1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Rural sanitation supply chain review report VN

94 136 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng5 : Các nguồn cung cấp thông tin về nhà tiêu và các thông tin có liên quan đến việc xây dựng nhà tiêuBảng 6 : Cơ hội và cản trở đối với sự phát triển của thị trường vệ sinh theo từng

Trang 1

ĐÁNH GIÁ CHUỖI CUNG CẤP SẢN PHẨM & DỊCH VỤ VỆ SINH

Ở CÁC VÙNG NÔNG THÔN VIỆT NAM KẾT QUẢ RÀ SOÁT NGHIÊN CỨU

Nghiêm Thị Đức

Hà Nội 5/2013

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 5

CHỮ VIẾT TẮT 6

KHÁI NIỆM CƠ BẢN 7

TÓM TẮT TỔNG QUAN 8

1 BỐI CẢNH 16

1.1 GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU 16

1.2 VỆ SINH Ở VIỆT NAM 16

1.3 CHUỖI CUNG CẤP VỆ SINH 23

1.4 CÁC PHÂN KHÚC THỊ TRƯỜNG VỆ SINH TẠI VIỆT NAM 25

1.5 CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ VỆ SINH CỦA WSP 28

2 MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 28

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.3 CẤU TRÚC CỦA BÁO CÁO 30

3 CÁC PHÁT HIỆN TỪ NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU 30

3.1 PHÁT HIỆN CHUNG CHO TẤT CẢ CÁC VÙNG 30

3.2 PHÂN KHÚC THỊ TRƯỜNG 1: VÙNG NÚI CAO PHÍA BẮC 36

3.3 PHÂN KHÚC THỊ TRƯỜNG 2: VÙNG NÚI & TRUNG DU PHÍA BẮC 45

3.4 PHÂN KHÚC THỊ TRƯỜNG 4: VÙNG NÚI CAO PHÍA NAM 56

3.5 PhÂN KHÚC THỊ TRƯỜNG 7: VÙNG SÁT VEN BIỂN 60

3.6 PHÂN KHÚC THỊ TRƯỜNG 8: VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 72

4 KHUYẾN NGHỊ CHO CÁC NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 82

5 CÁC MÔ HÌNH KINH DOANH VỆ SINH Ở VIỆT NAM 84

5.1 GIỚI THIỆU 84

5.2 ĐỊNH NGHĨA VỀ MÔ HÌNH KINH DOANH VỆ SINH 84

5.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 84

5.4 CÁC PHÁT HIỆN 85

6 PHỤ LỤC 93

Trang 3

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 Tỉ lệ hộ gia đình nông thôn có nhà tiêu tự hoại, thấm dội và hai ngăn từ 2002-2010 Biểu đồ2 Tỉ lệ hộ gia đình nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh năm 2011, theo các vùng sinh thái Biểu đồ3 Các loại nhà tiêu hợp vệ sinh, 2010 (% hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh)

Biểu đồ4 Xu hướng sử dụng các loại nhà tiêu.

Biểu đồ5 Loại nhà tiêu mà các hộ gia đình đang có, nghiên cứu của VIHEMA,WSRC tại Điện Biên năm 2011

Biểu đồ6 Tiếp cận vệ sinh của các hộ gia đình ở huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An năm 2011, theo các loại nhà tiêu (% hộ gia đình)

Biểu đồ7 Tỉ lệ tiếp cận vệ sinh ở xã Vĩnh Hải, Ninh Thuận, năm 2010 (% hộ gia đình)

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1 Chuỗi cung cấp vệ sinh điển hình

Sơ đồ 2 Chuỗi cung cấp vệ sinh ở vùng núi cao phía Bắc (phân khúc thị trường 1)

Sơ đồ 3 Các “vai” và mối quan hệ giữa các “vai” trong chuỗi cung cấp ở vùng núi & trung du phía Bắc (Phân khúc thị trường 2)

Sơ đồ 4 Chuỗi cung cấp vệ sinh ở vùng sát ven biển ( Phân khúc thị trường 7)

Sơ đồ 5 Các “vai” và mối quan hệ giữa các “vai” trong chuỗi cung cấp ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (Phân khúc thị trường 8)

DANH MỤC BẢN ĐỒ

Bản đồ 1 Tám phân khúc thị trường vệ sinh tại Việt Nam

Bản đồ 2 Những nơi đã có những nghiên cứu về mạng lưới cung cấp Vệ sinh

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Quy mô thị trường vệ sinh: Số hộ gia đình chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh năm 2011, trên

cả nước và theo vùng sinh thái.

Bảng 2 Ước tính giá thành của một số loại nhà tiêu, 2010

Bảng 3 Tỉ lệ giữa giá của các loại nhà tiêu so với thu nhập của các nhóm hộ gia đình có thu nhập thấp năm 2010

Bảng 4 Đặc tính của các phân khúc thị trường

Trang 4

Bảng5 : Các nguồn cung cấp thông tin về nhà tiêu và các thông tin có liên quan đến việc xây dựng nhà tiêu

Bảng 6 : Cơ hội và cản trở đối với sự phát triển của thị trường vệ sinh theo từng “vai”: chung cho toàn bộ 5 phân khúc thị trường

Bảng7 Phân khúc TT 1: Cơ hội và cản trở đối với sự phát triển của thị trường vệ sinh theo từng

“vai”

Bảng 8 Các “vai” có tiềm năng tham gia chương trình vệ sinh và nhu cầu hỗ trợ xây dựng năng lực.

Bảng 9 Loại nhà tiêu phổ biến, phân khúc thị trường 2

Bảng 10 Giá vận chuyển của các loại phương tiện vận chuyển

Bảng 11 Phân khúc TT 2: Cơ hội và cản trở đối với sự phát triển của thị trường vệ sinh theo từng “vai’

Bảng12 Các “vai” có tiềm năng tham gia chương trình vệ sinh và nhu cầu hỗ trợ xây dựng năng lực.

Bảng13 Tỉ lệ tiếp cận vệ sinh ở các xã nghiên cứu của 3 tỉnh (% hộ gia đình)

Bảng14 Phân khúc TT 4: cơ hội và cản trở đối với sự phát triển của thị trường vệ sinh theo từng

Bảng18 Tiếp cận vệ sinh ở các xã nghiên cứu của 3 tỉnh (% hộ gia đình)

Bảng19 Phân khúc TT 8: Cơ hội và cản trở đối với sự phát triển của thị trường vệ sinh theo các

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn các tổ chức, ban ngành bao gồm: IDE, SNV, UNICEF, CODESPA, Lienaid, UNILEVER, Trung tâm Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn, Văn phòng đối tác Cấp nước và Vệ sinh môi trường nông thôn, Văn phòng thường trực chương trình Mục tiêu quốc gia Nước sạch & Vệ sinh Môi trường Nông thôn đã cung cấp thông tin, tài liệu và báo cáo của họ

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các lãnh đạo, cán bộ của các cơ quan ban ngành ở các tỉnh bao gồm: Kon Tum, Ninh Thuận, Long An, ở các huyện bao gồm: Sa Thầy, Ninh Hải, Mộc Hóa và ở 4 xã bao gồm: Sa Bình, Vĩnh Hải, Bình Tây, Thạnh Trị đã giúp đỡ và cung cấp thông tin trong suốt quá trình thực hiện các chuyến thăm thực địa

Cuối cùng, xin cảm ơn tất cả các hộ gia đình, các chủ cơ sở kinh doanh và các thợ xây đã dành thời gian cung cấp thông tin trong các chuyến thăm thực địa

Trang 6

CHỮ VIẾT TẮT

CHOBA Hướng tiếp cận hỗ trợ vệ sinh cộng đồng dựa trên kết quả đầu ra

CLTS Hướng tiếp cận “Vệ sinh môi trường tổng thể do cộng đồng tự quản”

CSOs Các tổ chức xã hội dân sự

DANIDA Cơ quan phát triển – Đại sứ quán Đan Mạch

JMP

MARD Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn

MICS Điều tra Điều tra đánh giá các mục tiêu Trẻ em & Phụ nữ

Chương trình quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn

Ngân hàng CSXH Ngân hàng chính sách xã hội

PAOT Hướng tiếp cận “Giáo dục hành động có sự tham gia (của cộng đồng)”

PHAST Hướng tiếp cận “Thay đổi vệ sinh và vệ sinh cá nhân có sự tham gia (của cộng đồng)” RWSS-NTP Chương trình Mục tiêu quốc gia Nước sạch & Vệ sinh môi trường nông thôn

RWSS-NTP II Chương trình Mục tiêu quốc gia Nước sạch & Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn II RWSS-NTP III Chương trình Mục tiêu quốc gia Nước sạch & Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn

III

VIHEMA Cục Quản lý Môi trường Y tế

VHLSS Điều tra mức sống hộ gia đình

WSP Chương trình Nước & Vệ sinh của Ngân hàng thế giới

Trang 7

KHÁI NIỆM CƠ BẢN

Vệ sinh: Trong báo cáo này, “vệ sinh” được hiểu là các hoạt động có liên quan đến việc thu gom phân

người một cách an toàn, cụ thể là liên quan đến nhà tiêu hộ gia đình “Thu gom phân người một cách an toàn” có nghĩa là thu gom và làm cô lập được phân người với con người và môi trường chung quanh

Thị trường: Tương tác giữa Cung và Cầu về một kinh doanh cụ thể Một thị trường bao gồm người tiêu

dùng, nhà cung cấp, các giao dịch và các yếu tố tác động đến chúng1

Nhà tiêu hợp vệ sinh: là một nhà tiêu đáp ứng được các tiêu chuẩn mà Bộ Y tế đã đề ra theo quyết định

số 08/2005 và được hiệu chỉnh theo QCVN 01/2011 năm 2011

Chuỗi cung cấp: Là một hệ thống bao gồm các tổ chức, con người, công nghệ, thông tin và các nguồn

lực tham gia trong việc cung cấp một sản phẩm hoặc dịch vụ từ nhà cung cấp đến khách hàng Các hoạt động của chuỗi cung cấp biến các nguồn lực, nguyên vật liệu và các phụ kiện thành sản phẩm và dịch vụ

để rồi phân phối cho khách hàng2

Chuỗi cung cấp vệ sinh: Chuỗi cung cấp vệ sinh được hiểu là một chuỗi cung cấp các sản phẩm và dịch

vụ cho việc xây dựng nhà tiêu

Trang 8

TÓM TẮT TỔNG QUAN

Giới thiệu

Nghiên cứu này là một phần trong nhiều bước của chương trình nhằm cung cấp thông tin cơ sở để xây dựng một chiến lược toàn diện và hiệu quả cho chuỗi cung cấp vệ sinh nông thôn Việt Nam Mục tiêu của nghiên cứu là rà soát và tổng hợp các thông tin từ các nghiên cứu đã có sẵn nhằm xác định những điểm đã biết và chỉ ra những thông tin còn thiếu về chuỗi cung cấp vệ sinh ở Việt Nam Nghiên cứu đặc biệt chú trọng vào những vùng nông thôn có tỉ lệ hộ nghèo cao và tỉ lệ tiếp cận vệ sinh thấp Để đảm bảo kết quả nghiên cứu có thể sử dụng để xây dựng kế hoạch chiến lược cho chuỗi cung ứng vệ sinh, nghiên cứu tập trung vào (i) xác định hiện trạng của chuỗi cung cấp vệ sinh ở khu vực nông thôn Việt Nam; (ii) chỉ ra các vai tiềm năng có thể là đối tác và cộng tác của chương trình vệ sinh cũng như các hoạt động hỗ trợ/xây dựng năng lực cho các vai này; (iii) xác định các mô hình kinh doanh vệ sinh hiện có và các bài học kinh nghiệm rút ra từ các mô hinh này (iii) đưa ra các đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo

Công việc chủ yếu của nghiên cứu là rà soát, phân tích và tổng hợp các tài liệu/báo cáo nghiên cứu thị trường đã có sẵn và các tài liệu khác có liên quan đến mục tiêu đã được đề ra Một chuyến nghiên cứu thực địa cũng được thực hiện nhằm khẳng định và cập nhật các thông tin từ báo cáo/tài liệu sẵn có đồng thời nghiên cứu sâu hơn về mô hình kinh doanh vệ sinh tại 4 xã thuộc 3 tỉnh Phỏng vấn một số cán bộ của các tổ chức NGO cũng đã được thực hiện để làm rõ thêm các thông tin và mở rộng kết quả nghiên cứu hiện có

Nghiên cứu được thực hiện theo yêu cầu của Cục Quản lý Môi trường Y tế - Bộ Y tế (VIHEMA) và do Chương trình Nước Sạch và Vệ Sinh – Ngân hàng Thế Giới tài trợ

Hiện trạng vệ sinh ở Việt Nam:

Trong hai thập kỷ qua, tỉ lệ tiếp cận vệ sinh ở khu vực nông thôn đã tăng lên đáng kể Theo số liệu giám sát của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, 55% hộ gia đình ở nông thôn đã có nhà tiêu hợp vệ sinh vào cuối năm 2011(MARD, 2012)

Tuy có sự thay đổi đáng kể về tỉ lệ tiếp cận vệ sinh, vẫn còn 7,2 triệu hộ dân ở các vùng nông thôn trên cả nước vẫn chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh Số hộ chưa có nhà tiêu lớn nhất là ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (2,035 triệu hộ) Ở những vùng khác còn hơn 1 triệu hộ chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh bao gồm: Đồng bằng sông Hồng (1,083 triệu hộ); vùng núi phía Bắc (1,381 triệu hộ) và Bắc Trung Bộ (1,316 triệu hộ) Những hộ gia đình này tạo nên một tiềm năng lớn cho thị trường vệ sinh Một điểm cần lưu ý là: trong số các hộ gia đình chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh, có tới 80% hộ gia đình đã có nhà tiêu nhưng nhà tiêu của họ không hợp vệ sinh (JMP 2010) Như vậy có thể nói: khách hàng chủ yếu của thị trường vệ sinh sẽ là những hộ gia đình cần nâng cấp từ việc sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh sang việc sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh

Các loại nhà tiêu ở Việt Nam khá đa dạng Bốn loại nhà tiêu hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn của Bộ Y Tế được sử dụng khá rộng rãi trong cả nước Tuy nhiên ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng duyên hải Miền Trung, mặc dù có khá nhiều loại nhà tiêu đã được Bộ Y tế đưa ra và khuyến cáo sử dụng, nhưng vẫn chưa có loại nhà tiêu nào vừa được hộ dân ở đây chấp nhận vừa có chi phí phù hợp với những hộ cực nghèo

Các phân khúc thị trường vệ sinh ở Việt Nam

Trang 9

Thị trường vệ sinh ở nông thôn Việt Nam là không đồng nhất Trong báo cáo này, thị trường vệ sinh được phân thành 8 phân khúc chính Việc phân khúc thị trường được dựa trên yếu tố địa lý là chủ yếu và có tính đến các yếu tố khác có ảnh hưởng đến việc chấp nhận, tính phù hợp và sự lựa chọn sử dụng loại nhà tiêu và vì thế có thể ảnh hưởng đến cơ cấu của mạng lưới cung ứng vệ sinh Các yếu tố đó bao gồm: mật

độ dân số, địa hình, nguồn nước, thu nhập của hộ gia đình, trình độ dân trí, tỉ lệ dân tộc thiểu số, tỉ lệ sử dụng nhà tiêu khô Tám phân khúc thị trường bao gồm (1) vùng núi cao phía Bắc, (2) vùng núi và trung

du phía Bắc, (3) vùng đồng bằng phía Bắc, (4) vùng núi cao phía Nam, (5) vùng núi và trung du phía Nam, (6) vùng đồng bằng phía Nam, (7) vùng sát ven biển, (8) vùng đồng bằng sông Cửu Long

Các phát hiện chính về chuỗi cung cấp vệ sinh

Chuỗi cung cấp nguyên vật liệu và dịch vụ kém phát triển ở các vùng núi cao phía Bắc (phân khúc 1) và vùng núi cao phía Nam (phân khúc 4) Ở các phân khúc thị trường này, nhu cầu về cung cấp nguyên vật

liệu xây dựng và dịch vụ vệ sinh còn rất thấp Tại các xã vùng sâu, hẻo lánh, không có cửa hàng bán lẻ và không có thợ xây lành nghề Tuy vậy, ở các vùng này, khi có nhu cầu, hộ gia đình vẫn có thể mua nguyên vật liệu từ các cửa hàng ở các thị trấn, thị tứ hoặc từ các chủ phương tiện vận chuyển Vẫn có thợ xây có thể làm được các công việc xây dựng đơn giản

Chuỗi cung cấp nguyên vật liệu và dịch vụ đã tương đối phát triển ở vùng núi và trung du phía Bắc (phân khúc 2) Nhu cầu về cung cấp nguyên vật liệu xây dựng và dịch vụ vệ sinh đã cao hơn so với phân khúc

thị trường 1 và 4 Đã có các cửa hàng bán lẻ và thợ xây lành nghề tại xã, có thể nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu xây nhà tiêu của hộ dân Tuy nhiên, các cửa hàng tại xã, với quy mô nhỏ, chỉ cung cấp các mặt hàng chủ yếu cho việc xây dựng mà không cung cấp các phụ kiện nhà tắm (như bệ xí, ống nhựa), nên khi có nhu cầu, các hộ gia đình vẫn phải đi ra thị trấn hoặc thị tứ để mua Các cơ sở sản xuất địa phương như sản xuất gạch xi măng, hút cát, đá dăm đều đã có ở các địa phương, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng

Chuỗi cung cấp nguyên vật liệu và dịch vụ đã rất phát triển ở cùng sát ven biển(phân khúc 7), và vùng đồng bằng sông Cửu Long (phân khúc 8) Nhu cầu về về cung cấp nguyên vật liệu xây dựng và dịch vụ

vệ sinh cao hơn hơn so với phân khúc 1,2,4 Đã có nhiều cửa hàng bán nguyên vật liệu, thậm chí cả các đại lý bán sỷ nguyên vật liệu tại xã, cung cấp đầy đủ các loại nguyên vật liệu xây dựng nhà tiêu với giá cả cạnh tranh Thợ xây lành nghề có ở hầu hết các thôn, có thể nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu của người dân Các cơ sở sản xất địa phương như : sản xuất gạch xi măng, đá, cát và ống bi bê tông đều đã có

ở địa phương, cung cấp nguyên vật liệu trực tiếp hoặc gián tiếp cho người dân Ở các phân khúc này còn xuất hiện các công ty tư nhân quy mô nhỏ tham gia vào việc sản xuất và lắp đặt nhà tiêu loại nhà tiêu dội nước bằng ống bi bê tông có giá thành rẻ Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, đã có các cơ sở sản xuất các mặt hàng nhựa composite sẵn sàng tham gia sản xuất nhà tiêu bằng nhựa composite nếu có nhu cầu cao

về mặt hàng này

Theo các báo cáo nghiên cứu sẵn có, dịch vụ hút bể phốt chưa xuất hiện trên thị trường của các phân khúc 1,2,4,7,8 Nguyên nhân được lý giải là do nhu cầu hút bể phốt ở các phân khúc thị trường này là

thấp

Thị trường vệ sinh phụ thuộc nhiều vào những nhà bán lẻ Nhà tiêu được xây dựng bởi nhiều loại nguyên

vật liệu (xi măng, sắt thép, cát, ống nhựa.v v ) Số lượng cho mỗi loại này lại rất nhỏ so với việc xây dựng các công trình khác Vì vậy, hầu hết các hộ dân mua các loại nguyên vật liệu để xây nhà tiêu ở các cửa hàng bán lẻ, vì các đại lý lớn thường chỉ bán nguyên vật liệu với số lượng lớn

Trang 10

Các nhà cung cấp ít quan tâm đến thị trường vệ sinh Lý do chính của vấn đề này là vì: hầu hết các loại

nguyên vật liệu xây dựng nhà tiêu là các loại nguyên vật liệu chung cho tất cả các công việc xây dựng như xi măng, sắt thép, ống nhựa v.v Các cơ sở sản xuất và các cửa hàng bán nguyên vật liệu không những cho việc xây dựng nhà tiêu mà còn cho các công việc xây dựng khác nữa Thu nhập từ việc cung cấp nguyên vật liệu cho xây dựng nhà tiêu chiếm một phần nhỏ so với tổng thu nhập Tương tự như vậy đối với dịch vụ xây dựng: thu nhập từ việc xây nhà tiêu chỉ chiếm một phần nhỏ so với tổng thu nhập của thợ xây

Các cơ sở sản xuất tại địa phương đặc biệt là các cơ sở sản xuất gạch ngại không muốn mở rộng sản xuất mặc dù hiện nay nhu cầu về gạch đang cao, vượt quá khả năng cung cấp của họ vì thiếu kỹ năng

quản lý, thiếu nguồn nhân lực lành nghề và thiếu vốn

Những trở ngại cho sự phát triển của thị trường vệ sinh chỉ bắt nguồn từ những nhà cung cấp chính ở cấp địa phương – những người cung cấp sản phẩm và dịch vụ trực tiếp đến khách hàng Như đã đề cập ở trên,

thị trường vệ sinh phụ thuộc đáng kể vào những nhà bán lẻ Do đó những trở ngại ảnh hưởng đến quá trình mua bán chủ yếu xuất phát từ các nhà cung cấp ở địa phương – những người trực tiếp cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng

Thợ xây là nguồn cung cấp thông tin chính về loại hình, thiết kế và chi phí về nhà tiêu cho các hộ dân

Tuy nhiên các thợ xây lại có xu hướng tư vấn cho người dân xây các nhà tiêu quá cỡ bởi vì kiến thức về các loại nhà tiêu đơn giản, chi phí thấp và hợp vệ sinh của họ hạn chế hoặc đôi khi họ cố tình để kiếm thêm lợi nhuận từ xây nhà tiêu

Thợ xây là người đóng vai trò quan trọng đảm bảo chất lượng cho nhà tiêu được xây Tuy nhiên hầu hết

thợ xây có kiến thức rất hạn chế về kỹ thuật xây nhà tiêu đúng cách Điều này có thể dẫn đến rủi ro là các nhà tiêu được xây dựng không đảm bảo tiêu chuẩn

Các nguồn cung cấp tín dụng chính thức cho nước sạch và vệ sinh (ngân hàng CSXH và các tổ chức tín dụng) chưa đáp ứng được với nhu cầu vay vốn của khách hàng ở hầu hết các phân khúc thị trường, ngoại

Các “vai” tiềm năng có thể tham gia vào các chương trình vệ sinh là các nhà cung cấp ở địa phương

Như đã đề cập ở trên, thị trường vệ sinh phụ thuộc lớn vào các nhà bán lẻ, cung cấp sản phẩm và dịch vụ trực tiếp cho các khách hàng Các trở ngại chính cho sự phát triển của thị trường cũng xuất phát ở cấp địa phương này Vì vậy, các hoạt động can thiệp nhằm tăng cường sự phát triển của chuỗi cung cấp cần tập trung vào các vai sau đây: thợ xây, cửa hàng bán lẻ, cơ sở sản xuất ống bi bê tông, cơ sở sản xuất nhà tiêu

tự hoại composite Để các “vai” này có thể tham gia tốt vào việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ vệ sinh, cần phải có các hoạt động hỗ trợ từ bên ngoài như: cung cấp huấn luyện về kỹ thuật và kỹ năng kinh doanh, thực hiện các hoạt động tạo nhu cầu để tăng khách hàng, kết nối nhà cung cấp với các khách hàng tiềm năng thông qua sự giới thiệu của chính quyền địa phương, nâng uy tín của các nhà cung cấp thông

Trang 11

qua sự chứng thực về sản phẩm và dịch vụ của các cơ quan chức năng hoặc chính quyền địa phương, hỗ trợ các nhà cung cấp thiết lập mạng lưới bán hàng tại địa phương

Các thông tin còn thiếu cần thu thập thêm trong các nghiên cứu tiếp theo

Những thông tin còn thiếu cho toàn bộ thị trường vệ sinh nói chung

 Chưa có báo cáo về thị trường vệ sinh ở các phân khúc thị trường: (i) vùng đồng bằng phía Bắc (phân khúc 3), (ii) vùng núi và trung du phía Nam (phân khúc 5), (iii) vùng đồng bằng phía Nam (phân khúc 6)

 Các báo cáo hiện có hầu như không có thông tin về các “vai” nhà máy sản xuất, đại lý bán buôn (đại lý cấp I), nhà phân phối và các đại lý bán sỉ (đại lý cấp II,III, IV) ở tất cả các phân khúc thị trường

 Thông tin về hệ thống cung cấp thông tin của bộ phận hành chính công còn rất hạn chế trong các báo cáo hiện có

Những thông tin còn thiếu ở từng phân khúc thị trường:

 Ở phân khúc thị trường 1 (miền núi phía Bắc):

 Các nghiên cứu hiện có mới chỉ được thực hiện ở phạm vi địa lý hẹp (chỉ ở 1 xã của tỉnh Lai Châu, 1 xã của tỉnh Lào Cai, 1 huyện và một số xã của tỉnh Điện Biên) chưa đủ để các phát hiện của các nghiên cứu này có thể đại diện được cho cả phân khúc thị trường 1

 Thông tin về thị trường vệ sinh ở các xã vùng sâu, hẻo lánh (vùng cao và vùng giữa) còn rất hạn chế

 Các nghiên cứu hiện có mới chỉ thực hiện với các nhóm dân tộc đã phát triển như người Kinh, Thái, chưa có thông tin về các nhóm dân tộc khác, ít phát triển hơn như Hmong, Dao

 Ở phân khúc thị trường 2 (Vùng núi và trung du phía Bắc):

 Mặc dù các nghiên cứu hiện có đã được thực hiện ở phạm vi địa lý rộng hơn so với các nghiên cứu ở phân khúc 1 (6 xã ở Yên Bái và 3 xã ở Nghệ An) nhưng vẫn chưa đủ để có thể khẳng định được là các phát hiện của các nghiên cứu này đại diện cho cả phân khúc 2

 Các nghiên cứu hiện có còn thiếu thông tin để có thể xác định được phân nhóm hộ gia đình

có nhu cầu về cung cấp nguyên vật liệu và dịch vụ cho việc xây nhà tiêu

 Thông tin về các nguồn tín dụng khác ngoài ngân hàng chính sách xã hội mà các hộ dân có thể vay để làm nhà tiêu và các động lực khiến cho các hộ dân vay tiền để làm nhà tiêu vẫn còn hạn chế trong các báo cáo hiện có

 Ở phân khúc thị trường 4 (Vùng núi cao phía Nam):

 Thông tin về toàn bộ thị trường vệ sinh (cả hai phía Cung và Cầu) đều rất hạn chế trong các báo cáo hiện có

 Thiếu thông tin về nhu cầu về vệ sinh và sự tiếp cận với chuỗi cung cấp của các nhóm người dân tộc thiểu số mặc dù các nhóm hộ này chiếm một tỉ lệ đáng kể trong dân số của phân khúc thị trường này

 Ở phân khúc thị trường 7 (vùng sát ven biển)

 Thiếu thông tin về các xã phía Nam của phân khúc thị trường 7

 Thông tin về các nguồn tín dụng khác ngoài ngân hàng chính sách xã hội mà các hộ dân có thể vay để làm nhà tiêu và các động lực khiến cho các hộ dân vay tiền để làm nhà tiêu vẫn còn hạn chế trong các báo cáo hiện có

 Ở phân khúc thị trường 8 (Vùng đồng bằng sông Cửu Long):

Trang 12

 Trong các báo cáo hiện có chưa có thông tin và phân tích riêng về nhu cầu về nhà tiêu và sự tham gia thị trường vệ sinh của nhóm hộ gia đình có thu nhập thấp, nhóm hộ người dân tộc thiểu số và nhóm hộ gia đình ở vùng thường xuyên bị ngập

 Thông tin về các nguồn tín dụng khác ngoài ngân hàng chính sách xã hội mà các hộ dân có thể vay để làm nhà tiêu và các động lực khiến cho các hộ dân vay tiền để làm nhà tiêu vẫn còn hạn chế trong các báo cáo hiện có

Các đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo

 Thực hiện nghiên cứu đánh giá thị trường một cách toàn diện (cả bên Cầu và bên Cung) ở các phân khúc thị trường 3 (vùng đồng bằng phía Bắc), 4 (vùng núi và trung du phía Nam) và 6 (vùng đồng bằng phía Nam)

 Thực hiện nghiên cứu đánh giá chuỗi cung cấp của sản phẩm bệ xí

 Thực hiện thêm một số nghiên cứu cho phân khúc thị trường 1 bao gồm:

