1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

cau hoi 2đ-ôn thi TN

49 211 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 282 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhân vật trung tâm của truyện, giữa bức tranh chân thực, sinh động về cuộc chiến đấu rực lửa núi rừng Tây Nguyên đã cho ta nhận xét,đó là trong thực tế chiến đấu với kẻ thù, con người mớ

Trang 1

NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC

1)Bài vợ chồng A Phủ

Câu 1: Phân tích nhân vật Mị trong truyện ngắn vợ chồng A Phủ của Tô Hoài ( từ khi Mị bị bắt làm con dâu gạt nợ đến khi trốn khỏi Hồng Ngài)

Dàn ý:

1) Mở bài:

- Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn thành công nhất trong tập truyện Tây Bắc và cũng là truyện ngắn tiêu biểu trong thời kì chống Pháp Tác phẩm vừa là một bức tranh chân thực về số phận bi thảm của người dân nghèo miền núi dưới ách áp bức phong kiến và thực dân, vừa là một bài ca vềsức sống và khát vọng tự do, hạnh phúc của con người

- Nhân vật trung tâm của truyên là Mị, được Tô Hoài miêu tả từ con người, cuộc sống đến khát vọng hạnh phúc trong phần thứ nhất của truyện ( tư khi Mị bị bắt làm con dâu gạt nợ cho đến khi trốn khỏi Hồng Ngài)

2) Thân bài:

a) Bị bắt làm con dâu gạt nợ

* Quãng đời quá khứ

- Mị là một cô gái trẻ đẹp, yêu đời, chăm chỉ lao động, nhà nghèo và rất hiếu thảo

- Đang tuổi yêu đương, nàng chờ đợi người yêu trong đêm hội mùa xuân, bổng bị con quan thống lílà A Sử lừa bắt về làm vợ, làm dâu gạt nợ cho thống lí Patra

- Từ đó Mị bắt đầu chìm đắm trong đau khổ tột cùng Có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc Có lúc, nàng tìm đến cái chết Mị chết thì bố Mị càng khổ hơn bao nhiêu lần nữa bây giờ

* Cuộc sống hiện tại

- Mị xuất hiện ngay từ đầu truyện Tô Hoài đã phác hoạ chân dung nhân vật để gợi mở nội tâm: mặt buồn rười rượi, bên cạnh cái giàu sang của bố chồng, nhà thống lí giàu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều ruộng, nhiều thuốc phiện nhất làng, in đậm một hình bóng im lìm, tăm tối, nhọc nhằncủa Mị

- Từ lúc bị bắt về nhà thống lí Pá Tra, Mị đã bị bóc lột sức lao động đến cùng cực, chịu khổ nhục triền miên, luôn quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối …

- Mị bị giam hãm trong không gian chất hẹp và tù đọng, giữa căn buồng lúc nào cũng âm u, cửa sổlà một lỗ vuông bằng bàn tay, thời gin ngưng đọng, không hiện taih không tương lai, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa

-Củng cố thêm cái ách áp bức nặng nề ấy cón là sự mê tín thần quyền: đã bị trình ma nhà thồng lí thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi …

- Cuộc sống đó hoàn toàn cùng khổ về vật chất, bế tắc về tinh thần Mị nghĩ rằng:… đến bao giờ chêt shtì thôi

b) Sức sống, khát vọng sống

Tưởng rằng cuộc đời tù hãm đã làm tê liệt ý thức về bản thân và những mong muốn thay đổi số phận của nhân vật, nhưng trong tâm thức Mị vẫn âm ỉ long ham sống, một khát vọng hạnh phúc

* Sự thức tỉnh đời sống ý thức cảu Mị nhờ vào tác động của một hoàn cảnh khá điển hình: mùa xuân trên miền núi cao Tây Bắc Mùa xuân năm đó đã làm bừng tỉnh sức sống của vạn vật và con người

Hồi ức tràn về trong tâm trí Mị là canht "một đêm tình mùa xuân": Ngoài đầu núi đã có tiếng sáo

ai lấp ló rủ bạn đi chơi Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi Mị ngồi nhẩm thẩm bài hát của người đang thổi:

………

Trang 2

Ta không có con trai con gái

Ta đi tìm người yêu.

* Sức sống, lòng ham sống đã trỗi dậy mãnh liệt trong lòng nàng: Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước Mị trẻ lắm Mị vẫn còn trẻ Mị muốn đi chơi

Giữa lúc lòng ham sống trở lại mạnh mẽ nhất thì lại bị dập xuống phũ phàng: A Sử trói đứng Mị, không cho nàng đi Suốt cái đêm bị trói vào cột ấy, Mị sống trong sự giằng xé giữa nỗi khát khao tự do và thực tại nghiệt ngã đã bóp chêt snhững ước muốn tự do, hạnh phúc của nàng Trong bóng tối, Mị đứng im lặng như không biết mình đang bị trói Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi …

c) Thoát khỏi cuộc đời cùng cực, nô lệ

* Hoàn cảnh đã run rủi Mị cứu A Phủ, cùng lúc toát khỏi cuộc sống nô lệ

- Chứng kiến cảnh A Phủ bị trói đứng, lúc đầu Mị chưa có suy nghĩ gì Nhưng mấy đêm sau, khi thấy một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại cuae A Phủ Mị nhớ lại nàng bị A Sử trói đứng trong một đêm năm trước

- Mối đồng cảm, lòng thương xót một con người đang tuyệt vọng, đau đớn chờ chết đã thúc đẩy Mịhành động Ý nghĩ cữu A Phủ đã thắng nỗi lo sợ của chính mình Cuối cùng, Mị cắt dây trói cho A Phủ

- Ngay sau đó, để tự cứu mình, Mị đã chạy theo A Phủ, thoát khỏi cảnh sống địa ngục trần gian Hai người lẳng lặng đỡ nhau chạy xuống dốc núi

* Chính khát vọng tự do đã tháo gỡ được cái vòng nô lệ đã trói buộc Mị Nàng đã thực sự thoát khỏi cảnh áp bức, ràng buộc của bọn chúa núi, để cùng A Phủ tự giải phóng mình

3) Kết bài

- Vợ chồng A Phủ là một truyện đầy chất thơ trong sáng, toát lên một tâm hồn đôn hậu, chất phác của nhân vật chính diện, cũng lúc thấm đượm những bức tranh thiên nhiên nhiều màu săc, đuờng nét uyển chuyển, hài hoà, những cảnh sinh hoạt phong tục giàu chất trữ tình của đồng bào miền núi

-Trong không gian nghệ thuật đó, tính cách nhân vật Mị được miêu tat thành công, vừa tiêu biểu cho số phận lao động chung của con người miền núi, vừa có những nét cá tính khá rõ Nhân vật Mịvới những nét phẩm chất tốt đẹp, những khát vọng chính đáng của con người, đã thể hiện được giátrị nhân đạo của truyện

2)Bài rừng xà nu

Câu 1) Phân tích những nét tính cách của nhân vật Tnú trong truyện ngắn "rừng xà nu" của

Nguyễn Trung Thành

Bài viết tham khảo:

Rừng xà nu là một truyện ngắn đặc sắc của Nguyễn Trung Thành, là một bản hùng ca về cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Tây Nguyên Tiêu biểu cho nhân dân Tây Nguyên anh hùng là nhân vật Tnú, người con vinh quang nơi bản làng Xôman của người Strá luôn luôn gắn bó với cách mạng, dũng cảm kiên cường và căm thù giặc sâu sắc, thưuơng yêu gia đình bản làng quê hương tha thiết.Trước hết Tnú gắn bó với cách mạng Được cụ Mết một già làng tiêu biểu cho những con người đấu tranh bất khuất cho dân làng Xôman chỉ bảo rằng "cán bộ là Đảng, Đảng con núi nước này còn", nên ngay từ lúc nhỏ, Tnú tham gia việc nuôi giấu cán bộ và hoàn thành xuất sắc công tác giao liên Nhiều đêm Tnú phải ngũ ở trong rững vì sợ lỡ giặc lùng ai dẫn cán bộ chạy Tnú luôn luôn nghe lời chỉ dạy của cán bộ Được anh Quyết dạy chữ, Tnú khắc phục khó khăn, cố gắn học

Trang 3

tập, Không có bảng, không có phấn, Tnú lất nứa làm bảng và để ba ngày đường tới núi Ngọc Linh mang về một xàlét đầy đấ trắng làm phấn Khi Tnú tỏ ra chán nản vì mình tối dạ, học không nhớ được thì một lời động viên của anh Quyết: "Không học chữ thì làm sao làm được cán bộ giỏi", đã truyền thêm sức mạnh tinh thần giúp Tnú cố gắn hơn.

Tnú vô cùng gan dạ, dũng cảm.Ngay từ ngày làm giao liên, Tnú không bao giờ chịu đi đường mòn,cứ xẻ rừng mà đi, lọt tất cả các vòng vây, qua sông Tnú không thích lội chỗ nước êm cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang Khi bị giặc bắt, Tnú can đảm chịu những đòn tra tấn, để sau khi vượt ngục , vẫn tiếp tục cùng cụ Mét lãnh đạo dân làng Xôman, mài giáo, mài rựa chống lại kẻ thù Khi bản làng bị càng quét, vợ con Tnú bị hành hạ giết chết một cách dã man, nhất là khi anh bị thằng Dục tẩm nhựa xà nu đốt mười ngón tay thành mười ngọn đuốc, Tnú càng thấm thía nỗi đau thương và căm thù và quyết tâm hành động Anh ra đi lực lượng, quyết tiêu diệt cho hết kẻ thù tànác, bởi lẽ chúng nó đứa nào cũng là thằng Dục cả

Ngoài ra, Tnú còn là người giàu tình cảm thương yêu Anh tha thiết yêu bản làng Sinh ra và lớn lên giữa núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ, giữa những con người mộc mạc, thuần hậu, Tnú thấy gắn bó thân thiết với cảnh và người của quê hương mình Ba năm đi chiến đấu xa bản làng, Tnú trở về,Tnú vô cùng xúc động Anh nhớ rõ từng hàng cây, con đường, từng dòng suối mát Anh đau đớn khi gặp lại một thân cây to chắn ngang đường, nơi mà ngày xưa Mai đã thổ lộ tình cảm yêu mến ngay khi anh mới ở tù về Anh cũng bồi hồi khi nghe tiếng chày giả gạo của dân làng, tiếng cháy chuyên cần, rộn rã cảu những người đàn bà cảu mẹ anh ngày xưa suốt đời anh vẫn nhớ

Anh yêu thương vợ con tha thiết.Chính vì yêu thương rất nhiều nên anh căm thù sâu sắc bọn giặc đã dùng cây sắt đánh chết vợ con anh Anh cũng yêu thưuơng mọi người Vì thế, dân làng Xôman cũng nhớ mong người con trai làng xa vắng Làng Xôman đã dành cho anh một tình cảm mộc mạc nồng hậu, thân thiết Những cặp mắt tròn xoe và những tiếng reo của mọi người thể hiện nỗi vui mừng đón Tnú trở về

Vô cùng dũng cảm khi đối diện với kẻ thù, tha thiết yêu thương bản làng quê hương, ôm ấp một kĩniệm đau đớn vì cái chết thảm khốc của vợ con, luôn luôn gắn bó với cách mạng là những nét tính cách nổi bật của nhân vật Tnú trong truyện ngắn rừng xà nu Nhân vật trung tâm của truyện, giữa bức tranh chân thực, sinh động về cuộc chiến đấu rực lửa núi rừng Tây Nguyên đã cho ta nhận xét,đó là trong thực tế chiến đấu với kẻ thù, con người mới nhận thức được sâu sắc về kẻ thù và nâng lòng căm thù cá nhân lên thành căm thù của cả dân tộc

Câu 2) Phân tích vẻ đẹp của các nhân vật Tnú, cụ Mết, Dít, bé Heng trong truyện ngắn rừng xà nucủa Nguyễn Trung Thành

1) Mở bài:

- Về các tác phẩm đất nước đứng lên, rừng xà nu, sách văn học 12 tập một, đã nhận định rằng:

"Có thể coi đây là những bản anh hùng ca về cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Nguyên, là bức tranh chân thực sinh động về hai cuộc chiến tranh nhân dân chống Pháp và chống Mỹ".Tác giả Nguyễn Trung Thành thật sự đã khắc hoạ được những nhân vật anh hùng gắn bó thành một tập thểanh hùng vừa mang dấu ấn của thời đại, vừa đậm đà dáng nét Tây Nguyên

- Ta hãy phân tích vẻ đẹp hình tượng của các nhân vật nổi bật lên trong cảnh núi rừng hùng vĩ cảu rừng xà nu: Tnú, cụ Mết, Dít và bé Heng

2) Thân bài:

a) Nhân vật Tnú được tác giả khắc hoạ bằng những nét tính cáhc độc đáo giàu chất sử thi

Trang 4

- Trước hết Tnú rất gắn bó với cách mạng Từ nhỏ tuổi đã từng nuôi giấu cán bộ và hoàn thành xuất sắc công tác giao liên Khi bị giặc bắt, Tnú dũng cảm chịu đựng những đòn tra tấn của giặc, Anh cùng cụ Mết tiếp tục lãnh đạo dân làng Xô man mài giáo, mài rựa chiến đấu chóng kẻ thù.

- Tnú tha thiết thương yêu bản làng, sau ba nưm chiến đấu trở về làng, anh nhớ rõ từng hàng cây, từng con đường, từng dòng suối, bồi hồi xúc động khi nghe tiếng chày chuyên cần rộn rã cảu những người đàn bà và những cô gái Strá, của mẹ anh ngày xa xưa, của Mai, của Dít, từ ngày lọt lòng anh đã nghe tiếng chày ấy

- Anh yêu thương vợ con tha thiết Chứng kiến kẻ thù man rợ dùng cây sắt đập chết mẹ con Mai, nỗi đau thương cảu Tnú dâng lên tột đỉnh Anh lao vào lũ giặc với một tiếng thét dữ dội và anh dang hai cách tay rộng lớn như hai cách lim chắc của anh ôm chặc lấy mẹ con Mai

Càng đau thương, Tnú càng căm thù giặc Vợ con bị giét, lòng căm hận biến đôi mắt Tnú thành hai cục lửa lớn

Khi bị giặc bắt mười đầu ngón tay Tnú bị đốt cháy Anh không kêu lên một tiếng nào (…) Răng anh đã cắn nát môi anh để giữu vững phẩm chất người Cộng sản

Yêu thương, căm thù biến thành hanhd động Tnú thét lên một tiếng … Chính nỗi đau xé lòng của Tnú đã khiến cho anh và đôpngf bào dứt khoát đứng lên tiêu diệt cả một tiểu đội hung cá.Riêng Tnú ra lực lượng để quyết tiêu diệt mọi kẻ thù tàn ác để bảo vệ bản làng, qiải phóng quê hương.b) Nhân vật cụ Mết

- Cụ Mết tiêu biểu cho truyền thống của dân làng Xô man Lịch sử chiến đấu của làng, qua lời kể của cụ Mết, thấm sâu vào tim óc các thế hệ Cụ là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, là pho sử thi sống của dân làng

- Tấm lòng của cụ Mết đối với cách mạng trước sau như một Cụ đã từng nói: "Cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn" Trong những năm đen tối cụ cùng dân làng Xô man, từ thanh nien, ông già bà cả, đến lũ trẻ đi nuôi và gác cho cán bộ: năm năm chưa hề có một cán bộ bị giặt bắt hay giết trong rừng làng này

- Cụ Mết là linh hồn của dân làng Xô man Chính cụ đã lãnh đạo dân làng đồng khởi Hình ảnh ông cụ mắt sáng và xếch ngược, ngực căng như một cây xà nu lớn, cất tiếng nói vang vang như một mệnh lệnh thôi thúc họ vùng lên tiêu diệt kẻ thù … thật rực rỡ như trong một trang sử thi anh hùng : "Thế là bắt đầu rồi Đốt lửa lên"…

Từ ngày ấy, làng Xô man trở thành làng chiến đấu Đó là phần đóng góp không nhỏ của cụ Mết cho công cuộc giải phóng quê hương bản làng

c) Nhân vật Dít

- Dít là nhân vật tiêu biểu cho những cô gái Tây Nguyên thời chống Mỹ, trưởng thành từ những năm đau thương và quật khởi của dân làng Trong thời gian dân làng Xô man chuẩn bị chiến đấu, rồi bị địch bao vây, cự Mết và Tnú dẫn thanh niên vào rừng Chỉ có con Dít nhỏ, lanh lẹn, cứ xẩm tối lại bò theo máng nước đem gao ra rừng cho cụ Mết, Tnú và thanh niên Khi bị giặc bắt, Dít bị chúng bắn doạ, đạn chỉ sượt qua tai, sém tóc, cày đất quanh chân nhỏ… đôi mắt nó thì vẫn nhìn bọngiặc bình thản…

- Ngày Mai bị giặc đánh chết và Tnú ra đi, trong khi mọi người, cả cụ già, đều khóc vì cái chết củaMai thì Dít vẫn lầm lì, không nói gì cả, mắt ráo hoảnh Tất cả chi tiết trên thể hiện tính cách kiêngcường, sức chịu đựng phi thường của Dít, biết dồn nén đau thương để nung nấu lòng căm thù Như những con người bất khuất của làng Xô man, Dít căm thù trên cơ sở nhận thức rõ bản chất của kẻ thù, để quyết tâm chiến đấu tiêu diệt chúng

- Dít rất giàu tình cảm yêu thương Khi Tnú về thăm làng, Dít đã là bí thư chi bộ là chính trị viên xã đội.Như ngày nào, đôi mắt Dít vẫn mở to bình thản, trong suốt khi gặp Tnú Dù trong lòng rất

Trang 5

vui mừng, Dít vẫn thực hiện trách nhiệm kiểm tra giấy về phép của anh Rồi từ chổ gọi Tnú là đồng chí, Dít chuyển sang gọi là anh, xưng em rất tự nhiên, như người em gái nhỏ của Mai và Tnú ngày xưa và tỏ bày tình thân thiết: "Sao anh về có một đêm thôi?(…) Bọn em miệng đứa nào cũng nhắc anh mãi".

d) Nhân vật bé Heng

- Ngày Tnú ra đi lực lượng, bé Heng mới đứng ngang bụng anh, chưa biết mang củi, chỉ mới đeo cái xà lét nhỏ xíu theo người lớn ra rẫy Ngày Tnú về phép, bé Heng trưởng thành, với cách ăn mặc và trang bị ra vẻ một người lính, một chiến sĩ du kích của bản làng Làng Xô man giờ đây trở thành làng chiến đấu, và con đường vào làng phải qua hai con dốc chằng chịch hầm chông, hố chông ngăn chặn địch, Bé Heng đã góp phần không nhỏ về việc thiết lập những công sự này, nên tỏ ra rất hãnh diện

- Nếu cụ Mết xứng đáng với hình ảnh cây xà nu đại thụ giữa rừng xà nu bạt ngàn xanh thẫm, thì bé Heng tượng trưng cho cây xà nu mới lớn ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời, sẽ phát triển đến đâu, chưa ai biết được

3) Kết bài

- Nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Trung Thành mang những nét độc đáo đượm khí vị TâyNguyên anh hùng Nếu rừng xà nu tượng trưng cho các thế hệ dân tộc Tây Nguyên kiên cường thì các nhân vật cụ Mết, Tnú, Dít, bé Heng là hình ảnh những lớp cây xà nu đại diện cho các thế hệ nối tiếp nhau của làng Xô man, được khắc hoạ thật sinh động

- Qua rừng xà nu, ta hiểu biết và mến yêu thêm đất nước và con người Tây Nguyên Họ đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp chiến đấu chung để giải phóng dân tộc

3)Bài Những đứa con trong gia đình

Câu 1) Phân tích những điểm giống nhau và khác nhau của hai nhân vật Việt và Chiến trong truyện ngắn những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi

Dàn bài:

1) Mở bài:

Những đứa con trong gia đình thuộc số những tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Thi Thành côngnổi trội của truyện là nghệ thuật xây dựng các tính cách nhân vật với cá tính đậm nét, đặc biệt là hai nhân vật Việt và Chiến

+ Giành nhau ghi tên tòng quân

+ Khiên bàn thờ má gửi sang nhà chú Năm trước khi lên đường nhập ngũ "Nào đưa má sang …đè nặng trên vai"

- Dũng cảm gan góc và từng lập được nhiều chiến công

+ Bắn tàu chiến giặc trên không, phá xe tăng địch trong trận giáp lá cà

+ Cuộc đối thoại của hai chị em trước lúc lên đường đánh giặc "Chú Năm …nói vậy à!"

- Tuổi đời rất trẻ, ngây thơ như trẻ con

+ Chị mười tám, em mười bảy

+ Giành nhau mọi thứ như trẻ con: trong việc bắt ếch, ghi tên tòng quân, bắn tàu chiến Mỹ

b) Nhân vật có tính cách khác nhau,Chiến là chị, Việt là em, Chiến là nữ, Việt là nam

Trang 6

- Chị kiên trì: ngồi đánh vần cuốn sổ của chú Năm.

-Em hiếu động: thích bắt ếch, câu cá, bắn chim

- Chị chưa hết tính trẻ con, có lúc còn giành nhau hơn với em nhưng vì thương em nên cuối cùng cũng nhường em: nhường phần bắt ếch nhiều, nhường cả vết đạn bắn tàu giặc trên sông Định Thuỷ

- Em thì hiếu thắng: còn trẻ con hơn, là em nên không chịu nhường

- Chị đảm đang, tháo vác, không ngoan, già dặn trước tuổi: lo toan việc nhà chu đáo trước khi lên đường, khiến Việt thấy Chiến giống má ngày trước và chú Năm cũng phải khen chị

- Chị là cô gái mới lớn,bắt đầu thích soi gương, đi đánh giặc cũng có cái gương trong túi…

- Em thì phó mặc tất cả, chỉ ừ ào cho qua chuyện khi nghe chị bàn việc nhà, rồi ngủ quên lúc nào không biết, đi bộ đội vânc giữ chiếc ná thun, bị thương không sợ chết nhưng lại sợ ma…

3) Kết bài:

Chiến và Việt, là hai nhâ vật trung tâm của truyện những đứa con trong gia đình bản chất có nhiềunét giống nhau, nhưng cá tính thì thật là phong phú Mỗi người đều mang nét riêng và cả hai đều đáng yêu, đáng mến.Họ mang những vẻ đẹp tiêu biểu cho thế hệ miền nam cầm súng diệt Mĩ, cứunước cứu nhà

BÀI VIẾT THAM KHẢO:

Hy sinh với tư cách là chiến sĩ trong cuộc tổng tiến công Mậu Thân (1968), nhà văn Nguyễn Thi đã để lại một số lượng tác phẩm không nhiều Tuy vậy, đó là những tác phẩm có giá trị, đặc biệt ởchổ chúng đã góp phần khắc hoạ nên bức chân dung lớn của người nông thôn nam bộ trong cuộc chiến đấu chống Mĩ cứu nước Những nhật vật của Nguyễn Thi đều chân thật và gây nhiều ấn tượng, như trường hợp hai chi em Chiến và Việt trong truyện ngắn những đứa con trong gia đình.Việt và Chiến sinh ra trong một gia đình có khá nhiều nét tiêu biểu của một gia đình Nam Bộ trong chiến tranh Cuốn sổ gia đình do người chú ghi lại mà Chiến dùng để đánh vần tập đọc, thực

ra là một cuốn gia phả đặc biệt, rất vắn tắt, ở đó mỗi dòng, thậm chí mỗi chữ, đều có máu và nướcmắt Đó là một gia đình từ mấy thế hệ đã phải chịu nhiều mất mát đau thương Ngay ở thế hệ của chị em Chiến, chỉ trong khoảng mấy năm, lúc hai chị em còn là những đứa trẻ, họ phải liên tiếp mất cha rồi lại mất mẹ Đường đời của hai chị em Chiến như đã được vạch sẵn: chỉ có chiến đấu giết giặc báo thù cho cha, cho mẹ, cũng là để tự vệ chính cuộc đời mình Đó là truyền thống gia đình, đó cũng là khát vọng lớn nhất của hai chị em Chiến và Việt Mang một mối thù sâu với giặc và mang một khát vọng chiến đấu mãnh liệt như vậy, họ sẽ chiến đấu dũng cảm, và sẽ chiến thắng, đều đó như một cái gì đã trở thành tất yếu

Việt là một chàng trai, rồi là một người lính dũng cảm, nhưng dù sao Việt cũng chỉ là một chàng trai mới lớn, và trong gia đình, thực sự Việt chỉ là một cậu bé Cái chất trẻ con của Việt không chỉ bộc lộ trong những nét hiếu động, suốt ngày thích bắt ếch, câu cá, bắn chim, lúc nào cũng có cái ná thung trong người… mà cả trong cái nét hiếu thắng, luôn luôn ưa tranh giành với người chị, vì Việt là em trai của Chiến mà! Thật ra thì không phải Việt không yêu thương chị mình, trái lại nữa là khác, nhưng có được một người chị như Chiến, làm sao Việt có thể khác được?

Cho đến khi lên đường tòng quân chẩn bị thành người lính hay đã trở thành người lính rồi Việt vẫn trẻ con như thế, trẻ con và vô tư Nghe chị bàn bạc việc nhà, Việt chỉ ừ ào cho qua chuyện

"chụp một con đom đóm trong lòng bàn tay… rồi ngủ quên lúc nào không biết Vào đơn vị, Việt vẫn không quên cây ná thun Đặc biệt trẻ con, Việt không dám hé răng cho ai biết mình có một người chị, bởi cái lẽ đơn giản "sợ mất chị" Đánh giặc cũng rất dũng cảm, bắn cháy xe tăng Mĩ, Việt không hề sợ hãi, nhưng sau trận đánh lạc trên chiến trường một mình Việt rất sợ ma.Sau

Trang 7

những cố gắn phi thường, Việt gặp lại đồng đội của mình, Việt vừa khóc vừa cười, hệt như một đứa trẻ "khóc đó lại cười đó".

Chiến thì lại khác hẵn với Việt Có thể Chiến cũng như Việt nếu như Chiến có một người chị, nhưng Chiến lại là chị cả của những đứa em không còn cha mẹ Là con gái, Chiến có cái tinhd kiên nhẫn đến gan lì của một người phụ nữ đã từng trải cực khổ Chính là Chiến, chứ không phải là Việt, ngồi đánh vần từng chữ, đọc cho được, đọc cho hết cuốn sổ ghi chép của gia đình đầy máuvà nước mắt để nuôi dưỡng khát vọng khong nguôi chiến đấu và trả thù Là chị, Chiến trở thành người phụ nữ đảm đang hi sinh, tận tuỵ, Chiến không kịp nghĩ gì cho mình trước khi nghĩ đến các

em Lúc nào Chiến cũng nhường nhịn em, từ việc lớn đến việc nhỏ Trong cả truyện ngắn, duy nhất chỉ có một lần Chiến không nhường nhịn em Âý là lần cả hai chị em cùng xin đi bộ đội Chiến đã nói với anh cán bộ tuyển quân:

" Đến tết này nó mới được mười tám anh à!"

Người đọc dẽ dàng chấp nhận hành động tranh hơn này của Chiến, bởi ví ngoài khát vọng chiến đấu, Chiến còn chưa muốn em mình sớm bước chân vào cuộc chiến đấu gian khổ

Chiến như lớn hơn tuổi của mình, chín chắn, sâu sắc hơn Trong cái đê hôm trước ngày lên đường hành quân nhập ngũ, Chiến đã lo lắng, lo liệu đến từng chi tiết công việc gia đình Từ việc gửi đứa

em út với chú, việc giao nhà, giao đất do ai quản lí, đến việc gửi bàn thờ má, việc cúng giỗ ba má…Việc nào Chiến cũng tính toán cẩn thận chu đáo Trong cảm nghĩ của Việt, Chiến thật giống hệt má từ lời nói đến việc làm.Chiến thật đúng với hình ảnh cô gái Việt Nam mà truyền thống thời đại đã sản sinh ra

Hai chị em cùng mai mắn đựoc nhập ngũ một ngày Dù ở hai đơn vị khác nhau, hai chị em lúc nào cũng nghĩ về nhau, cùng lấy việc dũng cảm trong chiến đấu và chiến công làm thước đo để đo thương đối với má

Cuộc đối đáp của hai chị em trước lúc lên đường chiến đấu thật hồn nhiên mà sâu sắc ý nghĩa:

"- Chú Năm nói mày với tao đi kì này là chân trời mặt biển… thù ba mẹ chưa trả xong mà bỏ về là tao chặt đầu

- Chị có bị chặt đầu thì chặt chở chừng nào tôi mới bị

- Tao đã thưa với chú Năm rồi Đã làm thân con gái ra đi tao chỉ có một câu nếu giặt còn thì tao mất…"

Trong những lời nói có vẻ trẻ con ấy, có tất cả sự quyết tâm mạnh mẽ vô cùng Điều đó giải thích

vì sao Chiến đã cùng đồng động bắn cháy tàu giặc trên sông Định Thuỷ, Còn Việt phá tan một xe tăng địch, rồi lạc lại một mình trên chiến trường trong tình trạng bị thương nặng, vẫn nương theo tiếng súng nổ, để gặp lại đồng đội của mình

Việt và Chiến, Nguyễn Thi đã xây dựng được hai nhân vật thú vị Nhưng mục đích của Nguyễn Thi hẵn không phải là ở điều thú vị ấy mà chính là nhằm qua họ, phản ánh được phần nào cuộc chiến đấu anh hùng của nhân dân miền nam, nhất là điều cơ bản: vì sao họ cầm súng và chiến đấuanh hùng như vậy

4)BÀI CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

Câu 1) Trong truyện ngắn chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng được một tình huống mang ý nghĩa khám pha, phát hiện về đời sống Anh (chị) hãy làm rõ điều đó

Dàn ý:

1) Mở bài:

- Sau 1975, Nguyễn Minh Châu quan tâm tiếp cận đời sống ở góc độ thế sự Ông là một trong những cây bút tiên phong của văn học Việt Nam trong thời kì đổi mới

Trang 8

- Nguyễn Minh Châu sáng tác truyện ngắn chiếc thuyền ngoài xa năm 1983 Trong tác phẩm này, nhà văn đã xây dựng một tình huống truyện mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống.

