sản phẩm và để thu

lợi nhuận từ bóc lột lao động và tài nguyên ở các nước khác Cùng với quá

trình toàn cầu hóa do CNTB ch: phối, phân hóa giàu nghèo, bất công xã hội

đã trở thành vấn đề toàn cầu giữa một bên là các nước tư bản phát triển chỉ

phối đại bộ phận của cải của thế giới và một bên là những nước còn lại Báo

cáo phát triển thế giới năm 2000 của UNDP có nêu: các nước phát triển với

1/5 dân số thế giới hiện đang chiếm 86% GDP toàn cầu, trong khi đó các

nước nghèo nhất cũng với 1/5 dân số thế giới chỉ có 1% GDP toàn cầu Tỷ lệ

thu nhập của 5% số người giàu nhất so với 5% số người nghèo nhất của thế

giới năm 2000 là 74/1, trong khi tỷ lệ nầy năm 1913 là 11/1 Chiến tranh để

giành giật thị trường, nạn khủng bố, bệnh tật, thiên tai liên miên đặt cả xã

14

hội loài người trước nguy cơ huy diệt nếu không có những hành động chung

để giải quyết

Đối lập với quan điểm trên đây, các nước đi theo con đường XHCN,

thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai, với lập luận rằng công bằng xã hội là ước mơ của con người ở mọi thời đại, vì thế cần phải đạt tới một xã hội công bằng càng nhanh càng tối Muốn vậy cần ưu tiên thực hiện công bàng xã hội

trước, từ đó mới tạo được động lực để tăng trưởng kinh tế Do nôn nóng muến có ngay một xã hội mà ở đó con người được "làm theo năng lực,

hưởng theo nhu cầu”, không còn áp bức bất công, mọi người đều được sống

tự do, bình đẳng, các nước XHCN đã không tính đến trình độ của lực lượng

sản xuất đã đạt được, bất chấp quy luật phát triển kinh tế - xã hội ở một xã hội còn chưa phát triển xóa bỏ sở hữu tư nhân, công hữu hóa toàn bộ tư liệu

sản xuất Càng sai lầm hơn nữa là bỏ qua cả nguyên tắc phân phối theo lao động, thực hiện phân phối bình quân, cào bằng Quan niệm về công bang xa

hội một cách cực đoan như vậy nên nó trở thành lực cần đối với tăng trưởng

kinh tế Từ đó nền kinh tế các nước XHCN lâm vào khủng hoáng, buộc các nước muốn đi lên CNXH phải tiến hành đổi mới, chuyển nền kinh tế từ quản

lý tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, ở đó quan điểm về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội được tiếp cận theo một hướng khác

Sau bao nhiêu thăng trầm của lịch sử phát triển nền kinh tế thị trường

thế giới, ngày nay người ta đã thừa nhận là một xã hội không thể phát triển được nếu đem đối lập tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội Chạy theo

tăng trưởng bằng mọi cách chính là phản phát triển Tăng trưởng kinh tế không đồng nghĩa với phát triển Nhiều năm gần đây, khi môi trường sống

của con người ngày càng bị phá hủy, tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, tầng ô zôn bị bào mòn do các khí thải công nghiệp, tình trạng đói nghèo, thất nghiệp và tệ nạn xã hội không giảm, thậm chí ngày càng tăng lên, nhân loại

đã nghĩ tới "cái ngưỡng' của sự phát triển Thuật ngữ phát triển bền vững đã

ra đời và trở nên thịnh hành Phát triển để thỏa mãn các nhu cầu của hôm

l3

Trang 10

nay mà không tổn hại đến sự phát triển của tương lai là đòi hỏi lớn lao đối

với nhân loại khi lựa chọn các quyết sách phát triển nhằm được cả ba mục

tiêu: kinh tế, xã hội và môi trường

Bất bình đẳng trên quy mô toàn thế giới do CNTB chạy theo lợi

nhuận trước mắt đã dẫn đến chiến tranh, dẫn đến nạn khủng bố, dẫn đến môi

trường bị ô nhiễm, bị hủy hoại đe dọa đến sự sống còn của cả xã hội loài

người Để khắc phục tình trạng này, các nhà khoa học trên thế giới khuyến

cáo rằng cần phải kết hợp tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội

bằng cách tăng cường vai trò của nhà nước trong điều tiết thị trường Nhà

nước phải tham gia điều tiết sao cho nền kinh tế phát triển hợp lý có kế

hoạch, điều tiết thu nhập để sao cho bàn tay của nhà nước phải tạo ra sự công

bằng xã hội cho toàn xã hội chứ không phải chỉ ở một bộ phận, một khu vực

Muốn có sự công bằng xã hội cho toàn dân, không thể dùng chính sách phân

phối bình quân, cào bằng, không thể trợ cấp tràn lan bởi đó là cách làm tăng

thêm sự bất công Phải thực hiện làm sao có sự công bảng cho mọi người dân

trước những cơ hội để phát triển Những cơ hội đó bao gồm: các loại hàng

hóa, dịch vụ công cộng, kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, văn hóa, giáo dục,

y tế công Khi đã tiếp cận được các cơ hội phát triển ai cũng có thể trở

thành thành viên của thị trường hàng hóa, tăng trưởng kinh tế nhờ thế có

thêm nhiều nguồn lực để phát triển

Tuy nhiên, việc kết hợp tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội như

thế nào cho có hiệu quả thì các nước tự bản cho dù có những cố gắng ở các

mức độ khác nhau nhưng thực chất vẫn chị là những giải pháp nửa vời Với

một chế độ TBCN, một nền kinh tế thị trường TBCN, nhà nước đại điện cho

quyền lợi của giai cấp tư sản, bất công xã hội chắc chắn không thể giải quyết

được

1.3 Quan hệ tăng trường kinh tế và công bằng xã hội trong nền

kinh tế thị trường định hướng XHCN - Quan điểm chỉ đạo của Đảng

16

Trước đối mới nước ta thực hiện một nên kinh tế quan lý kế hoạch

hóa tập trung với hai hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu toàn dân và sở hữu

tập thể về tư liệu sản xuất Dù có một số thành tựu song nền kinh tế ấy đã bộc lộ nhiều hạn chế như: "kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông và đẻ ra nhiều hiện

tượng tiêu cực trong xã hội” |

Bước vào thời kỳ đổi mới, để khắc phục các hạn chế thiếu sót của cơ

chế quản lý cũ Đảng ta đã thừa nhận sự tổn tại của kinh tế kiểu sản xuất hàng và và kinh tế tư bản tư nhân; thừa nhận tồn tại của nên kinh tế hàng hóa

nhiều thành phần, thừa nhận sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu .có sự quản lý của nhà nước hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công

bằng, dân chủ, văn minh”, Đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa xuyên suốt thời kỳ đổi mới Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế

và công bảng xã hội ở đây cần được nhìn nhận như thế nào cho thỏa đáng 2

Cũng có nhiều ý kiến tranh luận về vấn đề này Một số người hoài

nghi tính đúng đắn của sự chuyển đổi sang cơ chế thị trường, cho đó là đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa, là xa rời mục tiêu cône bằng xã hội Ngược

lại, một số khác lại cường điệu vai trò của kinh tế thị trường, cho đó là

"trường đấu lý tưởng" để thực hiện công bằng xã hội, không cần đến sự can

Đối với ý kiến thứ nhất, chúng ta đã có bài học thất bại về một thời

kỳ thực hiện công bằng xã hội một cách phiến diện, không tính đến trình độ

đã đạt được của nền kinh tế, nên đã ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của xã hội, cả kinh tế cũng không phát triển được mà công bang xã hội cũng bị biến

dang, doi sống nhân dân trở nên khó khăn, túng quẫn, xã hội rơi vào khủng hoảng trầm trọng Đề thoát ra khỏi tình trạng này, chỉ có một con đường là phải tầng trưởng kinh tế đất nước Nếu không có tăng trưởng kinh tế sẽ

Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật H.1997, tr.61

|7

Ngày đăng: 04/08/2016, 23:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm