Điểm qua một số sự kiện thế giới tiêu biểu có ảnh hưởng đến tỉ giá USD/VND tại ViệtNam giai đoạn 2008 – 2009: Có thể nói, giai đoạn 2008 – 2009 là giai đoạn mà nền kinh tế thế giới chao
Trang 1BẢNG PHÂN CÔNG THỰC HIỆN CÔNG VIỆC NHÓM
- Phân tích tác động của biến động tỷ giá USD/VND 2008-2009 đến cán cân thương mại
Hoàn thành nhiệm
vụ được giao
- Phân tích nguyên nhân chênh lệch lạm phát
và lãi suất đến biến động tỷ giá USD/VND 2008-2009
- Tổng hợp tiểu luận
Hoàn thành nhiệm
vụ được giao
- Phân tích diễn biến tỷ giá USD/VND 2009
2008 Phân tích tác động của biến động tỷ giá USD/VND 2008-2009 đến đầu tư
Hoàn thành nhiệm
vụ được giao
Trang 2M c l c ục lục ục lục
Lời mở đầu 3
Nội dung 4
I Diễn biến: 4
1 Tình hình biến động trước giai đoạn 2008-2009: 4
2 Giai đoạn 2008-2009: 4
II Nguyên nhân: 6
1 Điểm qua một số sự kiện thế giới tiêu biểu có ảnh hưởng đến tỉ giá USD/VND tại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2009: 6
2 Biến động tỷ giá do lạm phát: 11
3 Cung và cầu USD trên thị trường Việt Nam giai đoạn 2008 – 2009: 13
4 Biến động tỷ giá do chênh lệch lãi suất: 18
5 Nguyên nhân khác: 21
III Tác động của sự biến động tỷ giá USD/VND giai đoạn 2008 – 2009: 22
1 Đến cán cân thương mại hàng hóa: 22
2 Ảnh hưởng của tỷ giá đến tài khoản vốn: 26
3 Đầu tư: 28
Kết luận 30
Tài liệu tham khảo 31
Trang 3Lời mở đầu
Khủng hoảng cho vay bất động sản dưới chuẩn của Mỹ năm 2008 đã khơi ngòi cho cuộckhủng hoảng tài chính toàn cầu Tăng trưởng kinh tế toàn cầu sụt giảm đáng kể, các nền kinh tếphát triển đều rơi vào suy thoái Chính phủ nước Hoa Kỳ phải thực thi các giải pháp cứu trợkinh tế trị giá hàng nghìn tỷ đôla Mỹ và liên tiếp cắt giảm lãi suất chủ đạo, bơm thanh khoảnvào hệ thống ngân hàng Tình hình suy thoái kinh tế cũng tác động mạnh đến các nước đangphát triển, trong đó có Việt Nam Mà một trong những biến số quan trọng của nền kinh tế bịảnh hưởng đầu tiên và mạnh mẽ chính là yếu tố tỷ giá, quan trọng nhất là tỷ giá USD/VND.Năm 2008 – 2009 là giai đoạn tỷ giá biến động đầy bất ổn, khi chỉ trong 2 năm 2008 –
2009, tỷ giá VND/USD đã tăng 1.838VND/USD, thậm chí còn lớn hơn mức tăng trong giaiđoạn 7 năm trước đó (trong giai đoạn 2001 – 2007, mức tăng chỉ là 1.502VND/USD), thêm vào
đó, nhà nước đã phải 2 lần phá giá nội tệ, cùng với nhiều lần thay đổi biên độ giao dịch tỷ giá.Những biến động này đã tác động không nhỏ đến kinh tế Việt Nam, từ hoạt động xuất nhậpkhẩu, cán cân thương mại đến nợ nước ngoài, hay các hoạt động đầu tư, thu hút vốn
Những tác động sâu sắc đó đến toàn nền kinh tế đòi hỏi phải nhìn thẳng vào vấn đề, xemxét kỹ lưỡng diễn biến, tìm ra nguyên nhân và phân tích các ảnh hưởng của nó, từ đó, rút ra cácbài học kinh nghiệm để có thể quản lý, điều hành công cụ tỷ giá đối với nền kinh tế Việt Namhiệu quả hơn Đó chính là mục đích để nhóm chúng tôi thực hiện bài tiểu luận với nội dung:
“Phân tích diễn biến, nguyên nhân và tác động của biến động tỷ giá giai đoạn 2008 – 2009”.Trong bài làm còn có nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự đánh giá, góp ý của cô giáocùng các bạn để nhóm tác giả có thể hoàn thiện hơn phần nghiên cứu của mình
