1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU: KIẾN TRÚC THƯ VIỆN

95 3,8K 138

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 35,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay từ thời khai sinh, con người đã có nhu cầu diễn đạt ý nghĩ của mình hoặc lưu lại cho đời sau những dấu ấn, những dấu hiệu nào đó về bản thân, về văn hóa, về tín ngưỡng…của bộ lạc hay dân tộc mình bẳng những hình tượng khắc trên đá hay trên những công cụ trong đời sống thường ngày. Sau đó, trải qua bao giai đoạn biến đổi trong lịch sử, chữ viết được hình thành và ra đời giúp ích cho con người ngày càng nhiều hơn trong việc lưu trữ và bảo quản những tinh hoa mà họ đã đúc kết được. Từ đó con người biết viết thành sách để lưu truyền dưới nhiều hình thức. Sách là phương tiện đưa lại kiến thức hiểu biết cho con người không chỉ ở hiện tại mà còn truyền đạt cho cả thế hệ sau. Sách giúp cho con người hiểu biết nhiều hơn, thông suốt hơn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, là nơi truyền bá giao lưu tinh hoa văn hóa trên thế giới, giúp con người trên thế giới hiểu rõ nhau hơn, gần gũi nhau hơn. Sách ra đời và được lưu truyền từ nơi này sang nơi khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, và chính trong quá trình đó mà con người dần dần nhận ra rằng: sách cần có nơi để lưu trữ, bảo quản. Từ đó với những định hướng rõ ràng hơn một hình thức kiến trúc dần dần ra đời kiến trúc thư viện.

Trang 1

MỤC LỤC Trang A- ĐẶT VẤN ĐỀ

Sự chuyển hướng phát triển của thư viện trên thế giới 8

c/ Hiện trạng thư viện tại Việt Nam

2/ Giao thông tiếp cận

Trang 2

c/ Khu quản lý và nghiệp vụ 30

Trang C- CÁC GIẢI PHÁP KĨ THUẬT

D- XU HƯỚNG THIẾT KẾ HÌNH KHỐI

E- CƠ SỞ XÁC ĐỊNH QUY MÔ THIẾT KẾ

Trang 3

A- ĐẶT VẤN ĐỀ

1/ Tổng quan về đề tài

a/ Sự ra đời của kiến trúc thư viện

Ngay từ thời khai sinh, con người đã có nhu cầu diễn đạt ý nghĩ của mình hoặc lưu lại cho đời sau những dấu ấn, những dấu hiệu nào đó về bản thân, về văn hóa, về tín ngưỡng…của bộ lạc hay dân tộc mình bẳng những hình tượng khắc trên đá hay trên những công cụ trong đời sống thường ngày Sau đó, trải qua bao giai đoạn biến đổi trong lịch sử, chữ viết được hình thành và ra đời giúp ích cho con người ngày càng nhiều hơn trong việc lưu trữ và bảo quản những tinh hoa mà họ đã đúc kết được Từ đó con người biết viết thành sách để lưu truyền dưới nhiều hình thức

Sách là phương tiện đưa lại kiến thức hiểu biết cho con người không chỉ ở hiện tại mà còn truyền đạt cho cả thế hệ sau Sách giúp cho con người hiểu biết nhiều hơn, thông suốt hơn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, là nơi truyền bá giao lưu tinh hoa văn hóa trên thế giới, giúp con người trên thế giới hiểu rõ nhau hơn, gần gũi nhau hơn

Sách ra đời và được lưu truyền từ nơi này sang nơi khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, và chính trong quá trình đó mà con người dần dần nhận ra rằng: sách cần có nơi để lưu trữ, bảo quản Từ đó với những định hướng rõ ràng hơn- một hình thức kiến trúc dần dần ra đời - kiến trúc thư viện

Trang 4

b/ Định nghĩa thư viện

Thư viện là công trình công cộng nằm trong hệ thống phục vụ chung của xã hội, là nơi lưu trữ truyền

bá kiến thức trong mọi lĩnh vực bằng những sản phẩm in ấn Sự phát triển của thư viện gắn liền với sự phát triển của xã hội về văn hóa, văn học, nghệ thuật, cũng như các thành tựu về khoa học kỹ thuật, vật liệu in và những phương tiện hiện đại như máy vi tính.

Trong tiếng Anh, Library có nguồn gốc từ La tinh, LIBER có nghĩa là một cuốn sách; còn từ thư viện

(bibliotheca) xuất phát từ tiếng Hy Lạp: biblio là sách và theca là bảo quản, vậy nghĩa đen của thư

viện là nơi tàng trữ và bảo quản sách báo

Theo ý nghĩa truyền thống, một thư viện là kho sưu tập sách, báo và tạp chí Tuy nhiên,vì giấy không còn là phương tiện duy nhất để lưu giữ thông tin, nhiều thư viện cũng sưu tập và cung cấp bản đồ, ảnh

in hay công trình nghệ thuật khác, micrôphim (tiếng Anh: microfilm), vi phim (microfiche), băng cassette, CD, băng video, và DVD, và các cơ sở dữ liệu CD-ROM và Internet

Nhìn chung, thư viện trên thế giới ngày nay đã thoát khỏi khía cạnh tĩnh của những kho chứa sách để trở nên năng động hơn với 3 vai trò chủ yếu sau đây:

 Thư viện là một cơ quan truyền thông đại chúng

 Thư viện là một trung tâm phát triển văn hóa

 Thư viện là động lực đóng góp vào việc cải tiến giáo dục

Trang 5

c/ Lịch sử thư viện :Thư viện có nguồn gốc lịch sử rất lâu đời

4000– 3000 năm trước công nguyên, tại các quốc gia Cận Đông, Lưỡng Hà, Ai Cập cổ, đã xuất hiện các hình thức của sách đầu tiên trên bản khắc đá hoặc papyrus, với các chữ viết là ký hiệu tượng âm

37 năm trước công nguyên, thư viện công cộng đầu tiên ra đời và được thừa nhận tầm quan trọng dưới triều đại Augustus, mang nặng dấu ấn văn hoá Hi Lạp- Latin

Thế kỉ thứ 6, dánh dấu việc xuất hiện các bản viết tay được sao chép thành nhiều bản, các bản sách gọ i là codex hình chữ nhật giống sách ngày nay Hình thức xuất bản này được duy trì trong suốt thời kì trung đại

Thế kỉ thứ 15, thư viện thời kì Phục hưng thường là các thư viện phục vụ cho vua chúa, thầy tu, học giả, người giàu có và do các kiến trúc vĩ đại nhất bấy giờ xây dựng

1600-1800, thư viện xây theo kiểu Baroc Chiếu sáng tự nhiên được quan tâm Các thiết kế thường lấy sáng trực tiếp cho các vị trí quan trọng trong công trình

1860-1867, thư viện với các giá sách bằng sắt, mang kiểu dáng của các thư viên gia đình là mô hình cho các thư viện ở châu Âu và Mỹ cho đến tận năm 1930 thời gian này đã xuất hiện các thư viện quốc gia hiện đại như TV quốc gia Pháp, TV Bảo tàng Anh và TV quốc hội Mỹ tại Wasington…

Đến thế kỉ 20, các thư viện chuyên ngành ngày một tăng, ngày một nhiều các thể loại ấn phẩm định kì, thuộc nhiều lĩnh vực, khoa học tự nhiên, kĩ thuật, y học, thương mại, pháp luật… Cuối thế kỉ 20, sự ra đời của máy tính đã giúp cho việc tìm kiếm tài liệu trở nên dễ dàng hơn với hệ thống catalogue trực tuyến, đồng thời giúp cho việc trao đổi, quản lý nhanh chóng vá dễ dàng

Thư viện tuy có lịch sử lâu dài nhưng nó mới chỉ mới thực sự trở thành một ngành khoa học vào khoảng nửa cuối thế kỉ 19, và được quan tâm nghiên cứu về những nguyên tắc hoạt động quản lý Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thế giới trong thời đại công nghệ thông tin, sự hoàn thiện của nhiều

Trang 6

phương tiện trợ giúp và những nghiên cứu về nhiều mặt của xã hội đã cho ra đời hai lĩnh vực có quan hệ mật thiết tới thư viện học là tư liệu học và thông tin học.

