Các nhà văn Tự lực Văn đồn, những anh em của Thạch Lam cũng hay nĩi về cảnh nhà quê, người nhà quê nhưng đã tước đi vẻ hồn nhiên tươi tắn chân thực của cuộc sống ấy, thay vào đĩ là những
Trang 1
\
(CÁC BÀI TẬP LÀM VĂN VÀ
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI)
Trang 2Đềâ 1 + 2
Trình bày cảm nghĩ của anh chị về hình ảnh chuyến tàu đêm và tâm trạng của hai đứa trẻThạch Lam xuất hiện trên văn đàn Việt Nam 1930 - 1945 như một làn "giĩ đầu mùa" tinh khiết, êm nhẹ Người đọc văn Thạch Lam cảm nhận được một tình người đằm thắm trong một giọng văn tha thiết Cái đẹp tự lan toả, "tiềm tàng trong mọi vật bình thường" khiến cho "lịng người thêm trong sạch và phong phú hơn" Thạch Lam đã khơi gợi ánh sáng cho những tâm hồn từ ngay những mảng đời chìm trong bĩng tối Truyện ngắn Hai đứa trẻ - câu chuyện về hai chị em ở phố huyện nghèo - như một bài thơ thấm đẫm tình người Thế giới trẻ thơ gợi lại cho mỗi chúng ta những rung động êm đềm mà sâu sắc, mở ra những suy tư về thân phận con người
Trong văn xuơi Việt Nam những năm 30 của thế kỉ XX, cĩ lẽ khĩ ai tìm ra được những nét đẹp tiềm ẩn trong cái bình thường giỏi như Thạch Lam Các nhà văn Tự lực Văn đồn, những anh em của Thạch Lam cũng hay nĩi về cảnh nhà quê, người nhà quê nhưng đã tước đi vẻ hồn nhiên tươi tắn chân thực của cuộc sống ấy, thay vào đĩ là những cái nhìn cĩ phần xa lạ, kẻ cả, đơi chút khinh miệt Cĩ lẽ, trong số anh em họ Nguyễn Tường, Thạch Lam là người sống sâu nặng hơn cả với kí ức tuổi thơ của mình Trong tâm tư của nhà văn, phố huyện Cẩm Giàng (Hưng Yên) và người chị tần tảo đã trở thành chuỗi kỉ niệm đẹp đẽ nhất, khiến cho ơng khi viết
về hình ảnh phố huyện vẫn cịn vẹn nguyên những ấn tượng sâu đậm của tuổi thơ Hai chị em Liên và An chính là những gì Thạch Lam yêu mến, gắn bĩ thuở thiếu thời
Người đọc khơng thể nào quên ấn tượng về một khơng gian phố huyện chuyển dần vào bĩng đêm Những âm thanh của một ngày sắp tắt cùng với một phương tây cháy rực gieo vào lịng người nỗi buồn mơ hồ Một phiên chợ chiều tàn, dăm đứa trẻ nhặt nhạnh những thứ vương vãi xung quanh chợ khơng chỉ đánh động tình thương củacơ bé Liên đầy lịng trắc ẩn mà cịn khiến chúng ta cũng bồi hồi vì những nét thân thuộc của quê hương, một "mủi riêng của đất, của quê hương này" Tài năng của Thạch Lam đã giúp chúng ta nhận ra cái hồn quê hương dìu dịu thấm vào từng cảnh vật và những sinh hoạt ban đêm của những con người phố huyện Tất
cả những gì nhà văn mơ tả đều hết sức bình thường trong một câu chuyện khơng cĩ cốt truyện Khung cảnh và những con người đều như hướng vào một chủ đích của nhà văn: khắc hoạ những nét bình dị, lặng lẽ trong một khơng khí xã hội đang chìm trong bĩng đêm dày đặc của cuộc sống quẩn quanh khơng lối thốt
Những nhân vật phố huyện: mẹ con chị Tý với hàng nước, bác Siêu bán phở, gia đình bác Xẩm từng ấy nhân vật đã làm nên cái đặc trưng của phố huyện Đĩ là những con người đang lầm lũi trong cuộc mưu sinh, tâm trạng lúc nào cũng lo toan và nhẫn nhịn Họ cùng chờ đợi, khơng phải là những người khách mà chính là đang mịn mỏi hy vọng Những cuộc đời trong bĩng tối ấy, cũng giống như khơng gian phố huyện kia, dày đặc tăm tối nhưng vẫn loé lên ánh sáng của một thế giớ khác, một thứ ánh sáng mong manh nhưng khơng hề lịm tắt
Khơng phải ngẫu nhiên nhà văn đã miêu tả cuộc sống phố huyện gắn với ba thời điểm nối tiếp: hồng hơn - tối - khuya Bĩng tối càng dày đặc bao nhiêu thì khát vọng hướng về ánh sáng càng khắc khoải bấy nhiêu Ánh đỏ rực của buổi hồng hơn dẫu đẹp nhưng lại gieo vào lịng cơ
bé Liên nỗi buồn man mác vì cuộc sống của hai đứa trẻ trong một gia đình sa sút đã mang sẵn những dư vị của bĩng tối Đĩ là thời điểm bắt đầu những lo toan của thế giới người lớn nên
"bĩng tối ngập đầy dần" đơi mắt Liên Liên đã chứng kiến những con người "đi lần vào bĩng tối", "từ từ đi vào bĩng đêm" và rồi từ bĩng tối mênh mơng lại hiện lên những bĩng đời chập
Trang 3chờn ánh sáng ngọn đèn, bếp lửa Ánh sáng của thực tại chỉ còn là "nguồn sáng" xa lạ của những vì sao trên trời Là những "khe sáng", "quầng sáng", "hột sáng" mong manh của những con người cùng sống nơi phố huyện nghèo Sự sống như ẩn mình trong ánh sáng nhưng vẫn không xua tan được những ám ảnh bóng tối Nó chỉ đánh thức những hoài niệm tuổi thơ Những ngày tháng êm đềm của chị em Liên khi cảnh nhà chưa sa sút "Vùng sáng rực và lấp lánh" của quá khứ là một tương phản để cắt nghĩa cho tâm trạng của Liên: "Đêm tối đối với Liên quen lắm, chị không sợ nó nữa" Đó là sự chấp nhận, là thực tế đáng buồn mà Thạch Lam
đã nhận ra từ cuộc sống của hai đứa trẻ Hoàn cảnh không cho phép hai chị em Liên - An được sống bình thường như bao đứa trẻ khác, tuổi thơ của những đứa trẻ con nhà nghèo không có ánh sáng, đang cằn cỗi dần cùng bóng tối Phải chăng vì vậy mà cô bé Liên dễ động lòng trắc
ẩn trước "mấy đứa trẻ con nhà nghèo", còn An dù thèm nhập bọn cùng đám trẻ con chơi đùa, nhưng nhớ lời mẹ dặn nên đành ngồi im Cảnh nghèo dễ khiến tạo ra mặc cảm, dù cho là những đứa trẻ Thạch Lam dường như không muốn để cho những cảm giác bi kịch đè nặng lên số phận những con người nghèo khổ, bằng thái độ trân trọng, ông đã nâng đỡ cho các nhân vật của mình, vực dậy những khát khao đổi đời ngay trong những khoảnh khắc ánh sáng mong manh nhất: "Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ"
"Một cái gì tươi sáng hơn", bản thân họ cũng không hề biết trước, chỉ là những trông ngóng mơ hồ Nhà văn không thể chỉ ra "con đường sáng" cho những con người nghèo khổ ấy
Có lẽ, ông cũng không mơ hồ, ảo tưởng như những cây bút Tự lực Văn đoàn khác như Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo để mong chờ một thay đổi theo khuynh hướng cải lương, một tình thương bố thí nửa vời Ông cũng không trông chờ nhiều vào hoạt động của "Hội Ánh sáng"
do các anh em của ông tổ chức sẽ cải thiện cuộc sống dân nghèo Bằng trực giác và sự nhạy cảm của tâm hồn nghệ sĩ giàu yêu thương, Thạch Lam đã phát hiện những nội lực để vươn lên của con người từ chính nền cuộc sống nghèo khổ Ông đã diễn giải sâu sắc bằng hình tượng chuyến tàu đêm ngang qua phố huyện
Chuyến tàu ấy là hoạt động cuối cùng về đêm của phố huyện, là dịp cuối cùng để cho những người bán hàng đêm như chị em Liên mong "may ra còn có một vài người mua" Nhưng vượt lên cuộc sống thường nhật mà nỗi thất vọng lớn hơn niềm hy vọng, là sự háo hức trông đợi chuyến tàu "mang ánh sáng của một thế giới khác đi qua" để con người không đánh mất niềm tin vào sự sống Vì vậy Thạch Lam đã dành những câu văn thật tinh tế để diễn tả cảm giác đợichờ ở Liên và An Đặc biệt, cô bé Liên đã chiếm được nhiều cảm tình ở người đọc Không chỉ vì Liên là người chị lớn đảm đang, tay hòm chìa khoá của mẹ, vì dẫu cho cô bé Liên
có tự hào về chiếc chìa khoá đeo vào chiếc dây xà tích bạc thì điều ấy chỉ làm người đọc buồn
và thương cảm cho một cô bé sớm già trước tuổi Điều mà Thạch Lam làm cho người đọc yêu mến nhân vật chính là khoảnh khắc ông giúp phát hiện vẻ đẹp giàu nữ tính của nhân vật: "Liên khẽ quạt cho em, vuốt lại mái tóc tơ ( ) Qua kẽ lá của cành bàng, ngàn sao vẫn lấp lánh; một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng loạt một Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cvảm giác mơ
hồ không hiểu" Đây là trang văn đậm chất thơ, đem đến sự ngọt ngào của tình cảm nhà văn dành cho Liên, tạo ra cảm xúc đồng điệu ở người đọc Một cô bé giàu mộng mơ, ắt hẳng không thể để tâm hồn ngập dần trong bóng tối Đó là tiền đề để Liên có thể cảm nhận ánh sáng chuyến tàu đêm khác hẳng mọi người: Liên lặng theo mơ tưởng Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực,vui
vẻ và huyên náo Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua" Ánh sáng rực rỡ của con
Trang 4tàu mang hình ảnh chứa đựng khát vọng về tương lai, đánh thức sức sống mãnh liệt của tâm hồn Liên Không phải một lần Liên đón nhận ánh sáng ấy mà đêm nào cô cũng được sống trong những giờ phút mơ tưởng này Mơ ước lãng mạn bao giờ cũng là cơ sở của hành động Thạch Lam đã đem đến một thông điệp giàu ý nghĩa về con người, tạo nên giá trị nhân văn của tác phẩm: hãy tin tưởng và trân trọng khát vọng của con người, dẫu thực tại còn đầy bóng tối như không gian phố huyện nghèo kia, nhưng con người dù trong hoàn cảnh nào cũng vẫn hướng về ánh sáng Cảm quan lãng mạn không cho phép nhà văn đi xa hơn, nhưng cũng giúp cho người đọc thêm yêu mến những con người nghèo khổ đầy hy vọng.
Từ tình cảm dành cho những con người bé nhỏ, Thạch Lam còn làm sống dậy những tình cảm gắn bó với quê hương, mảnh đất và con người bình dị mà thân thương Có thể xem đó là một khía cạnh kháccủa tâm hồn nhân ái Thạch Lam Ông nói về những cảm nhận của hai chị
em cũng là phát hiện về mối quan hệ gắn kết giữa con người với mảnh đất Dường như những hương vị bình thường, mùi đất, mùi chợ cũng là một phương diện của tâm hồn hai đứa trẻ, cũng
là sự tha thiết trìu mến của nhà văn hướng về vùng đất Cẩm Giàng từng lưu dấu tuổi thơ Những chi tiết bình thường nhất nơi phố huyện còn lan toả cảm giác ấm áp ân tình của Thạch Lam đến tận bây giờ Bóng tối mênh mông là miền đời không thể lãng quên và không được phép lãng quên, bởi ở đó có những con người mà nhà văn thương mến nhất
Huyền Kiêu, một người bạn của Thạch Lam đã rất có lí khi cho rằng "Thạch Lam là một người Việt Nam thành thực nhất", có lẽ bởi nhà văn đã yêu cuộc sống và những con người nghèo khổ qua những trang văn thấm đượm tình người, những trang văn "rất nhiều Thạch Lam trong đó" Độ chân cảm từ những trang văn Thạch Lam sẽ còn làm cho nhiều thế hệ người đọc còn bồi hồi xúc động./
Trang 5Đềâ 1 + 2
Phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch LamTruyện của Thạch Lam khơng cĩ chuyện Truyện "Hai đứa trẻ" cũng vậy Chỉ cĩ hai đứa trẻ từ Hà Nội chuyển về một phố huyện nghèo, trơng coi một cửa hàng tạp hĩa nhỏ xíu Chiều, hai chị em ngồi trên chiếc chõng tre ngắm cảnh phố xá lúc hồng hơn, rồi đêm đến, tuy đã buồn ngủ ríu cả mắt, hai chị em vẫn cố thức để đợi xem chuyến tàu đêm từ Hà Nội chạy qua rồi mới khép cửa hàng đi ngủ Thạch Lam muốn tránh lối viết tầm thường là hấp dẫn người đọc bằng cốt truyện li kì, những tình tiết éo le, những cuộc tình mùi mẫn, hoặc là những xung đột gay cấn hồi hộp "Hai đứa trẻ" hấp dẫn người đọc bằng chất liệu thật của đời sống Cách lựa chọn chất liệu này gần với Nam Cao, Nguyên Hồng, Tơ Hồi (các nhà văn hiện thực giàu tính nhân đạo), lại kích thích người đọc bằng những ước mơ, hồi bão tốt đẹp Tinh thần lãng mạn ấy gắn với các nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng, Hồng Đạo Thạch Lam cĩ một lối văn nhẹ như cánh bướm đậu trên hoa Bức tranh bằng ngơn ngữ của ơng cĩ thể ví với tranh lụa chứ khơng phải sơn dầu Thạch Lam trước sau vẫn là một nhà văn lãng mạn lãng mạn tích cực, đẹp
Trong "Hai đứa trẻ" chất lãng mạn và hiện thực hịa quyện với nhau hiện ra trong bức tranh thiên nhiên của một vùng quê vào một buổi chiều ả Rồi màn đêm dần dần buơng xuống
"Một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua giĩ mát " thiên nhiên thì cao rộng thì cao rộng
và thơ mộng "Phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hịn than sắp tàn" Nhưng làng quê thì đầy bĩng tối, thảm hại "Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve" "Đơi mắt Liên, bĩng tối ngập đầy dần" "Chỉ thấy lịng buồn man mác trước giờ khắc của ngày tàn" Chính bức tranh đời sống rất mực chân thật vừa thấm đượm cảm xúc chữ tình này đã gây nên cảm giác buồn thương day cho người đọc Ý nghĩa tư tưởng của truyện chủ yếu tốt ra
từ bức tranh đời sống phố huyện nghèo
Dưới mắt của hai đứa trẻ, cảnh phố huyện hiện lên thật là cụ thể, sinh động, gợi cảm Đĩ là cảnh bãi chợ trống trải, vắng vẻ khi buổi chợ đã vãn từ lâu "Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất" Cảnh chợ tàn phơi bày sự nghèo nàn, xơ xác của đời sống phố huyện Ống kính cần mẫn của nhà văn lia qua phố huyện: trên đất chỉ cịn "rác rưởi, bỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía" Cảnh cịn được miêu tả bởi khứu giác tinh tế của nhà văn "một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nĩng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này" Bức tranh phố huyện trong "Hai đứa trẻ" đầy sức ám ảnh là vì những màu sắc
và hương vị như thế
Trong khung cảnh tiêu điều, buồn bã đĩ, hình ảnh những con người nghèo khổ, lam lũ, nhếch nhác của phố huyện hiện dần ra Những đứa trẻ đi nhặt nhạnh những thứ rơi vãi ở bãi chợ Mẹ con chị Tí lễ mễ đội chõng xách điếu đĩm ra dọn hàng, "ngày, chị đi mị cua bắt tép; tối đến chị mới dọn cái hàng nước này " Gia đình bác Xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau sắt trắng để ở trước mặt" Thằng con bị ra đất nghịch nhặt rác bẩn bên đường Và hai chị em Liên với cửa hàng tạp hĩa nhỏ xíu mẹ Liên dọn ngay từ khi cả nhà bỏ Hà Nội về quê vì thầy Liên mất việc Bà cụ Thi điên điên tàng tàng mua rượu uống và cười "khanh khách" lảo đảo đi vào bĩng tối Tất cả đều là những kiếp sống lầm than, cực khổ, tàn tạ Qua con mắt của bé Liên, tất
cả cuộc sống chìm trong đêm tối mênh mơng, chỉ cịn ngọn đèn của chị Tí, cái bếp lửa của bác Xiêu, ngọn đèn Hoa Kỳ vặn nhỏ của Liên tức chỉ là mấy đốm sáng tù mù, những đốm lửa nhỏ nhoi ấy chẳng làm cho phố huyện sáng sủa mà chỉ càng khiến cho đêm tối mịt mù dầy đặc mà thơi "Tất cả phố xá trong huyện bây giờ thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí" Hình ảnh ngọn
Trang 6đèn con nơi hàng nước của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ ấy trở đi trở lại tới bẩy lần trong huyện là hình ảnh đầy ám ảnh và có sức gợi rất nhiều về những kiếp sống nhỏ nhoi, lay lắt, mù tối trong đêm đen mênh mông của cuộc đời.
Cảnh phố huyện lúc chiều tối như một khúc nhạc buồn mà điệp khúc cứ lặp lại
Chiều tối nào mẹ con chị Tí cũng lễ mễ dọn hàng, chị em Liên lại kiểm hàng rồi tính tiền, rồi ngồi trên chõng tre ngắm cảnh Bác phở Siêu lại gánh hàng và thổi lửa, bác Xẩm lại trải chiếu, đặt thau Điệp khúc ấy cứ lặp đi lặp lại đơn điệu, buồn tẻ Họ cũng lóe lên một chút hi vọng Hi vọng là liều thuốc an thần cho những con người khốn khổ ấy Nhất Linh cũng từng nói những người dân quê rất nghèo khổ tiền bạc nhưng rất giàu hi vọng hão "chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ"
Hai đứa trẻ làm sao ý thức rõ rệt được cảnh tù đọng, buồn chán, bế tắc mà chúng đang sống cũng như về những khát vọng tinh thần mơ hồ của mình Song với tâm hồn ngây thơ, nhạy cảm, cô bé Liên cảm nhận thấm thía tuy chỉ là vô thức hiện thực đó, khát vọng đó Chính vì khao khát được thoát khỏi cảnh tù đọng mù tối ấy mà chị em Liên đêm đêm cố thức đợi chuyến tàu đi qua Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua, một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng của ngọn đèn chị Tí và ánh lửa bác Siêu
"Hai đứa trẻ" của Thạch Lam không đi sâu miêu tả những xung đột xã hội, xung đột giai cấp Ông cũng không để tâm miêu tả những bộ mặt gớm ghiếc của những kẻ bóc lột và khuôn mặt bi thảm của những kẻ bị áp bức, vì nói cho cũng Thạch Lam là một nhà văn lãng mạn Ông phác họa bức tranh phố huyện nghèo, chân thật trong từng chi tiết và trong chiều sâu tinh thần của nó Bức tranh làng quê mù xám với những con người nhỏ nhoi đáng thương ấy thấm đẫm niềm cảm thương chân thành của tác giả đối với những người lao động nghèo khổ sống quẩn quanh bế tắc, tối tăm Qua bức tranh ảm đạm của phố huyện và qua hình ảnh của những con người bé nhỏ với chút hi vọng le lói, ta thấy được mơ ước lớn của nhà văn là muốn thay đổi cuộc sống ngột ngạt đó cho những con người lao động nghèo khổ
Trang 7Đềâ 3
Phân tích nhân vật Huấn CaoNguyễn Tuân, một nhà văn nổi tiếng của làng văn học Việt Nam; cĩ những sang tác xoay quanh những nhân vật lí tưởng về tài năng xuất chúng, về cái đẹp tinh thần như "chiếc ấm đất",
"chén trà sương"… và một lần nữa, chúng ta lại bắt gặp chân dung tài hoa trong thiên hạ, đĩ là Huấn Cao trong tác phầm Chữ người tử tù
Nhà văn Nguyễn Tuân đã lấy nguyên mẫu hình tượng của Cao Bá Quát vớI văn chương
"vơ tiền Hán", cịn nhân cách thì "một đời chỉ cúi đầu trước hoa mai" làm nguồn cảm hứng sang tạo nhân vật Huấn Cao Họ Cao là một lãnh tụ nơng dân chống triều Nguyễn năm 1854 Huấn Cao được lấy từ hình tượng này với tài năng, nhân cách sang ngời và rất đỗI tài hoa
Huấn Cao là một con người đại diện cho cái đẹp, từ cái tài viết chữ của một nho sĩ đến cái cốt cách ngạo nghễ phi thường của một bậc trượng phu đến tấm long trong sang của một người biết quý trọng cái tài, cái đẹp
Huấn Cao với tư cách là người nho sĩ viết chữ đẹp thể hiện ở cái tài viết chữ Chữ viết khơng chỉ là kí hiệu ngơn ngữ mà cịn thể hiện tính cách của con người Chữ của Huấn Cao
"vuơng lắm" cho thấy ơng cĩ khí phách hiên ngang, tung hồnh bốn bể Cái tài viết chữ của ơng được thể hiện qua đoạn đối thoại giữa viên quản ngục và thầy thơ lại Chữ Huấn Cao đẹp và quý đến nỗi viên quản ngục ao ước suốt đời Viên quản ngục đến "mất ăn mất ngủ"; khơng nề
hà tính mạng của mình để cĩ được chữ của Huấn Cao, "một báu vật trên đời" Chữ là vật báu trên đời thì chắc chắn là chủ nhân của nĩ phải là một người tài năng xuất chúng cĩ một khơng hai, là kết tinh mọi tinh hoa, khí thiêng của trời đất hun đúc lại mà thành Chữ của Huấn Cao đẹp đến như vậy thì nhân cách của Huấn Cao cũng chẳng kém gì Ơng là con người tài tâm vẹn tồn
Huấn Cao trong cốt cách ngạo nghễ, phi thường của một bậc trượng phu Ơng theo học đạo nho thì đáng lẽ phải thể hiện lịng trung quân một cách mù quáng Nhưng ơng đã khơng trung quân mà cịn chống lại triều đình để giờ đây khép vào tội "đại nghịch", chịu án tử hình Bởi vì Huấn Cao cĩ tấm lịng nhân ái bao la; ơng thương cho nhân dân vơ tội nghèo khổ, lầm than bị áp bức bĩc lột bởi giai cấp thống trị tàn bạo thối nát Huấn Cao rất căm ghét bọn thống trị và thấu hiểu nỗi thống khổ của người dân "thấp cổ bé họng" Nếu như Huấn Cao phục tùng cho bọn phong kiến kia thì ơng sẽ được hưởng vinh hoa phú quý Nhưng khơng, ơng Huấn đã lựa chọn con đường khác : con đường đấu tranh giành quyền sống cho người dân vơ tội Cuộc đấu tranh khơng thành cơng ơng bị bọn chúng bắt Giờ đây phải sống trong cảnh ngục tối chờ ngày xử chém Trước khi bị bắt vào ngục, viên quản ngục đã nghe tiếng đồn Huấn Cao rất giỏi
võ, ơng cĩ tài "bẻ khố, vượt ngục" chứng tỏ Huấn Cao là một người văn võ tồn tài, quả là một con người hiếm cĩ trên đời
Tác giả miêu tả sâu sắc trạng thái tâm lí của Huấn Cao trong những ngày chờ thi hành án Trong lúc này đây, khi mà người anh hùng "sa cơ lỡ vận" nhưng Huấn Cao vẫn giữ được khí phách hiên ngang,kiên cường Tuy bị giam cầm về thể xác nhưng ơng Huấn vẫn hồn tồn tự
do bằng hành động "dỡ cái gơng nặng tám tạ xuống nền đá tảng đánh thuỵch một cái" và "lãnh đạm" khong thèm chấp sự đe doạ của tên lính áp giải Dưới mắt ơng, bọn kia chỉ là "một lũ tiểu nhân thị oai" Cho nên, mặc dù chịu sự giam giữ của bọn chúng nhưng ơng vẫn tỏ ra "khinh bạc" Ơng đứng đầu goong, ơng vẫn mang hình dáng của một vị chủ sối, một vị lãnh đạo
Trang 8Người anh hùng ấy dùng cho thất thế nhưng vẫn giữ được thế lực, uy quyền của mình Thật đáng khâm phục !
Mặc dù ở trong tù, ông vẫn thản nhiên "ăn thịt, uống rượu như một việc vẫn làm trong hứng bình sinh" Huấn Cao hoàn toàn tự do về tinh thần Khi viên cai ngục hỏi Huấn Cao cần gì thì ông trả lời:
"Người hỏi ta cần gì à? Ta chỉ muốn một điều là ngươi đừng bước chân vào đây nữa thôi"Cách trả lời ngang tàn, ngạo mạn đầy trịch thượng như vậy là bởi vì Huấn Cao vốn hiên ngang, kiên cường; "đến cái chết chém cũng còn chẳng sợ nữa là " Ông không thèm đếm xỉa đến sự trả thù của kẻ đã bị mình xúc phạm Huấn Cao rất có ý thức được vị trí của mình trong
xã hội, ông biết đặt vị trí của mình lên trên những loại dơ bẩn "cặn bã" của xã hội
"Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất" Nhân cách của Huấn Cao quả là trong sáng như pha lê, không hề có một chút trầy xước nào Theo ông, chỉ có "thiên lương" , bản chất tốt đẹp của con người mới là đáng quý
Thế nhưng khi biết được nỗi lòng viên quản ngục, Húan Cao không nhữg vui vẻ nhận lời cho chữ mà còn thốt ra rằng :
"Ta cảm tấm lòng biệt nhãn liên tài của các ngươi Ta biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có sở thích cao quý đến như vậy Thiếu chút nữa, ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ"
Huấn Cao cho chữ là một việc rất hiếm bởi vì "tính ông vốn khoảnh Ta không vì vàng bạc hay quyền uy mà ép cho chữ bao giờ"
Hành động cho chữ viên quản ngụ chứng tỏ Huấn Cao là một con người biết quý trọng cái tài, cái đẹp, biết nâng niu những kẻ tầm thường lên ngang tàng với mình
Quay cảnh "cho chữ" diễn ra thật lạ, quả là cảnh tượng "xưa nay chưa từng có" Kẻ tử từ
"cổ đeo gông, chân vướng xích" đang "đậm tô từng nét chữ trên vuông lụa bạch trắng tinh" với
tư thế ung dung tự tại, Huấn Cao đang dồn hết tinh hoa vào từng nét chữ Đó là những nét chữ cuối cùng của con người tài hoa ấy Những nét chữ chứa chan tấm lòng của Huấn Cao và thấm đẫm nước mắt thương cảm của người đọc Con người tài hoa vô tội kia chỉ mới cho chữ ba lần trong đời đã vội vã ra đi, để lại biết bao tiếc nuối cho người đọc Qua đó, tác giả Nguyễn Tuân cũng gián tiếp lên án xã hội đương thời đã vùi dập tài hoa của con người
Và người tù kia bỗng trở nên có quyền uy trước những người đang chịu trách nhiệm giam giữ mình Ông Huấn đã khuyên viên quản ngục như một người ca khuyên bảo con:
"Tôi bảo thực thầy quản nên về quê ở đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ Ở đây khó giữ được thiên lương cho lành lắm rồi cũng có ngày nhem nhuốc mất cái đời lương thiện"
Theo Huấn Cao, cái đẹp không thể nào ở chung với cái xấu được Con người chỉ thưởng thức cái đẹp khi có bản chất trong sáng, nhân cách cao thượng mà thôi
Những nét chữ cuối cùng đã cho rồi, những lời nói cuối cùng đã nói rồi’ Huấn Cao , người anh hùng tài hoa kia dù đã ra đi mãi mãi nhưng để lại ấn tượng sâu sắc cho những ai đã thấy, đã nghe, đã từng được thưởng thức nét chữ của ông Sống trên cõi đời này, Huấn Cao đã đứng lên đấu tranh vì lẽ phải; đã xoá tan bóng tối hắc ám của cuộc đời này Chính vì vậy, hình tượng Huấn Cao đã trở nên bất tử Huấn Cao sẽ không chết mà bước sang một cõi khác để xua tan bóng tối nơi đó, đem lại hạnh phúc cho mọi người ở mọi nơi
Ở Huấn Cao ánh lên vẻ đẹp của cái "tài" và cái "tâm" Trong cái "tài" có cái "tâm" và cái
"tâm" ở đây chính là nhân cách cao thượng sáng ngời của một con người tài hoa Cái đẹp luôn song song "tâm" và "tài" thì cái đẹp đó mới trở nên có ý nghĩa thực sự Xây dựng hình tượng
Trang 9nhân vật Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã thành công trong việc xây dựng nên chân dung nghệ thuật điển hình lí tưởng trong văn học thẩm mĩ Dù cho Huấn Cao đã đi đến cõi nào chăng nữa thì ông vẫn sẽ mãi trong lòng người đọc thế hệ hôm nay và mai sau.
Trang 10Đềâ 4
Vì sao nói cảnh cho chữ trong "Chữ người tử tù" là cảnh tượng xưa nay chưa từng có
“Chữ người tử tù” là ánh sáng lung linh nhất, ngời chĩi nhất, đa màu sắc nhất để tơ điểm cho tuyệt tác “Vang bĩng một thời”
"Chữ người tử tù” đã thể hiện một bút pháp thật sắc sảo với từng câu văn, nét chữ như chất chứa cả đai dương ý nghĩa cuồn cuộn dâng trào của nhà văn Nguyên Tuân
“Chữ người tử tù” thật sự đi vào lịng người khi Nguyễn Tuân đã biết tạo dựng một nhân vật điển hình Đặc biệt là ơng đã tạo dựng cảnh Huấn Cao cho chữ “một cảnh tượng xưa nay chưa từng cĩ”
Vì sao Nguyễn Tuân lại nĩi cảnh Huấn Cao cho chữ là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng cĩ”? Nguyên do thật đơn giản, đĩ là các bậc nho sĩ ngày xưa “tao nhân mặc khách”, ”bụng đựng đầy chữ thánh hiền” khi viết chữ hoặc cho chữ phải ở những nơi trăng thanh giĩ mát, hoa hương ngào ngạt, ly rượu nồng nàn chếnh chống hơi men… Cĩ như thế thì viết chữ mới hay, cho chữ mới đáng được thưởng thức và mới đạt đến trình độ thẩm mỹ tuyệt vời Nhưng ở đây Huấn Cao cho chữ quản ngục lại vào một phịng giam tối mịt "tường đầy mạng nhện, tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột, phân gián” Đúng là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng cĩ”
“Một cảnh tượng xưa nay chưa từng cĩ” ấy đã diễn ra vào đêm hơm khuya khoắt, ngay tại nhà tù Cảnh đêm buơng xuống khơng gian bốn bề chỉ cịn văng vẳng tiếng mõ trên vọng canh Ngồi nhà tù đã tối thì bước chân vào nhà tù kín mít hẳn phải “sẫm đen hơn nữa”
Theo viên quản ngục và thầy thơ lại vào phịng gian cĩ một bĩ đuốc sáng rực lan tỏa khắp bốn bề Và khơng khí lúc đĩ mới “tỏa như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực” , rồi “lửa đĩm cháy rừng rực, lửa rụng xuống phịng giam, tàn lửa tắt nghe xèo xèo” Khơng phải ngẫu nhiên nhà văn Nguyên Tuân lại nhắc đến bĩ đuốc “sáng rực” đĩ đến hai lần, rõ ràng đĩ là dụng ý nghệ thuật cũng như Bác Hồ viết “Phương đơng màu trắng chuyển sang hồng” vậy
Chính bởi vì thế mà sự đối lập giữa ánh sáng và bĩng tối cứ giằng co nhau quyết liệt Bĩng tối quánh đặc như muốn nuốt tươi ánh sáng Nhưng khơng, ánh sáng ở đây vẫn ngời chĩi vẫn ngời tỏ, sáng rực, chứ khơng như ánh sáng leo lét, buồn rầu của mẹ con chị Tý và ánh sáng rực tỏa, chĩi lọi như đồn tàu rồi lại chìm vào hư khơng của bĩng đêm trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam Song xét sau xa hơn thì ánh sáng đĩ khơng chỉ đơn thuần mang ý nghĩa sắc màu vật lý mà ánh sáng đĩ mang sắc màu ý nghĩa nhân sinh đậm nét: ánh sáng của sự lương tri, của nhân tâm, của thiên lương trong sáng đã chiến thắng bĩng tối của cường quyền, bạo lực Sự chiến thắng đĩ là điều tất yếu sẽ xảy ra, bởi vì mọi cái thiện, cái cao cả, chính nghĩa cuối cùng sẽ chiến thắng Với ánh sáng ấy đã cảm hĩa con người một cách mạnh mẽ, nâng đỡ những con người cĩ đức, mến mộ cái tài, nhưng yếu ớt trở về cuộc sống lương thiện Sự chiến thắng đĩ là bản hùng ca, ca ngợi chữ tâm của con người thiên lương
Bản hùng ca chữ tâm đĩ sẽ ngời tỏ và sáng lạn hơn nữa khi nĩ đi liền với cái tài hoa, cái đẹp lại làm mờ nhạt đi sự nhơ bẩn, sự phàm tục
Ở đây, sự nhơ bẩn, phàm tục được hiện hữu rất rõ: ”một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt,tường đầy mạng nhện, tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột, phân gián” Một cái buồng giam thật kinh sợ chẳng khác gì chi một chuồng trâu của nhà nơng! Phân gián, mạng nhện, tổ rệp lại cộng thêm
ẩm ướt, chật hẹp thì đẩy sự nhem nhuốc, phàm tục lên đỉnh điểm Sự nhem nhuốc, sự phàm tục này tưởng chừng như mãi mãi tồn tại Song với sự xuất hiện của phiếm lụa, của lọ mực đã xua tan đi mùi ơ uế Phiến lụa, mùi mực là biểu tượng cái đẹp, cái thơm tho Cho nên, phân gián,
Trang 11phân chuột cùng với không khí chật hẹp, nền nhà ẩm ướt dần dần mất đi, bởi “cái đẹp là địa hạt của sự sống”, “cái đẹp đã lên ngôi thay thế cho cái xấu xa, thấp hèn, cái đẹp nâng đỡ con người”, cái đẹp là mục đích mà con người ta muốn vươn lên Màu trắng của phiến lụa là tâm hồn cao khiết của con người; mùi thơm của lọ mực là mùi thơm của tình người, tình đời Màu trắng ấy, mùi thơm ấy hội tụ lại thành biểu tượng của cái đẹp, cái thiên lương.