 Tiến hành nghiên cứu về chuỗi cung cấp ở thêm một số xã có thể đại diện được cho phân khúc thị trường 1 để đảm bảo các phát hiện của các nghiên cứu hiện có và các nghiên cứu sau này có thể đại diện được cho phân khúc thị trường 1

 Tiến hành việc nghiên cứu thị trường (nghiên cứu khách hàng) đối với các nhóm hộ dân tộc kém phát triển hơn (như Hmong, Dao) để hiểu thêm về nhu cầu về nhà tiêu và sự tiếp cận với chuỗi cung cấp của họ

 Tìm hiểu sâu hơn về các giải pháp làm thế nào để có thể lôi cuốn các “vai” trong chuỗi cung cấp tham gia tích cực hơn vào thị trường vệ sinh

 Thực hiện thêm một số nghiên cứu cho phân khúc thị trường 2 bao gồm:

 Tiến hành nghiên cứu về chuỗi cung cấp ở thêm nhiều địa điểm với sự khác nhau nhiều hơn

để khẳng định lại các kết quả đã đưa ra ở các nghiên cứu hiện tại và các nghiên cứu sau này đúng với phân khúc thị trường 2

 Nghiên cứu sâu hơn về nhu cầu của các hộ dân đối với loại nhà tiêu cần sự cung cấp nguyên vật liệu và dịch vụ (như nhà tiêu tự hoại, thấm dội)

 Nghiên cứu sâu hơn về các nguồn tín dụng ngoài ngân hàng CSXH mà người dân có thể vay

để làm nhà tiêu và các động lực khiến họ vay tiền để làm nhà tiêu

 Thực hiện nghiên cứu thị trường vệ sinh ở phân khúc thị trường 4 bao gồm:

 Thực hiện nghiên cứu đánh giá thị trường một cách toàn diện (cả bên Cầu và bên Cung) ở phân khúc thị trường 4 Tuy nhiên, do phân khúc 4 có nhiều điểm tương đồng với phân khúc

1 nên trước khi tiến hành nghiên cứu cần xác định lại các phát hiện ở phân khúc 1 có thể áp dụng được cho phân khúc 4

 Tiến hành nghiên cứu thị trường (nghiên cứu khách hàng) đối với nhóm hộ dân tộc thiểu số

để xác định nhu cầu đối với nhà tiêu, tiếp cận đối với chuỗi cung cấp và sự tham gia thị trường vệ sinh của họ

 Thực hiện thêm một số nghiên cứu cho phân khúc thị trường 7 bao gồm:

Trang 13

 Thực hiện nghiên cứu thị trường một cách toàn diện thêm ở một số xã phía Nam của phân khúc này

 Nghiên cứu sâu hơn về các nguồn tín dụng ngoài ngân hàng CSXH mà người dân có thể vay

để làm nhà tiêu và các động lực khiến họ vay tiền để làm nhà tiêu

 Thực hiện thêm một số nghiên cứu cho phân khúc thị trường 8 bao gồm:

 Thực hiện nghiên cứu thị trường (nghiên cứu khách hàng) với các nhóm hộ nghèo, hộ người dân tộc thiểu số, hộ ở vùng thường xuyên bị ngập để xác định nhu cầu về nhà tiêu, các cản trở đối với việc tiếp cận vệ sinh của họ và các giải pháp thị trường để vượt qua các cản trở đó

 Nghiên cứu sâu hơn về các nguồn tín dụng ngoài ngân hàng CSXH mà người dân có thể vay

để làm nhà tiêu và các động lực khiến họ vay tiền để làm nhà tiêu

Các mô hình kinh doanh ở Việt Nam

Trong báo cáo này, mô hình kinh doanh được hiểu một cách đơn giản là một phương pháp kinh doanh mà doanh nghiệp/cơ sở kinh doanh sử dụng với mục đích tạo ra lợi nhuận Trong báo cáo này, nhóm nghiên cứu tìm hiểu phương pháp kinh doanh mà các doanh nghiệp/cơ sở kinh doanh – từ thợ xây đến các công

ty xây dựng – sử dụng để bán các sản phẩm nhà tiêu trên thị trường nông thôn Việt Nam

Các báo cáo/tài liệu hiện có và nghiên cứu thực địa cho thấy hiện nay ở Việt Nam có ít nhất 4 mô hình kinh doanh vệ sinh sản xuất và lắp đặt các loại nhà tiêu thấm dội và nhà tiêu tự hoại làm bằng ống bi Bốn

mô hình kinh doanh này là:

1 Cơ sở cung cấp dịch vụ đúc ống bi và lắp đặt nhà tiêu tại chỗ- quy mô nhỏ: Trong mô hình này,

người cung cấp chỉ cung cấp dịch vụ đúc ống bi bê tông và lắp đặt nhà tiêu Khách hàng (là hộ dân) sẽ tự mua nguyên vật liệu

2 Cơ sở sản xuất ống bi kiêm lắp đặt nhà tiêu quy mô trung bình: Trong mô hình này, người cung

cấp mua nguyên vật liệu, đúc ống bi bê tông tại xưởng sản xuất, vận chuyển ống bi bê tông đến nhà khách hàng và lắp đặt nhà tiêu cho khách

3 Cửa hàng bán lẻ kiêm việc sản xuất ống bi và lắp đặt nhà tiêu quy mô trung bình: Trong mô hình

này, người cung cấp chính là cửa hàng bán lẻ có xưởng sản xuất ống bi, kiêm luôn việc sản xuất ống bi để bán như là một sản phẩm của cửa hàng Trong trường hợp khách hàng có nhu cầu, chủ

cơ sở cũng kiêm luôn việc vận chuyển và lắp đặt nhà tiêu

4 Công ty sản xuất ống bi và lắp đặt nhà tiêu: Trong mô hình này, người cung cấp là các công ty

xây dựng quy mô vừa và nhỏ, mua nguyên vật liệu, đúc ống bi và lắp đặt nhà tiêu

Các điểm mạnh và các thách thức của các mô hình được trình bày trong bảng dưới như sau:

Mô hình

1

 Vốn đầu tư ban đầu thấp Chỉ cần đầu tư khoảng

từ 3,000,000 VND đến 7,000,000 cho việc mua

dụng cụ

 Ít rủi ro: vốn đầu tư ban đầu thấp nên rủi ro kinh

doanh của mô hình này cũng thấp

 Linh hoạt: Việc vận chuyển khuôn đúc đến nhà

khách hàng khá thuận tiện Do đó dịch vụ có thể

cung cấp đến tất cả các khách hàng, cho dù là

 Cạnh tranh chi phí: Chi phí của việc đúc

bê tông tại nhà cao hơn chi phí đúc bê tông tại xưởng bởi vì đây không phải là hoạt động sản xuất hàng loạt

 Chất lượng: Chất lượng của ống bi không đồng nhất và phụ thuộc khá nhiều vào kỹ năng và sự chuyên tâm của các thợ xây

 Quy mô: Nhà cung cấp không thể đáp

Trang 14

Điểm mạnh Thách thức

khách hàng ở xa đường chính

 Chi phí phù hợp với người nghèo: Chi phí của

nhà tiêu tự hoại ống bi thấp hơn so với chi phí

nhà tiêu tự hoại xây bằng gạch

ứng được những đơn hàng có số lượng lớn

Mô hình

2 & 3

 Kiểm soát chất lượng: Cơ sở sản xuất có thể dễ

dàng kiểm soát chất lượng sản phẩm và sửa

chữa lỗi ngay tại xưởng

 Linh hoạt: Chương trình/ dự án vệ sinh có thể dễ

dàng phát triển các loại nhà tiêu thông qua thảo

luận và thỏa thuận với các cơ sở sản xuất

 Khả năng mở rộng quy mô: Những cơ sở sản

xuất này có thể đáp ứng được cả những đơn

hàng lớn nhỏ Họ có khả năng đáp ứng những

đơn hàng có số lượng lớn hơn cơ sở sản xuất

ống bi bê tông của thợ xây

 Đáp ứng nhu cầu nhanh: Bởi vì các cơ sở sản

xuất thường đặt ở xã, gần khách hàng nên họ dễ

dàng đáp ứng yêu cầu của khách hàng và giao

hàng đến cho khách hàng

 Chi phí: Chi phí sản xuất ống bi bê tông tại

xưởng thường thấp hơn chi phí sản xuất ống bi

tại nhà khách hàng do lợi thế về quy mô Những

cơ sở sản xuất này có thể sản xuất với số lượng

lớn sản phẩm, do đó có thể tiết kiệm được

nguyên liệu và chi phí nhân công

Mô hình 3 có thêm một điểm mạnh nữa là:

 Cơ hội thu lợi nhuận cao: Cửa hàng có thể thu

được lợi nhuận không chỉ từ sản xuất ống bi mà

còn từ bán nguyên vật liệu cho việc sản xuất ống

bi và xây dựng nhà tiêu

 Tiếp cận khách hàng: Cơ sở sản xuất khó

có thể vận chuyển và lắp đặt ống bi cho các hộ ở những nơi mà các phương tiện vận chuyển(xe tải, xe công nông) không thể vào được

 Vốn đầu tư cao: Để khởi nghiệp kinh doanh, cần phải có số vốn đầu từ 10 – 15 triệu cho việc mua công cụ cần thiết Thêm vào đó, các cơ sở cũng cần phải đầu tư vốn để mua nguyên vật liệu sản xuất

 Rủi ro cao: Các cơ sở sản xuất theo mô hình này phải đối mặt với nguy cơ rủi ro cao hơn bởi vì họ sản xuất dựa theo ước tính về nhu cầu chứ không dựa vào những đơn hàng thực tế Do đó họ có thể

bị lỗ nếu ước tình về nhu cầu của họ không chính xác

 Rủi ro đến từ cơ hội kinh doanh khác: Các cơ sở sản xuất có thể dễ dàng chuyển sang mặt hàng kinh doanh khác nếu mặt hàng này đem lại nhiều lợi nhuận hơn

Mô hình

4

 Khả năng mở rộng quy mô: Các công ty có khả

năng đáp ứng các đơn hàng lớn

 Kiểm soát chất lượng: Công ty có thể dễ dàng

kiểm soát chất lượng sản phẩm và sửa chữa lỗi

ngay tại xưởng

 Dễ thay đổi thiết kế nhà tiêu: Có thể dễ dàng

thay đổi thiết kế của nhà tiêu thông qua một

hoặc một số nhà cung cấp chính

 Đáp ứng nhu cầu của khách hàng: Vì xưởng sản xuất ở trung tâm, xa khách hàng nên khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng của các công ty này chậm và

ít linh hoạt hơn các nhà sản xuất khác

 Rủi ro đến từ cơ hội kinh doanh khác: Các công ty thường có nhiều cơ hội để thực hiện các công trình xây dựng Doanh thu từ các công trình xây dựng thường cao hơn là các công trình vệ sinh nên dễ dàng từ bỏ việc kinh doanh về vệ sinh

Trang 15

Mô hình 1,2,3 được khuyến nghị áp dụng ở vùng duyên hải miền Trung và vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi mà nhu cầu về các loại nhà tiêu dội nước đang cao và thu nhập của các hộ dân thấp Tuy nhiên

để áp dụng thành công mô hình, các chương trình vệ sinh sau này cần phải có những hoạt động can thiệp như sau:

 Cải thiện kỹ thuật sản xuất ống bi và lắp đặt nhà tiêu để giảm chi phí sản xuất

 Nâng cao năng lực cho thợ xây, chủ cơ sở sản xuất thông qua việc cung cấp các huấn luyện về kỹ thuật, kinh doanh cho họ

 Thực hiện các hoạt động tạo nhu cầu để tạo thêm khách hàng cho thợ xây và các cơ sở sản xuất

 Kết nối thợ xây với các khách hàng tiềm năng thông qua việc tạo điều kiện để các thợ xây, chủ cơ

sở sản xuất giới thiệu sản phẩm và dịch vụ của họ cho khách hàng tiềm năng

 Nâng cao uy tín về sản phẩm và dịch vụ của thợ xây và các cơ sở sản xuất thông qua sự chứng thực của chính quyền

 Đối với các cơ sở sản xuất: Hỗ trợ thiết lập mạng lưới bán hàng tại địa phương cho các cơ sở sản xuất thông qua việc kết nối họ với các thợ xây, khuyến khích các thợ xây trở thành đại lý bán hàng cho các cơ sở sản xuất

Mô hình 4 chỉ nên áp dụng cho các chương trình tài trợ hoàn toàn hoặc một phần cho các hộ gia đình xây nhà tiêu vì mô hình này có thể đáp ứng được yêu cầu chương trình: sản xuất và lắp đặt với số lượng lớn

và có thể kiểm soát được chất lượng công trình

Trang 16

1 BỐI CẢNH

1.1 GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này xem xét, tổng hợp các tài liệu và các nghiên cứu đã có sẵn có liên quan đến chuỗi cung cấp vệ sinh ở nông thôn Việt Nam và các mô hình kinh doanh vệ sinh Nghiên cứu nhằm phát triển một báo cáo tổng quan về những điểm đã biết và chỉ ra những thông tin còn thiếu, cần bổ sung thêm cho các cuộc nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu được thực hiện theo nhu cầu của Cục Quản lý Môi trường Y tế- Bộ Y tế với sự tài trợ của chương trình Nước & Vệ sinh của Ngân hàng thế giới

1.2 VỆ SINH Ở VIỆT NAM

1.2.1 Hiện trạng về tiếp cận vệ sinh

Trong hai thập kỷ vừa qua, tiếp cận vệ sinh ở vùng nông thôn Việt nam đã tăng một cách đáng kể Đến năm 2011, 55% hộ gia đình ở vùng nông thôn đã có nhà tiêu hợp vệ sinh (MARD, 2012).3

Trong khoảng thời gian từ năm 2002 đến năm 2010, hộ gia đình có 3 trong số 4 loại nhà tiêu được coi là hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế Việt Nam – nhà tiêu tự hoại, thấm dội nước và hai ngăn4

đã tăng từ 23.9% lên đến 58.2 % (Biểu đồ1) Tuy nhiên tỉ lệ hộ gia đình có các loại nhà tiêu này có xu hướng giảm dần kể từ năm 2006 khi mà đa số hộ gia đình nông thôn đã có một trong các loại nhà tiêu này Trong khoảng thời gian từ năm 2002- 2006, tỉ lệ hộ gia đình có một trong 3 loại nhà tiêu tăng 24.7% Trong khoảng thời gian

từ năm 2006-2010, mức tăng này đã giảm chỉ còn 9.6% (Biểu đồ 1)

4 Báo cáo điều tra mức sống hộ gia đình (VLSS) không tính tới tỉ lệ hộ gia đình có loại nhà tiêu chìm cải tiến là một trong 4 loại nhà tiêu được coi là hợp vệ sinh (theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế)

Trang 17

Biểu đồ 1 Tỉ lệ hộ gia đình nông thôn có nhà tiêu tự hoại, thấm dội và hai ngăn từ 2002-2010

Nguồn : GSO, Báo cáo kết quả điều tra mức sống hộ gia đình năm 2010

Tỉ lệ tiếp cận vệ sinh cũng không đồng đều giữa các vùng sinh thái của Việt Nam (xem biểu đồ 2) Tỉ lệ tiếp cận vệ sinh cao nhất là ở vùng Đông Nam bộ với 79.1% trong năm 2011 Ngược lại, nơi có tỉ lệ tiếp cận vệ sinh thấp hơn cả tỉ lệ trung bình của cả nước, nằm trong khoảng từ 33.8% - 44.9% là các vùng đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Trung bộ, vùng núi và trung du phía bắc và Tây nguyên

Biểu đồ2 Tỉ lệ hộ gia đình nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh năm 2011, theo các vùng sinh thái

Nguồn: Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, 2012

Mặc dù số liệu từ điều tra mức sồng hộ gia đình (VLSS) và báo cáo của Chính phủ đã chỉ ra rằng, tỉ lệ tiếp cận vệ sinh đã tăng gấp đôi trong 2 thập kỷ qua, vẫn còn khoảng 7.2 triệu hộ gia đình nông thôn vẫn chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh năm 2011 Số lượng hộ gia đình chưa có nhà tiêu lớn nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (2.035 triệu) Các vùng vẫn còn hơn 1 triệu hộ gia đình chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh

Trang 18

bao gồm: vùng đồng bằng sông Hồng (1.083 triệu), vùng núi phía Bắc (1.382 triệu), và Bắc Trung bộ (1.316 triệu) Những hộ gia đình này tạo nên tiềm năng to lớn của thị trường vệ sinh

Một điểm quan trọng cần lưu ý là: trong số hộ gia đình chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh đã có hơn 80% hộ gia đình đã có nhà tiêu nhưng không hợp vệ sinh, chỉ có chưa đến 20% hộ gia đình không có nhà tiêu Có khoảng 6% trên tổng số hộ gia đình nông thôn còn đi vệ sinh ngoài trời (JMP, 2010).5

Như vậy có thể nói: khách hàng chủ yếu của thị trường vệ sinh sẽ là những hộ gia đình cần nâng cấp từ việc sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh sang việc sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh

Bảng 1 Quy mô thị trường vệ sinh: Số hộ gia đình chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh năm 2011, trên cả nước và theo vùng sinh thái

Số HGĐ nông thôn (2011)

Hộ gia đình chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh (2011)

Nguồn: Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, 2012

1.2.2 Xu hướng tiếp cận vệ sinh

Theo điều tra mức sống hộ gia đình năm 2010, tỉ lệ hộ gia đình sử dụng các loại nhà tiêu như sau (xem biểu đồ 3) Trong số hộ gia đình có loại nhà tiêu được coi là hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn của bộ Y tế, hộ gia đình có nhà tiêu tự hoại chiếm đại đa số (39.6%), sau đó đến hộ gia đình có nhà tiêu 2 ngăn (21.9%)

Hộ gia đình có nhà tiêu thấm dội có tỉ lệ thấp nhất (5.6%)

5 Theo đinh nghĩa của JMP: loại nhà tiêu chưa được cải thiện (chưa hợp vệ sinh) bao gồm: loại nhà tiêu dội nước trong đó: nước phân của nhà tiêu được thoát thằng ra ngoài, (không qua xử lý) , loại nhà tiêu đào chưa có nắp đậy kín, hố đào, nhà tiêu ao cá, nhà tiêu thùng Loại nhà tiêu sử dụng chung cũng được coi là chưa được cải thiện (chưa hợp vệ sinh)

Trang 19

Biểu đồ3 Các loại nhà tiêu hợp vệ sinh, 2010 (% hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh)

Nguồn: VHLSS,2010

Biều đồ 4 cho thấy xu hướng tăng mạnh của loại nhà tiêu tự hoại, từ 10.8% năm 2002 lên 39.6% năm

2010 Tỉ lệ hộ gia đình có nhà tiêu thấm dội nước cũng tăng nhưng mức tăng không đáng kể (từ 3.5% lên 5.6%) Loại nhà tiêu hai ngăn lại giảm: từ 29.8% xuống còn 21.9% Các loại nhà tiêu khác, không hợp vệ sinh cũng giảm mạnh: từ 37.3% xuống còn 19.2%

Biểu đồ4 Xu hướng sử dụng các loại nhà tiêu

Nguồn: VHLSS, 2010

Trang 20

1.2.3 Giá và mức độ phù hợp về giá của các loại nhà tiêu hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn của

Bộ y tế

Bảng 2 trình bày mức giá ước tính thấp nhất của một số loại nhà tiêu hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn của bộ

Y tế Các loại nhà tiêu này (ngoại trừ loại nhà tiêu chìm có ống thông hơi) đều là loại nhà tiêu có phần dưới xây kiên cố còn phần trên được làm đơn giản, bằng các vật liệu rẻ tiền hoặc tận dụng Mức giá ước tính dao động từ 46 USD cho loại nhà tiêu chìm có ống thông hơi đến 187USD cho loại nhà tiêu tự hoại xây bằng gạch Hình ảnh của các loại nhà tiêu xem phụ lục 2

Bảng2 Ước tính giá thành của một số loại nhà tiêu, 2010

* Giá thành của nhà tiêu chưa bao gồm công vận chuyển.Việc ước tinh giá của nhà tiêu được dựa trên: (i) bảng nguyên vật liệu trong “Tài liệu hướng dẫn xây dựng, bảo quản nhà tiêu hộ gia đình” do bộ Y tế ban hành, (ii) bảng nguyên vật liệu xây dựng nhà tiêu trình diễn của IDE, (iii) giá nguyên vật liệu tháng 11/2010 do Bộ xây dựng ban hành Chi tiết về ước tính giá thành của các loại nhà tiêu xem phụ lục 3 Bảng 3 trình bày mức độ phù hợp về giá của các loại nhà tiêu đối với 3 nhóm hộ gia đình có mức thu nhập thấp ở mỗi vùng sinh thái (nhóm 1có mức thu nhập thấp nhất).6

Số liệu trong bảng 3 cho thấy:

 Loại nhà tiêu chìm có ống thông hơi có mức giá phù hợp với tất cả nhóm hộ gia đình Giá của loại nhà tiêu này chỉ chiếm 3% -8 % mức thu nhập hàng năm của nhóm hộ gia đình có mức thu nhập thấp nhất ở các vùng sinh thái (nhóm 1)

 Loại nhà tiêu hai ngăn có mức giá phù hợp với một số nhóm hộ gia đình ở một số vùng Giá của loại nhà tiêu này chiếm khoàng 7% - 20% mức thu nhập hàng năm của nhóm hộ gia đình có mức thu nhập thấp nhất ở các vùng sinh thái

 Loại nhà tiêu thấm dội nước khó phù hợp với nhóm hộ nghèo ở các vùng Giá của loại nhà tiêu này chiếm khoảng từ 8-22 % mức thu nhập hàng năm của nhóm hộ có mức thu nhập thấp nhất ở các vùng sinh thái

6Việc ước tính được dựa trên: (i) Giá của nhà tiêu được trình bày trong bảng 2 (ii) Số liệu về mức thu nhập của các nhóm hộ gia đình được trích từ VHLSS, 2010 Một điểm cần chú ý là tác giả đã lấy số liệu mức thu nhập chung cho cả vùng bao gồm nông thôn và thành thị vì trong báo cáo của VHLSS 2010 không có số liệu về mức thu nhập cho riêng vùng nông thôn Tuy nhiên việc ước tính này chỉ áp dụng cho

3 nhóm nghèo nhất là nhóm thường rơi vào vùng nông thôn Chi tiết về cách tính xem phụ lục 4

Trang 21

 Loại nhà tiêu tự hoại ống bi có thể khó phù hợp với hầu hết hộ gia đình nghèo nhất và một số hộ gia đình có mức độ thu nhập thấp Giá của loại nhà tiêu này chiếm khoảng 9% - 24% thu nhập của nhóm hộ gia đình có mức thu nhập thấp nhất (nhóm1) và chiếm khoảng 8% - 12% mức thu nhập của nhóm hộ có mức thu nhập thấp (nhóm 2)

 Loại nhà tiêu tự hoại xây bằng gạch không phù hợp với nhóm hộ nghèo nhất và cũng khó phù hợp với nhóm hộ gia đình có thu nhập thấp Giá của loại nhà tiêu này chiếm từ 12% - 32% mức thu nhập của nhóm hộ có mức thu nhập thấp nhất, và khoảng từ 7% - 16% mức thu nhập thấp (nhóm 2)

 Loại nhà tiêu tự hoại vượt lũ cũng chưa phù hợp với nhóm hộ nghèo ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Giá của nhà tiêu chiếm 27% thu nhập hàng năm của nhóm hộ có mức thu nhập thấp nhất

Bảng 3 Tỉ lệ giữa giá của các loại nhà tiêu so với thu nhập của các nhóm hộ gia đình có thu nhập thấp năm 2010

TỈ LỆ GIỮA GIÁ CỦA NHÀ TIÊU VỚI THU NHẬP CỦA

HỘ GIA ĐÌNH Chìm có

ống thông hơi

Hai ngăn

Thấm dội nước

Tự hoại ống bi bê tông

Tự hoại xây gạch

Tự hoại vượt lũ

Trang 22

TỈ LỆ GIỮA GIÁ CỦA NHÀ TIÊU VỚI THU NHẬP CỦA

HỘ GIA ĐÌNH Chìm có

ống thông hơi

Hai ngăn

Thấm dội nước

Tự hoại ống bi bê tông

Tự hoại xây gạch

Tự hoại vượt lũ

Nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra trong Chiến lược, Chính phủ đã xây dựng chương trình MTQG Nước sạch & VSMTNT Chương trình MTQG Nước sạch & VSMTNT là chương trình chính của Chính phủ về Cấp nước & Vệ sinh, được thực hiện từ năm 2000 Pha 3 của Chương trình được bắt đầu từ năm

2012 Chương trình MTQG Nước sạch & VSMTNT giai đoạn 3 (RWSS-NTP3) đã đề ra mục tiêu: đến năm 2015, 65% hộ gia đình nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh Trong giai đoạn I và giai đoạn II, sự quan tâm đến vệ sinh hộ gia đình còn hạn chế, vì vậy chương trình đã chưa đạt được mục tiêu về vệ sinh Để cải thiện vấn đề này, giai đoạn 3 của chương trình đã được thiết kế bao gồm các dự án riêng và có ngân sách riêng dành cho vệ sinh (khoảng 29 triệu USD)

Bên cạnh chương trình RWSS-NTP, có một số chương trình của Chính phủ cũng có các hoạt động có liên quan đến vệ sinh như:

 Chương trình 135: hỗ trợ cho các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi

 Chương trình 134: hỗ trợ cho các hộ gia đình dân tộc thiểu số nghèo, và hộ thương tật

 Chương trình 30 A: hỗ trợ cho 62 huyện nghèo nhất nước

Các chương trình này chủ yếu tài trợ tiền hoặc nguyên vật liệu cho các hộ dân xây nhà tiêu

Cuối cùng là chương trình tín dụng của Chính phủ cho người dân vay tiền để xây nhà tiêu được thực hiện

qua ngân hàng CSXH 7 Chương trình tín dụng này cũng được coi như là một công cụ để thực hiện chiến

7

Theo quyết định s 62/2004/QĐ-TTg ngày 16/4/2004

Trang 23

lược Cấp nước & Vệ sinh nông thôn đến năm 2020 Trong chương trình này, mỗi hộ dân ở vùng nông thôn có thể được vay nhiều nhất là 8 triệu đồng để xây công trình nước & vệ sinh (4 triệu đồng một công trình), với lãi suất ưu đãi là 0.9%/tháng, trong thời gian 5 năm Ngân hàng CSXH đã cộng tác với các tổ chức xã hội để thực hiện việc cho các hộ gia đình vay và thu hồi nợ

Các ban ngành chính của Chính phủ tham gia trong lĩnh vực Cấp nước & Vệ sinh

Các ban ngành chính của Chính phủ tham gia trong lĩnh vực Cấp nước & Vệ sinh ở cấp Trung ương và cấp tỉnh bao gồm:

Bộ Y tế Bộ Y tế (MOH) chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các Bộ,

ngành liên quan, các địa phương quản lý, tổ chức thực hiện dự án ‘vệ sinh nông thôn”thuộc chương trình RWSS-NTP3 Ngoài ra Bộ Y tế còn chịu trách nhiệm thực hiện các chương trình Mục tiêu Quốc gia Y tế , trong đó có một số dự án thành phần có các hoạt động có liên quan đến xúc tiến Vệ sinh

Bộ Giáo dục & Đào

tạo

Bộ giáo dục & đào tạo (MOET) chịu trách nhiệm về chương trình vệ sinh ở học đường

và xây dựng các công trình vệ sinh cho các trường học trong khuôn khổ chương trình RWSS-NTP2

Bộ xây dựng Bộ xây dựng (MOC) chịu trách nhiệm về cấp nước và vệ sinh ở các vùng đô thị

Ủy ban nhân dân

các tỉnh

Ủy ban nhân dân các tỉnh (PPC) chịu trách nhiệm điều hành, phân bổ ngân sách và tổng hợp chung toàn bộ tình hình thực hiện chương trình vệ sinh tại mỗi tỉnh

1.3 CHUỖI CUNG CẤP VỆ SINH

Cũng như ở những nơi khác, ở nông thôn Việt Nam, làm tăng tiếp cận vệ sinh đòi hỏi phải đảm bảo được rằng các hộ gia đình có thể dễ dàng tiếp cận được với việc cung cấp sản phẩm phù hợp và các dịch vụ Làm cho chuỗi cung cấp vệ sinh hoạt động tốt, sao cho các hộ dân có thể tiếp cận được với các dịch vụ và sản phẩm để có được loại nhà tiêu mà họ mong muốn với giá cả mà họ có thể chi trả được là một việc tối cần thiết cho việc nhân rộng vệ sinh

Trong báo cáo này chuỗi cung cấp vệ sinh được hiểu là một chuỗi bao gồm các “vai” cung cấp mọi thứ cần thiết để xây dựng, sử dụng và bảo quản một nhà tiêu hộ gia đình Các “vai” chính trong chuỗi cung cấp bao gồm:

Nhà máy/nhà sản xuất: Những công ty hoặc cá nhân sản xuất nguyên vật liệu xây dựng nhà tiêu

như xi măng, gạch, sắt, ống nhựa, cát, ống nhựa, và một số phụ kiện của nhà tiêu như: bệ xí, thùng chứa composite, ống bi bê tông

Trang 24

Nhà phân phối: Là những đại lý bán sỉ, cửa hàng bán lẻ phân phối các nguyên vật liệu xây nhà tiêu

từ nhà máy đến tay người tiêu dùng Ở Việt Nam, những mặt hàng do các nhà máy lớn sản xuất như

xi măng, gạch tuynel, sắt thép, ống nhựa thường được phân phối theo các cấp đại lý như sau:

 Đại lý cấp I (đại lý bán sỉ): là phòng kinh doanh của nhà máy, phân phối sản phẩm cho

các đại lý cấp II

 Đại lý cấp II, thường được gọi là nhà phân phối Nhà phân phối thường đóng tại thành

phố lớn hoặc trung tâm của tỉnh Mỗi thành phố hoặc mỗi tỉnh chỉ có 1 nhà phân phối Đôi khi tại một vùng chỉ có 1 nhà phân phối, bán hàng cho các đại lý cấp III ở trong tỉnh, thành phố và các tỉnh liền kề Nhà phân phối chỉ bán mặt hàng của nhà máy

 Đại lý cấp III: thường đóng tại thành phố, trung tâm của tỉnh, huyện Đại lý cấp III

thường mua và bán nhiều loại mặt hàng.Ví dụ đại lý xi măng thường bán kèm sắt thép Đại lý cấp III thường bán hàng cho các đại lý cấp IV và trực tiếp cho chủ các công trình xây dựng lớn

 Đại lý cấp IV: chính là một số cửa hàng lớn, thường đóng ở trung tâm huyện hoặc ở xã

đã phát triển Cũng như đại lý cấp III, các cửa hàng này mua và bán nhiều mặt hàng Đại

lý cấp IV bán hàng cho các cửa hàng bán lẻ tại xã hoặc bán trực tiếp cho các hộ dân có nhu cầu mua nguyên vật liệu với số lượng lớn

Nhà cung cấp dịch vụ: Có thể là những thợ xây cung cấp dịch vụ xây dựng, những công ty hoặc cá

nhân có xe vận tải cung cấp dịch vụ vận chuyển, những ngân hàng hoặc cá nhân cho vay tiền lấy lãi

là những người cung cấp dịch vụ tín dụng xây nhà tiêu

Dịch vụ cung cấp thông tin: Những cá nhân, tổ chức cung cấp thông tin có liên quan đến việc xây

dựng nhà tiêu như cán bộ y tế cung cấp thông tin về các loại nhà tiêu và giá cả, cán bộ phụ nữ cung cấp thông tin về việc vay tiền từ ngân hàng, thợ xây cung cấp thông tin về nguyên vật liệu cần phải

có để xây nhà tiêu v.v… được coi là những người cung cấp dịch vụ cung cấp thông tin

Khách hàng: là hộ gia đình mua nguyên vật liệu và các dịch vụ để xây nhà tiêu và bảo quản nhà

Cửa hàng bán lẻ

Khách hàng

DV hút

bể phốt

DV cung cấp thông tin

DC vận chuyển

Thợ xây

DC tín dụng

Trang 25

1.4 CÁC PHÂN KHÚC THỊ TRƯỜNG VỆ SINH TẠI VIỆT NAM

Thị trường vệ sinh ở Việt Nam là không đồng nhất Trong báo cáo này, thị trường vệ sinh được phân thành 8 phân khúc thị trường.Việc phân khúc thị trường được dựa trên yếu tố địa lý là chủ yếu vì: (i) trong một vùng địa lý, các yếu tố khác như địa hình, nhân khẩu, văn hóa, xã hội là những yếu tố tác động đến việc lựa chọn loại nhà tiêu và vì thế, có thể ảnh hưởng đến cơ cấu của mạng lưới cung cấp là tương tự như nhau (ii) Chuỗi cung cấp vệ sinh cũng thường giống nhau trong một vùng địa lý Mặt khác, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, thị trường vệ sinh chủ yếu dựa vào các nhà bán lẻ Các nhà bán lẻ này cung cấp sản phẩm và dịch vụ trực tiếp cho khách hàng, chỉ trong một phạm vi hẹp

Những yếu tố địa hình, nhân khẩu, văn hóa, xã hội tác động đến việc lựa chọn nhà tiêu bao gồm:

- Thu nhập của hộ gia đình: Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, thu nhập của các hộ gia đình là một

trong những cản trở chính làm cho các hộ gia đình chưa có nhà tiêu

- Mật độ dân số: Những nơi có mật độ dân cố cao thường có tỉ lệ tiếp cận vệ sinh cao hơn so với

những nơi có mật độ dân số thấp là nơi có điều kiện, cơ hội cho việc đi vệ sinh ngoài trời Ở những nơi có mật độ dân số cao, các hộ dân thường xây nhà tiêu hoặc mong muốn xây nhà tiêu

để có được sự kín đáo khi đi vệ sinh (SNV, Nghiêm, 2012)

- Địa hình: Địa hình có ảnh hưởng nhiều đến nhiều yếu tố khác bao gồm cả việc lựa chọn loại nhà

tiêu như: ảnh hưởng đến giá vận chuyển nguyên vật liệu và giá thành của nhà tiêu

- Mức độ sẵn có của nước dội nhà tiêu: ở vùng thiếu nước thì loại nhà tiêu thích hợp nhất là các

loại nhà tiêu khô

- Trình độ văn hóa: Các nghiên cứu thị trường vệ sinh đã chỉ ra rằng, có một mối liên hệ khá chặt

chẽ giữa trình độ học vấn với việc có nhà tiêu Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu cao nhất ở nhóm đối tượng có trình độ học vấn từ THCN trở lên và thấp nhất ở nhóm không biết chữ (UNICEF, WSRC, 2011)

- Tỉ lệ hộ dân tộc thiểu số: Nghiên cứu thị trường vệ sinh cũng chỉ ra rằng, ở những nơi có tỉ lệ hộ

người dân tộc thiểu số cao thường có tỉ lệ tiếp cận vệ sinh thấp (UNICEF, WSRC, 2011)

- Thói quen sử dụng nhà tiêu khô: Sự chấp nhận các loại nhà tiêu khô là khác nhau giữa các vùng

ở Việt Nam Nhìn chung, loại nhà tiêu khô thường được chấp nhận ở miền Bắc Việt Nam, nơi mà Chính phủ đã phát động phong trào sử dụng nhà tiêu hai ngăn và sử dụng phân bắc trong những năm 60 của thế kỷ trước 8

Trong khi đó, nhà tiêu khô thường không được chấp nhận ở phía Nam, nơi không có chương trình như trên

Bảng 4 cung cấp các đặc tính của từng phân khúc thị trường Bản đồ 1 thể hiện các phân khúc thị trường

ở Việt Nam (Danh sách các xã thuộc các phân khúc thị trường xem phụ lục 5)

8 Nguyễn Huy Nga & Vũ Thế Long Nhà tiêu ở Việt Nam, trong quá khứ, hiện tại và tương lai

Trang 26

Bảng4 Đặc tính của các phân khúc thị trường

Bắc 1

Vùng núi &

trung du phía Bắc 1

Đồng bằng Bắc bộ

Vùng núi cao phía Nam 1

Vùng núi &

trung du phía Nam 1

Đồng bằng Nam bộ

Vùng sát ven biển2

Đồng bằng sông Cửu Long

Mật độ dân số

(người /km2) 9

<150 150- 350 500 – 1,500 <150 150-250 100- 250 1,000 – 5,500 >500 Địa hình 10

Núi cao Vùng đồi &

Miền Nam Miền Bắc

Trung, Nam

Miền Nam Thu nhập bình quân

Cao:

Hâu hết các hộ nông nghiệp

sử dụng phân bắc

Cao- Trung bình:

Hầu hết các hộ gia đình có nhà tiêu khô

GSO, 2010 Tổng điêu tra dân số và nhà ở năm 2009

13 GSO, 2010 Tổng điêu tra dân số và nhà ở năm 2009

Trang 27

Bản đồ 1 Tám phân khúc thị trường vệ sinh tại Việt Nam

Trang 28

1.5 CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ VỆ SINH CỦA WSP

Chương trình Nước & Vệ sinh thuộc Ngân hàng thế giới hiện đang trong quá trình phát triển một chương trình mới cho việc nhân rộng vệ sinh nông thôn thông qua việc hỗ trợ kỹ thuật cho Chính phủ nhằm đạt được mục tiêu về Vệ sinh và làm cho những người nghèo vùng nông thôn có thể tiếp cận được với vệ sinh

Chương trình của WSP hỗ trợ cho vệ sinh nông thôn ở Việt Nam sẽ tập trung vào 4 phần: (i)Cải thiện môi trường và tăng cường năng lực cho hệ thống thực hiện hợp phần Vệ sinh thuộc chương trình MTQG Nước sạch & VSMTNT giai đoạn 3 (ii)Phát triển các hướng tiếp cận tạo nhu cầu về vệ sinh và phát triển chuỗi cung cấp sản phẩm và dịch vụ vệ sinh cho người nghèo sao cho các hướng tiếp cận này có thể nhân rộng được (iii)Tăng cường công tác thu thập, chia sẻ và giới thiệu các bài học kinh nghiệm thu được từ thực tế trong lĩnh vực vệ sinh trong quá trình thực hiện chương trình MTQG Nước sạch & VSMTNT giai đoạn III và các chương trình vệ sinh sau này

Để phát triển chiến lược phát triển chuỗi cung cấp vệ sinh cho Việt Nam và đáp ứng được nhu cầu của chương trình RWSS- NTP3, cần thiết phải hiểu một cách sâu sắc và toàn diện về chuỗi cung cấp vệ sinh

ở các vùng nông thôn, đặc biệt là ở các vùng nghèo có tỉ lệ tiếp cận vệ sinh thấp Công việc này góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ trên bằng việc nghiên cứu tài liệu và cung cấp một báo cáo tổng quát về những điểm đã biết về chuỗi cung cấp vệ sinh ở vùng nông thôn Việt Nam

2 MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này như là một phần trong nhiều bước của chương trình nhằm cung cấp thông tin cơ sở cho việc phát triển một chiến lược có hiệu quả cho chuỗi cung cấp vệ sinh ở vùng nông thôn Việt Nam Mục đích của nghiên cứu là xem xét, tổng hợp các nghiên cứu đã có sẵn về chuỗi cung cấp vệ sinh nhằm phát triển một báo cáo tổng quát về những điểm đã biết và những thông tin còn thiếu Nghiên cứu sẽ tập trung vào những vùng có tỉ lệ hộ nghèo cao và có tỉ lệ tiếp cận vệ sinh thấp

Để đảm bảo kết quả của nghiên cứu có thể sử dụng được cho việc phát triển kế hoạch chiến lược phát triển chuỗi cung cấp vệ sinh, nghiên cứu đã tập trung vào việc tổng hợp những thông tin có liên quan đến các vấn đề sau:

i Hiện trạng của chuỗi cung cấp vệ sinh ở những vùng nghèo, có tỉ lệ tiếp cận vệ sinh thấp ở Việt Nam, cụ thể hơn ở các vấn đề sau:

 Các “vai” hiện có trong chuỗi cung cấp vệ sinh, vai trò của các “vai” và các mối quan hệ kinh doanh giữa các “vai”

 Loại sản phẩm (nhà tiêu) mà người dân chấp nhận và có nhu cầu “mua”

 Tình hình kinh doanh của từng “vai” trong chuỗi cung cấp

 Những cản trở/cơ hội chính cho mỗi “vai” đối với việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ vệ

sinh

ii Xác định các “vai” trong chuỗi cung cấp có tiềm năng tham gia vào các chương trình cải thiện vệ sinh sau này

Trang 29

iii Khuyến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo

iv Xác định các mô hình kinh doanh vệ sinh hiện có ở Việt Nam

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tư vấn đã thực hiện một cuộc nghiên cứu toàn diện các báo cáo, tài liệu có sẵn, có liên quan đến chuỗi cung cấp vệ sinh ở vùng nông thôn Việt Nam Những tài liệu, báo cáo này có từ năm 2004 trở lại đây Tổng số 12 báo cáo nghiên cứu có liên quan đến thị trường vệ sinh đã được nghiên cứu một cách kỹ càng Ngoài ra, các số liệu còn được trích dẫn từ các báo cáo, tài liệu khác có liên quan đến vệ sinh Danh mục các báo cáo và tài liệu đã nghiên cứu xem trong phụ lục 6

Bản đồ 6 dưới đây cung cấp một các tổng quát những nơi đã có những nghiên cứu về mạng lưới cung cấp

Bản đồ 2 Những nơi đã có những nghiên cứu về mạng lưới cung cấp Vệ sinh

Các báo cáo và các tài liệu có liên quan đến chuỗi cung cấp vệ sinh đã được nghiên cứu một cách có hệ thống nhằm tổng hợp các phát hiện chung và xác định các xu hướng chung cho từng vùng địa lý Trong

Trang 30

một số trường hợp cần thiết, các cuộc phỏng vấn với các đại diện của các cơ quan và tổ chức có liên quan

đã được thực hiện để làm sáng tỏ hơn hoặc mở rộng hơn các phát hiện của các nghiên cứu

2.3 CẤU TRÚC CỦA BÁO CÁO

Trong các phần tiếp theo, chương 3 của báo cáo sẽ trình bày các phát hiện chính từ các báo cáo tài liệu đã nghiên cứu bao gồm; (i) Phát hiện chung cho tất cả các phân khúc thị trường 1,2,4,7 và 8 và (ii) các phát hiện cho riêng từng phân khúc thị trường 1,2,4,7 và 8 Không có các nghiên cứu nào cho phân khúc thị trường 3,5 và 6 Ở phần báo cáo chung và ở mỗi phân khúc thị trường, các thông tin từ các báo cáo sẽ được phân tích và tổng hợp theo các chủ đề : nhu cầu của khách hàng, tình hình của các “vai” trong chuỗi cung cấp và mỗi quan hệ kinh doanh giữa các “vai” Dựa trên các phân tích và tổng hợp này, các cản trở,

cơ hội đối với sự phát triển thị trường vệ sinh và những thông tin còn thiếu đã được xác định Chương 4 của báo cáo sẽ đưa ra các khuyến nghị cho các nghiên cứu thị trường tiếp theo Thông tin về các mô hình kinh doanh vệ sinh và các bài học kinh nghiệm được rút ra từ các hoạt động của các mô hình sẽ được trình bày riêng, ở chương 5 của báo cáo

3 CÁC PHÁT HIỆN TỪ NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU

3.1 PHÁT HIỆN CHUNG CHO TẤT CẢ CÁC VÙNG

Các phát hiện được trình bày trong phần này là những phát hiện chung dành cho tất cả phân khúc thị trường 1,2,4,7 & 8

3.1.1 Nhu cầu của khách hàng

Nhu cầu đối với nhà tiêu:

Các báo cáo cho thấy nhu cầu về việc xây nhà tiêu hợp vệ sinh còn rất thấp ở các phân khúc thị trường 1, 4 và tương đối thấp ở phân khúc thị trường 2 Các nguyên nhân chính được chỉ ra là: (i)Nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việc có nhà tiêu hợp vệ sinh còn hạn chế, thu nhập của người dân còn thấp dẫn đến việc chưa ưu tiên cho việc đầu tư xây dựng nhà tiêu.(ii) Hiểu biết của người dân về các loại nhà tiêu hợp vệ sinh với giá thành thấp còn hạn chế dẫn đến người dân chưa biết xây loại nhà tiêu nào, hoặc chờ đủ tiền để xây loại nhà tiêu kiên cố luôn một thể.(SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu,2010; UNICEF, VIHEMA, WSRC, 2011; IDE, 2006)

Ở các phân khúc 7 & 8 nhu cầu xây dựng nhà tiêu có cao hơn các phân khúc thị trường trên và

đã tăng hơn trong những năm gần đây Tuy nhiên, vẫn có những rào cản khiến cho nhu cầu xây nhà tiêu còn tăng chậm đó là: (i) người dân có tâm lý chờ đủ tiền để xây nhà tiêu tự hoại hoặc thấm dội kèm theo nhà tắm luôn một thể (ii) người dân còn hiểu nhầm về giá của nhà tiêu, thường ước tính giá của nhà tiêu cao hơn so với thực tế, dẫn đến việc chờ đủ tiền để xây nhà tiêu (iii) ở một số vùng bị ngập lụt (phân khúc thi trường 8) và một số vùng có mật độ dân số cao như

ở các khu đô thị (phân khúc thị trường 7), chỉ có thể xây được loại nhà tiêu tự hoại, là loại có giá thành cao, trong khi thu nhập của người dân còn thấp dẫn đến việc họ phải chờ đủ tiền để xây nhà tiêu (SNV, Nghiêm & nhóm nghiên cứu, 2012; IDE, 2010; UNICEF, trường đại học An Giang, 2011)

Trang 31

Tuy nhiên các báo cáo cũng chỉ ra rằng, nhu cầu tiềm năng về nhà tiêu ở tất cả 5 phân khúc thị trường vẫn còn rất lớn

Nhu cầu đối với việc cung cấp nguyên vật liệu và dịch vụ

Các báo cáo cũng chỉ ra rằng, có mối quan hệ giữa nhu cầu về việc cung cấp nguyên vật liệu và dịch vụ với loại nhà tiêu mà người dân hiện đang sử dụng Ở phân khúc thị trường 1, 4, đại đa số người dân sử dụng loại nhà tiêu chìm, hoặc nhà tiêu chìm có ống thông hơi, là loại nhà tiêu mà người dân có thể tự làm bằng nguyên vật liệu sẵn có Nhu cầu hiện tại về việc mua nguyên vật liệu và dịch vụ xây dựng ở đây là rất thấp (UNICEF, VIHEMA, WSRC, 2011) Ở phân khúc thị trường 2, ở những nơi hộ gia đình sử dụng loại nhà tiêu hai ngăn đơn giản, hộ gia đình có thể tự xây nhà tiêu, nhu cầu về dịch vụ xây dựng nhà tiêu hiện tại là thấp (IDE, 2006; SNV, Nghiêm & nhóm nghiên cứu, 2012) Ở các phân khúc thị trường 7 & 8, người dân thường chỉ xây loại nhà tiêu kiên cố như nhà tiêu 2 ngăn, tự hoại, thấm dội nên nhu cầu về nguyên vật liệu và dịch vụ xây dựng hiện tại cao hơn so với các phân khúc thị trường 1,2,4 (SNV, Nghiêm & nhóm nghiên cứu, 2012; IDE, 2010; UNICEF, trường đại học An Giang, 2011) Tuy nhiên, theo các báo cáo, cùng với sự phát triển của kinh tế và sự chuyển hướng từ việc sử dụng các loại nhà tiêu kiên cố hơn, nhu cầu tiềm năng về nguyên vật liệu và dịch vụ xây dựng nhà tiêu vẫn còn lớn ở tất cả các phân khúc thị trường (SNV, Nghiêm & nhóm nghiên cứu, 2012)

Bên cạnh đó, các báo cáo cũng chỉ rõ: người dân khi xây nhà tiêu thường mua nguyên vật liệu tại các cửa hàng bán lẻ ngay tại địa phương hoặc ở gần địa phương mà it khi mua tại các đại lý bán buôn vì họ cần phải mua nhiều loại nguyên vật liệu với số lượng nhỏ Chỉ khi làm nhà tiêu kèm với việc xây dựng công trình lớn như xây nhà thì họ mới thường tìm đến câc đại lý để mua nguyên vật liệu để được giá rẻ hơn Tương tự như vậy đối với các dịch vụ: người dân thường thuê thợ xây ở ngay tại địa phương là người mà họ quen biết để có được sự bảo hành và sự tin cậy về mặt chất lượng (SNV, Nghiêm & nhóm nghiên cứu, 2012)

3.1.2 Các nhà cung cấp nguyên vật liệu và dịch vụ vệ sinh

Các báo cáo sẵn có không đề cập hoặc đề cập rất ít đến các “vai” không bán trực tiếp nguyên vật liệu cho người dân như: các nhà máy, nhà phân phối, đại lý bán sỉ Vì vậy phần trình bày tiếp theo chỉ đề cập đến các ‘vai’ cung cấp trực tiếp nguyên vật liệu và dịch vụ cho các khách hàng xây nhà tiêu bao gồm: cửa hàng bán lẻ, dịch vụ vận chuyển, thợ xây, dịch vụ tín dụng, dịch vụ hút bể phốt

Sự sẵn có của các nhà cung cấp

Cửa hàng bán lẻ và dịch vụ vận chuyển: Theo các báo cáo nghiên cứu, tại các xã vùng núi cao, vùng sâu, hẻo lánh của phân khúc thị trường 1 và 4, vẫn chưa có cửa hàng bán lẻ ngay tại xã Ở các địa bàn này, các chủ phương tiện vận chuyển là những người vừa đóng vai trò là người cung cấp vận chuyển, vừa đóng vai trò là người bán hàng: mua nguyên vật liệu từ các đại lý, cửa hàng

ở nơi khác về bán lại cho người dân (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu,2010; UNICEF, VIHEMA,

Trang 32

WSRC, 2011) Tại các xã khác của phân khúc thị trường 1 và phân khúc thị trường 2, việc cung cấp đã tương đối phát triển Đã có một vài cửa hàng tại xã cung cấp các loại nguyên vật liệu xây dựng chủ yếu như xi măng, sắt thép, tấm lợp cho người dân (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu,2010; SNV, Nghiêm & nhóm nghiên cứu, 2012) Ở các xã thuộc phân khúc thị trường 7 & 8, thị trường đã khá phát triển, người dân đã có thể dễ dàng mua toàn bộ nguyên vật liệu xây dựng nhà tiêu ở các cửa hàng ngay tại địa phương, hoặc ở các xã liền kề Ở các phân khúc thị trường này, các cửa hàng bán lẻ thường kiêm luôn việc vận chuyển nguyên vật liệu đến tận nhà cho khách hàng (SNV, Nghiêm & nhóm nghiên cứu, 2012; IDE, 2010; UNICEF, trường đại học An Giang, 2011)

Thợ xây: Tại các xã ở vùng núi cao, vùng sâu, hẻo lánh của phân khúc thị trường 1 & 4 vẫn chưa có thợ xây biết xây nhà tiêu Tuy nhiên vẫn có một số người có thể xây được các công trình xây dựng đơn giản như: làm sân, làm chuồng gia súc (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu,2010; UNICEF, VIHEMA, WSRC, 2011) Ở những nơi khác, đã có rất nhiều thợ xây ở xã (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu 2010; UNICEF, VIHEMA, WSRC, 2011; SNV, Nghiêm& nhóm nghiên cứu 2012) Dịch vụ tín dụng: Chương trình tín dụng của Chính phủ đã được triển khai trên hầu hết các địa bàn nghiên cứu của cả 5 phân khúc thị trường Bên cạnh nguồn tín dụng chính thức này, các nguồn tín dụng phi chính thức dưới hình thức cho nợ tiền khi mua nguyên vật liệu hoặc dịch vụ xuất hiện ở khắp tất cả 5 phân khúc thị trường và ở giao dịch giữa hầu hết các “Vai” Cửa hàng bán lẻ thường hay cho khách hàng nợ tiền khi mua nguyên vật liệu, mặt khác họ cũng có thể mua chịu nguyên vật liệu từ các đại lý bán buôn.

Dịch vụ hút bể phốt: Theo các báo cáo, ở tất cả các phân khúc thị trường đều chưa có sự hiện diện của nhà cung cấp dịch vụ hút bể phốt

Dịch vụ cung cấp thông tin:

Một số nghiên cứu cho thấy khách hàng nhận nhiều loại thông tin có liên quan đến vệ sinh (ví

dụ thông tin về loại nhà tiêu, về nhà cung cấp, về tín dụng v.v ) từ nhiều nguồn thông tin khác nhau Việc nhận thông tin về vệ sinh của các khách hàng là tương tự như nhau trên toàn bộ 5 phân khúc thị trường Bảng dưới đây trình bày các loại thông tin về vệ sinh mà các khách hàng nhận được và các nguồn cung cấp thông tin cho họ (SNV, Nghiêm& nhóm nghiên cứu 2012a&b; IDE, 2010; IDE, 2006)

Bảng5 : Các nguồn cung cấp thông tin về nhà tiêu và các thông tin có liên quan đến việc xây dựng nhà tiêu

Thông tin về loại nhà tiêu, giá nhà tiêu,

số lượng nguyên vật liệu xây nhà tiêu

Trang 33

Loại thông tin Nguồn cung cấp thông tin

Thông tin về nhà cung cấp nguyên vật

liệu

 Thợ xây

 Chủ cửa hàng bán nguyên vật liệu

 Hàng xóm, bạn bè, họ hàng

 Hộ gia đình đã xây nhà tiêu

Thông tin về thợ xây  Hộ gia đình đã xây nhà tiêu

 Hàng xóm, bạn bè, họ hàng đã thuê thợ xây

Thông tin về dịch vụ vận chuyển  Chủ cửa hàng bán nguyên vật liệu

 Hàng xóm, bạn bè

 Chủ phương tiện vận chuyển

Thông tin về dịch vụ tín dụng  Hội phụ nữ, nông dân, đoàn thanh niên

ở trung tâm huyện để mua (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu,2010; SNV, Nghiêm & nhóm nghiên cứu 2012; UNICEF, VIHEMA, WSRC, 2011) Ở các phân khúc thị trường 7 & 8, có nhiều cửa hàng và các cửa hàng đã có quy mô lớn hơn, người dân có thể mua đầy đủ nguyên vật liệu để xây nhà tiêu ở ngay tại xã hoặc xã liền kề một cách dễ dàng

Như đã đề cập ở trên, hầu hết các cửa hàng ở các xã nghiên cứu thuộc 5 phân khúc thị trường đều có thể cho khách hàng nợ tiền Điều này đôi khi mang lại rủi ro cho cửa hàng như gặp nợ xấu, làm cho họ thiếu vốn để phát triển kinh doanh.(SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu,2010; SNV, Nghiêm & nhóm nghiên cứu 2012)

Các báo cáo nghiên cứu ở cả 5 phân khúc cũng chỉ ra rằng: lượng nguyên vật liệu bán cho việc xây nhà tiêu chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ so với nguyên vật liệu bán cho việc xây dựng các công trình khác Vì vậy các chủ cửa hàng thường không quan tâm đến thị trường vệ sinh Tuy nhiên khi được hỏi, hầu hết các chủ cửa hàng đều đồng ý tham gia các hoạt động của chương trình như: treo tranh áp phích, trừng bày mẫu nhà tiêu tại cửa hàng (Nghiêm & nhóm nghiên cứu 2012 a & b)

Thợ xây

Hầu hết các thợ xây được phỏng vấn tại 5 phân khúc thị trường đều có kỹ năng xây dựng khá tốt

Họ đều có thể xây được nhà từ cấp 4 trở lên Tuy nhiên, hiểu biết của các thợ xây về các loại nhà tiêu hợp vệ sinh còn hạn chế: họ thường chỉ biết và xây được các loại nhà tiêu mà người dân hiện đang sử dụng trên địa bàn Các thợ xây biết về việc xây nhà tiêu chủ yếu từ việc học từ các thợ

Trang 34

xây khác trong quá trình họ đi làm thuê (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu,2010; SNV, Nghiêm & nhóm nghiên cứu 2012; UNICEF, VIHEMA, WSRC, 2011) Hầu hết các thợ xây được phỏng vấn đều chưa biết cách xây nhà tiêu tự hoại đúng kỹ thuật (SNV, Nghiêm & nhóm nghiên cứu 2012; IDE 2006, IDE 2010) Do chưa hiểu biết về các loại nhà tiêu HVS và do động cơ muốn kiếm thêm tiền từ việc xây dựng, các thợ xây thường tư vấn cho các hộ gia đình xây nhà tiêu to quá mức cần thiết (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu,2010; SNV, Nghiêm & nhóm nghiên cứu 2012, IDE 2010) Các báo cáo nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các thợ xây thường không quan tâm đến khách hàng xây nhà tiêu vì: (i) thu nhập từ việc xây nhà tiêu chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ so với thu nhập từ các công việc xây dựng khác; (ii) việc xây nhà tiêu thường ở những nơi không sạch sẽ, không thuận tiện Các thợ xây thường nhận xây nhà tiêu kèm với việc xây nhà hoặc các công trình xây dựng khác ( SNV, Nghiêm & nhóm nghiên cứu 2012, IDE 2010) Tuy nhiên, khi được hỏi, các thợ xây được phỏng vấn cũng sẵn sàng tham gia các hoạt động như: tập huấn về

kỹ thuật xây nhà tiêu, xây nhà tiêu cho các hộ dân trong thôn khi họ có nhu cầu, bảo hành cho việc xây nhà tiêu ( SNV, Nghiêm & nhóm nghiên cứu 2012, IDE 2010)

Dịch vụ tín dụng:

Chương trình tín dụng cho Nước sạch & vệ sinh của Chính phủ: Nói chung, chương trình tín

dụng cho các hộ dân vay tiền để làm nhà tiêu đã góp phần tích cực vào việc tăng tỉ lệ tiếp cận vệ sinh ở các địa bàn nghiên cứu Tuy nhiên ở một số xã vùng sâu hẻo lánh của phân khúc thị trường 1, ngân hàng gặp khó khăn trong vấn đề giải ngân vì nhu cầu vay vốn của người dân thấp

do các hộ dân cho rằng lãi xuất vay của chương trình vẫn còn cao so với khả năng trả nợ của họ (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu,2010) Ở các địa bàn khác, nguồn cung lại rất hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu vay vốn của người dân. (SNV, Nghiêm & nhóm nghiên cứu 2012 a& b; OHK, 2005, 2007; McGrath & cả nhóm, 2009) Một điểm đáng lưu ý là việc cho vay tiền làm nhà tiêu không

đi đôi với việc tuyên truyền cung cấp thông tin về các loại nhà tiêu dẫn đến một số trường hợp hộ dân vay tiền làm nhà tiêu nhưng nhà tiêu của họ lại không đảm bảo các tiêu chuẩn của một nhà tiêu hợp vệ sinh (SNV, Nghiêm & nhóm nghiên cứu 2012a)

Tín dụng phí chính thức: như đã đề cập ở trên, tín dụng phi chính thức xuất hiện ở tất cả các địa

bàn và ở tất cả các “vai” Các hộ dân, khi mua nguyên vật liệu từ các cửa hàng thường có thể được nợ tiền từ cửa hàng hoặc thợ xây Tuy nhiên việc nợ tiền của khách hàng đôi khi làm cho các cửa hàng gặp khó khăn, thiếu tiền để có thể phát triển kinh doanh (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu,2010)

Dịch vụ cung cấp thông tin: như đã đề cập ở trên, người dân nhận thông tin về nhà tiêu và các thông tin

có liên quan đến việc xây dựng nhà tiêu từ nhiều nguồn thông tin khác nhau Các thông tin quan trọng như: loại nhà tiêu, giá cả của nhà tiêu được cung cấp bởi các thợ xây và các hộ gia đình đã xây nhà tiêu Tuy nhiên, các nguồn thông tin này lại thường cung cấp thông tin không chính xác Thợ xây, do thiếu hiểu biết hoặc do động cơ kiếm thêm tiền, thường tư vấn cho hộ gia đình loại nhà tiêu lớn hơn so với mức cần thiết Các hộ gia đình đã xây nhà tiêu, do thường xây nhà tiêu kèm với các công trình khác nên không biết chính xác giá của nhà tiêu, thường đưa ra giá của nhà tiêu cao hơn so với thực tế (SNV, Nghiêm & nhóm nghiên cứu 2012a; IDE, 2010)

Trang 35

Các cán bộ Y tế cấp xã và cấp thôn là những người được phân công cung cấp thông tin về các vấn đề về

vệ sinh và sức khỏe có liên quan đến vệ sinh cho các hộ dân Tuy nhiên, theo các báo cáo đánh giá ở cả 5 phân khúc thị trường, việc truyền đạt thông tin của các cán bộ Y tế còn thiếu hiệu quả do những nguyên nhân sau: (i) mức độ hiểu biết về nhà tiêu của các cán bộ thôn và xã còn hạn chế; (ii) kỹ năng truyền thông của các cán bộ y tế thôn còn yếu, và (iii) các công cụ truyền thông như tờ rơi, tranh lật còn thiếu(SNV, Nghiêm & nhóm nghiên cứu 2012a; IDE, 2010)

3.1.3 Cơ hội và cản trở đối với sự phât triển của thị trường vệ sinh

Bảng dưới đây tóm tắt các cơ hội và cản trở đối với sự phát triển của thị trường vệ sinh chung cho toàn bộ

5 phân khúc thị trường

Bảng 6 : Cơ hội và cản trở đối với sự phát triển của thị trường vệ sinh theo từng “vai”: chung cho toàn bộ 5 phân khúc thị trường

Khách hàng  Nhu cầu tiềm năng đối với cung cấp

nguyên vật liệu và dịch vụ cho việc xây nhà tiêu còn lớn

 Ưu tiên đầu tư vào vệ sinh còn thấp

 Chờ đủ tiền để xây nhà tiêu kiên cố luôn một thể

và trưng bày mẫu nhà tiêu tại cửa hàng

 Ít quan tâm đến khách hàng xây nhà tiêu vì lượng nguyên vật liệu xây nhà tiêu chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ so với lượng nguyên vật liệu cho việc XD các công trình khác

Thợ xây  Có thể cho khách hàng nợ tiền

 Sẵn sàng tham gia các hoạt động của chương trình: huấn luyện, xây nhà tiêu, cung cấp bảo hành

 Thợ xây còn thiếu hiểu biết về các loại nhà tiêu hợp vệ sinh và cách xây nhà tiêu một cách đúng đắn

 Tư vấn cho các hộ dân loại nhà tiêu lớn hơn so với mức cần thiết

 Ít quan tâm đến khách hàng xây nhà tiêu

Dịch vụ tín dụng  Chương trình tín dụng cho cấp nước

và vệ sinh của Chính phủ đã được thực hiện ở hầu khắp các địa bàn

 Tín dụng phi chính thức dưới hình thức cho nợ tiền khi mua nguyên vật liệu hiện diện ở tất cả các giao dịch giữa các “vai”

 Nguồn cung của chương trình tín dụng của chính phủ còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu

 Việc cung cấp tín dụng chưa đi đôi với việc tuyên truyền hướng dẫn xây nhà tiêu hợp vệ sinh

Trang 36

Vai Cơ hội Cản trở

thông tin có liên quan đến việc xây nhà tiêu

 Có hệ thống cán bộ y tế đến tận cấp thôn

hộ dân

 Kiến thức về vệ sinh và kỹ năng truyền thông của các cán bộ y tế thôn và xã vẫn còn hạn chế

 Công cụ truyền thông dành cho cán bộ thôn vẫn còn thiếu

3.2 PHÂN KHÚC THỊ TRƯỜNG 1: VÙNG NÚI CAO PHÍA BẮC

Thông tin trong phần báo cáo này được trích chủ yếu từ báo cáo của SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu (2010) Nghiên cứu được thực hiện ở những xã ở vùng miền núi cao phía Bắc bao gồm: huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên; xã Mường Than tỉnh Lai Châu và xã Na Hồi tỉnh Lào Cai Thông tin về vùng này trong các báo cáo khác rất hạn chế, chỉ để củng cố và bổ sung thêm cho các phát hiện từ báo cáo này Vì vậy, các phát hiện trong phần báo cáo này chỉ đại diện cho một phần nhỏ của phân khúc thị trường 1

3.2.1 Các “vai’ chính trong chuỗi cung cấp

Sơ đồ 1 dưới đây cung cấp tổng quan về các “vai’ trong chuỗi cung cấp vệ sinh của vùng núi cao phía Bắc (phân khúc thị trường 1) Sơ đồ 1 cũng thể hiện các mối quan hệ giữa các “vai” Trong các báo cáo nghiên cứu chuỗi cung cấp, chỉ có thông tin về các “vai” bao gồm: các khách hàng (là các hộ gia đình), thợ xây, cửa hàng di dộng, nhà cung cấp dịch vụ vận chuyển, cửa hàng bán lẻ, cơ sở sản xuất địa phương, nhà cung cấp dịch vụ tín dụng Có rất ít thông tin hoặc không có thông tin về các “vai” khác bao gồm: nhà phân phối/đại lý cấp II, III,IV, đại lý bán sỉ (đại lý cấp I) và dịch vụ cung cấp thông tin của bộ phận hành chính công

Trang 37

Sơ đồ 2 Chuỗi cung cấp vệ sinh ở vùng núi cao phía Bắc (phân khúc thị trường 1)

3.2.2 Nhu cầu của khách hàng đối với nhà tiêu

Theo các báo cáo nghiên cứu chuỗi cung cấp vệ sinh ở phân khúc thị trường 1, nhu cầu hiện tại về nguyên

vật liệu và dịch vụ xây dựng nhà tiêu ở phân khúc thị trường này là thấp, nhưng có thể có nhu cầu tiềm

năng trong tương lai Báo cáo của SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu (2010) cho thấy, đại đa số các hộ gia

đình ở một số xã nghiên cứu ở Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai có loại nhà tiêu chìm đơn giản, không hợp

vệ sinh Tương tự như vậy, các phát hiện từ nghiên cứu của VIHEMA, WSRC ở 4 xã thuộc 4 huyện của

tỉnh Điện Biên cũng cho thấy chỉ có 8% hộ gia đình có loại nhà tiêu cần mua nguyên vật liệu và cần thuê

thợ xây để xây (xem biểu đồ 7) (VIHEMA,WSRC, 2011) Theo báo cáo của SNV, Hoàng & nhóm nghiên

HGĐ không mua NV, không thuê thợ xây

(SD loại nhà tiêu đơn giản: chìm, chìm có ống thông hơi)

Dịch vụ cung cấp thông tin & GD sức khỏe

(ở xã)

Dịch vụ cung cấp tín dụng

HGĐ mua NVL & thuê thợ xây

(Sử dụng loại nhà tiêu xây kiên cố: 2 ngăn, Tự

hoại, Thấm dội nước

CS SX Địa phương

(Ở gần các nguồn nguyên liệu: cát, sỏi, gạch xi măng)

CH di dộng

(Ở xã, TT huyện)

CH di dộng

Trang 38

cứu, ở huyện Mường Ảng, Điện Biên chỉ có 51% hộ gia đình có nhà tiêu, 37% hộ gia đình có nhà tiêu tự hoại Tuy nhiên, báo cáo cũng gợi ý rằng cũng có tiềm năng lớn về nhu cầu ở đây

Biểu đồ 5 Loại nhà tiêu mà các hộ gia đình đang có, nghiên cứu của VIHEMA,WSRC tại Điện Biên năm 2011

Trong phân khúc thị trường này, người dân còn chưa quen với các loại nhà tiêu hợp vệ sinh dẫn đến hạn chế về nhu cầu đối với các loại nhà tiêu này Theo nghiên cứu của VIHEMA,WSRC, 39.4% hộ gia đình

ở các xã nghiên cứu ở Điện Biên chưa biết đến bất kỳ một loại nhà tiêu hợp vệ sinh nào (2011) Báo cáo của SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu cho thấy hiểu hiết về các loại nhà tiêu của người dân còn thấp (2010) Ở Điện Biên, loại nhà tiêu mà đại đa số người dân biết là nhà tiêu tự hoại xây bằng gạch (43.3%), chìm có ống thông hơi (21.3%) và nhà tiêu hai ngăn (14.9%) (VIHEMA,WSRC, 2011)

Ưu tiên đâu tư cho việc xây nhà tiêu cũng rất thấp ở phân khúc thị trường này (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu, 2010)

3.2.3 Hiện trạng của các “vai” trong chuỗi cung cấp

Phần báo cáo này xem xét các phát hiện có liên quan đến hiện trạng của các “vai” chính của chuỗi cung cấp trong phân khúc thị trường 1 Các “vai” được đề cập tới bao gồm: các cửa hàng bán lẻ, các cửa hàng di động, các cơ sở sản xuất địa phương, các thợ xây, các nhà cung cấp dịch vụ tín dụng Trong các tài liệu nghiên cứu chuỗi cung cấp có sẵn không có thông tin về các “vai” bao gồm: các nhà máy, đại lý bán sỉ, và nhà phân phối/đại lý

Các cửa hàng bán lẻ

Theo các báo cáo nghiên cứu, đã có những cửa hàng bán lẻ ở thành phố, thị trấn và ở các xã đã phát triển (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu, 2010) Có rất ít cửa hàng được thấy ở những xã có tỉ lệ nghèo cao, ở vùng sâu, hẻo lánh, vận chuyển khó khăn (VIHEMA,WSRC, 2011) Ở phân khúc này, những chủ phương tiện vận chuyển cũng đóng vai như một “cửa hàng di dộng”: nhận đơn đặt hàng từ khách hàng thông qua điện thoại hoặc trực tiếp, mua và bán lại mặt hàng theo đơn đặt hàng Tuy nhiên do cước phí vận chuyển cao, các chủ phương tiện thường chỉ nhận các đơn đặt hàng lớn và ít khi cung cấp nguyên vật liệu cho việc xây nhà tiêu (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu, 2010)

Trang 39

Sản phẩm: Các cửa hàng bán lẻ bán đủ các loại mặt hàng, nguyên vật liệu cho việc xây nhà tiêu bao

gồm: xi măng, sắt thép, gạch, ống nhựa, bệ xí và các phụ kiện vệ sinh Tuy nhiên, nhu cầu về các loại nguyên vật liệu xây nhà tiêu chỉ chiếm ít hơn 5% so với tổng nhu cầu về nguyên vật liệu xây dựng (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu, 2010) Các chủ cửa hàng còn tư vấn cho khách hàng về việc lựa chọn nguyên vật liệu và sản phẩm và cho khách hàng được nợ tiền khi mua hàng (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu, 2010) Các cửa hàng cũng cung cấp bảo hành cho khách hàng theo chế độ bảo hành của nhà máy Tuy nhiên, không có chủ cửa hàng được phỏng vấn nào nói rằng họ gặp phải sự phàn nàn của khách hàng về sản phẩm (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu, 2010)

Cung cấp đầu vào: Báo cáo của SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu, 2010 cho thấy, các cửa hàng bán lẻ

mua nguyên vật liệu từ các đại lý và các chủ phương tiện vận chuyển ở thành phố, thị xã và thị trấn Các chủ cửa hàng bán lẻ ở Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai ước tính: 30% - 50% mặt hàng của họ được mua từ các chủ xe tải Một số cửa hàng mua nguyên vật liệu từ các đại lý ở Hà Nội hoặc ở các tỉnh khác

Tiếp cận thị trường: SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu đã phát hiện rằng, ở vùng này, chỉ có rất ít hộ

gia đình mua nguyên vật xây nhà tiêu (2010) Khi họ muốn mua nguyên vật liệu, họ sẽ mua nguyên vật liệu tại các cửa hàng bán lẻ ở thị trấn hoặc thị tứ Theo các chủ cửa hàng, hàng bán chạy nhất là ở những tháng mùa khô và kém nhất là ở những tháng mùa mưa (từ tháng 7- 9) Lợi nhuận mà cửa hàng thu được vào khoảng 10-20% của doanh số bán ra Theo SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu, 70% chủ cửa hàng bán

lẻ cảm thấy rằng, sự cạnh tranh ngày càng tăng vì ngày càng có nhiều cửa hàng mới tham gia vào thị trường, trong khi quy mô của thị trường lại không thay đổi (2010) Sự cạnh tranh này cũng đảm bảo cho việc phục vụ khách hàng có chất lượng tốt

Kỹ năng quản lý và kinh doanh: Mặc dù có môi trường cạnh tranh, VIHEMA,WSRC đã phát hiện rằng,

các chủ cửa hàng không có các hoạt động tiếp thị nào, mà chỉ đợi khách hàng đến với họ (VIHEMA, WSRC, 2011) Trong nhiều trường hợp, các chủ cửa hàng không qua một khóa huấn luyện kinh doanh nào Chỉ có một số chủ cửa hàng nói rằng họ đã được tham gia tập huấn về thuế, kế toán do Chính phủ tài trợ và tổ chức Có nhiều chủ cửa hàng được phỏng vấn tỏ ý mong muốn được tham gia huấn luyện thêm

để nâng cao khả năng cạnh tranh của họ trong thị trường mà sự cạnh tranh đang tăng lên (SN, Hoàng &

nhóm nghiên cứu, 2010)

Năng lực về tài chính: Các cửa hàng thường cho các khách hàng nợ tiền trong khoảng 2-3 tháng Trong

khi đó, các cửa hàng cũng ít khi được mua chịu từ phía các nhà cung cấp Vì vậy, một số cửa hàng gặp nhiều khó khăn về vốn kinh doanh và khó khăn trong việc mở rộng kinh doanh của họ SNV, Hoàng và nhóm nghiên cứu đã phát hiện rằng, một số chủ cửa hàng đã phải vay tiền từ ngân hàng để có được vốn kinh doanh (2010)

Cửa hàng di động/dịch vụ cung cấp vận chuyển

Mức độ sẵn có: Như đã đề cập ở trên, SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu đã phát hiện rằng có rất nhiều

người cung cấp dịch vụ vận chuyển – chủ xe tải ở Điện Biên, Lào Cai, Lai Châu (2010) Ở những xã xa xôi hẻo lánh cũng có thể tìm thấy các chủ xe tải

Sản phẩm: Liên quan đến việc cung cấp sản phẩm dịch vụ cho xây dựng, các chủ xe tải thường đóng 2

“vai’: (i) là người cung cấp dịch vụ vận chuyển (ii) là cửa hàng di dộng (xem phần trên).Phí vận chuyển

phụ thuộc vào khoảng cách và đường đi xấu hay tốt Ví dụ: vận chuyển 5-7 tấn trong khoảng 40km có giá khoảng 2 triệu động (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu, 2010) Như một cửa hàng bán lẻ, các chủ xe tải cũng bán đủ các loại nguyên vật liệu xây dựng theo yêu cầu của khách

Cung cấp đầu vào: Các chủ xe tải mua hàng từ các đại lý, cửa hàng bán lẻ và các cơ sở sản xuất địa

phương như: các cơ sở sản xuất đá dăm, cơ sở hút cát v.v (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu, 2010)

Trang 40

Tiếp cận thị trường: Do các xe tải cung cấp nguyên vật liệu rất nhanh chóng, linh hoạt và với giá cả

cạnh tranh nên có thể thấy các xe tải hoạt động rất tích cực, phục vụ cho hầu hết các “vai” trong chuỗi cung cấp: từ các đại lý bán buôn cho đến các cửa hàng bán lẻ và cho các khách hàng Các khách hàng tìm đến xe tải rất dễ dàng và thuận tiện, chỉ cần gọi điện thoại cho chủ xe tải để đặt hàng là họ đã có có được hàng Tuy nhiên, do phí vận chuyển đi đôi với việc vận chuyển nên các chủ xe tải chỉ nhận các đơn hàng lớn, đủ với tải trọng của họ Việc vận chuyển nguyên vật liệu xây nhà tiêu chỉ là một phần trong việc vận chuyển nguyên vật liệu cho việc xây dựng khác như xây nhà Đối với những việc xây dựng nhỏ như nhà tiêu thì hộ gia đình thường phải tự đi mua nguyên vật liệu tại cửa hàng ở xã hoặc ở thị trấn, thị tứ

Cơ sở sản xuất địa phương

Có rất ít thông tin về các cơ sở sản xuất địa phương trong các báo cáo Theo phát hiện của SNV,Hoàng & nhóm nghiên cứu, các cơ sở sản xuất địa phương là những lò gạch địa phương, cơ sở sản xuất đá dăm và các cơ sở khai thác cát (2010) Các cơ sở sản xuất địa phương cung cấp gạch, đá dăm, cát sỏi cho thị trường xây dựng địa phương Các lò gạch địa phương hiện đang sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu, không thể cạnh tranh được với các nhà máy sản xuất gạch tuynel có chất lượng tốt, thân thiện với môi trường và có giá cả cạnh tranh (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu, 2010) Hiện nay lò gạch địa phương đang đứng trước nguy cơ bị đóng cửa vì họ không có vốn để đầu tư cho công nghệ tiên tiến và hiệu quả hơn

iii Thợ phụ: là thợ còn đang học việc, làm các công việc trợ giúp cho thợ kỹ thuật (2010)

Các thợ cả chủ yếu là người Kinh, các thợ kỹ thuật là người Kinh, Thái, còn thợ phụ là những người dân tộc khác

Mức độ sẵn có: Các thợ cả, thợ kỹ thuật chỉ có ở thị trấn hoặc các xã phụ cận, các xã đã phát triển SNV,

Hoàng & nhóm nghiên cứu đã đánh giá rằng: các thợ này thường không muốn đi đến các xã xa xôi hẻo lánh để làm việc (2010) Tại các xã xa xôi hẻo lánh cũng có thể tìm thấy thợ xây Tuy nhiên các thợ xây này chủ yếu là thợ phụ, chỉ biết xây những công trình đơn giản như chuồng lợn, hay nhà tiêu đơn giản (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu, 2010; VIHEMA,WSRC, 2011)

Sản phẩm: Liên quan đến việc xây dựng nhà tiêu hộ gia đình, các thợ xây được phỏng vấn xây các loại

nhà tiêu tự hoại, bán tự hoại, hai ngăn, thấm dội nước, theo yêu cầu của khách hàng, chủ yếu là những người ở trong thị trấn Các thợ xây cũng xây nhà tiêu tự hoại như là một phần công việc của việc xây nhà Tuy nhiên, thu nhập từ việc xây nhà tiêu chỉ chiếm 5-10% trên tổng số thu nhập của thợ xây

Bên cạnh việc cung cấp dịch vụ xây dựng, các thợ xây còn cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí (tư vấn về loại và số lượng nguyên vật liệu, phụ kiện nhà tiêu v.v ), bảo hành trong 3-6 tháng, và tín dụng (dưới hình thức cho khách hàng nợ tiền) Ở Điện Biên, Lào Cai, Lai Châu, công thợ xây vào khoảng 100,000 VND – 180,000 VND cho thợ cả và thợ kỹ thuật, và khoảng 70,000 VD- 130,000 VND cho thợ phụ (SNV, Hoàng & nhóm nghiên cứu, 2010) Công thợ xây trung bình cho một nhà tiêu tự hoại ở vào

Ngày đăng: 13/06/2015, 14:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 . Quy mô thị trường vệ sinh: Số hộ gia đình chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh năm 2011, trên cả  nước và theo vùng sinh thái - Rural sanitation supply chain review report VN
Bảng 1 Quy mô thị trường vệ sinh: Số hộ gia đình chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh năm 2011, trên cả nước và theo vùng sinh thái (Trang 18)
Bảng 3. Tỉ lệ giữa giá của các loại nhà tiêu so với thu nhập của các nhóm hộ gia đình có thu nhập  thấp năm 2010 - Rural sanitation supply chain review report VN
Bảng 3. Tỉ lệ giữa giá của các loại nhà tiêu so với thu nhập của các nhóm hộ gia đình có thu nhập thấp năm 2010 (Trang 21)
Sơ đồ  5 dưới đây trình bày một chuỗi cung cấp vệ sinh điển hình, thể hiện các “vai” trong chuỗi cung  cấp và mối quan hệ giữa các “vai” - Rural sanitation supply chain review report VN
5 dưới đây trình bày một chuỗi cung cấp vệ sinh điển hình, thể hiện các “vai” trong chuỗi cung cấp và mối quan hệ giữa các “vai” (Trang 24)
Sơ đồ 1 dưới đây cung cấp tổng quan về các “vai’ trong chuỗi cung cấp vệ sinh của vùng núi cao phía  Bắc (phân khúc thị trường 1) - Rural sanitation supply chain review report VN
Sơ đồ 1 dưới đây cung cấp tổng quan về các “vai’ trong chuỗi cung cấp vệ sinh của vùng núi cao phía Bắc (phân khúc thị trường 1) (Trang 36)
Sơ đồ 2. Chuỗi cung cấp vệ sinh ở vùng núi cao phía Bắc (phân khúc thị trường 1) - Rural sanitation supply chain review report VN
Sơ đồ 2. Chuỗi cung cấp vệ sinh ở vùng núi cao phía Bắc (phân khúc thị trường 1) (Trang 37)
Dựa vào các phát hiện từ các nghiên cứu chuỗi cung cấp ở phân khúc thị trường 1, bảng 6 trình bày tóm  tắt các “vai” tiềm năng có thể tham gia vào chương trình vệ sinh - Rural sanitation supply chain review report VN
a vào các phát hiện từ các nghiên cứu chuỗi cung cấp ở phân khúc thị trường 1, bảng 6 trình bày tóm tắt các “vai” tiềm năng có thể tham gia vào chương trình vệ sinh (Trang 43)
Sơ đồ 2 dưới đây cung cấp tổng quan về về các “vai” trong chuỗi cung cấp vệ sinh ở vùng núi &amp; trung du  phía Bắc (phân khúc thị trường 2) - Rural sanitation supply chain review report VN
Sơ đồ 2 dưới đây cung cấp tổng quan về về các “vai” trong chuỗi cung cấp vệ sinh ở vùng núi &amp; trung du phía Bắc (phân khúc thị trường 2) (Trang 45)
Sơ đồ 3. Các “vai” và mối quan hệ giữa các “vai” trong chuỗi cung cấp ở  vùng núi &amp; trung du phía  Bắc (Phân khúc thị trường 2) - Rural sanitation supply chain review report VN
Sơ đồ 3. Các “vai” và mối quan hệ giữa các “vai” trong chuỗi cung cấp ở vùng núi &amp; trung du phía Bắc (Phân khúc thị trường 2) (Trang 46)
Bảng 9. Loại nhà tiêu phổ biến, phân khúc thị trường 2 - Rural sanitation supply chain review report VN
Bảng 9. Loại nhà tiêu phổ biến, phân khúc thị trường 2 (Trang 47)
Trên cơ sở các phát hiện từ các nghiên cứu ở phân khúc thị trường 4, bảng 13 dưới đây trình bày tóm tắt  các “vai” có tiềm năng tham gia chương trình vệ sinh ở vùng này - Rural sanitation supply chain review report VN
r ên cơ sở các phát hiện từ các nghiên cứu ở phân khúc thị trường 4, bảng 13 dưới đây trình bày tóm tắt các “vai” có tiềm năng tham gia chương trình vệ sinh ở vùng này (Trang 59)
Sơ đồ 3 cung cấp tổng quan các “vai” trong chuỗi cung cấp ở vùng sát ven biển (phân khúc thị trường 7) - Rural sanitation supply chain review report VN
Sơ đồ 3 cung cấp tổng quan các “vai” trong chuỗi cung cấp ở vùng sát ven biển (phân khúc thị trường 7) (Trang 61)
Bảng 17. Các “vai” có tiềm năng tham gia chương trình vệ sinh và nhu cầu hỗ trợ xây dựng năng  lực - Rural sanitation supply chain review report VN
Bảng 17. Các “vai” có tiềm năng tham gia chương trình vệ sinh và nhu cầu hỗ trợ xây dựng năng lực (Trang 71)
Sơ đồ 4 sau đây trình bày một cách tổng quát các vai và mối quan hệ kinh doanh giữa các “vai” của chuỗi  cung ứng thuộc phân khúc Đồng bằng sông Cửu Long (phân khúc 8) - Rural sanitation supply chain review report VN
Sơ đồ 4 sau đây trình bày một cách tổng quát các vai và mối quan hệ kinh doanh giữa các “vai” của chuỗi cung ứng thuộc phân khúc Đồng bằng sông Cửu Long (phân khúc 8) (Trang 72)
Sơ đồ 5. Các “vai” và mối quan hệ giữa các “vai” trong chuỗi cung cấp ở  vùng đồng bằng sông - Rural sanitation supply chain review report VN
Sơ đồ 5. Các “vai” và mối quan hệ giữa các “vai” trong chuỗi cung cấp ở vùng đồng bằng sông (Trang 73)
Bảng 19 dưới đây cung cấp tóm tắt các đề xuất cho các nghiên cứu thị trường tiếp theo đã được xác định - Rural sanitation supply chain review report VN
Bảng 19 dưới đây cung cấp tóm tắt các đề xuất cho các nghiên cứu thị trường tiếp theo đã được xác định (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w