Thời cổ đại Thư viện xuất hiện

3000 năm TCN Chữ viết tàng trữ tại tu viện thành Babylone

Thế kỷ III TCN Thư viện Alexandria (Ai Cập) chứa 700.000 bản sách

Thế kỷ IV & V Sách vẫn tồn tại dưới hình thức da cuộn hay khắc trên đá, đất sét… Xuất hiện bản

chép tay có hình chữ nhật như ngày nay → thay thế loại sách cũ, đòi hỏi giá sách thích hợp → kệ giá sách thành bộ phận chính của thư viện

 Phát hiện ra giấy và kỹ thuật in giấy

 Thư viện phát triển nhanh

Đầu thế kỷ XVIII Hình dạng phòng đọc phong phú dần Ngoài dạng hình vuông, chữ nhật, xuất hiện phòng đọc hình tròn.Thế kỷ XVIII Lượng sách tăng nhanh & yêu cầu phân loại sách theo khối chuyên ngành → đòi

hỏi hình thức mới cho kho sách

Thế kỷ XIX 1816

186518661887

KTS Leonold Santa đưa ra mô hình: phòng đọc và kho sách bố trí riêng rẽ, sách đặt trong các đơn vị có độ cao lớn chia thành tầng Tiếp cận giữa khối kho và khối đọc bằng hành lang quanh phòng đọc Trong các khối kho sách dùng giá sách nhiều tầng

Ở Đức, KTS Martin Gropius thiết kế:

 Thư viện Karlshure

 Thư viện Rostock hoàn thiện bức tranh lớn về bố cục kho sách thư viện Khối đón tiếp chính không nằm cùng kho mà nằm cùng khối đọc

Melvi Dewey xây dựng chương trình đào tạo thủ thư (tại Mỹ) đầu tiên trên thế giới

Đầu thế kỷ XX

1927

Thư viện tồn tại chủ yếu ở thành phố lớn (kể cả ở Châu Âu)

Khoa học kỹ thuật phát triển, thư viện xuất hiện ở vùng lân cận và xa thành phố

Hiệp hội thư viện quốc tế IFLA thành lập

Thư viện có thêm chức năng mới: giao lưu cộng đồng, chức năng giáo dục…

Thế kỷ XXI Tivi, video, máy tính, fax, Internet… cho thư viện bộ mặt mới.Phòng đọc trang bị máy tính thay cho hệ thống thư mục cổ điển.

Qua Internet, tại nhà, người đọc tìm đọc và tổng hợp dễ dàng từ ngân hàng dữ liệu của thư viện

Thư viện cơ động, gọn gàng, công suất lớn hơn nhiều lần

d/ Phân loại và đặc điểm thư viện:

Mục đích, ý nghĩa của việc phân loại thư viện:

Trang 7

 Mối quan hệ về công tác sưu tập, tàng trữ và truyền bá kiến thức các cấp, các loại đối tượng

mà thư viện quan tâm

 Công tác quản lý thư viện theo hệ thống thống nhất, đầu tư các trang thiết bị thư viện phục vụ cho từng thư viện, có dự báo về phát triển tương lại theo từng giai đoạn

 Quản lý thông tin tư liệu thông qua hệ thống phân loại tuyển chọn, những tư liệu quan trọng thuộc an ninh quốc phòng, ảnh hưởng tới kinh tế xã hội của nhà nước

 Phân loại thư viện để tạo những mối quan hệ giữa thư viện với các công trình công cộng khác (như bảo tàng, triển lãm, thương mại, trường học viện nghiên cứu v.v.) nhằm hỗ trợ nhau trong mạng lưới công trình công cộng trong đô thị

 Tạo được quan hệ giữa các vùng, các tỉnh thành trong nước cũng như hệ thống quốc tế về thiết lập mạng lưới thông tin thư viện Hỗ trợ cho nhau những tài liệu, sách báo tạp chí định

kỳ, trang thiết bị, kinh nghiệm quản lý vận hành v.v

Dựa trên mục đích, ý nghĩa của việc phân loại thư viện và xét theo tình hình cụ thể thực tiễn ở Việt Nam, người ta có thể phân loại thư viện như sau:

Phân loại theo cấp quản lý chính quyền:

 Thư viện tổng hợp

 Thư viện tổng hợp quốc gia

 Thư viện tổng hợp tỉnh – thành phố

 Thư viện tổng hợp quận – huyện

 Thư viện tổng hợp cấp xã phường

Phân loại theo chuyên ngành:

 Thư viện văn học

 Thư viện khoa học

 Thư viện lịch sử tự nhiên

 Thư viện hải dương học

 Thư viện hàng không

 Thư viện quân đội v.v

Phân loại theo đối tượng có đặc điểm riêng biệt:

 Thư viện quốc hội

 Thư viện tôn giáo: thư viện Phật giáo, thư viện Vatican (có hàng ngàn cuốn kinh thánh), thư viện Algé (Algéri, cạnh nhà thờ Mosqué, có hàng ngàn cuốn kinh Coran) v.v

 Thư viện thiếu niên, nhi đồng (rất nhiều nước đã kết hợp thư viện thiếu nhi với thư viện tổng hợp quốc gia như thư viện quốc gia Nga – xưa kia là thư viện Lenin của Liên Xô cũ)

 Thư viện cho người khuyết tật, người khiếm thính, khiếm thị (có các loại sách báo tấp chí bằng chữ nổi hoặc trang thiết bị đặc biệt dùng riêng cho đối tượng này)

Phân loại theo loại công trình mà thư viện được xây dựng gắn liền:

 Thư viện trong các trường học, cơ quan nghiên cứu, cơ quan sản xuất và phục vụ công cộng khác v.v

 Thư viện kết hợp bảo tàng

 Thư viện trong công trình khách sạn

 Thư viện trong các nhà văn hóa câu lạc bộ

 Thư viện gia đình

Phân loại theo khối tích sách:

 Thư viện loại nhỏ (15.000 đến 20.000 đầu sách)

 Thư viện loại vừa (20.000 đến 60.000 đầu sách)

 Thư viện loại lớn (60.000 đến 120.000 đầu sách)

Trang 8

 Thư viện cực lớn (120.000 đầu sách trở lên)

2/ Tính thực tế của đề tài

a/ Vai trò quan trọng của thư viện trong phát triển xã hội

Trong quá trình phát triển của mình, con người luôn có nhu cầu được tiếp nhận thông tin, kiến thức, hoặc lưu lại những thông tin, kiến thức như một tài sản, một nguồn nhiên liệu để phát triển xã hội cả về mặt tinh thần lẫn vật chất; đó là lịch sử, văn hóa, khoa học, xã hội học Cùng với bảo tàng, nhà văn hóa, trường học , thư viện đóng góp thực hiện sứ mệnh cao cả đó trong sự phát triển xã hội loài người

Từ những biểu tượng đơn sơ trên hang đá mô tả lối sống săn bắn, hái lượm, những phiến đá đục đẽo kí

tự, chữ tượng hình của người Ai Cập, La Mã, chữ viết của người Á Đông trên tre trúc, sự xuất hiện của giấy đến những phát minh tiến bộ vượt bậc trong mọi lĩnh vực khoa học, văn hóa, xã hội và đặc biệt là

in ấn đã làm cho lượng thông tin cần được lưu trữ ngày càng dồi dào, phong phú Nhu cầu tiếp cận kiến thức ngày càng nâng cao nên vai trò của thư viện từ một nơi lưu trữ sách đã trở thành một trung tâm phục vụ cộng đồng, trao đổi thông tin

Ngày nay, khi khoa học kĩ thuật, công nghệ thông tin đã ở một đỉnh cao, sự số hóa kho tri thức bao la của con người đã làm thay đổi khá nhiều về vai trò thực sự thư viện, công nghệ lưu trữ trở nên dễ dàng

và được hiện đại hóa, tự động hóa, vế sau của vai trò càng được nhấn mạnh, mang tính nhân văn Thư viện trở thành trung tâm sinh hoạt cộng đồng, mọi hình thức để cập nhật, trao đổi thông tin xã hội đều được tập trung ở đây và nằm ở trung tâm xã hội

Sự quan trọng của tri thức và vai trò chia sẻ tri thức của thư viện trong thời đại ngày nay:

Trong mọi lĩnh vực hoạt động khoa học, kinh tế, văn hóa, tri thức vẫn luôn được tìm kiếm, phát hiện và tác động ngày càng lớn đến sự phát triển xã hội loài người Cùng với khả năng khoa học kỹ thuật không ngừng được nâng cao, các hệ thống lưu trữ đã được ứng dụng để tổ chức nhiều cơ sở dữ liệu thuộc mọi quy mô trong các ngành kinh tế, xã hội, hình thành dần kết cấu hạ tầng thông tin quốc gia, nền móng của sự phát triển kinh tế thông tin ở nhiều nước Sự phong phú về thông tin, dữ liệu đòi hỏi con người cần có thêm nhiều hiểu biết, nhiều tri thức để sử dụng chúng một cách hiệu quả Chúng ta đang chìm ngập trong dữ liệu mà vẫn đói tri thức Xã hội đang chuyển đổi từ sự giàu có thông tin sang giàu có tri thức

Nhu cầu bổ sung lượng kiến thức cho bản thân và khả năng xử lý thông tin là cấp thiết trong xã hội hiện đại Nguồn tư liệu do một cá nhân, tổ chức dù có dồi dào, phong phú bao nhiêu cũng không thể đáp ứng được hết những lĩnh vực khác nhau của xã hội Phương án kinh tế và hiệu quả nhất là khai thác thông tin từ những trung tâm lưu trữ, quản lý cộng đồng được tập hợp từ nhiều nguồn khác nhau (xuất hiện những mạng lưới thư viện) Thư viện hiện đại ngày nay tồn tại không ngoài mục đích tổng hợp dữ liệu

và chia sẽ với mọi người một cách hệ thống

Thư viện hiện đại là nơi trung tâm giao lưu, trao đổi học thuật, sinh hoạt cộng đồng, là một biểu tượng,

bộ mặt văn hóa xã hội

Trang 9

b/ Xu hướng thư viện hiện nay trên thế giới

Sự chuyển biến cấu trúc của thư viện trong thời đại ngày nay trên thế giới

Hàm lượng cán bộ có tri thức của đô thị Tp Hồ Chí Minh ngày càng nhiều, nhu cầu tiếp cận nguồn thông tin ngày càng cao Cần thiết phải xây dựng một cấu trúc thư viện mà sự tiếp cận phải rất thuận tiện và nhanh chóng

Trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều ‘Thư Viện Cộng Đồng”, và sự liên kết các tổ chức Thư Viện thành hiệp hội thư viện tạo nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng thư viện

Sự ra đời của mạng toàn cầu (w.w.w) là một nhân tố ‘làm phẳng thế giới”, một người gần như có thể vào bất kì thư Viện nào trên thế giới để tìm lấy thông tin; Vậy thì chúng ta có cần thiết phải đến Thư Viện trong tương lai ? Hoặc câu hỏi đặt ra là các ấn bản in ( sách ) sẽ ra sao trong thời đại của công nghệ số Đó là yếu tố làm thay đổi nhiều đến cơ cấu tổ chức thư viện – Thư Viện cần phải có hướng mở ra với cộng đồng rất nhiều, Cấu trúc mở là một cấu trúc linh hoạt , mềm dẻo, và gây ra sự kích thích đến cộng đồng

Sự giao lưu về thông tin ( Blogging, Wikipedia, phần mềm do cộng đồng ) là những nhân tố tạo nhiều kích thích cho thế hệ trẻ Câu hỏi của vấn đề này sẽ là “ họ đến thư viện để làm gì”

Xu hướng phát triển tất yếu của thư viện

Vì sự cần thiết trong trao đổi thông tin cũng như ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và xử lý

tin, hướng phát triển thư viện phải là hướng hội nhập Mô hình thư viện số kết hợp với thư viện truyền thống hoặc thư viện số hoàn toàn thúc đẩy sự hội nhập không chỉ các thư viện trong nước mà còn ở các thư viện nước ngoài

Khi sách bắt đầu được số hóa, một câu hỏi được đặt ra: “Liệu chúng ta nên chấm dứt việc xuất bản sách

in và thay vào đó là số hóa sách để đọc trên máy?” Hiện nay việc số hóa còn mắc phải một số vấn đề

về mặt bảng quyền Đây là một vấn đề khó về mặt pháp lý Và, câu hỏi tiếp theo được đặt ra, liệu internet có thể thay thế hoàn toàn thư viện?

INTERNET vs THƯ VIỆN SỐ

Trước đây khuynh hướng sùng bái Internet đã khiến nhiều người cho rằng Internet có thể thay thế được

Trang 10

cho Thư viện truyền thống Gần đây khi Thư viện số trở nên thịnh hành khắp nơi, lại có quan điểm cho

rằng Internet và Thư viện số là một.

Quan niệm này hoàn toàn sai lầm, bởi vì Internet thiếu hẳn những đặc điểm quan trọng của việc sưu tầm, tổ chức và lưu giữ thông tin Trong khi đó, Thư viện số ngày càng được hoàn thiện về tổ chức và công nghệ, hơn nữa, công nghệ xây dựng Thư viện số về cơ bản được dựa trên nền tảng của Thư viện truyền thống Như vậy, Thư viện số chỉ là sự hiện hình khác của Thư viện truyền thống trong bối cảnh

công nghệ thông tin Do vậy, có thể khẳng định rằng, Internet không thể là sự thay thế hoàn thiện cho một Thư viện bởi các lý do dưới đây:

- Internet không phải là kho tài nguyên vô tận: Theo thống kê của Google, trong tổng số hơn 4 tỷ

trang web tồn tại trên Internet, có hơn 1 tỉ trang không thể nào tiếp cận được Những trang web này mặc dù vẫn được đưa ra trên kết quả tìm kiếm, nhưng không hiển thị được thông tin Hơn nữa, rất hiếm tài nguyên thông tin có giá trị được cung cấp miễn phí trên Internet Số tạp chí được đưa lên Internet chỉ chiếm khoảng 8% và số lượng sách còn ít hơn rất nhiều Tất cả những tài nguyên đó đều có giá rất đắt Để có được những tạp chí như Journal of Biochemistry, Physics Today, Journal of American History và những cuốn sách đã được giới thiệu trên Internet, người ta sẽ phải trả một số tiền rất lớn, thậm chí lên tới hàng triệu USD

- Tìm kiếm trên Internet - Tìm kim đáy biển: Internet giống như một kho khổng lồ hỗn độn không

được tổ chức và sắp xếp Người ta không thể tìm thấy tất cả mọi thứ cho dù có sử dụng hàng loạt các bộ máy tìm kiếm lớn Hơn nữa, những kết quả tìm thấy không được cập nhật thường xuyên theo định kỳ đúng như những lời quảng cáo, kết quả là không làm thỏa mãn được nhu cầu của người dùng tin, nhưng điều này chẳng mấy ai để tâm

- Không được kiểm soát: Trái với ở Thư viện, nơi những ấn phẩm không có giá trị (những thông tin

rác) rất ít khi được sưu tầm, còn trên Internet, người ta có thể đưa tất tả mọi thứ lên Mọi thông tin đăng tải trên Web cho đến nay vẫn chưa có bất kỳ một sự giám sát

nào Điều này vô cùng tai hại, nhất là đối với lớp trẻ, khi họ chưa

được giáo dục cẩn thận

- Thường có những thiếu sót nghiêm trọng: Số hoá các tạp chí

là một lợi thế lớn cho Thư viện Tuy nhiên, không phải mọi

thông tin cần thiết đều được đưa lên trang Web, nhất là phần ghi

chú Ngoài ra, các bảng, biểu đồ hay công thức trong các bài tạp

chí thường không hiển thị đúng, đặc biệt khi in ra Có trường

hợp các bài trong tạp chí được số hóa không thật sự giống các

bài đã được in và xuất bản theo cách truyền thống Đây là một

trong các trở ngại mang tính pháp lý của nguồn sử dụng

- Chi phí cao và bị ngăn cản khi muốn chia sẻ tài nguyên: Do

không có những quy định và giới hạn về luật bản quyền, nên đôi

khi một tư liệu số hoá được nâng giá thành cao gấp hai hay ba

lần so với giá của bản in Hơn nữa, các nhà cung cấp thường chỉ

cho phép một quyền truy cập vào tư liệu số Nếu như có người

đang sử dụng một tư liệu nào đó thì những người khác sẽ không thể truy cập được Thậm chí, khi trễ hạn, người sử dụng sẽ bị phạt tiền ngay lập tức mà không hề có cơ hội trình bày nguyên do

- Giới hạn trong việc sử dụng phần mềm: Khi sử dụng một phần mềm để đọc các loại tài liệu điện tử

trong nhiều giờ, kết quả rõ nét nhất chính là sự mỏi mắt và bệnh nhức đầu Bên cạnh đó, nếu tư liệu có nhiều trang và phải in ra để đọc thì quả là một sự lãng phí rất lớn Thực tế cho thấy, phần mềm hỗ trợ càng rẻ thì chất lượng sử dụng càng kém và có tác hại đến sức khỏe người dùng càng lớn

- Internet: Mêng mông nhưng không bền lâu: Những thông tin trên Internet ít khi được lưu trữ trên

Trang 11

15 năm Các nhà cung cấp thường xuyên thay thế những tư liệu mới đồng thời xoá bỏ những tư liệu cũ

Để truy cập vào những tư liệu cũ ấy, người ta lại phải trả thêm những khoản tiền lớn khác nữa Điều này rất bất cập đối với các nhà nghiên cứu và sinh viên, vì việc nghiên cứu không thể chỉ thực hiện trong những tài liệu được xuất bản trong vòng 10 – 15 năm qua Trong khi đó, Thư viện vẫn là nơi lưu trữ có thời gian vô tận từ thế hệ này qua thế hệ khác

- Tốn kinh phí đầu tư cho số hoá tư liệu: Một điều hiển nhiên là khi thực hiện xây dựng bộ sưu tập số

để đưa lên trang Web, nguồn kinh phí phải bỏ ra cho số hóa tài liệu sẽ lớn không thể tưởng tượng nổi,

có khi phải chi ra hàng chục ngàn USD để mua bản quyền một phiên bản tư liệu Công ty truyền thông Questia Media được trang bị hiện đại cũng phải mất tới 125 triệu USD để số hóa 50.000 cuốn sách được phát hành trong tháng Giêng Với mức chi phí như vậy, để số hóa một bộ sưu tập loại vừa với khoảng 40.000 tài liệu, người ta phải chi ra một khoản kinh phí khoảng 1.000.000.000 USD, đồng thời cũng phải đảm bảo để mọi người đều có thể truy cập vào bộ sưu tập mọi lúc mọi nơi Đó là chưa kể nguồn năng lượng điện cho truy cập lấy tư liệu

- Hạn chế tài nguyên và cơ sở để xây dựng bộ sưu tập số: Cho đến thời điểm hiện nay người ta vẫn

chưa thể xây dựng được một bộ sưu tập mà trong đó chỉ gồm có các tư liệu số Việc thu thập các tài liệu

in vẫn chiếm ưu thế, vì không phải tất cả các tài liệu cần thiết về một lĩnh vực nào đó đều có ở trên trang Web

- Sự bất tiện của Internet: Kết quả nghiên cứu gần đây của đại học Bắc Carolina ở Chapel Hill cho

thấy, hơn 80% khách hàng sách cho rằng họ thích mua những cuốn sách được xuất bản ở dạng in truyền thống qua phương thức giao dịch điện tử hơn là mua sách điện tử, để rồi phải đọc chúng trên mạng Internet với các yêu cầu kỹ thuật đi kèm

Với các lý do trên, mặc dù số người truy cập thông tin qua Internet nhiều hơn Thư viện Nhưng Internet

không thể thay thế cho hoạt động trực tiếp của con người tới đọc sách ở Thư viện Thư viện và dịch vụ Internet song hành tồn tại và hỗ trợ lẫn nhau Với lịch sử gần 1.000 năm in ấn phát hành, chúng ta

cũng đã coi việc đọc sách là một hoạt động mang tính nhân bản Một điều chắc chắn là mọi người vẫn luôn cầm và đọc sách chứ không phải là một máy tính Người ta có thể mang theo sách đi bất kỳ một nơi nào mà không cần phải quan tâm đến các điều kiện khác để truy cập vào Internet Cho đến nay, Thư viện vẫn là nguồn cung cấp thông tin có giá trị và đáng tin cậy nhất đối với tất cả mọi người Số liệu điều tra trên cũng cho thấy, hơn 96% số người sử dụng Thư viện vẫn tiếp tục đến Thư viện

Tuy nhiên Internet vẫn là một đối thủ đáng gờm của Thư viện và công cụ tra cứu vẫn là dịch vụ hữu ích nhất Nhưng để thu thập thông tin từ các nguồn khác thì người sử dụng sẽ phải mất thêm khoảng 85% thời gian so với sử dụng Thư viện Các nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, lợi ích thực do các Thư viện mang lại cho các khách hàng là tiết kiệm được khoảng 1,4 tỷ giờ đồng hồ và 35,8 tỷ đô la mỗi năm Trong đó, truy cập trực tuyến từ xa tiết kiệm khoảng 790 triệu giờ và 10,9 tỷ đô la Truy cập trực tuyến gần tiết kiệm 170 triệu giờ và 7,1 tỷ đô la Những truy cập không trực tiếp khác tiết kiệm được

460 triệu giờ và 18 tỷ đô la Rõ ràng các Thư viện đã giúp người sử dụng tiết kiệm được một lượng thời gian và tiền bạc đáng kể

Như vậy, có thể khẳng định rằng, Thư viện sẽ vẫn tồn tại và phát triển trong thế giới số, nhưng ở một dạng khác cao hơn, đó là Thư viện số Các chức năng cơ bản của Thư viện số vẫn giống như

Thư viện truyền thống, bao gồm: Phân loại, lưu trữ, bảo vệ, tìm kiếm, truy xuất thông tin, nhưng khác chăng là ở công nghệ, nghĩa là, dưới dạng số và được truy cập thông qua máy tính Khác với Internet, trong Thư viện số các sưu tập thông tin số được tổ chức, quản lý và tạo khả năng truy cập thuận tiện cho người sử dụng

Trang 13

Một Thư viện hiện đại là

1 Thư viện mở :

 Người sử dụng tiếp cận thông tin một cách dễ dàng với kho mở với tài liệu được xếp theo môn loại

 Cán bộ thư viện đóng vai trò đưa thông tin được cập nhật đến với người sử dụng

Quan niệm mở trong công tác phục vụ người sử dụng chính là tổ chức kho mở, công tác tham

khảo (reference), online catalog với hệ thống đề mục (subject headings) hoàn chỉnh, tổ chức

công tác phân tích và chỉ mục (indexing) tạp chí.

 Tự động hóa hoàn toàn các hoạt động trong thư viện Các thư viện tự động hóa theo phương thức và quy mô khác nhau nhưng đồng bộ trong nghiệp vụ Sử dụng mã gạch (bar code) trong khâu quản lý; sử dụng MARC format và subject headings trong biên mục (cataloging) Tổ chức online catalog

 Mạng cục bộ là yếu tố tất yếu trong hệ thống thông tin thư viện tự động hóa.Mạng cục bộ chia

sẽ tài nguyên thư viện và phục vụ trực tuyến : mục lục trực tuyến , cơ sở dữ liệu CD –ROM, thư điện tử

2.Thư viện số :

Hay còn gọi là thư viện điện tử, do sự hỗ trợ của công nghệ thông tin nên đã mở ra những chức năng mới như: liên thư viện, hội thảo điện tử, tra cứu internet, phòng hội thảo đa phương tiện, phòng đọc nhóm

Thư viện số ngoài việc phục vụ đọc giả bằng những sản phẩm in ấn (sách, báo, tạp chí) còn phục vụ những tư liệu điện tử : CD-Rom, băng từ, tạp chí điện tử, cơ sở dữ liệu trực tuyến,…, cùng cách đặt mua tư liệu này

Ngoài ra, thư viện số còn được sự hỗ trợ của các thiết bị điện tử: máy tính, camera, cửa từ,… đã làm cho công tác quản lý mượn trả sách , việc tra cứu, công tác quản lý tránh thất thoát tài liệu trở nên hiệu quả và ưu việt

3.Liên thư viện :

Mục tiêu nhằm kết nối các thư viện trong cùng một cụm liên thông lại để: Chia sẻ một mục lục liên hợp; Tổ chức việc chia sẻ tài nguyên; Hợp tác trong công tác bổ sung; Phát huy mượn liên thư viện; Cho người dùng tin ở bất kỳ nơi nào cũng có thể tra cứu vào mục lục trực tuyến thống nhất; Sử dụng được các dịch vụ thông tin chất lượng cao, phát triển các dịch vụ thông tin sáng tạo

Trang 14

THƯ VIỆN CHỨC NĂNG

QUẢN LÝ CHỨC NÀNG

Ngày nay , người ta đến thư viện không chỉ để đọc sách mà cái chính chính là gặp gớ giao lưu và trao đổi thông tin.Vì vậy chức năng của thư viện được mở rộng sang hoạt động của 1 nhà văn hóa nhỏ , chức năng trưng bày , giao lưu , biểu diễn , hội thảo, sinh hoạt đội nhóm ….Thư viện là nơi lý tưởng để trưng bày những tác phẩm nghệ thuật địa phương hoặc quốc gia , vùng miền Nó được xem là đại diện cho sự phát triển , văn hóa , trí tuệ của 1 quốc gia , là điểm đến không thể bỏ qua của khách du lịch (thư viện trung tâm) để có 1 cái nhìn khái quát về quốc gia đó

Trang 15

c/ Hiện trạng thư viện tại Việt Nam

Những thành tựu

Trước năm 1975, hệ thống thư viện công cộng mới chỉ được phát triển rộng khắp trên các tỉnh miền Bắc và vươn tới gần hết các huyện Còn ở miền Nam, hệ thống thư viện công cộng hầu như chưa được phát triển, thư viện công cộng mới chỉ có ở một số thành phố lớn như Sài Gòn, Cần Thơ, Đà Nẵng, Huế, Đà Lạt

Ngày nay hệ thống thư viện công cộng đã phát triển từ tỉnh tới huyện và đang vươn tới nhiều xã trên toàn quốc, khắp từ Bắc tới Nam, bao gồm 64 thư viện tỉnh, 587 thư viện huyện và khoảng 10.000 thư viện và tủ sách cơ sở ở xã Trong loại thư viện phục vụ công chúng rộng rãi còn phải kể tới 10.000 tủ sách pháp luật xã và cũng khoảng trên 10.000 điểm bưu điện văn hoá xã Tại các vùng nông thôn Việt Nam đã có khoảng 3 vạn điểm đọc sách báo cho người dân Qui mô của các thư viện tỉnh và huyện ngày càng được mở rộng về số lượng bản sách, nhân viên phục vụ, trụ sở thư viện và kinh phí hoạt động Các thư viện tỉnh đang trong giai đoạn tự động hoá, chuyển đổi từ thư viện truyền thống sang thư viện điện tử/thư viện số

Trang 16

Theo số liệu của Vụ Thư viện, tính đến cuối năm 2010, cả nước đã hình thành mạng lưới thư viện rộng khắp, bao gồm: gần 18.000 thư viện, tủ sách công cộng; hơn 400 thư viện đại học và cao đẳng; gần 1.000 thư viện, tủ sách trong lực lượng vũ trang; hơn 80 thư viện chuyên ngành; và gần 25.000 thư viện trường học phổ thông…

Đặc biệt sự xuất hiện của Internet đã tạo ra một phương thức đọc hiện đại Với một lượng thông tin, tri thức khổng lồ, việc đọc sách trên mạng Internet thay thế việc đọc sách bằng giấy cũng là xu hướng phát triển tất yếu của xã hội Chính vì thế, các thư viện ngày nay đã có sự thay đổi tương ứng cho phù hợp với nhu cầu này Các thư viện điện tử dần dần được hình thành, nhiều trang web dành cho sách trên mạng Internet như: fahasasg.com.vn, vnthuquan.net, thuvien- ebook.com, sachhay.com, docsach.dec.vn.v.v cũng xuất hiện Với những thư viện điện tử này, người đọc có thể dễ dàng tiếp cận với hàng ngàn cuốn sách thuộc nhiều thể loại Các thư viện sách trên mạng đã góp phần rất quan trọng trong việc tạo cho công chúng thói quen đọc sách trong dòng chảy văn hóa hiện nay

Những hạn chế

Trong khi trên thế giới do tác động của sự bùng nổ thông tin và những thách thức của sự phát triển nhanh chóng công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin, thư viện đại học nói riêng và ngành thông tin thư viện nói chung đang phát triển với một tốc độ nhanh chưa từng có thì Thư viện Việt Nam chỉ mới khởi động một cách chậm chạp trong vài năm nay

Quan niệm đóng

Hình ảnh một thư viện với sách được xếp theo cỡ và cất kỹ trong kho còn khá phổ biến Độc giả

phải qua nhiều thủ tục để tiếp cận với sách, trong đó thủ tục mang tính nghiệp vụ nhất là hệ thống tra cứu thường được tổ chức thiếu chính xác, do đó giữa người sử dụng và sách có một khoảng cách lớn

 Công tác phục vụ sơ sài - thiếu vắng những bộ phận phục vụ cần thiết như là tham khảo, mượn liên thư viện, v v

 Mỗi thư viện là một ốc đảo, không liên kết phối hợp với thư viện bạn, cho nên chưa hề có mạng lưới thư viện

Chưa tự động hóa, hoặc tự động hóa chưa triệt để và đồng bộ

 Có thư viện chưa có máy tính; có thư viện có vài máy chủ yếu để xử lý văn bản; nhiều thư viện

có hệ thống máy tính khá hiện đại có nối mạng, sử dụng phần mềm CDS/ISIS để quản lý và phục vụ tư liệu, nhưng hầu hết chưa tổ chức cho độc giả sử dụng máy tính để tra cứu mà dùng máy tính để in phiếu mục lục!

 Có quan niệm sai lạc về vấn đề tin học hóa của cán bộ thư viện do không được trang bị kiến thức phân tích hệ thống và thiếu tiếp cận với thế giới thông tin hiện đại nên rất lúng túng trong việc tin học hóa

 Từng thư viện chưa hoàn chỉnh về mặt tin học hóa nên chưa có một mạng thư viện nào hoàn chỉnh

Thiếu hoặc không có cán bộ thư viện có năng lực trong công tác đổi mới và hiện đại hóa thư viện

Thiếu cán bộ có năng lực từ công tác lãnh đạo đến nghiệp vụ là tình trạng phổ biến hiện nay

Trang 17

 Một điều nghịch lý là mỗi thư viện có ít nhất từ 3 - 4 cán bộ tốt nghiệp đại học thư viện Điều này có nghĩa rằng việc đào tạo chính quy ngành nghề thư viện không thiếu

 Vấn đề đặt ra nên xem xét lại việc đào tạo nghiệp vụ thư viện để đáp ứng được nhu cầu phát triển hiện nay

Không tạo cho độc giả có thói quen sử dụng thư viện và khai thác thông tin

Không tổ chức Hướng dẫn độc giả sử dụng thư viện, một phần cũng do tổ chức nghiệp vụ

không rõ ràng, khiến độc giả lúng túng và chán nản khi vào thư viện

 Không tổ chức phục vụ kho tin tốt, cán bộ thư viện không cập nhật kiến thức công nghệ thông tin mới nên không khai thác hết nguồn thông tin và không thể hướng dẫn độc giả khai thác thông tin được, đi đến tình trạng lãng phí

d/ Hiện trạng thư viện tại TP.HCM

Thành phố Hồ Chí Minh được xem là trung tâm kinh tế, khoa học, văn hoá lớn của cả nước, nơi tập trung rất nhiều trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu,…, đã, đang và sẽ là nơi đào tạo nhân tài, nhân lực cho phía Nam nói riêng và cả nước nói chung Vì thế mà, Thư viện, nơi cung cấp kiến thức, thông tin, cũng như các hoạt động văn hóa xã hội là nhu cầu không thể thiếu

Hiện nay, hệ thống thư viện tại thành phố Hồ Chí Minh bao gồm 25 thư viện, trong đó:

 1 thư viện cấp quốc gia: Thư viện Khoa học tổng hợp TPHCM

 1 số thư viện cộng cộng phần lớn đều đã được xây dựng từ những năm 1975

 Hệ thống thư viện tại các trường đại học chủ yếu để phục vụ nhu cầu nghiên cứu chuyên ngành

 Thư viện do các tổ chức quốc tế họat động vì mục đích văn hóa với quy mô tương đối nhỏ: Thư viện Hội đồng Anh, Thư viện Idecaf

Trang 18

Nhu cầu về kiến thức, thông tin trong nghiên cứu, học tập, và nhiều lĩnh vực khác là rất lớn Hiện tại ở thành phố, phục vụ cộng đồng chỉ nổi bật là hệ thống thư viện Tổng hợp chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu trên Các thư viện của các trường đại học chỉ phục vụ phần lớn giới sinh viên, học sinh, những nhà nghiên cứu,… đông đảo các tầng lớp trong xã hội vẫn còn xa lạ với văn hóa đọc sách ở thư viện cộng

đồng với nhiều lý do khác nhau Vì vậy, cải thiện khiếm khuyết văn hóa trên, kéo mọi người lại gần với thư viện và đưa văn hóa đọc vào đời sống đông đảo tầng lớp dân chúng là nhiệm vụ cần thiết, là tôn chỉ của thư viện thành phố hiện nay để nâng cao đời sống và phát triển xã hội.

Bên cạnh đó, thư viện trên mặt bằng thành phố hiện nay hầu như chỉ thực hiện chức năng lưu trữ, đọc,

mượn sách mà thiếu tính cộng đồng (không có hoặc rất ít những không gian hội thảo, triễn lãm, giao lưu, kiến trúc chưa đạt yêu cầu ở khía cạnh chào mời, lôi kéo người dân đến với thư viện…).

NHƯ VẬY, TPHCM hiện đang có nhu cầu xây dựng một thư viện hiện đại, quy mô lớn để có thể trở thành một nơi phục vụ cho nhu cầu ngày càng tăng của người dân thành phố, đồng thời quảng bá văn hóa cũng như truyền thống lịch sử của thành phố

Tháng 06/ 2011 vừa qua, UBND TP.HCM đã phê duyệt quy hoạch 1/2000 khu vực bờ Tây sông Sài Gòn thuộc trung tâm thành phố hiện hữu mở rộng, do công ty Nikkei Sekkei (Nhật Bản) thiết kế Đồ án quy hoạch đã thể hiện rõ ý tưởng của thành phố: dành phần lớn khu bờ Tây cho các không gian công cộng

Bám sát vào bờ sông và tận dụng vẻ đẹp của bờ sông Sài Gòn để xây dựng khu bờ Tây sông Sài Gòn là

ý tưởng chủ đạo của đồ án quy hoạch này Theo đó, sẽ có một dải công viên cây xanh kéo dài từ cầu Sài Gòn đến cầu Tân Thuận Chiều rộng của công viên khác nhau theo từng đoạn nhưng đoạn hẹp nhất cũng rộng khoảng 50m (tính từ bờ sông vào)

Đặc biệt, bến Nhà Rồng sẽ được mở rộng, trồng thêm cây xanh và xây dựng thêm một số công trình để nơi đây không chỉ đậm nét về lịch sử mà còn đậm nét về văn hóa, kiến trúc

Đây sẽ là nơi lý tưởng để xây dựng thư viện hiện đại với những tiêu chí như đã trình bày ở trên Sài Gòn, một thành phố năng động hiện đang trên đà phát triển, vẫn còn đó những bến cảng, những công trình đã đi vào lịch sử: sông Sài Gòn, giao điểm của lịch sử hơn 300 năm mở đất, xây dựng kiến thiết vùng đất mới trở thành đô thị phồn vinh bậc nhất phía Nam; và Bến Nhà Rồng, chứng nhân lịch sử 100 năm ngày Nguyễn Tất Thành ra đi tìm con đường giải phóng dân tộc Chúng ta đang trông chờ được quảng bá đến thế giới về Sài Gòn, một Sài Gòn hiện đại lên từng ngày với ngày càng nhiều những công

Trang 19

con đường, những di tích lịch sử vẫn được gìn giữ Và, còn gì hơn thế nữa, khi giữa những giao điểm của lịch sử, văn hóa, kiến trúc ấy, ta dựng lên một công trình văn hóa vừa mang hơi thở của thời đại với công nghệ hiện đại, tiên tiến, vừa mang đậm tính sinh hoạt cộng đồng, lại vừa có thể là nơi tổ chức những sự kiện văn hóa, triển lãm, là dịp để quảng bá văn hóa, truyền thống lịch sử Sài Gòn đến mọi người dân thành phố và những ai quan tâm đến nó

B- CƠ SỞ THIẾT KẾ

1/ Yêu cầu về vị trí khu đất xây dựng thư viện

a/Yêu cầu vị trí trong đô thị hay khu dân cư

Căn cứ vào chức năng (thể loại) của thư viện:

 Thư viện tổng hợp theo cấp quản lý chính quyền: loại thư viện nhằm phục vụ mọi đối tượng nên

vị trí của nó thường do quy hoạch chung đô thị quy định và có sự góp ý của cơ quan chuyên ngành thư viện, về mạng lưới công trình thư viện trong phạm vi toàn quốc, khu vực, địa

Trang 20

 Thư viện của các học viện, trường đại học thì người ta lại chọn vị trí tốt trong phạm vi của trường (khu đất và mặt bằng tổng thể).

b/Yêu cầu về khu đất xây dựng.

 Khu vực xây dựng phải đảm bảo về cốt cao độ khu vực (tránh ngập úng)

 Khu vực đất xây dựng phải có đường giao thông xung quanh nhằm bố trí thuận lợi cho các lối ra vào của độc giả, vận chuyển nhập sách và các trang thiết bị khác

 Trong điều kiện xây dựng các đô thị mới hoặc các vùng ngoại ô đang phát triển, mở rộng, thì

thư viện được coi như một thiết chế văn hóa cần thiết trong đô thị Nó được bố trí trong cụm công trình văn hóa – giáo dục hoặc giải trí khác, như thư viện được bố trí gần Nhà Bảo Tàng,

Nhà văn hóa, các trường học, hay công viên, khu nghỉ dưỡng… thường thường các công trình này có quan hệ với những hoạt động của thư viện

 Thỏa mãn các điều kiện tự nhiên, nếu có phong cảnh đẹp, không khí tốt, nên tận dụng những

yếu tố của thiên nhiên Thư viện không chỉ là nơi nâng cao kiến thức, dân trí mà thực sự còn là địa điểm hấp dẫn với mọi tầng lớp người trong xã hội.

 Đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích, kích thước (quy mô, cấp loại thư viện) và đáp ứng tiêu chuẩn về cách xa nguồn gây ồn (đường giao thông chính, nhà máy, công xưởng, sân vận động…) độ ồn ngoài nhà không lớn hơn 35Db

Đảm bảo khu vực yên tĩnh, có cây xanh theo (tiêu chuẩn 20 – 25% diện tích đất cho cây xanh)

Trang 21

 Có đủ điều kiện cơ sở hạ tầng như mạng lưới giao thông (đường giao thông khu vực và giao thông nội bộ) có hệ thống điện, nước đầy đủ, và các điều kiện vệ sinh môi trường khác (theo tiêu chuẩn).

Thư viện thường xây dựng tại các khu trong các đô thị, thường gặp các trường hợp sau:

- Thư viện nằm tại Quảng trường: thường kết hợp với các công tình khác

- Thư viện nằm trên dãy phố thẳng

Trang 22

- Thư viện nằm ở vùng có nền đất dốc thường gặp ở các đô thị trung du, miền núi

Thư viện nằm ở góc phố (loại góc < 90 o )

• Có diện tích ùn người trước công trình

• Cửa ra vào chính các đảo giao thông từ 35 – 50m

- Thư viện nằm ở góc phố (hoặc góc vuông 90o)

- Có diện tích ùn người trước công trình

Trang 23

Thư viện nằm ở góc phố (loại góc > 90 o )

- Có diện tích ùn người trước công trình

- Cửa ra vào chính các đảo giao thông từ 35 – 50m

2/ Giao thông tiếp cận

Trang 24

Có 3 lối tiếp cận chính từ bên ngoài vào công trình:

 Lối vào chính dành cho hành khách, độc giả,… thư viện là một công trình đa chức năng do đó lối vào chính phục vụ cho phần đông lượng người vào xem với các mục đích khác nhau, ngoài đặc điểm lối vào chính phải ở vị trí bắt mắt, thu hút, nó còn phải thuận tiện, có tính định hướng cao (phải ở trung tâm giao thông, có nhân viên hướng dẫn, tiếp tân,…)

 Lối tiếp cận dịch vụ và giao nhận hàng:

 Lối vào nhân viên nên tránh lối vào chung công cộng để thuận tiện cho việc quản lý

Trang 25

3/ Các khu chức năng trong thư viện

Xu hướng hiện nay thư viện không chỉ đơn thuần là nơi đọc sách và nghiên cứu mà còn là nơi giao lưu văn hoá, sinh hoạt cộng đồng, phục vụ cho những nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần của nhân dân,

do đó một số chức năng mới phát sinh đi kèm theo nó là một số không gian đặc thù riêng:

Kết cấu thành phần và mối liên hệ của các thành phần có trong thư viện có thể khác nhau, phụ thuộc vào quy mô và cách tổ chức của nó

Ở các thư viện nhỏ, yêu cầu người đọc có được sự tiếp cần đến các kho sách, thư mục và các diện tích phụ trợ cần thiết Ở đây kho sách và phòng đọc hoà nhập làm một và không có người phục vụ

Ở các thư viện lớn hơn ở các trường đại học và các viện nghiên cứu thượng tập trung sách vào chỗ và

bố trí không gian đọc cạnh đó Người đọc tìm thấy sách không thông qua người thủ thư

Ở các thư viện lớn tầm cỡ quốc gia hay ở các thành phố lớn, nơi cất giữ các tài liệu quý hiếm không cho phép người đọc tiếp cận kho sách Việc mượn sách được tiến hành thông qua nhân viên phục vụ sau khi người đọc đã tra cứu sách ở khối thư mục Mỗi thư viện có thể chia ra làm 3 khối chính như sau:

Trang 26

 Phòng chiếu phim chuyên đề ….

Phòng đọc:

Vị trí: Bố trí gần sảnh và phòng tra cứu mục lục, tiếp xúc với kho sách qua các quần mượn.

Việc xác định vị trí phòng đọc trước tiên phụ thuộc vào luồng độc giả, sau đó chỗ tra cứu thư mục, chỗ cho mượn và kho sách Phòng đọc thường có các chủ yếu: phòng đọc chung và các phòng đọc chuyên

Gồm có các phòng đọc lớn, phòng đọc tổng quan, khu vực họp nhóm, các tài liệu tham khảo, các tài liệu báo chí định kỳ, các loại mang thông tin nghe nhìn (Audio/ Visual Station – A/V), và hệ thống máy tính tra cứu (On line Public Access Catalogue - OPAC)

Chọn hướng tốt: Đa số các phòng đọc lấy ánh sáng tự nhiên tốt là hướng Bắc và hướng Nam, có thể lấy

sáng qua cửa bên, còn đối với các phòng đọc có không gian lớn thì bố trí lấy sáng bằng cửa mái

Trang 27

Kích thước: Cần đảm bảo tiêu chuẩn diện tích và khối tích cho độc giả, ví dụ: diện tích cho một chỗ ngồi đọc là 1.35m 2 đến 1.50m 2 , khối tích là từ 7m 3 đến 9m 3 (đối với phòng đọc chung) còn đối với

phòng đọc riêng thì một chỗ ngồi đọc khoảng 3-4m 2 và khối tích khoảng 6-8m 3 một chỗ

Tiêu chuẩn chiếu sáng tại bàn đọc lớn hơn hoặc bằng 200lux.

Tiêu chuẩn độ ồn cho phép không lớn hơn 25dB

Phòng máy (media)

Phòng máy tính cho độc giả được đặt vào không gian mở phía trong khu vực công cộng, hoặc được đặt vào các phòng lab chuyên dụng đóng kín

Trang 28

Khu vực thiếu nhi

Thiết kế không gian thu hút được các đối tượng nhỏ tuổi, phát huy tính năng động, sáng tạo, ham học hỏi của bé Chú ý các kích thước của trang thiết bị cũng phải thiết kế phù hợp với lứa tuổi này

Các cách ngồi đọc không bó buộc trong các mẫu bàn ghế truyền thống dễ thu hút các bé năng động hơn khi đến với thư viện học tập vui chơi

Tỉ lệ kích thước là điều quan trọng cần lưu ý, đồng thời hình dáng màu sắc phải vui nhộn, tránh góc nhọn và cứng, vật liệu thường là vải bọc, nhựa mềm, salon, ghế khi thiết kế hạn chế tạo sự lắc lư ko cân bằng, nên ko có lưng tựa

Khối thư mục:

Vị trí : nên bố trí ở trước các phòng đọc, gần với sảnh có chỗ cho mượn sách mang về nhà.

Trang 29

Kích thước: phụ thuộc vào số lượng đầu sách và độc giả Người ta có thể bố trí phân tán hay tập trung

Ngày nay người ta trang bị phòng tra cứu mục lục bằng các máy vi tính

OPAC computer station – Hệ thống máy tính tra cứu Diện tích khối thư mục đảm bảo cho độc giả tra cưú phụ thuộc vào số lượng giá sách của thư viện

Thường nó được tính bằng 0.04 – 0.15 m2/1000 sách tuỳ vào cách xếp tủ thư mục theo một hàng gồm 2

tủ quay hai hướng.Tủ thư mục thường được đóng theo block Mỗi một block chứa 12 ngăn đựng phiếu kích thước 51,5 x 47,4 x 52 cm, mỗi ngăn trung bình chứa hơn 1000 phiếu kích thước là 10,5 x 14,5 x

40 cm

Khối cho mượn: được bố trí theo nhiều cách khác nhau.

Liên hệ trực tiếp với kho sách, những nằm ngoài phòng đọc và có lối đi vào từ sảnh và khối thư mục vào.Liên hệ trực tiếp với kho sách, nằm ở đầu hai cuối phòng đọc.Liên hệ trực tiếp với kho sách và nằm trên lối đi một chiều liên hệ với sảnh phòng đọc và khối thư mục

Phòng trưng bày và giới thiệu sách mới

Đây là một dạng không gian mang tính tự do, tuy nhiên phải đảm bảm được những yêu cầu chung nhất

về sử dụng và thoát người

Phòng hội trường

Hội trường trong thư viện cũng mang những đặc điểm chung của một hội trường bình thường, để thiết

kế đúng cần tính toán xác định nền dốc và các cửa thoát người sao cho đúng tiêu chuẩn

Phòng nghỉ - hiên nghỉ - wc

Cần dựa vào số lượng người để xác định quy mô những không gian này cho phù hợp

Quy trình trả và mượn sách của đọc giả:

Trang 30

Đối với các thư viện lớn, hệ thống kho sách nằm ở các tầng trên hoặc ở các khu vực riêng:

b/ Khối kho sách Kho đóng

Là kho độc giả không được vào tiếp cận với tài liệu, chỉ cán bộ thư viện có liên quan mới được phép ra vào kho Trong kho đóng, tài liệu được sắp xếp trước hết theo ngôn ngữ, sau đó theo khổ cỡ (chiều cao gáy sách) và cuối cùng là theo thứ tự sách nhập về thư viện

Ưu điểm: quản lý và bảo vệ tài liệu được dễ dàng, trật tự sách trong kho không bị xáo trộn, tiết kiệm

được diện tích giá kệ (do sách cùng cỡ xếp cạnh nhau thành từng đợt, không phải dự trữ chỗ)

Hạn chế: ít thuận tiện cho người đọc, vì họ phải viết phiếu yêu cầu (dựa trên những thông tin ngắn

gọn trên phiếu mục lục hay biểu ghi thư mục), chờ đợi lấy sách, không được xem lướt qua nội dung sách trước khi quyết định mượn

Kho mở

Ưu điểm: tạo điều kiện thuận lợi cho bạn đọc chọn lựa tài liệu, đọc ngay tại chỗ, không mất thời gian

viết phiếu yêu cầu và chờ đợi, rất thích hợp với phương châm tổ chức và hoạt động của thư viện ngày nay là thư viện mở và nguồn mở Trong kho mở, việc tài liệu được sắp xếp theo các ngành, lĩnh vực khoa học đã giúp cho người đọc xác định nhanh vị trí tài liệu của ngành mình cần và tiếp cận được nhiều tài liệu của cùng một lĩnh vực

Nhược điểm: khó quản lý được chặt chẽ tài liệu trong kho, hay như, phải dồn giãn kho khi tài liệu nhiều

lên theo thời gian Cho nên, nếu không tính toán kỹ có thể gây lãng phí lớn

Xây dựng kho mở đang trở thành xu hướng chung của thư viện Việt Nam cũng như trên thếgiới nhằm cung cấp cho người dùng một cách nhanh nhất và chính xác nhất những thông tin, tài liệu mà họ cần Tuy nhiên, không phải thư viện nào cũng tổ chức và bảo quản khomở có hiệu quả Bởi vậy, khi tổ chức kho mở cần phải tính đến những vấn đề như

Diện tích kho: Kho mở cần một diện tích tương đối rộng nhằm:

Trang 31

- Đủ chỗ chứa tài liệu của thư viện trong một khoảng thời gian nhất định, ngay cả khi được bổ sung nhiều thông tin/tài liệu, tránh phải dồn giãn kho thường xuyên

- Tạo điều kiện thuận tiện cho người đọc tìm kiếm tài liệu và truy cập tới các dịch vụ của thưviện (như tra cứu máy tính, từ điển, đĩa CD, sao chụp tài liệu, )

- Tạo điều kiện làm việc cho cán bộ

- Đủ chỗ cho sinh viên, cán bộ nghiên cứu, học tập, tham quan

Trang thiết bị

Trong kho mở, vì lượng người hàng ngày tiếp xúc với tài liệu rất lớn nên tài liệu có nhiều nguy cơ bị xâm hại và mất mát hơn kho đóng Để bảo quản tài liệu, kho mở phải được trang bị cổng từ, máy hút bụi, máy điều hoà không khí, máy hút ẩm và camera để quan sát chung

Trong kho mở, sách không xếp theo cỡ mà xếp theo ngành khoa học, nên giá kệ phải được tính toán để xếp được các loại sách mà không tốn diện tích kho Việc trừ lại diện tích kho cho sự phát triển tài liệu từng ngành cũng phải được xem xét dựa vào chính sách/chủ trương bổ sung của thư viện

Tổ chức kho: Hiệu quả của kho mở phụ thuộc rất nhiều vào công tác tổ chức kho Trong kho mở, tài

liệu thường được xếp theo sự phân chia các ngành khoa học của một khung phân loại nhất định Nếu ngành nào có nhiều tài liệu thì có thể chia nhỏ thêm các đề mục con trên đầu các giá kệ giúp người đọc

dễ tìm tài liệu Lựa chọn khung phân loại, thống nhất cách định ký hiệu tác giả, sắp xếp tài liệu chính xác, thường xuyên kiểm tra và chấn chỉnh kho là những việc làm mang lại hiệu quả cho kho mở

Bố cục: bố cục khối kho sách trong mặt bằng thư viện có vai trò quan trọng đến việc đưa sách đến độc

giả thuận tiện và đơn giản nhất

Có các dạng bố cục chủ yếu:

 Bố cục theo hình thức tháp : là hình thức tốt nhất khi thiết kế thư viện Kho sách đặt trong khối cao nhiều tầng, được bố trí bên trên khối độc giả để có thể phục vụ người đọc một cách nhanh nhất bằng hệ thống thang máy

 Bố cục kho sách ở trung tâm thư viện : được đặt tại vị trí trung tâm, liên hệ trực tiếp với khối độc giả được bố trí quanh kho sách Khi bố trí kho sách ở trung tâm cần chú ý:

 Phục vụ thuận tiện cho các khối chính: phòng đọc, phòng mượn đọc tạp chí

 Nối liền phòng đọc bằng con đường ngắn nhất

 Đơn giản hoá các luồng giao thông đến kho sách và giao thông trong kho

 Thông gió và chiếu sáng tự nhiên bằng các giải pháp cửa lật, chớp… và lựa chọn cho kho sách có thể quay ra các hướng một cách tự do

 Bố cục theo hình thức phân tán : (dạng thư viện vườn)

Thường đi đôi với việc sử dụng hệ thống vi tính nối mạng Dạng này kho sách có thể rất nhỏ, chiếm tỷ trọng không lớn so với các khu chức năng khác bửi lẽ dung lượng đĩa 360KB tương đương 600 trang sách đánh máy, hơn thế nữa đĩa chứng 30 đến 300 lần đĩa mềm, do vậy kho sách trở nên nhỏ, chỉ chứa những pho sách quý hiếm mà thôi Hiện nay đã có hệ thống nối mạng

vi tính trên toàn thế giới, do đó khả năng phục vụ thư viện rất cao, đáp ứng mọi nhu cầu của độc giả Ở các nước phát triển đã xuất hiện những thư viện như vậy

Trang 32

Kích thước của một ngăn sách được coi là chuẩn cho một giá sách làm cơ sở để thiết kế kho sách Ngăn

sách được thiết kế theo kích thước của sách, có chiều sâu khỏang 20, 25, 30, 35 và chiều cao là 25, 35,

45 Chiều cao toàn bộ gía sách phụ thuộc vào kích thước con người (1.65m ) Khoảng cách giữa các giá sách là 1,2 – 1,5 m tốt nhất là 1,35m Thông thường 1,2m giá sách chứa dược 250 – 300 đầu sách và giá hai mặt là 400 – 420 cuốn

Chiều cao kho sách dược tính bằng một nửa chiều cao của phòng đọc, tối thiểu phải là 2,05 – 2,25m đủ để đặt giá sách có 8 ngăn chứa

Giao thông trong kho sách được thực hiện theo cầu thang: cứ 25m có một cầu thang kèm thang máy để

chuyển sách có sức nâng từ 100kg trở lên với kích thước thang máy lớn hơn 0,8m

Bảo quản: Kho sách cần được giữ ở nhiệt độ 150 – 160, độ ẩm khoảng 48 – 55% Ngoài ra cần tránh

cho kho sách bị bụi, nắng chiếu trực tiếp, bị mưa hắt

Ngoài ra kho sách còn có các phòng lạnh dạng kho chứa đĩa vi tính, băng từ, phim ảnh

Kho sách gồm có các bộ phận sau:

 Bảo quản chính chiếm 60% tổng số sách: 2,5m2 /1000 đơn vị sách

 Bảo quản kín chiếm 20% tổng số sách: 1,25m2 /1000 đơn vị sách

 Bảo quản hở dễ lấy chiếm 20% tổng số sách: 5m2 /1000 đơn vị sách

Diện tích cho nhân viên phục vụ: 4m2 /người

Một số tiêu chuẩn các loại đầu sách:

Tạp chí: (3.8 quyển / 1000 dân) gồm: tạp chí mới 0.138m2 / quyển;

tạp chí lưu 5 năm 0.092m2 / quyển

Dữ liệu Audio, Video (0.15 băng / người) 0.092m2 / 10 băng

Một số cách bố trí khu vực đọc, kệ sách, kho sách theo mặt bằng một số thư viện trên thế giới:

Trang 33

c/ Khối quản lý & phục vụ

Khối này bao gồm các khu sau:

1 Khu vực hành chính tổ chức, điều hành, quản lý, và nghiệp vụ của thư viện

2 Khu vực phục vụ bao gồm các phòng của nhân viên như trực, thủ thư, vận chuyển, bảo quản sách, sắp xếp chung trong kho sách

3 Khu vực kĩ thuật bao gồm: các xưởng sửa chữa, phân loại sách điều hòa, cấp nhiệt, cấp điện, nước, phòng đánh máy, in, photocopy

Trang 34

BỐ TRÍ KHU KĨ THUẬT PHỤC VỤ

Những yêu cầu chung:

 Vị trí phải phù hợp với dây chuyền công nghệ của các chức năng trong thư viện

 Có lối vào riêng, có bãi xe của cơ quan và của cá nhân

 Đảm bảo thẩm mỹ hình khối, hài hòa với tổng quan của công trình

 Đảm bảo các tiêu chuẩn về diện tích và khối tích, tiêu chuẩn sử dụng trang thiết bị nội thất, ngoại thất

Một số tiêu chuẩn

 Các bộ phận chỉnh lý, bổ sung thư mục sách: 2m2/ 1tủ mục / 40.000 phiếu

 Các phòng thu, chụp vi phim, phim in lại, bảo quản,

 đóng sách và phục chế 2m2/10.000 cuốn

 Các phòng phục vụ sản xuất 3 m2 /10.000 phiếu

 Phòng gởi cặp, túi xách 0,04 m2 / người

 Ngoài ra còn có các phòng hành chánh, quản lý, kỹ thuật, các sảnh, hành lang, cầu thang

4/ Dây chuyền công năng

QUẢN LÝ

Trang 35

NGHIỆP VỤ THƯ VIỆN

Thiết lập sơ đồ dây chuyền công năng của các khối chức năng sử dụng chính trong thư viện:

Trang 36

Tiếp cận vào lối cổng chính phải thấy được bàn hướng dẫn thông tin (Circulation desk), hệ thống tra cứu ( OPAC), kệ sách và phòng đọc Các không gian đọc tài liệu tham khảo, báo chí định kỳ, các thông tin nghe nhìn phải có khu vực riêng và định hướng quan sát tốt Các khu vực cần phải có nhân viên thường trực là: OPAC, A/V (nghe nhìn) thường để quanh bàn thông tin.

Sơ đồ công năng với khối dịch vụ thông tin làm trung tâm:

Trang 37

Sơ đồ công năng với khối phòng đọc, dịch vụ công cộng làm trung tâm:

Trang 38

Ánh sáng đều khuếch tán, kết hợp ánh sáng tự nhiên và dùng đèn huỳnh quang bảo đảm bảo độ sáng 100 lux toàn phòng và cục bộ ở bàn đọc có

độ rọi 200 lux

Bàn để mục lục: độ rọi 150 lux

Kho sách: độ rọi 75 lux

Phòng làm việc: độ rọi 150 lux – 200 lux

Vệ sinh, hành lang: độ rọi 75 lux

Khu vực biên của phòng: tránh ánh sáng trực tiếp chiếu vào nên sử dụng kết cấu che nắng bằng lam hay các chi tiết tường hoa, tấm che nắng,… mái đưa, hành lang Nhất là các hướng nắng chính của khu vực: Đông, Tây

Tỉ lệ phân bố ánh sáng không gian đọc

CHIẾU SÁNG CỬA BÊN, CHIẾU SÁNG CỬA MÁI

Chiếu sáng cửa bên: ánh sáng tốt nhất là hướng Bắc hoặc Nam, trên cửa sổ có thể có các loại chớp dọc,

ngang để tạo nên độ phân phối ánh sáng đều

Chiếu sáng cửa mái: nếu các phòng rộng ở phía sát mái nên kết hợp 2 loại chiếu sáng trên

Trang 39

Chú ý: Hướng lấy sáng tự nhiên tốt nhất là hướng Bắc cho cả cửa bên và cửa mái Một số công trình

thư viện có thể lấy sáng hướng Nam, nước ta do có mặt trời có xu hướng quay theo quỹ đạo có độ lệch

về phía Nam nên khi dùng ánh sáng hướng Nam phải có các loại chớp tán xạ để tạo ánh sáng đều, tránh

độ lóa mắt

Khi có bố trí sân đọc hay hiên đọc, thì phải có các giải pháp để tránh độ chói loá mắt hay mờ

Trang 40

PHƯƠNG PHÁP LỖ CỬA LẤY SÁNG SÂU (SKYLIGHT - SKYDOME):

Tỉ lệ lỗ cửa lấy sáng theo nguyên tắc 1,5X-2X tránh được ánh sáng chiếu trực tiếp vào không gian đọc, mà tạo ra hiệu quả ánh sáng khuếch tán êm dịu cho không gian bên dưới

Phoenix Central Library

Lam di động hay tấm chắn trong

suốt nhằm lấy trọn vẹn những tia

sáng từ mặt trời chiếu tới

Ngày đăng: 12/06/2015, 17:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.5: Quy định khoảng lùi tối thiểu (m) của các công trình theo bề  rộng  lộ  giới  đường và  chiều  cao xây dựng  công  trình - CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU: KIẾN TRÚC THƯ VIỆN
Bảng 2.5 Quy định khoảng lùi tối thiểu (m) của các công trình theo bề rộng lộ giới đường và chiều cao xây dựng công trình (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w