Là một nghề nghiệp thì kế toán tài chính là một nghệ thuật ghi chép, tính toán và phản ánh bằng con số một hiện tượng kinh tế, tài chính phát sinh trong đơn vị nhằm cung cấp các thông ti
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Việc sản xuất tạo ra của cải vật chất là cơ sở để xã hội tồn tại và phát triển Để thực hiện liên tục và có hiệu quả cần có định hướng quản trị sản xuất và phải thực hiện tốt chức năng hoạt động sản xuất quản trị dựa trên các thông tin mà bộ phận hạch toán kế toán cung cấp Có thể nóihạch toán kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế, tài chính; có vai trò quan trọng trong việc điều hành và kiểm soát hoạt động kinh tế
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường cùng với sự đổimới sâu sắc của cơ chế quản lý kinh tế, hệ thống kế toán Việt Nam với tư cách là công cụ quản
lý kinh tế tài chính đã không ngừng được đổi mới, hoàn thiện và phát triển, góp phần tích cựcvào việc quản lý tài chính của Nhà Nước nói chung và của doanh nghiệp nói riêng
Nguyên lý kế toán là môn học tất quan trọng đối với sinh viên chuyên ngành kinh tế nóichung và chuyên ngành kế toán nói riêng vì nó cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bảnnhất mà bất kỳ ai làm nghề kế toán cũng cần phải biết và nắm rõ Trong quá trình học tập vànghiên cứu môn học, mỗi sinh viên đều phải nắm được những nguyên tắc chung nhất trong quátrình hạch toán kế toán hoạt động của một doanh nghiệp bất kỳ nào đó Đồ án nguyên lý kế toánnhằm giúp sinh viên có thể hiểu sâu, nắm vững kiến thức kế toán và vận dụng các phương pháp
kế toán vào thực hành công tác kế toán trong hoạt động thực tiễn của doanh nghiệp Qua đó, sinhviên chuyện ngành kế toán có thể dễ dàng tiếp thu kiến thức của môn học kế toán tài chính vànắm bắt được chu trình của công tác kế toán trong thực tế
Trong phạm vi của môn đồ án môn học này, em xin trình bày những hiểu biết cơ bản nhất vàchung nhất về môn học "Nguyên lý kế toán" mà em đã được học Đồ án gồm hai phần:
Phần 1 : Những vấn đề lý luận chung về hạch toán kế toán
1 Khái niệm hạch toán kế toán
2 HTKT với công tác quản lý
3 Những nguyên tắc chung nhất được thừa nhận
4 Nhiệm vụ và yêu cầu hạch toán kế toán
5 Các phương pháp kế toán
Phương pháp chứng từ và kiểm kê
Phương pháp tính giá và xác đinh giá thành
Phương pháp tài khoản và ghi sổ kép
Trang 2 Phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán
6 Các hình thức sổ sách kế toán
Phần 2 : Vận dụng các phương pháp kế toán vào công tác kế toán doanh nghiệp
Do còn nhiều hạn chế về kiến thức cũng như kinh nghiệm nên đồ án của em không tránhkhỏi những thiếu sót, vì vậy em rất mong được sự góp ý và chỉ bảo thêm của các thầy cô giáo
bộ môn để đồ án của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Sinh viên Nguyễn Thị Minh Nguyên.
PHẦN I : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
Trang 3HẠCH TOÁN KẾ TOÁN
1)
Khái niệm hạch toán kế toán(HTKT)
Là mộn khoa học thì kế toán là một hệ thống thông tin thực hiện việc phản ánh, giám đốc các hoạt động thực tiễn sản xuất kinh doanh liên quan chặt chẽ tới lĩnh vực kinh tế, tài chính của một đơn vị bằng hệ thống phương pháp của mình và thông qua các thước đo: hiện vật, thời gian lao động và thước đo giá trị.
Là một nghề nghiệp thì kế toán tài chính là một nghệ thuật ghi chép, tính toán và phản ánh bằng con số một hiện tượng kinh tế, tài chính phát sinh trong đơn vị nhằm cung cấp các thông tin toàn diện về tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình huy động và sử dụng vốn trong đơn vị.
Các loại hạch toán kế toán:
Căn cứ vào cách ghi chép, thu nhận thông tin, HTKT được chia thành: Kếtoán đơn và kế toán kép
Căn cứ vào mức độ, tính chất thông tin được xử lý, HTKT được chiathành: Kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết
Căn cứ vào phạm vi thông tin kế toán cung cấp và đối tượng nhận thôngtin, HTKT được chia thành: Kế toán tài chính, kế toán quản trị
Căn cứ vào đặc điểm và mục địch hoạt động của đơn vị tiến hành hạchtoán, HTKT được chia thành: Kế toán công và kế toán doanh nghiệp
2)
Hạch toán kế toán với công tác quản lý
Trong một tổ chức kinh tế, để có được một quyêt định khôn ngoan và thực hiện quyết định
đó một cách hiệu quả thì cần phải giải quyết các vấn đề sau:
1 Mục tiêu cần thực hiện là gì ?
2 Các phương tiện cần có để đạt mục tiêu
3 Phương án nào tốt nhất để đạt mục tiêu
4 Các bước hành động là gì?
5 Liệu mục tiêu đặt ra đã đạt được chưa?
Với những quyết định có liên quan đến những vấn đề kinh doanh và kinh tế, thông tin kếtoán rất quan trọng trong thủ tục làm quyết định Nó được sử dụng để lập kế hoạch, kiểm tra thựchiện kế hoạch và đánh giá thực hiện Trong giai đoạn lập kế hoạch, người kế toán phải lập dựphòng tài chính, lập kế hoạch tiền mặt, nhu cầu về vốn và lập kế hoạch về lợi nhuận, qua đó, cóthể chỉ ra các phương án khả thi và hiệu quả nhất Trong quá trình thực hiện kế hoạch, nhữngthông tin kế toán được thu nhập sẽ phản ánh về số lợi nhuận và giá thành thực hiện so với kế
Trang 4hoạch, xem xét sự phù hợp của kế hoạch đặt ra và kịp thời điều chỉnh kế hoạch hợp lý Ngoài ra,thông tin kế toán còn cho phép đánh giá quá trình thực hiện và cho phép nhận định xem mục tiêu
có đạt được thông qua việc thực hiện kế hoạch hay không…
Nói cụ thể thông tin kế toán là những thông tin có đặc điểm sau:
-Là thông tin hai mặt về các hiện tượng kinh tế, tài chính trong một tổ chức: tăng và giảm, tàisản và nguồn hình thành, chi phí và kết quả…
-Mỗi thông tin kế toán đề mang tính chât đặc trưng là vừa có ý nghĩa thông tin, vừa có ý nghĩakiểm tra
Với đặc điểm trên thì thông tin kế toán được rất nhiều đối tượng sử dụng, có thể chia các đốitượng này làm ba loại chính: Những người điều hành cơ sở kinh doanh, những người ngoài cơ sởnhưng có quyền lợi tài chính trực tiếp và những tổ chức bê ngoài cơ sở có quyền lợi tài chínhgián tiếp với cơ sở đó
Trong xã hội, ngoài hai đối tượng ở trên, hiện nay có các cơ quan chức năng mang tính chấtquản lý nhà nước như cơ quan thuế vụ, các cơ quan lập quy và các thành phần khác cũng rấtquan tâm đến thông tin kế toán của các doanh nghiệp Cơ quan chức năng sẽ sử dụng thông tin
kế toán để tìm hiểu, giám sát việc thu nộp thuế và nghĩa vụ khác của các doanh nghiệp; Cácnhóm khác trong xã hội như khách hàng, bạn hàng… ngày càng quan tâm đến khả năng tài chínhcủa doanh nghiệp, hậu quả của việc các doanh nghiệp tham gia thị trường… và đây là lực lượngđông đảo sử dụng thôn tin kế toán
Thông tin kế toán có đặc điểm như:
Là thông tin hai mặt về các hiện tượng kinh tế, tài chính trong một tổ chức: tăng và giảm,tài sản và nguồn vốn hình thành, chi phí và kết quả
Một thông tin kế toán đề mang tính chất đặc trưng là vừa có ý nghĩa thông tin vừa có ýnghĩa kiểm tra
Như vậy thông tin kế toán đóng vai trò quan trọng hệ thống quản lý kinh tế, trong việc điềuhành các tổ chức kinh doanh và là một tất yếu khách quan của nền sản xuất xã hội
3)
Những nguyên tắc chung được thừa nhận:
a)Nguyên tắc giá gốc: Là một nguyên tắc cơ bản của hạch toán kế toán, theo nó để
xác định giá trị của các loại tài sản trong doanh nghiệp thì phải căn cứ vào giá thực tế mà doanhnghiệp bỏ ra để có được tài sản chứ không phản ánh theo giá thị trường
b)Nguyên tắc thận trọng: Nguyên tắc này đặt ra hai yêu cầu : Việc ghi tăng vốn
cùng sở hữu chỉ được thực hiện khi có chứng cứ chắc chắn, còn việc ghi giảm vốn chủ sở hữuđược ghi nhận ngay say khi có chứng từ có thể
Trang 5c)Nguyên tắc phù hợp: Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau.
Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quanđến việc tạo ra doanh thu đó Chi phí ứng với doanh thu bao gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu
và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó
d)Nguyên tắc ghi nhận doanh thu: Doanh thu phải được xác định bằng số liệu
thực tế thu được hoặc sẽ thu được và được ghi nhận quyền sở hữu hàng hóa được chuyển giaohoặc các dịch vụ đã được thực hiện
e)Nguyên tắc nhất quán: Nguyên tắc này yêu cầu trong công tác kế toán phải đảm
bảo tính thống nhất về các nguyên tắc, chuẩn mực, phương pháp tính toán giữa các kỳ kế toán.Nếu cần thay đổi thì phải có thông báo để giúp người đọc báo cáo nhận biết được
g)Nguyên tắc trọng yếu: Theo nguyên tắc này, người ta sẽ chú ý tới những vấn đề
đối tượng quan trọng, còn những vẫn đề nhỏ, không quan trọng thì có thể giải quyết theo chiềuhướng đơn giản hóa
4) Nhiệm vụ và yêu cầu của HTKT
a) Nhiệm vụ của kế toán: Với chức năng phản ánh, kiểm tra các hoạt động kinh
tế của các doanh nghiệp, kế toán có các nhiệm vụ sau:
1 Ghi chép phản ánh số hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn, quátrình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình sử dụng kinh phí( nếu có) của đơn vị
2 Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch thu chi tài chính, tìnhhình thu nộp ngân sách nhà nước, kiểm tra và bảo vệ giữ gìn tài sản, vật tư, tiền vốn của doanhnghiệp, phát hiện ngăn ngừa các hành vi tham ô, lãng phí, vi phạm chế độ thể lệ, vi phạm chínhsách tài chính
3 Cung cấp các số liệu, tài liệu cho việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm tra vàphân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động kinh tế tài chính … nhằm cung cấp cơ sở dữliệu cho việc lập theo dõi thực hiện kế hoạch đề ra
b) Yêu cầu với công tác kế toán:
1 Kế toán chính xác: Chính xác là yêu cầu cơ bản của công tác kế toán, mỗi sỗ liệu của kế toáncung cấp để gắn với quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của nhiều người, nhiều tổ chức…
2 Kế toán phải kịp thời: Thông tin kế toán có kịp thời thì mới phục vụ thiết thực cho công tácđiều hành quản lý, từ những thông tin kịp thời, người quản lý sẽ có những quyết định sớm, đúngđắn về phương hướng kinh doanh cho doanh nghiệp
3 Kế toán phải đầy đủ: Có phản ánh đầy đủ hoạt động kinh tế tài chính thì kế toán mới có thểcung cấp những thông tin tổng hợp và chính xác về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 64 Kế toán phải rõ rang, dễ hiểu, dễ so sanh, dễ đối chiếu: Vì được rất nhiều đối tượng sử dụng
và có tính chất thoogn tin nên các chỉ tiêu do kế toán cung cấp cần được trình bày rõ rang , dễhiểu phù hợp với kế hoạch đề ra để người đọc tiện đối chiếu, so sánh
5) Các phương pháp kế toán:
Đối tượng của hạch toán kế toán có những đặc điểm sau:
1) Luôn luôn biến động không ngừng, chúng phát sinh mọi lúc mọi nơi với quy mô, mức độràng buộc trách nhiệm rất khác nhau
2) Có nhiều dạng tồn tại khách nhau với các đơn vị tính khác nhau
3) Có giá trị và giá trị sử dụng nên rất dễ bị thất thoát và sử dụng sai mục đích
4) Luôn có tính hai mặt: Vốn là nguồn vốn, thu và chi, tăng và giảm… song hai mặt nàyluôn có mối quan hệ mật thiết với nhau
5) Được sử dụng trong phân tích, đánh giá và xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh cũngnhư trình độ sử dụng vốn vào huy động nguồn vốn của doanh nghiệp
Là môn khoa học độc lập nên hạch toán kế toán đã xây dựng cho mình hệ thống phương phápkhoa học nhằm phản ánh ghi chép các đối tượng của môn học, phù hợp với các đặc điểm nêutrên Hệ thống phương pháp mà hạch toán kế toán sử dụng bao gồm các cặp phương pháp sauđây:
- Phương pháp chứng từ và kiểm kê
- Phương pháp tính giá và xác định giá thành
- Phương pháp tài khoản và ghi sổ kép
- Phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán
Phương pháp chứng từ và kiểm kê.
1) Chứng từ:
Trong thực tiễn của hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn và nguồn vốn của doanh nghiệp
sẽ luôn luôn thay đổi dưới tác động của các hoạt động kinh tế trong doanh nghiệp Các hoạt độngkinh tế làm tăng, giảm tài sản và đối tượng hạch toán kế toán được gọi chung là các nghiệp vụkinh tế Khi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, chúng sẽ được ghi chép vào vào các loại số sách kếtoán bằng một phương pháp đặc biệt mà hạch toán kế toán sử dụng Song để có thể sử dụng làm
cơ sở ghi chép vào sổ sách kế toán thì các nghiệp vụ kinh tế này phải được xác định tính hợppháp, hợp lệ cũng như phân định rõ trách nhiệm của các cá nhân, tập thể liên quan đến nghiệp vụ
kế toán Phương pháp chứng từ sẽ được thực hiện các chức năng đó, cụ thể nó sẽ sao chụp, ghichép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Qua đó chứng từ sẽ chứng minh tính hợp pháp, hợp lệ củacác nghiệp vụ kinh tế Có thể khái niệm một cách ngắn gọn về chứng từ kế toán như sau:
Khái niệm:
Trang 7Phương pháp chứng từ kế toán là phương pháp sử dụng để phản ánh, kiếm tra các nghiệp
vụ kinh tế tài chính phát sinh và thực sự hoàn thánh theo thời gian, địa điểm phát sinhnghiệp vụ đó phục vụ cho công tác kế toán và công tác quản lý
Nội dung của phương pháp chứng từ kế toán được thể hiện thông qua các bản chứng
từ kế toán và chương trình luân chuyển chứng từ kế toán
d) Tên gọi, địa chỉ, cơ quan của cá nhân, đơn vị nhận chứng từ
e) Nội dung tóm tắt của nghiệp vụ kinh tế phát sinh
f) Các chỉ tiêu về số lượng và giá trị để chỉ rõ quy mô của nghiệp vụ kinh tế
g) Chữ ký của người lập, người chịu trách nhiệm và tính chính xác của nghiệp vụ kinhtế
Một số chứng từ phải có chữ ký của kế toán trưởng và thủ trưởng đơn vị( ví dụ như các quyếtđịnh quyệt chỉ, điều động tài sản, séc chuyển khoản…)
Riêng với các chứng từ sử dụng để trực tiếp ghi sổ kế toán phải ghi thêm các chỉ tiêu về địnhkhoản kế toán
Chứng từ kế toán phải được lập đầy đủ số liệu cần thiết theo quy đinh, ghi chép trên chứng từphải rõ ràng, trung thực, ghi đầy đủ các yếu tố Phần còn trống ghi không hết phải gạch bỏ.Không được tẩy xóa, sửa chữa, chứng từ, nếu viết sai phải việt lại nhưng không được xé bỏ tờviết sai mà phải lưu lại trên cuống Thủ trưởng và kế toán trưởng tuyệt đối không được kí khốngtrên chứng từ trắng, mẫu in sẵn
+ Các yếu tố bổ sung nhằm làm rõ hơn các nghiệp vụ kinh tế và phương thức thanh toán, địachỉ, số điện thoại của người lập và người liên quan…
Phân lại chứng từ:
+ Theo công dụng của chứng từ có: Chứng từ gốc, chứng từ tổng hợp
+ Theo phương thức lập chứng từ có: Chứng từ một lần và chứng từ nhiều lần
+ Phân loại nội dung kinh tế phản ánh trong chứng từ gồm: Chứng từ về lao động, tiền lương,chứng từ về hàng tồn kho, chứng từ về hàng bán, chứng từ tiền mặt, chứng từ tài sản cố định,chứng từ về hoạt động sản xuất
Trang 8+ Phân theo tính cấp bách của thông tin phản ánh trong chứng từ: Chứng từ bình thường vàchứng từ cấp bách.
Trình tự xử lý chứng từ: Chứng từ kế toán cần phải được xử lý theo trình tự nhất định
+ Kiểm tra chứng từ: Kiểm tra tính hợp pháp về nội dung của nghiệp vụ kinh tế được phản ánh
trong chứng từ, kiểm tra các yếu tố của chứng từ, kiểm tra việc tính toán và ghi chép trong chứngtừ
+ Do ghi chép vào chứng từ, sổ sách, cân đo không chính xác trong quá trình làm thủ tụcnhập, xuất các loại vật tư, tài sản, tiền vốn
+ Do một số vật tư có sự hao hụt tự nhiên
+ Do có hành vi tham ô…
Để khắc phục và xử lý chênh lệch kịp thời đúng chế độ, kế toán phải làm các thủ tục như cânđong, đo, đến số trên thực tế, so sánh và đối chiếu với số liệu trên sổ sách nhằm đảm bảo các yêucầu phản ánh chính xác số thực tế của đơn vị
Công việc cân đong, đo đến nói ở trên chính là công tác kiểm kê Như vậy có thể khái niệm vềkiểm kê như sau:
Kiểm kê là phương pháp kiểm tra trực tiếp tại chỗ nhằm xác định chính xác về số lượng,
chất lượng và giá trị của các vật tư, tài sản, tiền vốn hiện có trong đơn vị nhằm phát hiện và điều chỉnh kịp thời những khoản chênh lệch giữa số liệu thực tế và số liệu trên sổ kế toán.
Phân loại kiểm kê :
+ Theo phạm vi và đối tượng kiểm kê có: Kiểm kê toàn diện và kiểm kê từng phần
+Theo thời gian tiến hành: Kiểm kê định kỳ, kiểm kê bất thường
Trang 9-Thủ tục và phương pháp tiến hành kiểm kê: Một số phương thức kiểm kê được tiến hành: + Kiểm kê hiện vật
+ Kiểm kê tiền gửi ngân hàng, công ty nợ
Phương pháp tính giá và xác đinh giá thành:
1/ Tính giá:
Một trong những nguyên tắc bắt buộc của hoạt động kế toán là phải sử dụng đơn vị giá trị để
phản ánh đối tượng kế toán Song đặc điểm của đối tượng này là được đo lường bằng nhiều đơn
vị vật lý rất khác biệt, nếu phản ánh vào sổ sách kế toansex không tổng hợp được và gầy nhiềukhó khăn cho quản lý tài sản trong đơn vị Để tổng hợp các loại tài sản, vật tư, tiền vốn,… trongđơn vị thì cần phải quy đổi chúng thành một dạng đơn vị tính thống nhất được sử dụng tronghạch toán kế toán là giá trị Trong kế toán, việc quy đổi các đơn vị tính bằng giá trị gọi là tínhgiá
Khái niệm:
Tính giá là phương pháp thông tin và kiểm tra về sự hình thành và phát sinh chi phí cóliên quan đến từng loại vật tư, sản phẩm, hàng hóa, và dịch vụ Đây chính là phương phápdung thước đó giá trị để biểu hiện các loại tài sản khác nhau nhằm phản ánh các thông tintổng hợp cần thiết cho công tác quản lý
Yêu cầu tính giá:
Để có thể thực hiện đúng chức năng của tính giá là thông tin, kiểm tra về giá trị các loại tài sản
thì tính giá đảm bảo yêu cầu sau:
+ Chính xác: Toàn bộ chị phí thực tế đã chi ra phải được kế toán ghi chép đầy đủ, chính xáctheo từng tài sản
+ Có thể so sánh được: Việc sử dụng phương pháp, nội dung tính giá phải phù hợp giữa các kỳ,phải thống nhất giữa các đơn vị với nhau nhằm có thể so sánh được giá trị tài sản cùng loại docác đơn vị khác nhau tạo ra trong kỳ
Nguyên tắc.
Tính giá tài sản phải tuân thủ theo nguyên tắc chung:
+ Xác định đối tượng tính giá phù hợp
+ Phân loại chi phí hợp lý
+ Lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí hợp lý:
Mức phân bổ Tổng chi phí cần phân bổ Tiêu thức phân bổ
Trang 10chi phí trong = _ × của từng đối tượng từng đối tượng Tổng tiêu thức phân bổ
của tất cả các đối tượng
Trình tự tính giá một số đối tượng chủ yếu.
- Với tài sản cố định hữu hình.
+ Với loại tài sản được mua sắm.
Giá mua Chi phí vận chuyển,
Nguyên giá = (giá ghi trên + một số loại thuế, lắp đặt,
hóa đơn) chạy thử(nếu có)
+ Với TSCĐ được xây dựng mới
Giá thành thực tế Chi phí trước khi
Nguyên giá = (hoặc giá trị quyết + sử dụng( nếu có)
toán công trình)
+ Với TSCĐ được cấp, tặng biếu
Nguyên giá = giá ghi trong sổ của đơn vị, cá nhân cấp tặng, biếu hoăc theo giá thị trường tạithời điểm nhận TSCĐ + Chi phí trước sử dụng
Với TSCĐ nhận góp vốn liên doanh, góp vố cổ phần
Nguyên giá = Giá do hội đồng định giá + Chi phí trước khi sử dụng
Trang 11- Với tài sản cố định vô hình
Nguyên giá của TSCĐ vô hình được tính bằng chi phí thực tế mà doanh nghiệp phải chỉ ragồm số phải chi trả thực tế về việc thành lập doanh nghiệp về nghiên cứu phát triển, mua bằngphát minh sáng chế, mua đặc quyền…
- Với tài sản cố định đi thuê tài chính.
Nguyên giá = Tổng số tiền nợ ghi – Tổng lãi thuế phải trả ghi trên hợp đồng thuế
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, TSCĐ sẽ hao mòn và người ta phải trích khấuhao để tính dần vào giá trị sản phẩm nhằm thu hồi vốn, do đó bên cạnh việc xác định giá trị banđầu của TSCĐ thì cả TSCĐ hữu hình và vô hình đều phải tính giá trị còn lại
Giá trị còn lại = Nguyên giá – Giá trị hao mòn ( khấu hao lũy kế )
- Với vật liệu nhập kho
+ Vật liệu mua ngoài
Giá mua ghi trên hóa đơn CPTM – Khoản CKTM
Giá thực tế nhập = và các khoản thuế được + Giảm giá hàng mua
quy định giá vào vật liệu
+ Vật liệu tự chế biến hoặc thuê ngoài gia công
Giá thực tế vật liệu xuất Chi phí chế biến hoặc
Giá thực tế nhập = kho chế biến hoặc thuê + chi phí thuê ngoài
Trang 12ngoài chế biến
+ Vật liệu nhận góp vốn liên doanh hoặc góp vốn cổ phần
Giá thực tế = Giá do hội đồng định giá xác định( còn gọi là giá thỏa thuận )
- Tính giá vật liệu xuất kho
Để quản lý hàng tồn kho, các doanh nghiệp có thể sử dụng một trong hai phương pháp, đó
là phương pháp kiểm kê thường xuyên và phương pháp kiểm kê định kỳ Trong đó để tính giávật liệu xuất kho thì phụ thuôc vào doanh nghiệp sủ dụng phương pháp kiểm kê thường xuyênhay định kỳ
- Với doanh nghiệp sử dụng phương pháp kiểm kê thường xuyên:
Đây là phương pháp theo dõi, phản ánh thường xuyên, liên tục tình hình nhập, xuất, tồnkho của các loại vật tư, tài sản của doanh nghiệp, cứ sau mỗi lần nhập, xuất thì lại tiến hành kiểm
kê Theo phương pháp này, mối quan hệ giữa nghiệp vụ nhập, xuất, tồn kho sẽ tính theo côngthức:
Giá hàng tồn cuối kỳ = giá trị hàng tồn ĐK + Giá hàng nhập TK – Giá trị hàng xuất trong kỳ Giá trị vật tư tồn kho cuối kỳ sẽ được tính toán dựa vào các phương pháp sau đây:
+ Phương pháp nhập trước, xuất trước ( FIFO) : Theo phương pháp này, lượng vật liệu vào nhậptrước sẽ được xuất trước, nói cách khác là giá trị xuất của vật liệu sẽ được tính từ đơn giá của vậtliệu tồn đầu kỳ tình lần lượt trở đi
Trang 13+ Phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO): Phương pháp này ngược với phương pháp FIFO,nghĩa là vật liệu nhập sau được xuất ra trước, nói cách khác nó được tính giá trị xuất này củangày nhập trước đó gần nhất tính trở lại.
+ Phương pháp giá thực tế đích danh: Theo phương pháp này, giá xuất kho của vật liệu thuộc lônhập lần nào sẽ tính theo giá nhập của lô vật liệu đó
+ Phương pháp giá đơn vị bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ: Đơn giá của vật liệu xuất kho đượctính vào lúc cuối kỳ, sau đó khi tính giá vật liệu xuất kho thì căn cứ vào giá bình quân được tính
và lượng vật liệu xuất kho
+ Phương pháp giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập: Theo phương pháp này, sau mỗi lần nhậpkho, giá đơn vị bình quân được tính căn cứ vào giá,, lượng hàng tồn kho và lượng hàng nhậpkho
+ Phương pháp giá hạch toán: Theo phương pháp này, giá vật liệu xuất kho sẽ được tính theo giáhạch toán là đơn giá được xây dựng cho cả kỳ hạch toán, đến cuối kỳ trên cơ sở tập hợp giá trịcác lần nhập kho trong kỳ tiến hành điều chính theo giá thực tế Khi đó giá thực tế của vật liệuxuất kho được tính:
Giá thực tế vật liệu xuất kho = Giá hạch toán * Hệ số giá
Trong đó giá hạch toán có thể được lấy làm đơn giá thực tế cuối kỳ trước hoặc đơn giá kếhoạch do đơn vị xây dựng
Hệ số giá là số điều chỉnh chênh lệch giữa giá thực tế và giá hoạch toán, được xác định theocông thức:
Tổng giá thực tế
Trang 14Hệ số giá vật liệu vật liệu tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
(Hn) = _
Tổng giá hạch toán của
vật liệu tồn đầy kỳ và nhập trong kỳ
Chú ý: Hệ số giá phải tính riêng cho từng loại vật liệu.
- Với doanh nghiệp sử dụng phương pháp kiểm kê định kỳ:
Theo phương pháp này hàng tồn kho của doanh nghiệp được tiến hành kiểm kê vào một thờigian cuối kỳ nhất định, thường là cuối năm, cuối quý, cuối tháng, trên cơ sở xác định lượnghàng tồn kho, tính ra số hàng đã xuất trong kỳ Như vậy quan hệ giữa giá trị nhập, xuất, tồnđược thể hiện bởi phương trình:
Trị giá hàng xuất kho trong kỳ = Trị giá hàng tồn đầu kỳ + trị giá hàng nhập kho trong kỳ - trịgiá hàng tồn kho cuối kỳ
Giá trị của hàng xuất kho trong tháng sẽ được xác định tùy thuộc vào phương pháp mà doanhnghiệp có thể lựa chọn trong các phương pháp sau:
+ Phương pháp nhập trước xuất trước: Theo phương pháp này giá trị hàng tồn kho cuối kỳ sẽđược tính toán dựa theo số lượng kiểm kê cuối kỳ và đơn giá lần nhập sau cùng tính ngược vềđầu tháng
+ Phương pháp nhập sau xuất trước: Theo phương pháp này giá trị vật liệu tồn kho được tínhtheo đơn giá của vật liệu tồn đầy kỳ trở đi theo cuối tháng
Trang 15+ Theo phương pháp giá thực tế đích danh: Giá trị hàng tồn kho được tính theo đúng đơn giácủa lô hạng tồn kho.
+ Theo phương pháp giá đơn vị bình quân ( chỉ tính cho cả kỳ dự trữ)
2/ Xác định giá thành sản phẩm
Khái niệm:
Tính giá thành là công việc của kế toán nhằm tổn hợp chi phí phát sinh trong quá trìnhsản xuất kinh doanh để từ đó có cơ sở tính toán giá thành cho những sản phẩm, lao vụ hoànthành, từ đó giúp doanh nghiệp kiểm soát được chi phí, xác định được hiệu quả sản xuấtkinh doanh,
-Tập hợp các chi phí dán tiếp rồi tiến hành phân bổ cho các đối tượng chịu phí theo một tiêuthức hợp lý Trong quá trình sản xuất có nhiều loại chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đốitượng,không thể tập hợp trực tiếp nên phải phân bổ Trên thực tế các chi phí này thường đượcphát sinh chung trong phân xưởng, tổ đội sản xuất, được gọi là chi phí chung, nó có liên quan
Trang 16đến một số sản phẩm được sản xuất, khi phân bổ thường được phân bổ theo tiền lương của côngnhân trực tiếp sản xuất.