Trong cảnh cho chữ này người ta để ý nhiều tới người tù Huấn Cao “chọc trời, quấy nước”, nay đã sa cơ, lỡ vận Nhưng không thể không để ý tới viên quản ngục và thầy thơ lại, đó
là hai con người mới “đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền” biết coi trọng cái đức, mến mộ cái tài, nhất là tài viết chữ của Huấn Cao Quản ngục và thầy thơ lại có thể coi đó là tâm hồn của nhà văn Nguyễn Tuân đang sùng kính cái đẹp, đang khát khao cái đẹp Huấn Cao, quản ngục, thầy thơ lại là ba điểm sáng tạc nên một tượng đài, trong đó Huấn Cao là trung tâm: “ba cái đầu người đang chăm chú nhìn trên tấm lụa bạch” Ba con người có ba địa vị xã hội khác nhau, giờ đây họ đang muốn điểm màu, tô son cho cái đẹp lên ngôi thay thế sự phàm tục, nhơ nhuốc bẩn thỉu
Cái đẹp, cái cao thượng và sự phàm tục, nhơ nhuốc, hai cái đó đối lập nhau trong một hoàn cảnh Nguyễn Tuân đã cùng thủ thỉ ném cùng một lúc hai cái đó vào nhà giam tạo ra sự mâu thuẫn cực độ Từ đó làm bật lên bản chất cái đẹp, cái cao thượng Nhất là Huấn Cao chỉ ngày mai thôi sẽ bị giải về kinh, rồi phải bước lên đoạn đầu đài, nhưng ông vẫn ung dung lắm, vẫn nghệ sĩ lắm Ông nhận xét về mùi hương của thoi mực đúng là của một con người “bần tiện bất năng duy, uy vũ bất năng khuất”: ”Thoi mực thầy mua ở đâu tốt và thơm quá Thầy có thấy mùi thơm của lọ mực bốc lên không?”… Ôi cái mùi thơm của thoi mực ấy nó ngào ngạt lan tỏa như
“Dạ lan thơm nức lạ lùng – Tưởng như đi mãi không cùng mùi hương” Đó là mùi thơm danh tiếng của Huấn Cao vẫn còn ngào ngạt đến muôn đời Nhà tù ở đây đã không còn là nhà tù nữa
mà nó đã trở thành nơi chứa đựng mùi thơm tho của thiên lương con người
Trước cái đẹp đang lên ngôi thì Huấn Cao “cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang đập đập
tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng phẳng”, đó là thái độ uy nghi, đường hoàng, một thái độ của “hùm thiêng” khi đã “sa cơ” mà chẳng hèn chút nào Thái độ ấy, đúng là “Thân thể ở trong lao - Tinh thần ở ngoài lao” Cái chết đang tiến lại gần, nhưng người tù Huấn Cao vẫn nói về sự sống, hướng về cái đẹp, cái thiện của đời Do đó nhà tù chỉ còn là để cho Huấn Cao thể hiện thêm khí phách của một người anh hùng mà thôi Cũng chính vì thế mà người tù ở đây đã hóa thành chủ, còn bọn quản lý nhà ngục lại hóa ra tôi tớ trung thành của người tù Người tù ấy đã ngự trị nơi bóng tối này với một dáng vóc uy nghi, lẫm liệt thật đường hoàng làm cho bọn quản
lý nhà ngục phải khiếp sợ, kính nể: ”viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa” và “thầy thơ lại gầy gò run run bưng chậu mực” Những chi tiết đó, những hình ảnh đó tưởng chừng như không có trong nhà tù, nhưng thực ra nó lại diễn ra theo lô gic đích thực của những người biết tôn thờ, biết kính trọng cái đẹp “hàng hàng gấm thêu”, “lời lời châu ngọc”, cái phí phách “chọc trời, quấy nước” cái bản chất thiên lương
mà Huấn Cao đã đem lại
Uy quyền và bạo lực giờ đây đã tan biến, nó bị khuất phục bởi cái đẹp, cái thiên lương Cái đẹp, cái thiên lương bỗng nhiên trở nên thiêng liêng tuyệt đối, bởi “cái đẹp cảu tâm hồn mới làm cho con người ta kính trọng” Chính vì vậy, mọi thứ nhem nhuốc, đen tối, cường quyền đã hóa thành những thứ bủn xỉn, chập choạng rơi xuống bùn sâu
Lời khuyên của Huấn Cao đối với quản ngục lại một lần nữa khẳng định cái đẹp, cái thiên lương cảu con người: “Ở đây lẫn lộn ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi Chỗ này không