Trang 4Nội dung
I Diễn biến:
1 Tình hình biến động trước giai đoạn 2008-2009:
Trong giai đoạn sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 – 2000, nền kinh tếnước ta đi vào ổn định và tỷ giá VND/USD được neo giữ tương đối cứng nhắc
Bảng 1: Tỷ giá VND/USD (loại tờ lớn) vào ngày 15 các tháng 2, 5, 8 và 11 giai đoạn 2001-2007
Nguồn: Ngân hàng Á Châu (http://www.acb.com.vn/tygia/chart/index.jsp )
Tuy nhiên, đến cuối năm 2007, nguồn vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam tăng đột biếnkhiến nguồn cung USD tăng Điều đó dẫn tới sự dư cung USD và tỷ giá giảm đến sàn biên độ 1
Trang 5Ngày Biên độ cho phép
Bảng 3: Thay đổi biên độ giao dịch tỷ giá so với tỷ giá VND/USD được công bố
trên thị trường liên ngân hàng (Nguồn: Tổng hợp)
Đồng thời, Ngân hàng nhà nước liên tục đưa ra các chính sách thay đổi biên độ giao dịch
tỷ giá so với tỷ giá VND/USD được công bố trên thị trường liên ngân hàng Biên độ này mở
Trang 6rộng ra rất nhiều so với giai đoạn trước Đặc biệt, cần lưu ý răng trong giai đoạn 2000 – 2006,chỉ có duy nhất một lần Ngân hàng nhà nước ban hành chính sách thay đổi biên độ giao dịch tỷgiá so với tỷ giá VND/USD được công bố trên thị trường liên ngân hàng từ 0,1% lên 0,25%.Các ngân hàng thương mại trong giai đoạn này liên tục giao dịch ở mức giá trần.
Trong 2008 – 2009, Ngân hàng nhà nước đã tiến hành phá giá đồng nội tệ 2 lần: lần thứnhất ở mức 3% vào cuối 12/2008 và lần thứ hai lên tới 5,44% vào ngày 26/11/2009 để chốngđầu cơ tiền tệ và giảm áp lực thị trường
Vào cuối năm 2009, kì vọng vào việc đồng Việt Nam mất giá vẫn còn rất cao
II Nguyên nhân:
1. Điểm qua một số sự kiện thế giới tiêu biểu có ảnh hưởng đến tỉ giá USD/VND tại ViệtNam giai đoạn 2008 – 2009:
Có thể nói, giai đoạn 2008 – 2009 là giai đoạn mà nền kinh tế thế giới chao đảo trước sựsụp đổ của hàng loạt các ngân hàng, mở đầu cho cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính đầu tiên
của thế kỉ 21, một cuộc khủng hoảng “phi vật chất” không hề giống với bất kì cuộc khủng
hoảng nào trước đó
Năm 2008 là năm mà cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bùng phát mạnh mẽ nhất
Manh nha từ tháng 8 năm 2007, cuộc khủng hoảng này được “châm ngòi” bằng hoạt độngcho vay thế chấp dưới chuẩn (sub-prime mortgage) dễ dãi và thiếu kiểm soát ở Mỹ Kéo theo
đó là sự đổ vỡ dây chuyền trong ngành tài chính Mỹ ở thời kỳ đỉnh điểm giữa tháng 9/2008 đã
lan qua Đại Tây Dương, tới châu Âu, và gây ra những cơn “dư chấn” ở châu Á Đây là s ự đồng
loạt suy thoái lần đầu tiên kể từ Đại chiến Thế giới thứ hai của ba nền kinh tế lớn nhât thế giới (Mỹ, Nhật Bản và khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) khiến cho kinh tế toàn cầu giảm tốc mạnh Suy thoái tại các nền kinh tế lớn – đồng thời là thị trường xuất khẩu chủ
chốt của các nền kinh tế đang nổi lên – kéo tốc độ tăng trưởng sụt giảm trên phạm vi toàn cầu
2008 cũng là năm của các kế hoạch giải cứu và kích thích kinh tế.
Tính nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã khiến chính phủ các nướckhông thể không can thiệp Tại Mỹ, Chính phủ nước này năm qua đã phải tiếp quản hai tậpđoàn tài chính nhà đất khổng lồ là cặp “sinh đôi” Fannie Mae và Freddie Mac, hãng bảo hiểmAIG và ngân hàng Citigroup Đồng thời, đưa ra kế hoạch giải cứu quy mô lớn 700 tỷ USD dànhcho ngành tài chính, kế hoạch 800 tỷ USD để “phá băng” thị trường tín dụng, kế hoạch muathương phiếu để tăng tính thanh khoản cho các doanh nghiệp không thuộc ngành ngân hàng, kếhoạch cứu các con nợ địa ốc khỏi mất nhà… Chính phủ Mỹ cũng đã tìm biện pháp để cứungành công nghiệp xe hơi của nước này sau khi một kế hoạch hỗ trợ 14 tỷ USD dành cho các
Trang 7hãng ôtô bị Thượng viện bác bỏ.
Tại châu Âu, danh sách các ngân hàng được các nhà chức trách can thiệp cũng tương đốidài Nhiều ngân hàng lớn của châu lục này đã bị quốc hữu hóa một phần hoặc toàn bộ nhưNorthern Rock và Bradford & Bingley của Anh, Fortis và Dexia của Bỉ, Hypo Real Estate củaĐức; Kaupthing, Landsbanki và Glitnir của Iceland… Các nước sử dụng đồng tiền chung Eurocũng đi tới một kế hoạch giải cứu tập thể cho ngành ngân hàng Nước Anh cũng tung ra mộtgói giải cứu trị giá 85 tỷ USD cho hệ thống tài chính của mình
Thế giới cũng chứng kiến sự ra đời của những kế hoạch kích thích kinh tế lớn chưa từng có
Mở màn là gói kích thích kinh tế thông qua hoạt động hoàn thuế cho người dân và doanhnghiệp trị giá hơn 150 tỷ USD của Mỹ Nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới TrungQuốc cũng đã tung ra gói kích thích kinh tế trị giá 568 tỷ USD Vào ngày 12 tháng 12 năm
2008, Nhật Bản đã công bố kế hoạch kích thích kinh tế trị giá 255 tỷ USD Cùng thời điểm, EUcũng đưa ra một kế hoạch tương tự trị giá khoảng 267 tỷ USD
Cuộc khũng hoảng cũng kéo theo sự đổi hướng trong chính sách tiền tệ của các nước, xuất hiện những mức lãi suất thấp chưa từng có trong lịch sử
Những biến động đó buộc ngân hàng trung ương các nước trên thế giới đi tới những thayđổi hiếm gặp trong chính sách tiền tệ Từ chủ trương thắt chặt tiền tệ để chống khủng hoảng,thế giới đã chuyển sang nới lỏng mạnh mẽ chính sách này để chống khủng hoảng và hỗ trợ tăngtrưởng Với chuỗi cắt giảm lãi suất 10 lần kể từ tháng 9/2007 tới nay, FED đã đưa lãi suất đồngUSD từ mức 5,25% về khoảng thấp chưa từng có trong lịch sử 0 – 0,25% ECB, ngân hàngtrung ương với mục tiêu số một là chống lạm phát, cũng đã phải giảm mạnh lãi suất đồng Euro
về mức 2,5% sau khi khủng hoảng tấn công mạnh vào châu Âu Nhật Bản lần đầu tiên hạ lãisuất trong 7 năm trở lại đây, đưa lãi suất đồng Yên về mức 0,3% Trung Quốc cũng liên tục cắtgiảm lãi suất đồng Nhân dân tệ Thụy Sỹ trở thành quốc gia đầu tiên tại châu Âu hiện nay cómức lãi suất dưới 1% khi mới đây đưa lãi suất đồng Franc của mình về 0,5%
Năm 2008 chứng kiến đỉnh cao và sự thoái trào của hoạt động đầu cơ trên thị trường hàng hoá
Hai mặt hàng được quan tâm nhiều là vàng và dầu thô đều cùng đạt đỉnh cao lịch sử trongnăm nay, với mức trên 1.030 USD/oz đối với giá vàng vào thời điểm tháng 3, và mức trên 147USD/thùng đối với giá dầu vào giữa tháng 7 Sau đó, giá cả hai mặt hàng này cùng trượt dốcdài Tuy nhiên, với tư cách là một kênh đầu tư an toàn trong khủng hoảng, giá vàng không sụtgiảm quá mạnh Trong khi đó, giá dầu – một hàn thử biểu của sức khỏe kinh tế - đã “đánh mất”hơn 70% so với mức đỉnh nói trên
Trang 8Năm 2008 còn là năm chao đảo của thị trường chứng khoán toàn cầu.
Khủng hoảng tài chính, kéo theo sự đổ vỡ và nguy cơ đổ vỡ của nhiều tập đoàn lớn trongngành này, cùng với sự suy thoái của kinh tế toàn cầu, đã khiến thị trường chứng khoán thế giớiliên tục rung chuyển trong năm 2008 Cũng theo số liệu của Bloomberg, tính tới ngày 19/12này, thị trường chứng khoán thế giới đã sụt giảm 46% giá trị so với hồi đầu năm, còn 32.000 tỷUSD Riêng tại thị trường Mỹ, tính tới ngày 17/12, chỉ số Dow Jones đã giảm 33,47%, chỉ sốS&P 500 giảm 38,4%, còn chỉ số Nasdaq giảm 40,45%
Sang đến năm 2009, đã có một vài mảng sáng trong gam màu u ám của nền kinh tế thế giớinhưng cũng không đủ để kéo nó thoát khỏi sự ảm đạm
Hàng loạt các quốc gia đã thoát khỏi suy thoái.
Vào đầu tháng 12 năm 2009, khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu hồ hởi tuyên bố
EU, ngoại trừ Hy Lạp và Tây Ban Nha, đã chính thức thoát khỏi suy thoái Trong quý III/2009,
EU tăng trưởng dương 0,3%, sau 5 quý âm liên tiếp Khu vực này được vực dậy nhờ hoạt độngxuất khẩu cùng hàng loạt biện pháp kinh tế của các chính phủ Trước đó, các nền kinh tếkhác như Singapore, Hong Kong, Đức, Pháp cũng tuyên bố đã ra khỏi thời kỳ đen tối nhất.Với kết quả tăng trưởng kinh tế quý 3 đạt 2,2%, nền kinh tế lớn nhất toàn cầu là Mỹ cũng đãqua đáy lúc nào không hay, đập tan các dự báo về suy thoái kép Trước đó, GDP nước này tăngtrưởng âm 4 quý liên tiếp
2009 là năm nước Mỹ chứng kiến làn sóng sụp đổ của các ngân hàng
Chỉ riêng trong ngày 18/12, có tới 7 ngân hàng đóng cửa, nâng tổng số nạn nhân từ đầunăm lên đến 140 Đây là con số khổng lồ so với vỏn vẹn 3 ngân hàng Mỹ bị xóa sổ hồi 2007.Trong toàn bộ năm 2008, ngành ngân hàng nước này chỉ có 25 nạn nhân Tuy nhiên sang đếnnăm 2009, Mỹ chỉ mất 4 tháng đầu tiên để “đạt được” con số trên nhưng hầu hết các nạn nhâncủa năm nay đều là những ngân hàng nhỏ Đó cũng là tín hiệu khả quan, một phần nhờ vàonhững nồ lực của chính phủ Mỹ Gói Giải trừ nợ xấu (TARP) trị giá khoảng 200 tỷ USD phêduyệt hồi cuối 2008 đã phát huy tác dụng Nhờ TARP, một loạt ngân hàng đã phục hồi và thậmchí còn thu lãi kỷ lục như Goldman Sachs Trong quý 2/2009, lợi nhuận của Goldman đạt 3,4 tỷUSD, tăng tới 89% và là kỷ lục trong lịch sử 140 năm của ngân hàng này Sau khi GoldmanSachs tuyên bố đã thanh toán xong mọi nợ nần với chính phủ, một loạt các đại gia khác nhưWell Fargos, Citigroup cũng cho biết đã sẵn sàng trả nợ
Giá dầu đã tăng gấp đôi trong một năm.
Khởi đầu năm 2009 với mức đáy 34,57 USD một thùng vào ngày 2/1, giá dầu tăngnhanh với tốc độ xấp xỉ 10 USD chỉ trong một tuần sau đó do tác động của tình hình chiến
Trang 9sự tại Dải Gaza và những tranh cãi xung quanh vấn đề vận chuyển dầu của Nga qua Ukraina.
Đà hồi phục của kinh tế thế giới trong suốt năm 2009 tiếp tục là động lực cho thị trường suốt 12tháng sau đó Cùng với những tin tức tốt lành từ kinh tế Mỹ, giá dầu đạt kỷ lục 79,12 USD mộtthùng vào thời điểm 2 ngày trước khi năm 2009 kết thúc
Năm 2009 cũng là một năm của giá vàng.
Giá vàng 2009 chứng kiến đà leo thang chóng mặt từ mấp mé 900 USD một ounce hồi đầutháng 1 lên 1.091 USD vào cuối tháng 12 Ngày 3/12, giá lập đỉnh cao nhất mọi thời đại tại1.126,56 USD Sức tăng của thị trường được kết hợp của nhiều yếu tố, bao gồm đồng đôlayếu Lâu nay, tờ bạc xanh vẫn được xem là đối thủ của kim loại màu vàng Khi USD tănggiá, nhà đầu tư sẽ đổ xô đầu tư vào mua USD, bỏ rơi vàng và ngược lại 8 năm qua, chỉ sốDollar Index mất 61% giá trị, trong khi giá vàng tăng tới 365%
Việc thị trường được thổi lên gần chạm 1.300 USD vào cuối năm còn nhờ nguy cơ lạmphát Mặc dù các chuyên gia khẳng định chưa thấy yếu tố hỗ trợ lạm phát nào xuất hiện, giớiđầu tư vẫn lao vào vàng, lo sợ đồng tiền mất giá Tiêu biểu nhất là làn sóng mua vàng thay thếđôla trong kho dự trữ ngoại tệ của các ngân hàng trung ương, khiến giá càng lên cao quá mức.Trong tháng cuối năm, thị trường điều chỉnh giảm mạnh, từ mức cao kỷ lục xuống chỉ cònquanh 1.090 USD, phù hợp với nhiều dự báo
Trong năm 2009, trọng tâm thế giới đang dần chuyển dịch về phía Đông.
Cùng với Trung Quốc, các quốc gia châu Á trở thành trung tâm chú ý của toàn thế giớitrong khủng hoảng Suy thoái kinh tế toàn cầu là cơ hội để các quốc gia trong khu vực khẳngđịnh vị thế của mình Trong tháng 12/2009, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) nâng mức dựbáo tăng trưởng cho nhóm 45 quốc gia châu Á đang phát triển lên 4,5% trong 2009 và 6,6%trong năm 2010 Con số này cao hơn nhiêu so với đánh giá trước đó, lần lượt là 3,9% và 6,4%cho hai năm Với mức tăng này, châu Á hiện vẫn là đầu tàu tăng trưởng của thế giới Nền kinh
tế lớn nhất châu Âu là Đức mới đây công bố tăng trưởng quý 2/2009 đạt 0,3% Dù khiêm tốn,đây là quý đầu tiên nước này đi lên sau 4 quý lao dốc liên tiếp Thậm chí, theo đánh giá củaQuỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm tới sẽ phụ thuộc vàochâu Á, đặc biệt là những nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ
2 Biến động tỷ giá do lạm phát:
Lạm phát là sự giảm sức mua của tiền tệ được đo lường bằng giá cả chung tăng lên.Lạm phát là nguyên nhân chính khiến tỷ giá biến động, nhưng từ từ và trong dài hạn Lạm phátphản ánh sức mua của tiền tệ nên khi lạm phát của VND càng cao thì VND càng mất giá Lạm
Trang 10phát của VND luôn cao hơn lạm phát của USD nên tỷ giá USD/VND thường có xu hướng tăng.Nhìn biểu đồ diễn biến tỷ giá USD/VND các năm trở lại đây cho thấy tỷ giá USD/VND nămsau luôn cao hơn năm trước.
Trong năm 2008, tỷ lệ lạm phát ở nước ta rất cao, lên tới 22,97%
Lạm phát ở Việt Nam 10 tháng đầu năm 2008
Trang 11năm 2008 đến mức 16598 VND = 1 USD vào tháng 12/2008, sụt giảm tới 3,1% Lạm phát hơn10% kéo dài trong năm 2008 khiến kỳ vọng vào VND lên giá là rất thấp Điều này cũng càngkhiến cho VND bị giảm giá Thị trường Việt Nam chưa phải là một thị trường hoàn hảo, quyluật” đám đông” trong nhiều trường hợp sẽ chi phối trạng thái của tiền tệ Khi mọi người nghĩrằng trong tương lai VND sẽ tiếp tục mất giá mạnh thì họ sẽ đầu tư hoặc cất trữ tiền bằng USDthay cho VND khiến cầu USD tăng và USD tăng giá Người dân và nhiều nhà đầu tư Việt Namkhi nhận thấy mọi người mua vào nhiều USD thì cũng sẽ theo “ đám đông “ mua vào USD.Trong một thời điểm, khi lượng câu USD quá lớn thì giá USD trên thị trường tự do, không chịubiên độ dao động trần của ngân hàng nhà nước sẽ tăng lên một cách chóng mặt Vào nửa cuốinăm 2008, VND vẫn tiếp tục xu hướng mất giá nhưng chỉ mất giá nhẹ bởi vào thời điểm này,lạm phát Việt Nam có xu hướng giảm hơn so với những tháng trước, đồng thời lãi suất cơ bảnVND cũng giam và duy trì sự ổn định tạm thời.
Vào cuối năm 2008, đầu năm 2009, lạm phát Việt Nam tăng mạnh vì đây là vào thời giantháng tết, nhu cầu của người dân tăng mạnh kéo theo sự tăng giá của lương thực, thực phẩm vàrất nhiều mặt hàng khác Ngược lại với Việt Nam, lạm phát ở Hoa Kỳ là giảm từ 0,09% vàotháng 12/2008 xuống 0,03% vào tháng 1/2009 Diễn biến trái chiều của chỉ số lạm phát giữa hainước đá khiến VND mất giá mạnh Tỷ giá USD/VND vào tháng 12/2008 là 16598, nhưng đếntháng 1/2009 tỷ giá USD/VND đã là 16973, tăng tới 2,3%
Năm 2009, tỷ giá USD/VND không có sự dao động mạnh nào từ tháng 2/2009 đến tháng10/2009 Xu hướng chung của năm 2009 là sự mất giá danh nghĩa của VND so với USD ViệtNam đã thành công trong việc kiềm chế lạm phát ở mức 6,88%, còn Hoa Kỳ chỉ số lạm phát cảnăm là -0,34% Mức lạm phát của Việt Nam được duy trì ổn định nên lãi suất cơ bản VNDcũng được giữ ổn định Lãi suất cũng là một trong những nguyên nhân gây biến động tỷ giá.Đến cuối năm 2009, do quyết định của ngân hàng nhà nước phá giá VND so với USD là 5,4%
để chống đầu cơ tiền tệ nên tỷ giá USD/VND mới tăng một cách đột biến
3 Cung và cầu USD trên thị trường Việt Nam giai đoạn 2008 – 2009:
Sự hình thành tỉ giá hối đoái là quá trình tác động của nhiều yếu tố chủ quan và kháchquan, nổi lên là ba yếu tố chính, trong đó có mối quan hệ cung cầu về ngoại tệ
Cung cầu về ngoại tệ trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến động của tỷgiá hối đoái Cung cầu ngoại tệ lại chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau trong đó cócán cân thanh toán quốc tế Nếu cán cân thanh toán quốc tế dư thừa có thể dẫn đến khả năngcung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ và ngược lại Sự cân bằng của cán cân thanh toán quốc tế lại
Trang 12phụ thuộc vào các nguốn cung và cầu ngoại tệ cấu thành nên cán cân thanh toán quốc tế Khinền kinh tế có mức tăng trưởng ổn định nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu sẽ tăng do
đó nhu cầu về ngoại tệ cho thanh toán hàng nhập khẩu tăng lên Ngược lại, khi nền kinh tế rơivào tình trạng suy thoái thì các hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu bị đình trệlàm cho nguồn cung ngoại tệ giảm đi Trong khi nhu cầu nhập khẩu chưa kịp thời được điềuchỉnh trong ngắn hạn việc giảm cung ngoại tệ sẽ đẩy tỷ giá lên cao
Nhìn lại giai đoạn 2008 – 2009, ta có thể nhận thấy, sự biến động của cung – cầu USDtrong giai đoạn này có ảnh hưởng không nhỏ đến những biến động của tỉ giá USD/VND
Diễn biến tỷ giá USD/VND năm 2008 - Nguồn: BIDV
Trong những tháng đầu năm 2008, tỉ giá USD/VND liên tục sụt giảm, dưới mức sàn.Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do đây là giai đoạn gần tết Dương lịch, lượng kiều hốichuyển về nước khá lớn khiến cho lượng cung USD tăng Cùng với đó, các nhà đầu tư cũng dựkiến VND sẽ tăng giá so với USD, cộng thêm chênh lệch lãi suất lớn giữa USD và VND nêncác nhà đầu tư đẩy mạnh việc bán USD chuyển qua VND Tập trung vào các đối tượng là nhàđầu tư nước ngoài đầu tư vào Trái phiếu Chính phủ Việt Nam (1,4 tỷ USD), các doanh nghiệpxuất khẩu vay USD để phục vụ sản xuất kinh doanh…Các ngân hàng thương mại lúc này cũngđẩy mạnh bán USD Trong khoảng thời gian này, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đang đẩymạnh việc kiềm chế lạm phát, sử dụng biện pháp tiền tệ thắt chặt, tăng lãi suất cơ bản từ 8,25%/năm (tháng 12/2007) lên 8,75%/năm (tháng 2/2008) Ngân hàng nhà nước không thực hiện muangoại tệ USD nhằm hạn chế việc bơm tiền ra lưu thông, tăng biên độ tỷ giá USD/VND từ0,75%/năm lên 1%/năm trong ngày 10/03/2008
Đến 3 tháng tiếp theo, tỉ giá USD/VND tăng dần đều và đột ngột tăng mạnh Nguyên nhânchủ yếu do tâm lý bất ổn của doanh nghiệp và người dân khi thấy USD tăng nhanh dẫn đếntrạng thái găm ngoại tệ của giới đầu cơ Nhu cầu mua ngoại tệ trả các khoản nợ của cả doanh
Trang 13nghiệp xuất và nhập khẩu đến hạn cao, tăng nhập khẩu vàng do chênh lệch lớn giữa giá vàngtrong nước và quốc tế Nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu rút vốn khỏi Việt Nam bằng việc bán tráiphiếu Chính phủ khi lo ngại về tình hình kinh tế và do tình hình thanh khoản thấp trên thịtrường thế giới đẩy nhu cầu mua USD chuyển vốn về nước lên cao (bán ròng 0,86 tỷ USD).Tuy nhiên, cung ngoại tệ lại thấp do Ngân hàng nhà nước không cho phép cho vay ngoại tệ đốivới doanh nghiệp xuất khẩu (theo quyết định số 09/2008/QĐ, NHNN không cho phép vay đểchiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu, vay thực hiện dự án sản xuất xuất khẩu), giảm hiện tượngdoanh nghiệp xuất khẩu vay ngoại tế bán lại trên thị trường.