-Xác định giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ: Sản phẩm dở dang cuối kỳ là các sản phẩm chưaqua bước chế biến sau cùng hoặc đã qua tất cả các công đoạn chế biến nhưng chưa làm thủ tụcnhập kho Để xác định giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ, có các phương pháp sau đây:
1/ Xác định sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Theo phương phápnày, giá trị sản phẩm dở dang chỉ bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, các chi phí khác nhưnhân công và sản xuất chung chỉ tính vào giá thành sản phẩm hoàn thành Nếu sản phẩm gồmnhiều bước chế biến thì giá trị sản phẩm dở dang của bước này chỉ chị chi phí chế biến của bướctrước, không tính chi phí của bước này cho chúng
2/ Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo sản lượng ước tính tương đương: Với phươngpháp này thì người chi phí nguyên vật liệu trực tiếp mà sản phẩm dở dang phải chịu thì chúngcòn phải chịu thêm các chi phí nhân công trực tiếp và chi phí chung theo tỷ lệ hoàn thành của sảnphẩm dở dang ( quy đổi sản phẩm dở dang thành sản phẩm hoàn thành tương đương) Cũng nhưvậy với sản phẩm phải trả qua nhiều bước chế biến thì sản phẩm dở dang của giai đoạn này phảichịu chi phí của bước này theo mức độ hoàn thành
3/ Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo 50% chi phí chế biến: Cũng giống như phươngpháp trên nhưng quy ước ở đây là mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang là 50%
4/ Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí định mức hoặc kế hoạch: Nếu doanhnghiệp đã xây dựng được mức tiêu hao hoặc giá thành kế hoạch chi từng bước, giai đoạn, sảnphẩm thì căn cứ vào chi phí định mức hoặc kế hoạch để xác định giá trị sản phẩm dở dang
Trang 17Trên thực tế người ta còn sử dụng các phương pháp khác nhau theo chi phí vật liệu chínhtiêu hao, theo kinh nghiêm…
Tính giá thành sản phẩm, lao vụ hoàn thành theo công thức chung:
Giá thành sản = Giá trị sản phẩm + Chi phí phát + Giá trị sản phẩm
phẩm hoàn thành dở dang đầu kỳ sinh trong kỳ dở dang cuối kỳ
Phương pháp tài khoản và ghi sổ kép
1) P hương pháp tài khoản
Khái niệm:
Tài khoản kế toán là phương pháp phân loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo từng loại tàisản, nguồn vốn nhằm phản ánh và giám đốc một cách thường xuyên, liên tục số hiện có
và tình hình biến động từng đối tượng của hạch toán kế toán
Đặc điểm của tài khoản kế toán (TKKT)
-Về hình thức: TKKT chính là tờ ghi số kế toán được in theo mẫu nhằm ghi chép bằng đơn vị
giá trị sự hình thành, biến động và số hiện có của từng đối tượng kế toán
-Nội dung: TKKT ghi chép và phản ánh thường xuyên, liên tục sự biến động của từng đốitượng kế toán trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp
-Chức năng: TK là phương pháp giám đốc một cách thường xuyên, kịp thời về tình hình sảnxuất, nguồn vốn hình thành, có chức năng bảo vệ, sử dụng chặt chẽ tài sản trong đơn vị
Kết cấu của tài khoản
Trang 18a, Đặc điểm của tài khoản kế toán là phản ánh số hiện có và tình hình biến động của các loại tài
sản, nguồn vốn trong đơn vị nên tài khoản có kết cấu theo một quy tắc nhất định, Vì đối tượngcủa hạch toán kế toán có tính hai mặt đối lập nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau như: thu-chi, tăng – giảm, nhập – xuất, vay – trả… nên yêu cầu của tài khoản là phản ánh được cả hai mặt
đó trên cùng loại tài khoản Vì vậy , kết cấu chung của tài khoản được chia làm hai bên, mỗi bênphản ánh một chiều biến động của đối tượng kế toán, theo quy ước, bên trái gọi là bên nợ, bênphải gọi là bên có Việc ghi chép vào tài khoản chính là ghi vào sổ sách kế toán nên nó đượctrình bày trên một trang số, với kết cấu chung:
Tài khoản
1.Số dư đầu tháng2.Số phát sinh trong tháng
Trang 19b Hệ thống tài khoản
Theo chế độ kế toán hiện hành, hệ thống tài khoản kế toán gồm 86 tài khoản thuộc bảng cânđối tài khoản và sáu tài khoản ngoài bảng cân đối
c phân loại và kết cấu tài khoản
Có một số cách phân loại tài khoản khác nhau như: Tài khoản vốn, tài khoản nguồn vốn, tàikhoản thuộc bảng cân đối kế toán, tài khoản thuộc báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh…Dưới đây là cách phân loại tài khoản theo hệ thống tài khoản thống nhất và trình bày kếtcấu, nội dung phản ánh chủ yếu của từng tài khoản đó
+ Tài khoản phản ánh tài sản: Thuộc vào hệ thống tài khoản thống nhất thì loại tài khoản này
có tài khoản loại 1 và tài khoản loại 2, đây là các tài khoản phản ánh giá trị hiện có và tình hìnhbiến động các loại tài sản trong doanh nghiệp
Kết cấu chung:
Tài khoản phản ánh tài sản
Dư đầu kỳ: Tài sản có ở thời điểm đầu
đầu kỳ
-Số phát sinh làm tăng tài sản -Số phát sinh lám giảm tài sản
Cộng phát sinh bên nợ Cộng phát sinh bên có
Số dư cuối kỳ: Tài sản hiện có ở thời
điểm cuối kỳ
Trang 20
Ta có nhận xét rằng với tài khoản phản ánh tài sản thì số dư sẽ ở bên nợ, và được tính như sau:
Dư đầu kỳ + PS nợ trong kỳ - PS có trong kỳ = Dư cuối kỳ + Tài khoản phản ánh nguồn hình thành ( nguồn vốn): Đây là tài khoản phản ánh giá trị nguồn
hình thành các tài sản trong doanh nghiệp và sự biến động của nó, thuộc vào loại này gồm tàikhoản loại 3 và loại 4
Kết cấu chung:
Tài khoản phản ánh nguồn vốn + Dư đầu kỳ: Nguồn vốn hiện có ở thời điểm đầu kỳ
+ Số phát sinh làm giảm nguồn vốn + Số phát sinh làm tăng nguồn vốn
+ Cộng phát sinh bên nợ + Cộng phát sinh bên có
+ Dư cuối kỳ: Nguồn vốn hiện có ở thời điểm cuối kỳ
Như vậy, loại tài khoản phản ánh nguồn vốn có kết cấu hoàn toàn ngược với tài khoản phản ánh tài sản, điền này cũng rất logic vì tài sản và nguồn vốn là hai mặt đối lập nhau sang luôn cân bằng về tổng giá trị.Với tài khoản phản ánh nguồn vốn thì số dư của tài khoản sẽ ở bên có và được tính như sau:
Số dư đầu kỳ + PS có – PS nợ = Số dư cuối kỳ
Trang 21+ Tài khoản phản ánh doanh thu và thu nhập: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu, thu
nhập phát sinh trong kỳ và kết chuyển số phát sinh sang tài khoản có liên quan Đây là những tàikhoản loại 5 và loại 7, chúng không có số dư
Kết cấu chung:
Tài khoản phản ánh doanh thu, thu nhập
+ Số phát sinh làm giảm doanh thu + Số phát sinh về doanh thu, thu nhập, trong kỳ
+ Kết chuyển doanh thu, thu nhập thuần
( Tài khoản này không có số dư)
+ Tài khoản phản ánh chi phí: Đây là tài khoản trung gian được sử dụng để tập hợp chi phí của hoạt động sản xuất kinh doanh và chi phí hoạt động khác phát sinh trong kỳ và kết chuyển sang tài khoản có liên quan để xác định giá thành sản phẩm, xác định kết quả Các loại tài khoản này thuộc loại 6, loại 8 và chúng cũng không có số dư
Kết cấu chung:
Tài khoản phản ánh chi phí
+ Số phát sinh trong kỳ + Số phát sinh về giảm chi phí
+ Tài khoản này không có số dư + Kết chuyển chi phí thức tế phát sinh
+ Tài khoản xác định kết quả: Đây là một loại tài khoản sử dụng để so sánh những khoản thuvào và chi ra của một đơn vị trong một thời kỳ nhằm xác định kết quả sản xuất kinh doanh cũngnhư các hoạt động khác, nếu doanh thu lớn hơn chi phí thì có lãi, khoản lãi này sẽ được kếtchuyển ghi tăng nguồn vốn, nếu ngược lại sẽ kết chuyển lỗ ghi giảm nguồn nên loại này cũngkhông có số dư Tài khoản loại 9 chính là tài khoản xác định kết quả
Trang 22Như vậy có thể phản ánh kết cấu của tài khoản xách định kết quả như sau:
Tài khoản xác định kết quả
+ Kết chuyển chi phí phát sinh + Kết chuyển doanh thu, thu nhập
trong kỳ
+ Kết chuyển lãi nếu doanh thu lớn hơn + Kết chuyển lỗ nếu chi phí lớn hơn
chi phí doanh thu
(tài khoản này không có số dư) Ngoài các loại trên ra, có một số tài khoản mà kết cấu của nó không theo nguyên tắc như trên,
đó là những tài khoản điều chỉnh, tác dụng của nó để phản ánh sát thực giá trị của tài sản trongđơn vị Ví dụ tài khoản 214, tài khoản 129, 229; tài khoản 412,413… Nguyên tắc ghi vào tàikhoản điều chỉnh là nếu tài khoản X điều chỉnh tăng cho tài khoản Y, thì kết cấu của X sẽ giốngkết cấu của Y, còn nếu X là tài khoản điều chỉnh giảm cho Y thì kết cấu của X sẽ ngược với kếtcấu của Y
Riêng đối với các tài khoản loại 0, cách ghi chép giống nhau và có kết cấu chung là ghi nợ đểphản ánh tăng,ghi có để phản ánh giảm
+ Ngoài cách phân loại ở trên, trong hệ thống tài khoản kế toán thống nhất chúng ta thấy có cáctài khoản gồm 3 chữ số và một số tài khoản gồm 4 chữ số Các tài khoản có 3 chữ số được gọi làtài khoản tổng hợp( tài khoản cấp 1), vì nó có nội dung phản ánh tổng hợp tình hình biến độngcủa từng đối tượng kế toán, còn loại có 4 chữ số được gọi là tài khoản phân tích ( tài khoản chitiết ) Các tài khoản này sẽ chi tiết hóa tài khoản tổng hợp, nghĩa là nó phản ánh mức độ biếnđộng chi tiết từng loại trong mỗi đối tượng mà tài khoản tổng hợp phản ánh Tùy theo yêu cầuquản lý mà các tài khoản phân tích này được gọi là tài khoản cấp 2 hay các số, thẻ kế toán chitiết
-Tài khoản cấp 2 được gọi là tiểu tài khoản, được nhà nước quy định thống nhất tên gọi, sốlượng và số hiệu, dung để phản ánh chi tiết về mặt giá trị theo từng loại, tài khoản này có 4 chữsố
-Sổ kế toán chi tiết là hình thức phản ánh chi tiết hơn nữa số liệu đã phản ánh trên tài khoảncấp 1 và cấp 2, như vậy bên cạnh chỉ tiêu giá trị, khi ghi chép vào sổ kế toán chi tiết người ta còn
sử dụng cả chỉ tiêu hiện vật, thời gian lao động…để phản ánh
Trang 23Ngoài các tài khoản tổng hợp và chi tiết có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, khi ghi chép vào tàikhoản tổng hợp và tài khoản chi tiết phải đảm bảo tổng phát sinh của tài khoản chi tiết phải bằng
số phát sinh của tài khoản tổng hợp và tổng số dư của các tài khoản chi tiết phải bằng số dư củatài khoản tổng hợp, kế toán phải tiến hành ghi chép đồng thời vào tài khoản chi tiết và phảithường xuyên tiến hành đối chiếu kiểm tra giữa số chi tiết và số tổng hợp Phản ánh tài sản , phảnánh nguồn vốn, tài khoản phản ánh doanh thu và thu nhập, tài khoản phản ánh chi phí, tài khoảncác định kết quả Với hệ thống tài khoản đang được sử dụng thì gồm có: 86 tài khoản thuộc bảngcân đối tài khoản và 6 tài khoản loại 0
Như vậy, định khoản là hình thức hướng dẫn cách ghi chép có hệ thống, đảm bảo tính chínhxác các nghiệp vụ kinh tế vào các tài khoản có liên quan tùy theo nội dung kinh tế các nghiệp vụ,Không kể định khoản đơn giản hay phức tạp, mỗi một định khoản được thực hiện bởi một lần gọi
là “ bút toán” , Mối quan hệ giữa các tài khoản trong mỗi bút toán là:
-Tuân thủ theo quan hệ đối ứng tài khoản
-Tổng phát sinh bên nợ bằng tổn phát sinh bên có của các tài khoản
Trang 24-Khái niệm: Kế toán tổng hợp là loại kế toán mà thông tin về các hoạt động kinh tế tàichính được kế toán thu nhận, xử lý và cung cấp tổng quát , được biểu diễn dưới hình thức giátrị.Kế toán tổng hợp được phản ánh trên tài khoản tổng hợp ( tài khoản cấp 1).
-Đặc điểm: Khi biểu diễn các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, kế toán phải ghi chép lên tàikhoản theo đối ứng nợ, có và viết vào các tài khoản tổng hợp Mỗi đối tượng kế toán có tàikhoản phản ánh riêng nên để phản ánh quy mô tổng hợp của từng loại, phải sử dụng đơn vị giátrị
2, Kế toán chi tiết.
-Khái niệm: Kế toán chi tiết là loại kế toán mà thông tin về các hoạt động kinh tế tài chínhđược kế toán thu nhận, xử lý và cung cấp ở dạng chi tiết, tỷ mỉ và cụ thể, được biểu diễn dưới cảbằng giá trị, hiện vật và thời gian lao động Kế toán chi tiết được biển diễn trên tài khoản chi tiếthoặc sổ kế toán chi tiết
Kiểm tra việc ghi chép trên tài khoản kế toán.
-Kiểm tra việc ghi chép trên tài khoản kế toán tổng hợp
Vì việc ghi chép lên tài khoản tổng hợp chính là “ghi sổ kép” các nghiệp vụ kinh tế phát sinh,chúng luôn đảm bảo tính cân đối là: Số dư bên nợ phải bằng số dư bê có Vì vậy để kiểm tra tínhchính xác của việc ghi chép lên tài khoản tổng hợp, người ta đi kiểm tra tính cân đối đó Để kiểmtra tính cân đối trong “ghi sổ kép” chúng ta sử dụng “bảng cân đối số phát sinh” hay còn gọi là
“bảng cân đối tài khoản” Đây là một bảng sổ liệu tổng hợp và được sử dụng để kiểm tra tínhchính xác của việc ghi chép lên tài khoản tổng hợp trong một thời kỳ( tháng, quý, năm)
Bảng cân đối số phát sinh là một dạng bảng kê đối chiếu toàn bộ số dư đầu kỳ, số phát sinhtrong kỳ và số dư cuối kỳ của tất cả các tài khoản được sử dụng trong kỳ
Phương pháp kiểm tra:
Dựa vào dòng số liệu trên dòng cộng để kiểm tra, nếu tổng dư nợ đầu kỳ bằng tống dư có trongkỳ; tổng phát sinh nợ trong kỳ bằng tổng phát sinh có trong kỳ; tổng dư nợ cuối kỳ bẳng tổng dư
có cuối kỳ thì chứng tỏ việc ghi chép trên tài khoản tổng hợp đã chính xác Nếu có sự chênh lệchgiữa số ở phần nợ và phần có trong cùng một cột thì chứng tỏ việc ghi chép có sai sót, phải tiếnhành ra soát để phát hiện sai sót, khi đó sẽ tiến hành kiểm tra trên từng tài khoản dự vào phươngtrình:
Dư cuối kỳ = Dư đầu kỳ + Phát sinh tăng – phát sinh giảm
-Kiểm tra tính chính xác của việc ghi chép và phản ánh các nghiệp vụ kinh tế và tài khoản chitiết
Trang 25Việc ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế vào các tài khoản chi tiết chính là cụ thể hóa cácđối tượng đã được ghi trên tài khoản tổng hợp Vì thế phương pháp kiểm tra chính là đối chiếu sốkiểm tra, người ta sử dụng bảng chi tiết số phát sinh.
Bảng chi tiết số phát sinh là bảng kê đối chiếu toàn bộ số dư đầu kỳ, số phát sinh trong kỳ, số
dư cuối kỳ đã ghi chép trên các tài khoản, sổ chi tiết với các số liệu tương ứng trên các tài khoảntổng hợp tương ứng
Phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán
Khái quát về phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán:
-Tổng hợp và cân đối kế toán có thể cung cấp thông tin tổng quát về tình hình tài sản, nguồnvốn, tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị trong một thời kỳ Tổng hợp và cân đối tồn tạikhách quan đồng thời và có mối quan hệ mật thiết với nhau
-Phương pháp tổng hợp cân đối biểu hiện thông qua hệ thống các báo cáo kế toán,bao gồm cácbáo cáo sau:
a Bảng cân đối kế toán
b Bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
c Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
d Thuyết minh báo cáo tài chính
Bảng cân đối kế toán
+ Khái niệm: Bảng cân đối kế toán( hay còn gọi là bảng tổng kết tài sản) là một báo cáo kế toán
phản ánh một cách tổng quát tình hình tài sản cũng như nguồn hình thành của đơn vị tại thờiđiểm lập báo cáo ( thường là cuối tháng, quý, năm)
+ Nội dung và kết cấu của bảng tổng kết tài sản
Với tính chất phản ánh tình hình tài sản và nguồn vốn của đơn vị nên bảng tổng kết tài sản
chính là bảng cân đối giữa vốn kinh doanh và nguồn hình thành nên bảng được chia làm 2 phần:phần tài sản và phần nguồn vốn
1, Phần tài sản: Phản ánh vón theo hình thái tài sản , phần này được sắp xếp theo tính linh độngcủa nguồn vốn như sau
Phần A: Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
Phần B: Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
2, Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành các loại vốn của doanh nghiệp, phần này đượcsắp xếp theo mức độ cấp thiết theo thời hạn trả nợ nên nó cứ thứ tự như sau:
Phần A: Nợ phải trả
Trang 26Tổng giá trị tài sản = Tổng giá trị phần nguồn vốn hay: Tổng tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu
-Xét về mặt kinh tế, số liệu trên phần tài sản thể hiện giá trị và kết cấu vốn của doanh nghiệp ởthời điểm lập báo cáo, qua đó đánh giá tổng quát năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
và trình độ sử dụng vốn của đơn vị
-Với số liệu nguồn vốn, xét về mặt kinh tế, số liệu bên nguồn vốn thể hiện nguồn hình thành tàisản của đơn vi, kết cấu của chúng, qua đây có thể khái quát đánh giá mức độ chủ động về tàichính của doanh nghiệp Về mặt pháp lý, số liệu phần nguồn vốn còn thể hiện trách nhiệm củadoanh nghiệp với Nhà nước, với cấp trên và với CBCNV về tài sản mà doanh nghiệp đang sửdụng…
Trên thực tế, bảng cân đối kế toán được trình bày theo kết cấu một bên như sau:
Trang 27BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
II Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
1 Đầu tư chứng khoán
Trang 28II Nguồn kinh phí………
………
Tổng cộng nguồn vốn
+ Sự thay đổi của bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán là biểu số liệu phản ánh tình hình tài sản, nguồn vốn tại một thời điểm, vì vậy sau thời điểm đó, khi có bất kỳ một nghiệp vụ kinh tế phát sinh nào cũng sẽ làm thay đổi số liệu của bảng, song tuân thủ theo nguyên tắc là:
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn + Nếu một nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm tăng một tài sản và giảm một tài sản khác thì số liệu
không làm ảnh hưởng gì tới quy mô của tài sản và nguồn vốn, và sự thay đổi này chỉ ảnh hưởngtới kết cấu của bên tài sản
+ Nếu một nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm tăng một nguồn vốn này và giảm một nguồn vốnkhác thì số liệu không làm ảnh hưởng gì tới quy mô của tài sản và nguồn vốn, và sự thay đổi nàychỉ ảnh hưởng tới kết cấu của bên nguồn vốn
+ Nếu một nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm ảnh hưởng cả hai bên của bảng theo chiều hướngtăng, có nghĩa là nghiệp vụ làm tăng tài sản, tăng nguồn vốn với cùng một số tiền, khi đó quy môcủa tài sản và nguồn vốn đồng thời tăng lên cùng một lượng giá trị làm ảnh hưởng đến kết cấutoàn bộ tài sản và nguồn vốn
+ Nếu một nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm thay đổi cả hai bên tài sản và nguồn vốn của đơn vịnhưng theo chiều hướng làm giảm tài sản và nguồn vốn cũng làm giảm xuống đúng bằng lượnggiá trị đó
Các hình thứ sổ kế toán
Hình thức nhật ký chung.
- Đặc điểm: Sử dụng sổ nhật ký chung để ghi chép tất cả các hoạt động kinh tế tài chính theothứ tự thời gian và theo quan hệ đối ứng tài khoản, sau đó có số liệu ghi trên sổ nhật ký chungđược sử dụng để ghi vào sổ cái các tài khoản có liên quan
- Các loại sổ sách:
-Sổ nhật ký chung
-Sổ cái
-Sổ nhật ký đặc biệt(còn gọi là sổ nhật ký chuyện chung) và sổ kế toán chi tiết ( sổ phụ)
- Trình tự ghi chép theo hình thức nhật ký chung:
Trang 29+ Căn cứ chứng từ gốc đã kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ tiến hành lập địnhkhoản kế toán và ghi trực tiếp vào sổ nhật ký chung theo trình tự thời gian và theo quan hệ đốiứng tài khoản Nếu doanh nghiệp có sử dụng cả sổ nhật ký chung đặc biệt thì trước hết nghiệp vụđược ghi vào sổ nhật ký đặc biệt.
+ Với các tài khoản có thể mở chi tiết, sau khi ghi sổ nhật ký thì phải sử dụng chứng từ gốc
để ghi vào sổ, thẻ kế toán chi tiết liên quan
+Sau khi đã kiểm tra, đối chiếu số liệu, sử dụng bảng cân đối số phát sinh và các bảng tổnghợp chi tiết để lập bảng cân đối kế toán và các báo cáo kế toán
- Ưu điểm, và nhược điểm của sổ nhật ký chung là:
+ Ưu điểm: Mẫu đơn giản, dễ ghi chép , thuận tiện cho việc phân công lao động kế toán + Nhược điểm: Việc ghi chép trùng lặp nhiều
- Hình thức kế toán Nhật ký chung thường được áp dụng ở đơn vị có quy mô vừa, có nhiều cán
bộ, nhân viên kế toán
Hình thức ghi sổ
-Đặc điểm:
Các loại hoạt động kinh tế tài chính được ghi chép vào chứng từ gốc để được phân loạitổng hợp, lập chứng từ ghi sổ để ghi vào sổ cái các tài khoản Việc ghi sổ theo thứ tự thời giantách rời việc ghi ghi sổ theo hệ thống trên hai loại sổ kế toán tổng hợp khác nhau: sổ đăng kýchứng từ ghi sổ và sổ cái các tài khoản
- Các loại sổ sách kế toán:
+ Sổ cái các tài khoản
+ Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
+ Bảng cân đối số phát sinh
+ Sổ kế toán chi tiết
+ Sau khi kiểm tra , đối chiếu thì bảng cân đối số phát sinh được sử dụng để lập bảng cân đối kếtoán và các báo cáo khác
Trang 30- Với các tài khoản có mở chi tiết, thì phải sử dụng chứng từ gốc để ghi vào sổ, thể kế toán chitiết, cuối tháng cộng sổ, lập bảng tổng hợp chi tiết và đối chiếu với số tổng cộng trên sổ cái thôngqua bảng cân đối số phát sinh Các bảng tổng hợp chi tiết được sử dụng để lập báo cáo kế toán.
- Ưu nhược điểm của hình thức chứng từ ghi sổ:
+ Ưu điểm: Mẫu số đơn giản, dễ ghi chép, thuận tiện cho việc phân công lao động kế toán + Nhược điểm: Việc ghi chép trùng lặp khối lượng công việc ghi chép kế toán nhiều việc kiểmtra đối chiếu số liệu dồn vào cuối kỳ hạch toán nên việc cung cấp số liệu để lập báo cáo kế toánthường chậm
-Hình thức chứng từ ghi sổ thường áp dụng ở những đơn vị có quy mô vừa, quy mô lớn cónhiều nhân viên, cán bộ
Hình thức nhật ký chung chứng từ ghi sổ
- Đặc điểm: Các hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị được phản ánh ở chứng từ gốc đềuđược phân loại để ghi vào các sổ nhật ký – chứng từ, cuối tháng số liệu được tổng cộng và ghivào sổ cái 1 lần
+ Sổ sách được mở theo vế có của các tài khoản
+ Kết hợp chặt chẽ việc ghi chép các nghiệp vụ phát sinh theo trình tự thời gian hệ thống hóacác nghiệp vụ đó theo nội dung kinh tế
+ Kết hợp việc kế toán tổng hợp với kế toán chi tiết trên cùng một sổ sách vì cùng quá trình ghichép
+ Kết hợp ghi chép kế toán từng nghiệp vụ việc tập hợp dần các chi tiêu kinh tế cần thiết chocông tác quản lý, lập bảng biểu
Trang 31- Số liệu tổng hợp ở sổ cái và một số chi tiêu chi tiết trong nhật ký chứng từ, bảng kê, và cácbảng tổng hợp chi tiết được dung để lập bảng cân đối kế toán và các bảng biểu khác
- Ưu, nhược điểm của hình thức nhật ký chứng từ:
+ Ưu điểm: Giảm nhẹ khối lượng cộng việc ghi sổ kế toán do việc ghi theo quan hệ đối ứngngay trên tờ sổ và kết hợp kế toán tổng hợp, kế toán chi tiết trên cùng trang sổ, việc kiểm tra đốichiếu số liệu được tiến hành thường xuyên ngay trên trang sổ, kịp thời cung cấp số liệu cho việctổng hợp tài liệu theo các chi tiêu kinh tế tài chính lập báo cáo kế toán
+ Nhược điểm: Mẫu sổ kế toán phức tạp nên việc ghi sổ kế toán đòi hỏi cán bộ, nhân viên kếtoán có trình độ chuyên môn vững vàng, không thuận tiện cho việc cơ giới hóa kế toán
-Hình thức kế toán Nhật ký – chứng từ thường được áp dụng ở đơn vị có quy mô lớn, đội ngũcán bộ nhân viên kế toán có trình độ chuyên môn cao, không thích hợp với những đơn vị đã ứngdụng rộng rãi tin học trong kế toán
Kế toán máy
- Đặc trưng cơ bản: Công việc kế toán được thực hiện theo mọt chương trình phần mềm kếtoán trên máy vi tính Phần mềm kế toán được thiết kế theo nguyên tắc của một trong bốn hìnhthức kế toán hoặc kết hợp các hình thức kế toán quy định trên đây Phần mềm kế toán khônghiển thị đầy đủ quy trình ghi sổ kế toán nhưng phải in được đầy đủ sổ kế toán và báo cáo tàichính theo quy định
- Các loại sổ của Hình thức kế toán trên máy vi tính: Phần mềm kế toán được thiết kế theohình thức kê toán nào sẽ có các loại sổ của hình thức kế toán đó nhưng không hoàn toàn giốngmẫu sổ kế toán ghi bằng tay
- Hằng ngày, kế toán căn cứ vào chứng từ kế toán hoặc bảng tổng hợp chứng từ cùng loại đãđược kiểm tra, làm căn cứ ghi sổ, xác định tài khoản ghi
Trang 32PHẦN II: VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN
VÀO CÔNG TÁC KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP
I Giới Thiệu Chung Về Công Ty CP & TM Ngọc Nam
Là công ty chuyên sản xuất các loại đồ từ nguyên liệu gỗ như : bộ bàn ghế gỗ , tủđựng gỗ , giường gỗ, phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của người dân Đặc biệt trong thơi kỳ xã hộiđổi mới , nên nhu cầu làm sắm sửa và làm đẹp trong ngôi nhà càng ngày càng quan trọng
Cơ sở: Đường Trần Hưng Đạo – Thành Phố Thái Bình – Tỉnh Thái Bình
TP Thái Bình - Tỉnh Thái Bình (Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ - BTC
ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC) BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
THÁNG 7 NĂM 2013
Đơn vị tính : 1,000 đ
Tài Sản
Mã số
Thuyết minh
Số năm cuối
Số năm đầu
Tiền đang chuyển
Trang 332 Các khoản tương đương tiền 112
II Các khoản đầu tư tài chính ngắn
2 Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn 129
4 Phải thu theo tiến độ kế
6 Dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi 139
Trang 343 Thuế và các khoản khác
4 Giao dịch mua bán lại
1 Phải thu dài hạn của khách hàng 211
2 Viếc kinh doanh ở đơn vị trực thuộc 212
5 Dự phòng phải thu dài hạn khó đòi 219
Giá trị hao mòn lũy kế 226
4 Chi phí xây dựng cơ bản dở dang 230 V.11
Trang 35Giá trị hao mòn lũy kế 242
IV Các khoản đầu tư tài chính dài
2 Đầu tư vào công ty liên kết, liên
4 Dự phòng giảm giá đầu tư tài chính 259
2 Tài sản thuế thu nhập hoãn lại 262 V.21
4 Thuế và các khoản phải nộp Nhà
Trang 3610 Dự phòng phải trả ngắn hạn 320
12 Giao dịch mua bán lại trái phiếu
8 Doanh thu chưa thực hiện 338
9 Quỹ phát triển khoan học và
5 Chênh lệch đánh giá lại tài sản 415
6 Chênh lệch tỷ giá hối đoán 416
9 Quỹ khác thuộc vốn chủ sơ hữu 419
Trang 3710 Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối 420 6,456,000.00 3,745,000
12 Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp 442
(ký, họ tên) ( Ký, họ tên) ( Ký, họ tên ,đóng dấu)Nguyễn Thị Mai Trịnh Thị Ngọc Vũ Ngọc Nam
Trang 40Công ty CP&TM Gỗ Ngọc Nam Mẫu số 05 – VT
Địa chỉ : Trần Hưng Đạo – Thành phố Thái Bình – Tỉnh Thái Bình (ban hành theo QĐ số: 15/2006/QĐ – BTC
Biên bản kiểm kê vật tư, sản phẩm, hàng hóa
Ông/bà: Trịnh Thị Ngọc Chức vụ: Kế toán trưởng Đại diện: Phòng kế toán Trưởng ban Ông/bà: Đặng Thị Như Chức vụ: Thủ kho Đại diện: Phòng vật tư Ủy viên Ông/bà: Phạm Quốc Phong Chức vụ: Nhân viên kế toán Đại diện: Phòng kế toán Ủy viên
-Đã kiểm kê kho có những mặt hàng dưới đây:
Thủ Trưởng đơn vị Phụ trách kế toán Thủ kho Trưởng ban kiểm kê
Phạm Quý Đài Phạm Quốc Phong Đặng Thị Như Trịnh Thị Ngọc
Công ty Cổ Phần và Thương Mại Ngọc Nam có một nhà máy sản xuất: Số hiệu tồn kho tại ngày 30/08/2013 như sau: