1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh tu từ trong thơ Trần Đăng Khoa

52 5,3K 17
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So Sánh Tu Từ Trong Thơ Trần Đăng Khoa
Tác giả Trần Đăng Khoa
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 411,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài về :So sánh tu từ trong thơ Trần Đăng Khoa

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Với lịch sử hơn 4000 năm văn hiến, Việt Nam đã có một kho tàng thơ ca phongphú và đa dạng Thơ ca như dòng sữa mẹ nuôi dưỡng tâm hồn con người Việt Nam từngàn xưa đến nay Người ta yêu thơ, biến thơ thành những câu nói ví von, thành cadao, dân ca hay thậm chí rút ra thành thành ngữ, hò, vè,

Tuy nhiên, để biến một bài thơ thành một bài hát là điều không dễ, ngoài việccác nhạc sĩ thay đổi về thanh điệu cho hài hòa để phổ chúng thành nhạc thì bản thânbài thơ cũng phải độc đáo và có âm điệu dễ hát Cho đến nay đã có nhiều bài thơ đượcphổ nhạc nói về tình yêu như: Cô hàng xóm của Nguyễn Bính, Màu tím hoa Sim củaHữu Loan, Hai sắc hoa Ti-gon của TTKh, Hương thầm của Phan Thị Thanh Nhàn,…

Cũng là một dạng thơ được biến thành bài hát, nhưng thơ Trần Đăng Khoamang một sắc thái hoàn toàn khác, những bài thơ của ông được đa số trẻ con yêu mến

mà tiêu biểu nhất là bài thơ đã được nhạc sĩ Trần Viết Bính phổ thành nhạc:

“Hạt gạo làng ta

Có vị phù sa Của sông Kinh Thầy

Có hương sen thơm Của hồ nước đầy

… … … Giọt mồ hôi sa Những trưa tháng Sáu Nước như ai nấu Chết cả cá cờ”

… … … …

(Hạt Gạo Làng Ta)

Vì sao thơ Trần Đăng Khoa lại được đa số các trẻ nhỏ yêu mến như vậy? Bởinhững tác phẩm thơ của ông rất gần gũi với tâm lí trẻ thơ, vần điệu ngắn gọn dễ nhớ,giàu ý nghĩa và hình ảnh đầy sức sống

Trần Đăng Khoa là người đã tạo cho mình một phong cách thơ không lầmlẫn với bất kì nhà thơ nào, ông sáng tác còn rất sớm: khi mới lên tám tuổi! So với

Trang 2

các trẻ con khác, nếu sáng tác trong độ tuổi này thì sẽ không tránh khỏi sự vụng về,non nớt trong suy nghĩ… nhưng đối với Trần Đăng Khoa, ông đã đạt được sự chínchắn trong tư duy, độc đáo trong việc thể hiện suy nghĩ, sử dụng các biện pháp tu

từ điêu luyện và có sự trau chuốt trong cách chọn lọc từ ngữ

Đến với thơ Trần Đăng Khoa, người đọc có cảm giác như được trở về với tuổithơ Hình ảnh thơ mộc mạc, ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu nên đã để lại ấn tượng sâu sắctrong lòng người đọc Hầu hết các bài thơ đều là những bức tranh tái hiện lại cuộc

sống ở làng quê Từ những âm thanh trong cuộc sống đến “những năm bom đạn”

trong chiến tranh, được thể hiện trong thơ một cách đầy đủ và rõ nét

Người xưa quan niệm, thơ không nhất thiết cầu kì, thơ cần nhất sự dung dị,

Lưu Đại Khôi đã nói: “Văn chương quý ở chỗ giản dị Phàm viết văn và cả làm thơ nữa, những cây bút già dặn thì giản dị, vị thanh đạm thì giản dị, khí đầy đủ thì giản

dị, thần cao xa mà hàm chứa khôn cùng thì giản dị Vì vậy, giản dị là cảnh giới tận cùng của văn chương vậy” Bởi vì giản dị thì không cầu kì, câu chữ lại có tính triết

lí, ý tứ sâu xa lại hàm chứa tư tưởng khôn cùng Thơ của Trần Đăng Khoa hấp dẫnnhư loại rượu vang nho nhẹ không gây sốc, không nồng nhưng uống rồi sẽ ngấm, sẽsay lâu và khó bỏ

Thơ của Trần Đăng Khoa được đưa vào chương trình Tiếng Việt trong Sáchgiáo khoa do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành để giảng dạy cho học sinh Phổ thôngtrung học từ rất sớm Chúng được đánh giá rất cao và chiếm vị trí quan trọng trongmảng văn học thiếu nhi

Một lí do nữa khiến cho người viết chọn đề tài này là: tuy so sánh tu từ là biệnpháp nghệ thuật đơn giản nhưng có vai trò vô cùng quan trọng Thiếu so sánh tronggiao tiếp hằng ngày thì lời nói của chúng ta trở nên khô khan, thiếu gợi hình, thiếu sinhđộng Còn trong văn chương, nếu thiếu so sánh tu từ thì sẽ không thể nào diễn tả hếtđược cảm xúc của tác giả muốn gửi đến người đọc người nghe Ví như câu ca dao

“Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” nếu chỉ nóimột cách đơn thuần không có ví von, so sánh thì người phát ngôn chỉ có thể nói “Tìnhcảm của cha mẹ lớn lao không gì có thể tả được” chứ không lột tả hết sự vất vả, gianlao, tình yêu thương vô bờ bến của cha mẹ đối với con cái Thông qua so sánh tu từ

công cha được cụ thể bằng hình ảnh “núi Thái Sơn”, còn sự dịu dàng, vị tha, bao dung của mẹ được so sánh như “nước trong nguồn” Nói tóm lại, so sánh tu từ đã góp phần

Trang 3

giúp các nhà văn, nhà thơ xây dựng những hình ảnh, hình tượng nghệ thuật độc đáo,sống động và đầy hình tượng hơn cách diễn đạt thông thường rất nhiều.

2. Lịch sử vấn đề

Lịch sử vấn đề có vai trò hết sức quan trọng đối với những người làm công tácnghiên cứu khoa học, bởi nó là nền tảng, là cơ sở để chúng ta có thể tiến hành côngviệc nghiên cứu của mình Hơn nữa, từ kết quả đã đạt được giúp ta nảy sinh ra ý tưởngmới, hấp dẫn hơn những công trình trước đó Khi đi vào nghiên cứu lịch sử vấn đề của

đề tài: “ So sánh tu từ trong thơ Trần Đăng Khoa” người viết tiến hành khảo sát trên

hai phương diện: lịch sử các công trình nghiên cứu, nhận định về Trần Đăng Khoa vàcác công trình nghiên cứu có liên quan đến so sánh tu từ

Phương diện thứ nhất là những công trình nghiên cứu và những nhận định vềTrần Đăng Khoa Ông được mệnh danh là thần đồng thơ khi là một cậu bé 8 tuổi; có

tập thơ đầu tay năm 10 tuổi Trần Đăng Khoa là một “hiện tượng lạ” không chỉ làm

sững sờ biết bao bạn đọc trong nước mà còn lan truyền sang nhiều nước trên thế giới.Người có công tìm hiểu và đưa Trần Đăng Khoa đến với bạn đọc khắp thế giới là nhà

thơ Xuân Diệu: “Tôi đã sung sướng hướng dẫn đoàn vô tuyến truyền hình Pháp về quay phim “Thế giới nhỏ của em Khoa” tại xã Quốc Tuấn – Hải Hưng; tôi còn là người đầu tiên dịch thơ Khoa ra tiếng Pháp đưa cho nữ đồng chí Madeline Riffaud (Mađơlen Riphô) Chị Riphô về đăng trên báo Nhân đạo của Đảng cộng sản Pháp; sau đó tôi lại dịch ra cả tập thơ Khoa Pháp văn, từ đó giới thiệu thơ Trần Đăng Khoa, dịch ra nhiều thứ tiếng trên nhiều thế giới Tôi lại giúp nhà thơ Cuba FéLix Pila Rodriguez dịch ra tiếng Tây Ban Nha, và tôi đã bình hai bài thơ “Mưa” và “Em kể chuyện này” ở rất nhiều nơi trên miền Bắc, ở Sài Gòn và các thành thị ở phía Nam (1975 – 1976)”.[tr.396]

Còn Ngô Văn Phú thì khẳng định tài năng của Trần Đăng Khoa: “Có lẽ còn lâu mới lại có một thần đồng 8 tuổi lại thành một nhà thơ để lại được sự nghiệp trong nền thơ Việt Nam như Trần Đăng Khoa” Và bày tỏ sự thích thú đối với một “hiện tượng lạ” chưa từng có trong lịch sử văn học nước nhà: “Thật sung sướng cho một nhà thơ được mãi mãi hồn nhiên và đẹp với một hồn thơ từ 8, 9 tuổi”…[tr.397]

Với sự quan tâm của Đảng nhà nước trong việc lưu trữ và phát triển sự nghiệpthơ ca nước nhà, cùng với sự phát triển của công nghệ kỹ thuật nên tạo điều kiện thuậnlợi cho bạn đọc dễ dàng tiếp cận với những tác phẩm thơ ca Chính vì thế ta có những

Trang 4

cuốn sách in ấn rất đẹp và ghi chép cẩn thận tiểu sử, sự nghiệp sáng tác của nhà thơ

Trần Đăng Khoa: Hội nhà văn – “Nhà văn Việt Nam hiên đại”, Ngô Văn Phú, Phong

Vũ, Nguyễn Phan Hách – “Nhà văn Việt Nam thế kỉ XX (tập 4)”, Thái Doãn Hiểu, Hoàng Liên – “Giai thoại nhà văn Việt Nam”, Trần Đăng Khoa – Chân Dung Và Đối Thoại, Trần Mạnh Thường – “Từ điển tác gia Việt Nam Thế kỉ XX” Ngoài ra còn có

một lượng thông tin vô cùng phong phú về cuộc đời, sự nghiệp và những cuộc phỏngvấn liên quan đến Trần Đăng Khoa trên mạng internet

Phương diện thứ hai là các công trình nghiên cứu có liên quan đến so sánh tu từ:

Quyển “Những thế giới nghệ thuật ca dao” của tác giả Phạm Thu Yến Trong

quyển này có những vấn đề được xem như là nền móng cơ sở vững chắc cho nhữngmối quan hệ mật thiết với nghệ thuật so sánh tu từ trong thơ ca hiện đại Khi Phạm

Thu Yến cho rằng: “So sánh tu từ trong ca dao trữ tình là đặc điểm nổi bật cả về số lượng cũng như chất lượng nghệ thuật biểu hiện thế giới tâm hồn phong phú, tinh tế, chân thành của người dân lao động, đồng thời đặc nền móng vững chắc cho nghệ thuật so sánh trong thơ ca hiện đại Việt Nam”.[] Từ ý kiến đó, ta thấy được rằng nghệ

thuật so sánh trong thơ hiện đại có một số cấu trúc so sánh, hình thức so sánh cũng nhưmục đích của việc so sánh là có nét tương đồng với so sánh tu từ trong ca dao

Quyển “Từ kí hiệu học đến thi pháp học của Hoàng Trinh” Trong quyển này tác

giả cho thấy được những đặc thù của ngôn ngữ thơ

Quyển “Ngôn ngữ thơ Việt Nam” của tác giả Hữu Đạt, đây là công trình nghiên

cứu về ngôn ngữ thơ ở nhiều khía cạnh khác nhau như: đặc điểm ngôn ngữ thơ, loạihình của ngôn ngữ thơ, việc tổ chức ngôn ngữ trong thơ, các phương thức cơ bản củangôn ngữ thơ…

Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu khác ở các trường đại học, cao đẳng…dưới dạng luận văn cũng góp phần làm cho hệ thống nghiên cứu so sánh tu từ thêmphong phú và đa dạng Tuy mỗi công trình nghiên cứu đều có mặt tích cực và hạn chếnhưng sự đóng góp của chúng là không nhỏ đối với việc khẳng định vị trí của so sánh

tu từ trong kho tàng văn học dân tộc

Việc chọn đề tài này giúp người viết hiểu biết thêm về lối so sánh độc đáo vàsáng tạo của thần đồng thơ Mặt khác, còn trang bị cho người viết một chìa khóa cầnthiết để thâm nhập, tiếp cận với những tác phẩm khác Tuy nhiên trên tinh thần tiếpnối, kế thừa và học hỏi những công trình đi trước, người viết muốn qua công trình này

Trang 5

góp thêm một phần nhỏ vốn hiểu biết của mình vào những cách nhìn lớn mang tính

toàn diện đối với đề tài: “So sánh tu từ trong thơ Trần Đăng Khoa” Và cũng từ đề tài

này sẽ tìm hiểu, khám phá ra được những cái hay, cái đẹp mang giá trị của nghệ thuật

so sánh tu từ trong thơ Trần Đăng Khoa

3 Mục đích nghiên cứu

Việc chọn đề tài “So sánh tu từ trong thơ Trần Đăng Khoa” sẽ giúp người viết

thấy được được tình cảm hết sức sâu đậm của tác giả đối với quê hương, đất nước.Hàm chứa trong mỗi câu thơ, bài thơ là nỗi niềm tâm sự, lòng trắc ẩn của nhà thơ khiđất nước đang trong thời kì mưa bom, bão đạn Từ đó khẳng định: ngoài nội dung tưtưởng được truyền tải thì các biện pháp tu từ cũng góp một phần không nhỏ vào thànhcông chung của toàn bộ tác phẩm

Nghiên cứu đề tài này giúp cho người viết hiểu một cách sâu sắc hơn về cácbiện pháp tu từ mà đặc biệt là so sánh tu từ, tìm hiểu những quan niệm khác nhau củacác nhà nghiên cứu về so sánh Trên cơ sở đó thấy được khả năng vận dụng so sánh tu

từ đầy sáng tạo và hết sức độc đáo của Trần Đăng Khoa

Hơn thế nữa, khi thực hiện đề tài này người viết sẽ nâng cao được khả năng vậndụng phương pháp nghiên cứu tác phẩm văn học ở góc độ so sánh tu từ, đó là cơ sởtiền đề giúp người viết có thể thực hiện những công trình nghiên cứu sau này

4 Phạm vi nghiên cứu

Do không tìm được nhiều tài liệu nghiên cứu về Trần Đăng Khoa và thời giannghiên cứu có hạn nên người viết không phân tích hết các tác phẩm của ông mà chỉdừng lại ở ba tập thơ:

1 Góc sân và khoảng trời (Nhà Xuất Bản Văn Học 2006)

2 Trần Đăng Khoa thơ tinh tuyển ( Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn, 2001)

3 Thơ Trần Đăng Khoa (Nhà Xuất Bản Thanh Niên,1999)

Thông qua những tác phẩm trong ba tập thơ để chúng ta thấy được tài năng sửdụng ngôn ngữ một cách linh hoạt và sáng tạo Bằng khả năng sử dụng so sánh tu từ

hết sức độc đáo của nhà thơ đã góp phần vào thành công chung của toàn bộ tác phẩm.

Có thể nói từ trước đến nay, chưa một “nhà thơ trẻ con” nào lại có nhiều bài thơ sâu sắc và thành công đến thế Trần Đăng Khoa xứng đáng với danh hiệu: “Thần đồng thơ ca” mà nhiều người ban tặng.

Trang 6

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài hướng đến việc tìm hiểu “So sánh tu từ trong thơ Trần Đăng Khoa”,

phân tích cả về nội dung và nghệ thuật để thấy được tài năng của tác giả Để lí giải vấn

đề, người viết đã sử dụng những phương pháp sau:

Sưu tầm tất cả các tài liệu có liên quan đến đề tài “So sánh tu từ trong thơ Trần Đăng Khoa”.

Tiến hành thống kê – hệ thống những câu thơ mang yếu tố so sánh trong ba tậpthơ của Trần Đăng Khoa

Phân loại theo mô hình, hình ảnh, chất liệu so sánh

Lựa chọn những bài thơ, câu thơ tiêu biểu có kết cấu so sánh độc đáo phân tích,chứng minh

So sánh đối chiếu với ca dao và một số nhà thơ khác để thấy được những hìnhảnh so sánh mới lạ, độc đáo và hấp dẫn của Trần Đăng Khoa Để đề tài có cơ sở,phong phú và thuyết phục thì việc dẫn thêm một số ý kiến của các nhà văn, nhà thơ,nhà nghiên cứu là rất cần thiết để luận văn được trọn vẹn

Trang 7

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SO SÁNH TU TỪ

1.1 Khái niệm về so sánh

Trong giao tiếp hàng ngày chúng ta vẫn hay sử dụng hình thức so sánh để câunói thêm phần thuyết phục như:

“Lan cao hơn mẹ”

“Mưa như trút nước

“ Em ngoan hơn anh”

Thậm chí, trong kho tàng thành ngữ Việt Nam từ lâu đã tồn tại nhiều thành ngữdưới dạng so sánh:

“Xấu như ma”

“Cao như tre miễu”

“Đen như cột nhà cháy”

Việc dùng thủ pháp so sánh trở giúp người tiếp nhận hiểu sâu sắc hơn về nhữngphương diện nào đó của sự vật, sự việc, từ đó có cái nhìn khái quát hơn về vấn đềđược đề cập đến Người ta chia so sánh ra làm hai loại: so sánh tu từ và so sánh luận lí

“Tôi thương bậu như chồng bậu thương”

Khi ta nói “10+10= 15+5” là chính xác, hợp lô-gích không thể chối cãi được

vì trong biểu thức tương đương của toán học thì hai vế đều bằng 20

“Nó cao như bố” là chuyện bình thường vì nó và cha nó xảy ra hiện tượng di

truyền, kiểu gen giống nhau thì chuyện cao giống nhau là điều dễ hiểu

Trang 8

Còn đối với chuyện hai chàng trai cùng thương một cô gái với mức độ tình cảmngang nhau, suy cho cùng, cũng không phải là không hợp lí, là trái với quy luật tìnhyêu Dạng so sánh này đơn thuần mang phần tin thông báo chứ không tạo ra hình ảnhnghệ thuật hay mang giá trị biểu cảm

“Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.”

(Ca dao)

“Đôi ta làm bạn thong dong

Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng.”

Trang 9

Nhân nghĩa tựa thiên kim”.

(Ca dao)

Cách so sánh này làm nổi bật lên tính cách của con người coi trọng nhân nghĩa,

không ham danh lợi Bởi vì so với nhân nghĩa, tiền tài trở nên vô giá trị (như phấn thổ), còn ngược lại nhân nghĩa lại đáng giá ngàn vàng (tựa thiên kim)

So sánh tu từ là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu haiđối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn màchỉ có một nét giống nhau nào đó về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong,nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng Do vậy so sánh tu từmang tính biểu cảm hơn so với cách nói bình thường không dùng biện pháp so sánh.Tuy nhiên tính biểu cảm ít hay nhiều còn tùy thuộc vào việc lựa chọn hình ảnh sosánh, ngôn ngữ so sánh hay cái chân tình mà người làm công việc so sánh sử dụng

Xét về mặt hình thức thì so sánh bao giờ cũng có hai vế, mỗi vế có một hoặcnhiều đối tượng Xét về mặt nội dung thì giữa hai vế so sánh có nét tương đồng và đóchính là cơ sở, là tiền đề cho sự so sánh hình thành Tóm lại, một phép so sánh tu từđặc sắc là đối tượng đưa ra so sánh khác loại, chính do hai đối tượng so sánh khác loạinên việc phát hiện ra nét giống nhau sẽ làm cho ý tứ trong câu trở nên độc đáo, ý nhị

mà không phải ai cũng có thể thấy được

1.1.3 Sự khác nhau giữa so sánh tu từ và so sánh luận lí

So sánh là công cụ giúp ta nhận thức sâu sắc hơn về phương diện nào đó của sựvật, hiện tượng Cả so sánh tu từ và so sánh luận lí đều mang trong nó chức năng nhậnthức Để phân biệt so sánh tu từ và so sánh luận lí, ta dựa trên những tiêu chí cùng loạihay khác loại của đối tượng nêu trong phép so sánh

So sánh luận lí dựa trên cơ sở tương đồng của các đối tượng đồng loại, nhằmchỉ ra sự hơn, kém, giống nhau, khác nhau đơn thuần giữa các đối tượng nhằm nhấnmạnh điều muốn nói mà không đòi hỏi cao về cách thể hiện, cách dùng từ

Trang 10

Ví dụ:

“ Bỗng nhiên một con cá Nhảy bên thuyền như trêu”

(Trần Đăng Khoa - Bên Bờ Sông Kinh Thầy) “ Mưa

Mưa

Ù ù như xay lúa”

(Trần Đăng Khoa - Mưa)

Nên có câu kết đoạn.

1.1.4 Những quan niệm về so sánh tu từ của các tác giả ngôn ngữ

So sánh tu từ được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm nhiều bởi đây làbiện pháp nghệ thuật có thể giúp người ta bày tỏ được trang thái tâm lí, tâm tư tìnhcảm, cảm xúc một cách ý nhị, tinh tế Sau đây là một vài quan niệm của một nhà ngônngữ học:

Tác giả Nguyễn Phan Cảnh trong quyển Ngôn ngữ thơ viết rằng: “So sánh là cách tổ chức dễ thấy nhất, cho phép tín hiệu kêu gọi và tín hiệu được kêu gọi cùng xuất hiện trên thông báo, và thông qua một tín hiệu chỉ dẫn, người đọc được báo về mối liên tưởng đó” [tr.93]

Tác giả Đào Thản viết trong quyển Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật: “So sánh là lối nói đối chiếu hai sự vật hoặc hai hiện tượng có một hay nhiều dấu hiệu giống nhau về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong Lối đối chiếu như vậy được dùng với mục đích giải thích, miêu tả, đánh giá và biểu lộ tình cảm về đối tượng được nói đến”.[tr.93]

Tác giả Đinh Trọng Lạc trong quyển “99 phương tiện và phương pháp tu từ tiếng Việt” viết: “So sánh (so sánh hình ảnh, so sánh tu từ) là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại trên thực tế khách quan đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét tương đồng nà đó nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng”.[tr.154]

Tác giả Nguyễn Văn Nở trong quyển “Giáo trình phong cách học tiếng Việt” đưa ra định nghĩa: “So sánh tu từ (comparison) là đối chiếu hai hay nhiều đối tượng (hoặc sự vật) có một nét tương đồng nào đó về hình thức bên ngoài hay tính chất bên

Trang 11

trong để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe”.[tr.123]

Tác giả Nguyễn Thái Hòa trong quyển “Phong cách học tiếng Việt” viết cùng với Đinh Trọng Lạc cho rằng: “So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó,

để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe”.[tr.189]

Tác giả Hữu Đạt trong quyển “Phong cách tiếng việt hiện đại” quan niệm rằng:

“So sánh tu từ là dùng thuộc tính hay tình trạng của sự vật, hiện tượng này giải thích cho thuộc tính hay tình trạng của sự vật khác”.[tr.336]

Tác giả Cù Đình Tú trong quyển Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt viết: “So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của đối tượng”.[tr.274]

Quan niệm của Lê Anh Hiển, trong quyển “Phong cách học tiếng Việt” viết:

“So sánh (hình ảnh) là sự đối chiếu hai đối tượng có một dấu hiệu chung nào đấy nhằm biểu hiện một cách hình tượng đặc điểm của một trong hai đối tượng đó”.

[tr.100]

Có thể thấy các tác giả ngôn ngữ trên đều có cách định nghĩa riêng về biện pháp

so sánh tu từ Tuy cách diễn đạt không hoàn toàn giống nhau nhưng đều hướng đếnmột điểm chung: So sánh là sự đối chiếu giữa hai đối tượng khác nhau và hai đốitượng đem ra đối chiếu phải có nét tương đồng nào đó Trong số các định nghĩa trên,hai định nghĩa có tính khái quát cao là định nghĩa của tác giả Cù Đình Tú và NguyễnVăn Nở Bởi vì trong thực tế cuộc sống, trong sáng tác của các nhà thơ, nhà văn khôngthể chỉ đối chiếu một đối tượng này với một đối tượng khác mà có khi còn có sự đốichiếu giữa các đối tượng với nhau

Ví dụ:

“ Em đi mần một ngày có hai cắc

Về thấy anh ngồi trong sòng tứ sắc,

Kể chắc anh thua rồi.

Trời đất ơi, con thơ năm bảy đứa, Gạo em kiếm từng nồi anh thấy chưa?

Trang 12

Em nói rồi nước mắt như mưa…”

2.2.1.1 Quan niệm của tác giả Nguyễn Văn Nở

Dạng A (như, hình như, giả như, tựa như, tựa thể…) B

Ví dụ:

“ Thiếp như một cụm hoa hường,

Thấy xinh rờ đến mắc đường chông gai”.

Trang 13

“ Em là con cá hóa long, Chín tầng mây phủ nằm trong da trời.

Anh là quân tử lỡ thời, Nằm trong da trời úp cả hóa long”.

là B” thì có tính chất khẳng định cao hơn dạng “A như B”, giữa A và B có xu hướng

đồng nhất hóa Phán đoán như thế không có nghĩa là A và B có sự tương đương gần

như tuyệt đối như so sánh lôgích Khi nói “A là B” thì so sánh vẫn nằm trong phạm vi

so sánh tu từ

Ví dụ:

“Cha già là vị cha chung (1)

Là sao bắc đẩu, là vầng thái dương” (2)

Xét ví dụ trên, ta kết luận rằng: (1) là phán đoán lô-gích, (2) là so sánh tu từ. Dạng A bao nhiêu, B bấy nhiêu

“Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang, Bao nhiêu tất đất, tất vàng bấy nhiêu”.

(Ca dao)

“ Qua đình ngã nón trông đình, Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”.

(Ca dao)

“ Mình đi mình lại nhớ mình, Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”.

(Tố Hữu - Việt Bắc)

Khi so sánh “A bao nhiêu, B bấy nhiêu” thường người ta muốn nói tới mối quan

hệ giữa cái trừu tượng và cái cụ thể:

Cái trừu tượng: “thương mình”

Cái cụ thể: “ngói”

Trang 14

Chính vì thế cho nên so sánh tu từ còn được gọi là so sánh hình ảnh Bởi vì cónhững cái trừu tượng không thể cân, đo, đong, điếm được lại đem so sánh với nhữnghình ảnh cụ thể.

Dạng A, B

Ví dụ:

“ Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ xài.

Ham chi bóng sắc, nó đọa đày tấm thân”.

(Ca dao)

“ Lời nói gió bay”.

(Tục ngữ) “ Anh, sông Hồng sông Mã

Gầm reo trong đạn lửa”.

(Chế Lan Viên) Đối với dạng thức so sánh này thì bao giờ cũng có từng cặp đối ứng với nhau vàđược ngăn cách bởi dấu phẩy [,], độ ngắt nhịp hay ngữ điệu của câu Cần phân biệtdạng thức này với hình thức đối dựa trên cơ sở cân xứng, hài hòa về số lượng âm tiết,ngữ điệu, thanh điệu, ngữ pháp… Còn so sánh tu từ dựa trên cơ sở so sánh những néttương đồng

2.2.1.2 Quan niệm của tác giả Hữu Đạt

Ông đưa ra mô hình khái quát của phép so sánh là AxB với:

A: là cái chưa biết được đem ra so sánh

B: là cái đã biết đem ra so sánh

Trang 15

“Sống chết một lần thôi

Con sẽ chết như những người đã chết

Và những người đang chết”.

(Trần Quang Long)

“Ta yêu những gì tha thiết

Như tre, dừa làng xóm quê hương

Như những con người biết mấy yêu thương”.

(Lê Anh Xuân)

- Loại 2: So sánh không có từ so sánh

Mô hình: A – B

Biến thể: A - B1B2; A1A2 - B; A1A2 - B1B2

Ví dụ:

“Bác ngồi đó lớn mênh mông,

Trời cao biển rộng, ruộng đồng nước non”.

(Tố Hữu – Sáng Tháng Năm)

- Loại 3: So sánh ngang bằng.

Ví dụ:

“Qua cầu ngã nón trông cầu,

Cầu bao nhiêu nhịp thương mình bấy nhiêu”.

So bề tài sắc lại là phần hơn.

Làn thu thủy nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”.

(Nguyễn Du - Truyện Kiều)

Trang 16

2.2.1.3 Quan niệm của tác giả Cù Đình Tú

Tác giả căn cứ vào hình thức và từ so sánh, đã chia ra thành các dạng thức

- A như (chừng như, tựa như…) B

Ví dụ:

“ Em đến với anh như tia nắng ấm Giữa những ngày mây phủ bốn phương trời Cơn gió lạnh mỗi giờ mỗi thấm

Nắng lên đi đẹp quá nắng ơi”!

(Tế Hanh – Em Đến Với Anh)

- A là B

Ví dụ:

“Chúng chị là hòn đá tảng trên trời Chúng em chuột nhắt cứ đòi lung lai”.

(Ca dao)

- A bao nhiêu, B bấy nhiêu

Ví dụ:

“Ngó lên nuộc lạt mái nhà,

Bao nhiêu nuộc lạt thương ông bà bấy nhiêu”.

(Ca dao) 2.2.1.4 Quan niệm của tác giả Bùi Tất Tươm

Theo ông thì so sánh tu từ có những kiểu so sánh sau:

- Kiểu so sánh AxB và các biến thể của nó (x: như, tựa như, giống, hơn)

Ví dụ:

“Thân em như hạt mưa sa,

Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày”.

(Ca dao)

- Kiểu A là B

Ví dụ :

“Cả một đời lo toan Lưng bà giờ như gẫy”

Trang 17

(Trần Đăng Khoa - Bà Và Cháu)

- Kiểu so sánh A bao nhiêu B bấy nhiêu

So sánh là một biện pháp tu từ tiếng Việt được cấu tạo theo mối quan hệ dựa trên

cơ sở liên tưởng tương đồng; cho nên, chúng ta dựa trên nét tương đồng này mà phân

so sánh tu từ ra làm hai loại: so sánh chìm và so sánh nổi

2.2.2.1 So sánh chìm

Là kiểu so sánh mà nét tương đồng không được bộc lộ, thể hiện ra bằng những từngữ cụ thể So sánh chìm làm cho những nét tương đồng lẩn khuất bên trong hai vếcủa phép so sánh cho nên người đọc tự tìm ra nét tương đồng ấy Muốn hiểu được thìngười đọc phải tư duy, phải liên tưởng, mà đặc biệt là hiểu được đối tượng, để xácđịnh mức độ giống nhau một cách chính xác

Ví dụ:

“Còn duyên như tượng tô vàng, Hết duyên như tổ ong tàn ngày mưa”.

(Ca dao)

“Anh như chỉ gấm thêu cờ,

Em như rau má lờ mờ giếng khơi”.

(Ca dao) “Tình anh như nước dâng cao,

Tình em như dãy lụa đào tẩm hương”.

(Ca dao)

“Công hoài thai như biển, Nghĩa dưỡng dục tựa sông”.

(Ca dao)

Nói “công hoài thai như biển” khiến ta liên tưởng đến công ơn sinh thành dưỡng

dục bao la, rộng lớn, khoan dung hết mực của cha mẹ Chính điều này làm cho sự liên

Trang 18

tưởng trong so sánh chìm trở nên phong phú hơn Nói như tác giả Cù Đình Tú: “Nó kích thích sự làm việc của trí tuệ và tình cảm nhiều hơn so sánh nổi”.[tr.276]

2.2.2.2 So sánh nổi

Là kiểu so sánh mà nét tương đồng được bộc lộ, được nêu ra ở phép so sánh bằngnhững từ ngữ cụ thể Trong loại so sánh này thì nét tương đồng của hai vế được bộc lộmột cách rõ ràng Hay nói cách khác, so sánh nổi tác động một cách trực tiếp vào cácgiác quan của con người

Ví dụ:

“Thẳng như ruột ngựa”

“Ốm như cây tre miễu”

“Trắng như tiên không phải duyên, anh chẳng tiếc, Đen như cục than hầm duyên hợp anh ưng”.

“Một vũng nước trong, con cá vùng cũng đục,

Đỏ như cục son tàu, gần mực cũng đen”.

“Ngỡi nhân nay giận mai hờn, Lòng em thẳng cứ như đờn lên dây”.

1.3 GIÁ TRỊ CHỨC NĂNG CỦA SO SÁNH TU TỪ

1.3.1 Giá trị của so sánh tu từ

Tiếng Việt có nhiều biện pháp tu từ khác nhau, ở mỗi biện pháp đều có một giá trịriêng So sánh tu từ là một cách tu từ cho nên nó cũng mang những giá trị chung như cácbiện pháp tu từ khác Trên thực tế, dù tiếng Việt khá phong phú và đa dạng so với một sốngôn ngữ khác trên thế giới nhưng nó cũng có giới hạn nhất định Trong khi đó, đời sốngcủa con người ngày càng phát triển, nhu cầu diễn đạt, bộc lộ tâm tư tình cảm càng cao nênnảy sinh ra các dạng thức tu từ làm giàu thêm vốn ngôn ngữ, khiến cách diễn đạt thêmphần thuyết phục Cùng với các biện pháp tu từ khác, so sánh tu từ trở nên vô cùng cầnthiết cho sự diễn đạt, đối với cùng một đối tượng, ta có nhiều từ ngữ để biểu thị hơn vàlàm cho sự diễn tả trở nên sâu sắc, đa dạng, phong phú, mang nhiều nét nghĩa

Ví dụ:

“Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình” (1)

(Lòng Mẹ)

“Mẹ là nải chuối, buồng cau” (2)

(Bông Hồng Cài Áo)

Trang 19

Khi sử dụng biện pháp so sánh ta có rất nhiều cách để nói về hình ảnh người mẹ Trong lời bài hát (1), thì cách so sánh “ lòng mẹ” như biển “Thái Bình” là một

cách so sánh độc đáo Biển chiếm khoảng 70% diện tích bề mặt trái đất, trong tất cảcác biển thì biển Thái Bình là biển lớn nhất Từ đó, người nghe có thể thấy được rằngtình mẹ hết sức rộng lớn, dường như không gì có thể so sánh được trên trái đất này.Cách so sánh ấy làm người nghe có thể suy ra một điều rằng mẹ vừa là cội nguồn, làtình yêu thương vừa là sự bao la, dung dị lúc nào cũng như biển cả rộng lớn mở rộngvòng tay đón những đứa con vào lòng

Lời bài hát (2) là lời người Nam Bộ hết sức mộc mạc, chân tình Họ không thíchphô trương tình cảm bằng những đối tượng so sánh cao sang, cầu kì, xa rời thực tế

Hình ảnh người mẹ trong bài hát Bông hồng cài áo được ví với “nải chuối”, “buồng cau” - những thứ hết sức giản dị và gần gũi với cuộc sống Chính cách so sánh này đã

làm cho bài hát dễ đi vào lòng người, êm ái và ngọt ngào bởi những hình ảnh thânthuộc của quê hương

1.3.2 Chức năng của so sánh tu từ

So sánh tu từ có hai chức năng chính đó là: chức năng nhận thức và chứcnăng biểu cảm

1.3.2.1 Chức năng nhận thức

Vì so sánh là dựa trên những nét nghĩa tương đồng giữa các đối tượng cho nên

so sánh tu từ là sự phát hiện, đối chiếu những nét tương đồng ấy Muốn được nhưthế thì người sử dụng phải có sự nhạy bén trong các giác quan, sự tế nhị trong tâmhồn Từ đó, phát hiện ra những điều mà người khác chưa để ý đến Vì vậy, chứcnăng nhận thức giúp cho chúng ta hiểu một cách đầy đủ, cặn kẽ những hàm ý ẩnchứa bên trong câu chữ

Ví dụ:

“ Trong như tiếng hạc bay qua

Đục như nước suối mới sa giữa trời

Tiếng khoan như gió thoảng ngoài

Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa”.

(Nguyễn Du - Truyện Kiều)

Bốn câu thơ như là bốn bức tranh, vừa thể hiện cái tài, vừa thể hiện cái tình Cách

so sánh mới mẻ, độc đáo, không lẫn vào đâu được Nguyễn Du đã sử dụng thành thạo

Trang 20

vốn ngôn ngữ của cha ông và thể hiện rất thành công trong tác phẩm Chính điều này

đã giúp tác phẩm trở thành tinh hoa và niềm tự hào của dân tộc Việt Nam

1.3.2.2 Chức năng biểu cảm

Qua các hình ảnh so sánh tu từ, người nói thể hiện ít nhiều tình cảm: yêu, ghét,buồn, vui, khen, chê, khinh, trọng… đối với đối tượng và qua đó tác động đến ngườinghe Chính vì thế so sánh tu từ còn có chức năng biểu cảm Muốn thấy rõ được chứcnăng biểu cảm thì chúng ta phải khai thác những nét nghĩa hàm ẩn, chứ không chỉ là

sự liên tưởng đến những nét chung nhất Ta thử xét một vài ví dụ để minh chứng:

“Thơ, thơ đong từng ngao nhưng tác bể,

Là cân nhỏ xíu lại cân đời” (1)

(Chế Lan Viên)

“Anh như con một nhà giàu,

Em như tờ giấy bên Tàu mới sang” (2)

(Ca dao)

Ở câu (2) thông qua những hình ảnh được so sánh, so sánh tu từ đã góp phần tạo

nên sự đối lập của hai nhân vật “anh” và “em” Qua đó, bài ca dao bộc lộ quan niệm

trọng nam khinh nữ vốn rất đè nặng trong xã hội phong kiến Nhờ vậy chúng ta có thểhiểu rõ hơn về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa, một xã hội mà quan hệ giữanam và nữ có sự bất bình đẳng

Chung quy lại, chức năng biểu cảm là chức năng quan trọng nhất Hiển nhiên,một phép so sánh nào cũng chứa đựng một lượng thông tin, từ lượng thông tin ta cóthể ta có thể nhận ra một ý nghĩa nào đó So sánh tu từ có chức năng vừa là công cụnhận thức, vừa là phương tiện giúp chúng ta bày tỏ tình cảm, thái độ trước nhữngvấn đề của xã hội Mặt khác, nó còn giúp cho chúng ta tư duy, như lời nhận xét của

tác giả Lê Đình Tuấn: “Trong tiếng Việt, sánh tu từ được sử dụng nhiều nhất so với các phương thức tu từ từ vựng khác: ẩn dụ, nhân hóa, thậm xưng, chơi chữ, phúng dụ… Khi giải thích ta thường dùng so sánh để làm rõ hơn điều mình muốn thông báo Nhà văn lại càng dùng so sánh, bởi vì đối với họ, so sánh không chỉ giúp người đọc nhận thức sự vật hiện tượng, tình thái, tính chất một cách chính xác mà còn muốn thông qua so sánh làm tăng tính gợi cảm, gợi hình và biểu cảm cho câu văn Nếu đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ văn chương là tính thẩm mĩ thì nhà văn

Trang 21

sử dụng so sánh như một biên pháp tu từ quan trọng để làm nên giá trị thẩm mĩ của văn chương”.[tr.12]

CHƯƠNG 2 NGHỆ THUẬT SO SÁNH TU TỪ TRONG THƠ

Trang 22

TRẦN ĐĂNG KHOA2.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Trần Đăng Khoa

2.1.1 Cuộc đời

Trần Đăng Khoa sinh ngày 24 tháng 4 năm 1958, quê làng Trực Trì, xã QuốcTuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương là một nhà thơ, nhà báo, biên tập viên Tạp chíVăn Nghệ Quân Đội, hội viên hội nhà văn Việt Nam

Nhà thơ Trần Đăng Khoa có một anh trai là nhà thơ, nhà báo Trần Nhuận

Minh – tác giả của các tập thơ: nhà thơ và hoa cỏ, bản xô nát hoang dã, 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh… nguyên là chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng

Ninh Một chị gái là Trần Thị Bình hiện sống ở quê cùng với hai cụ thân sinh củanhà thơ Ông còn có một người em gái tên là Trần Thị Thúy Giang, hiện đang làmgiáo viên tại Cầm Phả – Quảng Ninh

Trần Đăng Khoa nhập ngũ ngày 26 tháng 2 năm 1975 khi đang học lớp 10/10 tạitrường phổ thông cấp 3 Nam Sách, quân số tại Tiểu đoàn 691 – Trung đoàn 2 – Quântăng cường Hải Hưng, sau khi giải phóng miền Nam việc bổ sung cho chiến trườngkhông cần thiết nữa, ông được bổ sung vào quân chủng Hải quân Sau đó ông theo họctrường viết văn Nguyễn Du và được cử sang học tại viện văn học thế giới mang tênM.Gorki thuộc viện Hàn lâm khoa học xã hội Nga Khi trở về nước ông làm biên tậpviên văn nghệ Quân đội Từ tháng 6 năm 2004, khi đã mang quân hàm thượng tá Quânđội nhân dân Việt Nam, ông chuyển sang phụ trách Ban văn nghệ đài tiếng nói ViệtNam Hiện nay ông giữ chức giám đốc của hệ phát thanh có hình VOVTV của đài

2.1.2 Sự nghiệp sáng tác.

Nhiều thế hệ độc giả sau này đều nằm lòng những bài thơ như “Hạt gạo làng ta”,

“mẹ ốm”, “cây dừa”,… Giọng thơ trong sáng tự nhiên, sự quan sát tinh tế hồn nhiên

và cảm xúc dạt dào về gia đình, quê hương, đất nước trong hồn thơ của ông đã tạođược sự yêu thích của độc giả

Từ nhỏ ông được nhiều người cho là “thần đồng thơ” Lên 8 tuổi, ông đã có thơ được đăng báo Năm 1968, khi mới lên 10 tuổi, tập thơ đầu tiên của ông là “Góc sân

và khoảng trời” được xuất bản bởi nhà xuất bản Kim Đồng – tập thơ gắn liền với tên tuổi của ông cũng là tập thơ “Góc sân và khoảng trời” Ngay từ khi ra đời tập thơ đã

tạo được một tiếng vang lớn trong làng thơ ca Việt Nam Có lẽ tác phẩm được nhiều

người biết đến nhất của ông là bài thơ “Hạt gạo làng ta” sáng tác năm 1968, được

Trang 23

Xuân Diệu hiệu đính, sau được nhạc sĩ Trần Viết Bính phổ nhạc năm (1971) Nhưng

theo đánh giá của “Thuquan.com” trên Internet thì nếu Trần Viết Bính không là

người phổ nhạc bài thơ “Hạt gạo làng ta” thì vẫn có những nhạc sĩ khác phổ nhạc

thành công bài thơ này Bởi vì bài thơ “Hạt gạo làng ta” của Trần Đăng Khoa mang

đầy nhạc tính

Trần Đăng Khoa không có nhiều tác phẩm và danh hiệu “thần đồng thơ” của

Trần Đăng Khoa thời thơ ấu không hề liên quan hay nối tiếp đến quãng đời về sau khinhà thơ vào lính Ông theo học ở Nga, khi về nước làm Biên tập viên, làm báo Thihứng một thời, hiển nhiên không còn động lực cho xúc cảm khi tác giả cao tuổi.Những tác phẩm nổi bật của Trần Đăng Khoa:

“Góc sân và khoảng trời”, tập thơ 1968, tái bản khoảng 30 lần, được dịch và

xuất bản tại nhiều nước trên thế giới

“Từ góc sân nhà em”, 1968.

“Khúc hát người anh hùng”, trường ca – 1974.

“Bên cửa sổ máy bay”, tập thơ – 1986.

“Chân dung và đối thoại”, tiểu luận phê bình, hà nội nhà xuất bản thanh niên,

1998, tái bản nhiều lần Tác giả cho biết ban đầu đã dự kiến phát hành tập II củatác phẩm này, nhưng hiện đã nộp bản thảo vào phần I để tái bản

Bài “Thơ tình người lính biển” đã được nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ nhạc.

“Đảo chìm”,2000, tập truyện kí, đến đầu năm 2009 đã tái bản 25 lần.

Ông 3 lần nhận được giải thưởng thơ của báo thiếu niên tiền phong (các năm

1968, 1969, 1971), giải nhất báo văn nghệ (1982) và giải thưởng nhà nước (2000)

2.2 Nghệ thuật so sánh tu từ trong thơ Trần Đăng Khoa

2.2.1 Hình thức so sánh trong thơ Trần Đăng Khoa

Trong tất cả các biện pháp tu từ thì ở mỗi biện pháp có một cấu trúc riêng để chongười đọc có thể nhận ra đây là biện pháp tu từ nào Vậy cấu trúc là gì? Cấu trúc làtoàn bộ những mối quan hệ bên trong giữa các thành phần tạo nên một chỉnh thể Chonên cấu trúc phải được sắp xếp, bố trí theo một hệ thống nhất định Nhà thơ Trần ĐăngKhoa đã chọn cho mình những cấu trúc nhất định về so sánh tu từ để thể hiện trong tácphẩm của mình đó là: A như B, A là B, A hơn, kém B

2.2.1.1 Hình thức so sánh A như B

Trang 24

Cấu trúc so sánh này được nhà thơ sử dụng nhiều nhất trong những tác phẩm của

mình Có lẽ đây là cấu trúc dễ sử dụng đối với một “nhà thơ trẻ con”, với cấu trúc này

ông dễ dàng và tự nhiên hơn khi diễn tả, bộc lộ những tâm tư tình cảm của mình.Theo thống kê của người viết thì có 229/292 câu sử dụng biện pháp tu từ so sánh,chiếm tỉ lệ 78,4% tổng số các câu có chứa biện pháp tu từ trong thơ Trần Đăng Khoa

mà người viết khảo sát Đây là cấu trúc dễ nhận dạng nhất trong tất cả các cấu trúc của

so sánh tu từ bởi vì vế so sánh và vế được so sánh lộ rõ trên bề mặt ngôn từ Tuynhiên, không vì thế mà giá trị biểu đạt, sắc thái biểu cảm của câu thơ giảm sút, ngượclại chính cái chân chất, thật thà, hồn nhiên,… trên bề nổi ấy lại chở thêm một khối

lượng lớn những “cảm quan sáng tác” khác như: sự quan sát tinh tế, cảm nhận cuộc

sống,… qua đó thể hiện sự thâm nhập vào thiên nhiên, vào cuộc sống một cách rất tựnhiên của thần đồng thơ Trần Đăng Khoa

Ví dụ:

“Một bác chài lặng lẽ Buông câu trong bóng chiều Bỗng nhiên con cá nhỏ Nhảy bên thuyền như trêu”

(Bên Bờ Sông Kinh Thầy)Hay:

“Tối về ông trăng đến Cùng các đội bình công

Ấm nước chè tỏa nóng Thơm như hương lúa đồng”

(Thôn Xóm Vào Mùa)

Biện pháp so sánh tu từ “A như B” được các nhà thơ sử dụng rất nhiều, đã có

nhiều người quan tâm nghiên cứu trong Luận văn tốt nghiệp ở trường ta như:

“So sánh tu từ trong hai tập thơ “Từ ấy” và “Việt Bắc” của Tố Hữu” (Nguyễn

Văn Chạy – Ngữ văn Khóa 6), trong luận văn này tác giả đã thống kê được cấu trúc so

sánh “A như B” chiếm tỉ lệ 92/107 câu thơ

“So sánh tu từ trong thơ Chế Lan Viên” (Nguyễn Phúc Hậu – Ngữ Văn Khóa

6), trong luận văn này tác giả khảo sát cấu trúc so sánh “A như B” của Chế Lan Viêntrong giai đoạn trước và sau cách mạng tháng Tám chiếm tỉ lệ 214/275 câu thơ

Trang 25

(Nên tìm thêm một luận văn về đề tài so sánh nữa ở trường ta)

Ví dụ:

“ Trăng ơi… Từ đâu đến?

Hay từ cánh rừng xa Trăng hồng như quả chín Lửng lơ treo trước nhà”.

(Trăng Ơi…Từ Đâu Đến?) Trần Đăng Khoa đã liên tưởng mặt trăng “màu hồng như quả chín”, trăng là

một vật thể của vũ trụ không thể nào với tới được, còn quả chín là một vật thể rất gầngũi Trần Đăng Khoa rất tài tình khi đưa một vật tưởng chừng không thể nào với tới

để đem “treo lên trước nhà” Đây là một cảm nhận rất giản đơn, hồn nhiên của một

đứa trẻ Qua đó cho thấy sự sáng tạo, độc đáo làm nên phong cách thơ rất riêng củaTrần Đăng Khoa

2.2.1.2 Hình thức so sánh A là B

“A là B” là dạng so sánh tu từ có tính khẳng định cao hơn dạng “A như B” vì với từ “là” ta có cảm tưởng giữa A và B lúc này có xu hướng đồng nhất Nói như thế,

không có nghĩa là A và B giống hệt nhau một cách tuyệt đối mà giữa A và B chính là

sự khẳng định cao, sâu sắc về sự việc đem ra đối chiếu

Biện pháp so sánh tu từ “A là B ” được Trần Đăng Khoa sử dụng tương đối

nhiều trong các tác phẩm, cụ thể là 59/292 câu, chiếm tỉ lệ 20,1% tổng số các câu cóchứa biện pháp so sánh Ở mỗi lần sử dụng thì biện pháp này đóng vai trò, ý nghĩakhác nhau

Ví dụ:

“Chúng em lòng những là buồn

Trang 26

Vẫn cười hát, để thầy còn đi xa

Em nhìn mấy bông hoa ngoài cửa Hỏi rằng hoa có nhớ thầy không”?

(Thầy Giáo Đi Bộ Đội)

“Một vùng tươi mát trong lành Cái nắng trưa hè dịu lại Vui vẻ người qua, hoa ơi

Ai bảo em là hoa dại”?

(Hoa Dại)

Trong bài thơ Thầy giáo đi bộ đội đã thể hiện được tấm lòng của nhà thơ đối

với thầy giáo của mình Đó là sự nhớ thương, sự cố gắng tỏ ra vui vẻ để thầy giáo củamình ra đi Thực ra, Trần Đăng Khoa khẳng định một điều: khi thầy vào miền Nam đểchiến đấu thì trong lòng của nhà thơ rất buồn Thực ra là lời Trần Đăng Khoa tự vấn

bản thân mình “hỏi hoa rằng có nhớ thầy không ?” Nhờ biện pháp so sánh tu từ mà

nhà thơ đã thể hiện được nỗi buồn, sự nhớ thương của mình khi thầy giáo đi bộ đội

Trong biện pháp so sánh “A là B” có sự khẳng định về giá trị nhận thức, làm

cho cái trừu tượng rõ hơn qua hình ảnh cụ thể Nói như thế không hẳn cái so sánh vàcái được so sánh là giống nhau hoàn toàn như so sánh luận lí Chính lối so sánh nàylàm cho sự vật, sự việc cụ thể và có giá trị biểu cảm

2.2.1.3 Hình thức so sánh “A hơn, ít B”

Ngoài những từ so sánh thông dụng thì dạng so sánh “A hơn, kém B” cũng

được Trần Đăng Khoa chiếm tỉ lệ 4/292 câu, tức là 1,5% tổng số các câu có chứa biệnpháp so sánh Tuy nhiên độ sắc sảo trong câu chữ vẫn còn nguyên giá trị của nó

Ví dụ:

“Những trang giấy cứ cồn trên mặt đất Đường hành quân dẫn đến mọi chân trời Cao hơn trang thơ, hơn cả cuộc đời

Là tổ quốc đang một còn, một mất”.

(Thư Thơ)Một cậu bé mười bốn tuổi mà đã có những suy nghĩ thật chín chắn, thật trưởngthành khi nghĩ mình đã lớn và phải có trách nhiệm với quê hương, đất nước Nỗi khaokhát được ra ra chiến trường, được cùng các anh bộ đội hành quân giết giặc để giành

Ngày đăng: 10/04/2013, 09:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Chấtliệusosánh tu từ còn gọi là sosánh hình ảnh. Nói như thế, hình ảnh giữ một vai trò quan trọng trong phép so sánh, bằng những hình ảnh câu thơ sẽ được cụ thể  hóa và mang tính biểu cảm cao hơn - So sánh tu từ trong thơ Trần Đăng Khoa
h ấtliệusosánh tu từ còn gọi là sosánh hình ảnh. Nói như thế, hình ảnh giữ một vai trò quan trọng trong phép so sánh, bằng những hình ảnh câu thơ sẽ được cụ thể hóa và mang tính biểu cảm cao hơn (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w