Sang quí III năm 2008, tỉ giá USD/VND giảm mạnh rồi trở lại bình ổn là nhờ có sự canthiệp kịp thời của Ngân hàng Nhà nước khiến cơn sốt USD bị chặn đứng Nhận thấy tình trạngsốt USD đã ở mức báo động, lần đầu tiên trong lịch sử, Ngân hàng Nhà nước đã công khai công
bố dự trữ ngoại hối quốc gia 20,7 tỷ USD khi các thông tin trên thị trường cho rằng USD đangtrở nên khan hiếm Đồng thời lúc này, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành một loạt các chínhsách nhằm bình ổn thị trường ngoại tệ như kiểm soát chặt các đại lý thu đổi ngoại tệ (cấm muabán ngoại tệ trên thị trường tự do không đăng ký với các NHTM), cấm mua bán USD thông quangoại tệ khác để lách biên độ, cấm nhập khẩu vàng và cho phép xuất khẩu vàng; bán ngoại tệcan thiệp thị trường thông qua các NHTM lớn
Cuối năm 2008, tỷ giá USD/VND tăng đột ngột trở lại, sau đó giảm nhẹ Giao dịch nằmtrong biên độ tỷ giá Tuy nhiên, cung hạn chế, cầu ngoại tệ vẫn lớn Trong khoảng thời gian từtháng 10 đến tháng 11, nhà đầu tư nước ngoài đẩy mạnh việc bán ra chứng khoán trong đó cóbán trái phiếu (700 triệu USD), cổ phiếu (100 triệu USD) Nhu cầu mua ngoại tệ của khối nhàđầu tư nước ngoài tăng cao khi muốn đảm bảo thanh khoản của tổ chức tại chính quốc Nhu cầumua USD của các ngân hàng nước ngoài cũng tăng mạnh (khoảng 40 triệu USD/ngày) CầuUSD trên thị trường tự do tăng cao bởi khi Ngân hàng Nhà nước không cho phép nhập vàng thìhiện tượng nhập lậu vàng gia tăng, làm tăng cầu USD để nhập khẩu (do USD là đồng tiền thanhtoán chính) Ngân hàng Nhà nước bán hơn 1 tỷ USD cho các ngân hàng thương mại đáp ứngnhu cầu nhập khẩu một số mặt hàng thiết yếu
Có thể thấy, trong năm 2008, những biến động khó lường của kinh tế và thị trường tàichính thế giới cũng như trong nước đã ảnh hưởng tiêu cực tới cân bằng cung cầu ngoại tệ trongnước Tuy nhiên, với sự chỉ đạo sát sao của Thủ tướng Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ củacác Bộ, Ngành, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành tỷ giá linh hoạt, thực hiện được các mục tiêucủa chính sách tỷ giá, đảm bảo thanh khoản ngoại tệ của hệ thống ngân hàng, góp phần thúcđẩy xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, cụ thể là:
Trang 14- Ngân hàng Nhà nước đã can thiệp thị trường ngoại hối với mức tỷ giá mua vào và bán rađược điều chỉnh linh hoạt Trong thời điểm thị trường dư cầu, Ngân hàng Nhà nước đã kịp thờibán ngoại tệ can thiệp, hạ nhiệt thị trường Trong thời điểm thị trường dư cung, Ngân hàng Nhànước mua ngoại tệ vào ở mức hợp lý, bảo đảm tỷ giá không giảm sâu, nhằm thực hiện mục tiêukiềm chế nhập siêu
- Trong hoạt động can thiệp, Ngân hàng Nhà nước đã kết hợp đa dạng, linh hoạt các hìnhthức can thiệp Bên cạnh can thiệp trực tiếp, lần đầu tiên Ngân hàng Nhà nước áp dụng hìnhthức can thiệp gián tiếp để ổn định tâm lý thị trường Với sự phối hợp tốt giữa Ngân hàng Nhànước với các ngân hàng thương mại, hình thức can thiệp này đã nhanh chóng phát huy hiệuquả, đưa thị trường bình ổn trở lại
- Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng làm tốt côngtác tuyên truyền, củng cố lòng tin trong nhân dân và doanh nghiệp
- Việc điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá đã được phối hợp đồng bộ Lãi suấtVND tăng trong khi lãi suất USD giảm đã tạo sự hấp dẫn cho tiền đồng, góp phần ổn định tỷgiá
Trong bối cảnh cung cầu ngoại tệ và tỷ giá trên thị trường biến động phức tạp, có nhữngthời điểm biến động đột biến, Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời bám sát diễn biến thị trường,thường xuyên giám sát, cập nhật thông tin và đánh giá các dòng vốn vào và ra để có chính sáchđiều hành tỷ giá thích hợp Với các biện pháp đồng bộ của Ngân hàng Nhà nước, thị trườngngoại hối đã ổn định trở lại
Diễn biến tỷ giá VND/USD năm 2008-2009
Sang đến năm 2009, tỷ giá USD/VND lại tiếp tục tăng đà tăng trong 4 tháng đầu năm, đặcbiệt sau khi Ngân hàng Nhà nước thực hiện nới rộng biên độ tỷ giá lên +/-5% khiến cho tỷ giá