1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

biến cố - 5 biến cố lớn của trái đất

25 571 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 5,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I KHÁI QUÁT VỀ BIẾN CỐ.Theo các nhà khoa học, biến cố là những thảm họa lớn xảy ra trên Trái Đất có khoảng thời gian kéo dài từ 1 đến 15 triệu năm, làm cho trên 50% số giống loài độngvật

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM

KHOA ĐỊA LÝ Lớp 1A_K34

Trang 2

TPHCM-Tháng 4/2009

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

I KHÁI QUÁT VỀ BIẾN CỐ 3

II NHỮNG GIẢ THUYẾT CHÍNH VỀ NGUYÊN NHÂN CÁC BIẾN CỐ 3

II.1 NHỮNG NGUYÊN NHÂN TỪ CHÍNH TRÁI ĐẤT 3

II.1.a Sự trôi dạt của các lục địa 3

II.1.b Sự hạ thấp của mực nước biển trên toàn cầu 4

II.1.c Sự thay đổi khí hậu toàn cầu theo hướng lạnh hơn hoặc ấm hơn 4

II.1.d Sự phun trào mãnh liệt của núi lửa 4

II.1.e Sự suy giảm lượng oxi trong các đại dương 4

II.2 NHỮNG NGUYÊN NHÂN TỪ BÊN NGOÀI TRÁI ĐẤT 5

II.2.a Sự tác động của những thiên thạch khổng lồ & của sao chổi 5

II.2.b Những vụ nổ của các siêu sao (siêu tân tinh) 6

III NHỮNG BIẾN CỐ LỚN TRONG LỊCH SỬ TRÁI ĐẤT 6

III.1 KỈ OCDOVIC 6

III.1.a Đặc điểm & Hậu quả 6

III.1.b Nguyên nhân 7

III.2 KỈ DEVON 7

III.2.a Đặc điểm & Hậu quả 7

III.2.b Nguyên nhân 8

III.2.b.1 Băng hà 8

III.2.b.2 Sự tác động của thiên thạch 8

III.3 KỈ PECMI 9

III.3.a Đặc điểm & Hậu quả 9

III.3.b Nguyên nhân 9

III.3.b.1 Vụ nổ của một siêu sao 9

III.3.b.2 Sự trôi dạt của các lục địa & Sự phun trào của núi lửa 10

III.3.b.3 Sự thiếu oxi trong đại dương 10

III.3.b.4 Sự tác động của thiên thạch 11

III.4 KỈ TRIAT 11

III.4.a Đặc điểm & Hậu quả 11

III.4.b Nguyên nhân 12

III.5 KỈ KRETA 13

III.5.a Đặc điểm & Hậu quả 13

III.5.b Nguyên nhân 14

III.5.b.1 Giả thuyết 1: Những vụ va chạm với các thiên thạch 14

III.5.b.2 Giả thuyết 2: Một vụ phun trào núi lửa dữ dội 15

III.5.b.3 Những giả thuyết khác 15

IV NHỮNG BIẾN CỐ PHỤ TRONG LỊCH SỬ TRÁI ĐẤT 16

IV.1 TIỀN CAMBRI 16

IV.2 KỈ CAMBRI 17

IV.2.a Giả thuyết băng hà 17

Trang 4

IV.2.b Giả thuyết về sự cạn kiệt oxi 17

IV.3 KỈ JURA 17

IV.4 THẾ OLIGOXEN 18

IV.5 KỈ NEOGEN 19

IV.6 THẾ HOLOXEN 20

PHỤ LỤC 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 5

I KHÁI QUÁT VỀ BIẾN CỐ.

Theo các nhà khoa học, biến cố là những thảm họa lớn xảy ra trên Trái Đất có

khoảng thời gian kéo dài từ 1 đến 15 triệu năm, làm cho trên 50% số giống loài độngvật và thực vật đang tồn tại bị biến mất hoàn toàn

Vì vậy, chứng cứ chủ yếu để nghiên cứu, tìm ra một biến cố là sự giảm sút đột ngộtcủa các giống loài sinh vật vào một kỉ nào đó của Trái Đất Trải qua các quá trìnhnghiên cứu, thống kê về sự giảm sút của các giống loài qua các kỉ địa chất và đưa lên

đồ thị, các nhà khoa học đã giúp chúng ta thấy rõ: Trái Đất đã trải qua 5 biến cố lớnvào các kỉ Ocdovic, Devon, Pecmi, Triat, Kreta và hơn một chục biến cố khác nhỏ hơnxảy ra trong đại Cổ Sinh, Trung Sinh và Tân Sinh

Hình 1_Biểu đồ thể hiện cường độ các biến cố trong lịch sử Trái Đất

II NHỮNG GIẢ THUYẾT CHÍNH VỀ NGUYÊN NHÂN CÁC BIẾN CỐ.

II.1 NHỮNG NGUYÊN NHÂN TỪ CHÍNH TRÁI ĐẤT.

II.1.a Sự trôi dạt của các lục địa.

Sự trôi dạt của các lục địa đã đùn các dòng vật chất hữu cơ từ dưới đáy biển lêntrên mặt biển và giải phóng một khối lượng lớn khí CO2 vào khí quyển, làm tăng hiệuứng nhà kính Đồng thời, một phần khí CO2 hòa tan trong nước biển đã làm nhiễm độc

và hủy diệt các loài sinh vật biển lúc bấy giờ

Ngoài ra, khi tất cả các lục địa trên Trái Đất kết nối lại với nhau thì tính đa dạngcủa các loài sinh vật trên toàn cầu sẽ giảm đi Bởi vì khi tồn tại nhiều lục địa khác

Trang 6

nhau thì các loài sinh vật khác nhau có thể chiếm những không gian sinh thái giốngnhau trên các lục địa đó.

II.1.b Sự hạ thấp của mực nước biển trên toàn cầu.

Hiện tượng này làm cho không gian sống của các loài sinh vật ở đại dương – nhất

là những loài sống ở độ sâu ít hơn 1000m - bị thu hẹp

II.1.c Sự thay đổi khí hậu toàn cầu theo hướng lạnh hơn hoặc ấm hơn.

Các loài sinh vật có khuynh hướng di trú hơn là tiến hóa và đã bị tuyệt chủng trongsuốt những thời kỳ băng hà trên Trái Đất Sự nóng lên của khí hậu được xem là nguyhiểm hơn so với sự lạnh đi bởi vì những sinh vật sống ở các vùng có vĩ độ cao hoặccác vùng có độ cao khá lớn so với mực nước biển có thể sẽ không còn nơi nào để ditrú

II.1.d Sự phun trào mãnh liệt của núi lửa.

Sự hoạt động của núi lửa sẽ phát ra một lượng lớn tro bụi,khí CO2 và SO2 Khí SO2 sẽ phản ứng với hơi nước và oxitạo thành những trận mưa axit Sự ngập lụt rộng khắp gây

ra bởi những dòng dung nham chứa đầy magma nóng chảy

đã tạo ra sức ép môi trường và dẫn tới sự tuyệt chủng hàngloạt các giống loài Ngoài ra, khói từ những vụ phun tràonúi lửa có thể làm nhiễm độc các sinh vật một cách cục bộ

Hình 2_Núi lửa phun trào

Hình 3_Dung nham và khói tỏa ra từ sự phun trào núi lửa

II.1.e Sự suy giảm lượng oxi trong các đại dương.

Trong các đại dương có lượng oxi bị suy giảm do oxi hòa tan trong nước theo chu

kỳ đã cho phép các chủng loại vi khuẩn sống không cần oxi có thể phát triển mạnh mẽ

và tạo ra một lượng lớn khí độc hidro sulfua (H2S) Và trong suốt quá trình tuần hoàncủa đại dương, khí này có thể được giải phóng và làm nhiễm độc các sinh vật trên đấtliền Ngoài ra, khí này còn có thể tiêu hủy tầng ozon của khí quyển, làm cho bức xạ từcác tia cực tím tiếp tục giết chết nốt các loài đã sống sót sau sự phun trào khí độc này

Trang 7

Các nguyên nhân này không xảy ra độc lập mà có liên quan với nhau: ví dụ sự lạnh

đi của khí hậu toàn cầu có thể dẫn đến sự hình thành của những chỏm băng ở 2 cực.Nếu nước trên Trái Đất bị chứa trong các chỏm băng này thì mực nước biển sẽ bị hạthấp bởi vì chỉ còn một lượng nước nhỏ chứa trong các đại dương Một ví dụ khác, sựnóng lên của khí hậu toàn cầu có thể gây ra sự thiếu oxi trong các đại dương bởi vìlượng oxi trong nước có thể bị phân hủy một phần ở nhiệt độ cao

II.2 NHỮNG NGUYÊN NHÂN TỪ BÊN NGOÀI TRÁI ĐẤT.

II.2.a Sự tác động của những thiên thạch khổng lồ & của sao chổi.

Hình 4_Thiên thạch va chạm vào Trái Đất

Sự tác động của các thiên thạch và sao

chổi đã gây nên những hậu quả tàn khốc

cho sinh quyển của Trái Đất Sự va chạm

sẽ tạo ra những miệng hố có đường kính

lớn gấp 10 lần đường kính của thiên thạch

va chạm Năng lượng khổng lồ từ sự va

chạm (gấp hàng triệu lần năng lượng của

vụ nổ bom nguyên tử ở Hiroshima) đã ném

vào bầu khí quyển một lượng khổng lồ tro

bụi, hơi nước, đất đá nóng chảy và gây ra vô số tai họa như: bão tố, sóng thần, bóngtối, kế đến là sự nóng lên do hiệu ứng nhà kính, những trận mưa axit và những vụ cháytrên khắp hành tinh

Theo tính toán của các nhà khoa học, khi một thiên thạch va chạm vào Trái Đất

nó có thể tạo ra những trận bão khủng khiếp có tốc độ trên 100 km/h, bốc cao trên

45 km và làm gia tăng nhiệt độ nước biển lên đến 50oC Đám mây dày đặc đất, bụi, hơi nước…không chỉ che ánh nắng Mặt Trời mà còn phá hủy tầng ozon Bóng tối

sẽ hạn chế quá trình quang hợp, hậu quả là rất nhiều loài thực vật bị diệt vong kéo theo

sự suy giảm của các loài động vật ăn cỏ

Hình 5_Thiên thạch đem đến tai họa cho Trái Đất

Trong khi di chuyển xuyên qua bầu khí quyển, các thiên thạch sẽ tạo ra những trậnmưa axit Quá trình di chuyển của thiên thạch sẽ đốt nóng không khí làm cho mộtlượng khí nitơ bị oxi hóa thành NO2 Khí NO2 sẽ phản ứng với hơi nước và oxi tạothành axit nitric (HNO3)

4NO2 + 2H2O + O2  4HNO3

Nếu thiên thạch va chạm vào những vùng có chứa thạch cao (CaSO4) thì khí SO2 sẽđược tạo thành Khí này sẽ phản ứng với hơi nước và oxi tạo thành axit sunfuric(H2SO4)

2SO2 + 2H2O + O2  2H2SO4

Trang 8

Các nhà khoa học cũng không chắc chắn về sự tác động của sao chổi bởi vì khốilượng của chúng nhỏ hơn nhiều so với những thiên thạch có cùng kích thước Hầu hếtchúng đều nổ tung ở phía trên bề mặt Trái Đất, không tạo ra miệng hố mà chỉ làm đổngã cây cối trên hàng ngàn dặm vuông.

II.2.b Những vụ nổ của các siêu sao (siêu tân tinh).

Tên gọi siêu sao mới (siêu tân tinh) xuất phát từ việc

quan sát trong lịch sử nhữnghiện tượng hiếm có, khi mộtngôi sao đột ngột bùng sángnhư thể vừa sinh ra Dựatheo cường độ sáng chúngđược ghi nhận là tân tinhhoặc siêu tân tinh

Hình 6_Siêu tân tinh SN 1054 Hình 7_Siêu tân tinh SN 1604

Đây là một số loại vụ nổ của sao tạo nên các vật

thể rất sáng chủ yếu gồm plasma1 bùng lên trong

một thời gian ngắn, tổng năng lượng thoát ra đạt tới

1044J Bức xạ gamma phát ra từ vụ nổ mang theo

nguồn năng lượng khổng lồ này sẽ phá hủy tầng

ozon, làm cho các sinh vật trên mặt đất bị nhiễm

phóng xạ và không thể sống sót Bản chất của hiện

tượng siêu tân tinh là điểm kết cục của một số loại

sao của quá trình tiến hóa của chúng

Hình 8_Một vụ nổ siêu tân tinh

III NHỮNG BIẾN CỐ LỚN TRONG LỊCH SỬ TRÁI ĐẤT.

III.1 KỈ OCDOVIC.

III.1.a Đặc điểm & Hậu quả.

Biến cố kỉ Ocdovic đã diễn ra vào khoảng 444 – 447 triệu năm trước (có tài liệucho rằng con số này là 439 triệu năm)

Đây là biến cố lớn thứ hai trong số 5 biến cố chính trong Lịch sử Trái Đất theo tỷ lệphần trăm các giống bị tuyệt chủng

Vào thời gian đó tất cả các sinh vật đa bào phức tạp đều sinh sống trong lòng đạidương Biến cố này đã làm cho khoảng 25% họ ứng với khoảng 60% giống sinh vậtbiển và khoảng 49% giống động vật đã biến mất hoàn toàn Các động vật ngành Tay

cuộn đã bị suy giảm đi nhiều, cùng với nhiều loài Bọ ba thùy, loài Conodonta

1 Plasma là một trạng thái vật chất trong đó các chất bị ion hóa mạnh Đại bộ phận phân tử hay nguyên

tử chỉ còn lại hạt nhân, các electron chuyển động tương đối tự do giữa các hạt nhân.

Trang 9

III.1.b Nguyên nhân.

Giả thuyết được chấp nhận rộng rãi nhất cho biến cố này do sự bắt đầu của một thời

kỳ băng hà gây ra để kết thúc các hiệu ứng nhà kính ổn định trong suốt kỉ Ocdovic.Thời kỳ băng hà này có lẽ đã không kéo dài như người ta đã từng nghĩ Kết quảnghiên cứu các đồng vị oxi trong các hóa thạch của động vật ngành Tay cuộn chỉ rarằng nó có lẽ đã không kéo dài quá 0,5 – 1,5 triệu năm Sự kiện này diễn ra ngay saukhi có sự sụt giảm lượng khí CO2 trong khí quyển và nó có ảnh hưởng mang tính chọnlọc tới các vùng biển nông là khu vực mà đa số các sinh vật sinh sống Do siêu lục địaGondwana trôi dạt tới Nam cực nên các chỏm băng đã hình thành trên bề mặt nó (điềunày đã được minh chứng bởi sự phát hiện các trầm tích thuộc thế Ocdovic thượng ởBắc Phi và Đông Bắc Nam Mỹ, khi đó chúng nằm cận kề nhau và có vị trí tại khu vựcquanh cực Nam vào thời gian này)

Sự hóa băng đã giam giữ nước khỏi các đại dương, còn giai đoạn giữa các kỉ băng

hà lại giải phóng nó Điều này làm cho mực nước biển xuống và lên lặp lại theo thờigian và mang tính chu kỳ Các biển nông rộng lớn và cận lục địa trong kỉ Ocdovic đã

bị rút xuống và nó loại trừ nhiều hốc sinh thái, sau đó nó lại trở lại và mang theo cácquần thể sinh vật đã bị thu nhỏ sự đa dạng Sau đó lại rút xuống một lần nữa với nhịpđiệu mới của sự hóa băng cùng việc loại trừ sự đa dạng sinh học ứng với mỗi chu kỳthay đổi Các loài có môi trường sống bị hạn chế trong các vùng biển trên thềm lục địarộng lớn đã chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Các loài sống sót là những loài có thể đươngđầu với các điều kiện thay đổi và chúng nhanh chóng trám vào các hốc sinh thái bị bỏngỏ do các biến cố gây ra

Vào thời gian kết thúc của biến cố này, băng hà tan chảy đã làm cho mực nướcbiển dâng lên và ổn định một lần nữa Khi bắt đầu kỉ Silua, sự tái ngập lụt vĩnh cửu cácthềm lục địa đã dẫn đến sự hồi phục của sự đa dạng sự sống, làm gia tăng sự đa dạngsinh học trong các bộ, họ còn sống sót

Năm 2006, A.Melott và những nhà khoa học khác đã đặt ra giả thuyết là một vụbùng nổ bức xạ gamma kéo dài khoảng 10 giây có thể là nguyên nhân của biến cốnày Nó tiêu hủy tầng ozon và làm cho các sinh vật sống trên mặt đất cũng như gầnmặt biển bị nhiễm phóng xạ

 Tuy nhiên, phần lớn các nhà khoa học vẫn cho rằng biến cố này là phức tạp với nhiềunguyên nhân khác nhau

III.2 KỈ DEVON.

III.2.a Đặc điểm & Hậu quả.

Biến cố này xảy ra vào giai đoạn cuối kỉ Devon, cách đây khoảng 364 triệu năm vàkéo dài trong khoảng 7 triệu năm

Biến cố kỉ Devon đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới các sinh vật biển – 22% họ ứngvới khoảng 57% giống sinh vật biển bị tiêu diệt – nhưng ít tác động đến hệ thực vậttrên Trái Đất Các giống loài quan trọng nhất bị ảnh hưởng bởi biến cố này bao gồm

Stromatoporoids, San hô vách đáy, San hô Rugose, ngành Tay cuộn, Bọ ba thùy, Conodonta, Acritarchs, loài cá Placoderm (thuộc nhánh Có miệng hàm)…

Trang 10

Hình 9_Stromatoporoids, San hô vách đáy & San hô Rugose

Hình 10_Acritarchs & loài cá Placoderm

III.2.b Nguyên nhân.

Nguyên nhân của biến cố kỉ Devon cho đến nay vẫn chưa được làm rõ một cáchthỏa đáng, tất cả những giả thuyết đều chỉ dừng lại ở mức suy đoán là chính và vẫncòn đang được các nhà khoa học nghiên cứu, tranh luận rộng rãi

III.2.b.1 Băng hà.

Bằng chứng này đã khiến các nhà cổ sinh vật học cho rằng biến cố này xảy ra vàogiữa thời kỳ băng hà Tương tự như biến cố kỉ Ocdovic, sự lạnh đi của khí hậu toàncầu dẫn đến sự hạ thấp của mực nước biển có thể là tác nhân gây ra biến cố kỉ Devon

III.2.b.2 Sự tác động của thiên thạch.

Năm 1969, Digby McLaren – nhà cổ sinh vật học người Canada – cho rằng biến cốnày xảy ra bởi sự va chạm của thiên thạch Tuy nhiên, ý kiến này cũng không thật sựthuyết phục bởi vì hiện nay, những bằng chứng về sự tồn tại của các hố thiên thạchtrên Trái Đất thời kỳ này là hầu như không có

Trang 11

III.3 KỈ PECMI.

III.3.a Đặc điểm & Hậu quả.

Cuối kỉ Pecmi – cách đây khoảng 250 triệu năm – có một biến cố lớn xảy ra trênTrái Đất Nó kéo dài trong khoảng 5 triệu năm khiến cho 50% số họ động vật –500/1000 họ – vào thời điểm đó biến mất trong các đại dương Sau thảm họa này, dọctheo các vùng biển không còn tồn tại một rạn san hô nào cùng với các loài động vậtthuộc ngành Thân mềm sống ở đó Trên đất liền, tình hình cũng chẳng khả quan gìhơn, có tới 27/37 họ Bò sát và Lưỡng cư đã biến mất hoàn toàn khỏi mặt đất Tính rasau biến cố cuối kỉ Pecmi có đến 95% số loài động vật dưới biển và 70% các loài côntrùng, sâu bọ, động vật không xương sống và cả thực vật trên cạn đã bị tiêu diệt dùthời gian kéo dài của biến cố cuối kỉ Pecmi kém biến cố kỉ Devon những 2 triệu năm

Bọ ba thùy phát triển thịnh vượng kể từ kỉ Cambri, cuối cùng đã bị tuyệt chủng trướckhi kỉ Pecmi kết thúc

Một công trình nghiên cứu của Csaba Detre – nhà địa chất Hungari – trình bày mớiđây tại hội nghị quốc tế do NASA tổ chức, cho biết biến cố cuối kỉ Pecmi đầu kỉ Triat

là biến cố lớn nhất và bí hiểm nhất trong số 5 biến cố đã hủy diệt nhiều giống loài,trong suốt 600 triệu năm hình thành và phát triển của giới sinh vật

III.3.b Nguyên nhân.

III.3.b.1 Vụ nổ của một siêu sao.

Theo Csaba Detre, biến cố này xảy ra do một

vụ nổ của một siêu sao cách Trái Đất từ 30 – 60năm ánh sáng Những tia bức xạ điện tử cường

độ cao (có năng lượng lớn gấp nhiều lần bức xạMặt Trời) phóng đi từ vụ nổ đã phá hủy tầngozon bảo vệ Trái Đất Phơi mình trước làn sóngtia gamma, thực vật bị thiêu cháy trong chốc lát.Những rừng đầm lầy dày đặc Quyết và Mộc tặckhổng lồ trên siêu lục địa Pangaea đã thối rữa,mục rã nhanh chóng Tiếp theo đó, đến lượt câycối mọc ven biển, phiêu sinh vật nổi trên mặtbiển, San hô, Tảo và các loài động vật thuộcngành Thân mềm cũng có số phận như vậy

Hình 11_Vụ nổ siêu tân tinh SN 2006

Hàng triệu sinh khối do các xác động vật và thực vật trên đất liền và dưới biển chết

đi bị phân hủy đã làm giảm đi đáng kể lượng oxi trong không khí xuống chỉ còn có35%, rồi 10% làm cho các động vật thở bằng oxi bị chết ngạt Những đợt sóng bức xạđiện tử chết người này liên tục càn quét Trái Đất làm nhiều đợt kéo dài hàng triệu năm

đã hủy diệt trên 90% giống loài sinh vật lúc bấy giờ Các nhà thiên văn của NASA quanghiên cứu hồ sơ thống kê cũng đã xác định đúng vào thời điểm đó có vụ nổ của mộtsiêu sao cách Trái Đất 30 – 60 năm ánh sáng Như vậy, biến cố cuối kỉ Pecmi chủ yếu

là do nguyên nhân bên ngoài Trái Đất

Trang 12

III.3.b.2 Sự trôi dạt của các lục địa & Sự phun trào của núi lửa.

Bí ẩn biến cố cuối kỉ Pecmi tưởng như đã được sáng tỏ thì mới đây nhất, PeterD.Ward – nhà khảo cổ Hoa Kỳ – cho công bố công trình của mình trên tạp chí

Discover những chứng cứ mới về biến cố này.

Nhóm các nhà khoa học của ông đã nghiên cứu các hóa thạch động vật ở Nam Phi

có độ tuổi 250 triệu năm và thấy chất đồng vị phóng xạ C13 trong răng của chúng chothấy biến cố cuối kỉ Pecmi chỉ kéo dài từ 10000 – 100000 năm, ngắn hơn người tatưởng rất nhiều Nghiên cứu các phần tử nhiễm từ trong đá, họ đã xác định vào thờiđiểm đó Nam Phi nằm ở tận phía Nam của vòng cực Nam Những tàn tích hóa thạchcho thấy giới thực vật lúc đó rất xum xuê, động vật phong phú, nhiệt độ nóng hơnngày nay Những chứng cứ này đã củng cố thêm giả thuyết của Andrew Knoll – nhàkhảo cổ thuộc ĐH Harvard – cho rằng vào cuối kỉ Pecmi, Trái Đất nóng lên, băng ởhai cực tan hết nên không còn những dòng biển trao đổi giữa vùng khí hậu lạnh đếnvùng khí hậu nóng

Sự trôi dạt của các lục địa lúc đó đã đùn các dòng vật chất hữu cơ từ dưới đáy biểnlên trên mặt biển và giải phóng một khối lượng lớn khí CO2 vào khí quyển Cùng lúc

đó, một vụ phun trào núi lửa lớn cũng xảy ra ở Siberia đưa thêm vào không khí hàngtriệu tấn CO2 nữa Theo A.Knoll, một phần khí CO2 hòa tan trong nước biển đã làmnhiễm độc và hủy diệt các loài sinh vật biển lúc đó Còn P.Ward thì bổ sung nhữnghậu quả của sự gia tăng lượng khí CO2 đối với đất liền: làm tăng hiệu ứng nhà kính và

để lại một lớp trầm tích màu đỏ, vết tích của quá trình oxi hóa chất sắt trong điều kiệnnhiệt độ không khí cao Nhóm của P.Ward đã đưa ra

chứng cứ chứng minh rằng chính sự di chuyển của

các mảng lục địa và sự gia tăng lượng khí CO2 trong

khí quyển là nguyên nhân gây ra biến cố cuối kỉ

Pecmi đầu kỉ Triat Ngoài ra, sự ngập lụt rộng khắp

gây ra bởi các dòng dung nham nóng chảy từ vụ

phun trào núi lửa ở Siberia cũng có thể dẫn tới sự

tuyệt chủng hàng loạt Sự suy giảm môi trường sống

ven biển và độ khô cằn tăng lên cũng góp phần vào

sự kiện này

Hình 12_ Một dòng dung nham

từ sự phun trào núi lửa

Dù dây là hai giả thuyết mới nhất, với đầy đủ chứng cứ cụ thể, chứng minh đượcnguyên nhân gây ra biến cố này so với những giả thuyết trước đây chỉ trên lý thuyếtsuôn, thì chúng ta vẫn thấy bí ẩn về biến cố cuối kỉ Pecmi chỉ mới được làm sáng tỏdần và còn phải chờ nhiều chứng cứ khác

III.3.b.3 Sự thiếu oxi trong đại dương.

Một giả thuyết khác cho rằng đó là do sự phun trào khí H2S từ lòng biển cả Cácphần của đại dương bị thiếu oxi đã cho phép các chủng loại vi khuẩn sống không cầnoxi có thể phát triển mạnh mẽ và tạo ra một lượng lớn khí H2S Nếu một lượng lớn khínày được tích lũy trong khu vực thiếu oxi thì nó có thể thoát ra ngoài khí quyển làmcho nồng độ khí H2S tăng lên một cách đáng kể trong vài trăm năm Khí này phá hủy

Ngày đăng: 02/06/2015, 11:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình là những loài vật sinh sống trong - biến cố - 5 biến cố lớn của trái đất
Hình l à những loài vật sinh sống trong (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w