2) Thân bài:

a) Tình huống truyện:

- Nghệ sĩ Phùng đến một vùng ven biển miền trung chụp một tấm ảnh cho cuốn lịch năm sau Anh thấy cảnh chiếc thuyền ngoài xa trong làn sương sớm, đẹp như tranh vẽ Phùng nhanh chóng bấm máy, thu lấy một hình ảnh không dễ gì bắt gặp trong đời

- Khi chiếc thuyền vào bờ, Phùng thấy hai vợ chồng hàng chài bước xuống Anh chứng kiến cảnh người chồng đánh vợ, đứa con ngăn bố Những ngày sau, cảnh đó lại tiếp diễn Phùng không ngờ sau cảnh đẹp như mơ là bao ngang trái, nghịch lí cảu đời thường

b) Các nhân vật với tình huống

- Tình huống truyện được tạo nên bởi nghịch cảnh giữa vẻ đẹp chiếc thuyền ngoài xa với cái thật sự ngang trái trong gia đình thuyền chài Gánh nặng mưu sinh đè nặng trên đôi vai cặp vợ chồng Người chồng trở thành vũ phu Người vợ vì thương con nên nhẫn nhục chịu đựng sự ngược đãi của chồng mà không biết mình đã làm tổn thương tâm hồn đứa con Câu bé thương mẹ, bênh vực mẹ thành ra căm ghét cha mình

- Chánh án Đẩu tốt bụng nhưng lại đơn giản trong cách nghĩ Anh khuyen người đàn bà bỏ chồng là xong, mà không biết bà cần một chỗ dựa kiếm sống để nuôi con khôn lớn

c) Ý nghĩa khám phá pháp hiện của tình huống

- Ở tình huống truyện này,cái nhìn và cảm nhận của nghệ sĩ Phùng, chánh án Đẩu là sự khám phá,phát hiện sâu sắc về đời sống con người

- Đẩu hiểu được nguyên do người đàn bà không thể bỏ chồng là vì những đứa con Anh vở lẽ ra nhiều điều trong cách nhìn nhận cuộc sống

-Phùng như thấy chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa, còn sự thật cuộc đời lại ở rất gần Câu chuyện về người đàn bà ở toà án huyện giúp anh hiểu rõ hơn cái có lí trong những cái tưởng như nghịch lí ở gia đình thuyền chài Anh hiểu thêm tính cách Đẩu và hiểu thêm chính mình

Câu 2: Anh (chị) cảm nhận như thế nào về người đàn bà làng chài trong "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu

Gợi ý:

Nguyễn Minh Châu là một cây bút văn xuôi xuất sắc trong nền văn học hiện đại Việt Nam, là cây bút tiêu biểu trong thời kì kháng chiến chống Mĩ Tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đưa người đọc đến với những trang viết tài hoa và những khám phá mới mẽ

Chiếc thuyền ngoài xa được viết năm 1987, cũng được xem là dấu ấn của Nguyễn Minh Châu trong công cuộc tiên phong đổi mới nền văn học nước nhà thời kì này Với lối viết in đậm tự sự- triết lí và ngôn ngữ dung dị đời thường, Nguyễn Minh Châu đưa ta đến với câu chuyện về một nghệ sĩ nhiếp ảnh trong chuyến đi thực tế và những chiêm nghiệm sâu sắc cảu anh về nghệ thuật và cuộc đời

Trang 9

Lướt qua tất cả câu chuyện, người đọc không thể không dừng lại ở hình ảnh người đàn bà làng chài, mà tác giả chỉ gọi "người đàn bà" một cách phiếm định Tuy không có tên tuổi cụ thể, chỉ là một người đàn bà vô danh như bao người đàn bà vùng biển khác trên đất nước này nhưng tác giả tập trung thể hiện và để lại nhiều ấn tượng cho người đọc Trạc ngoài bốn mươi, thô kệch, mặt rỗ, lúc nào cũng xuất hiện vói "khuôn mặt mệt mõi", người đàn bà ấy gợi ấn tượng về một cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ Bị chồng thường xuyên đánh đạp hành hạ một cách khốn khổ "ba ngày một trận nhẹ năm ngày một trận nặng", bà vẫn thầm lặng chịu đựng mọi đau đớn, "không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách trốn chạy" Bà coi đó là lẽ đưong nhiên, bởi đơn giản trongcuộc mưu sinh đầy cam go này, trên chiếc thuyền kiếm sống ngoài biển xa cần có một người đàn ông khoẻ mạnh và biết nghề, chỉ cần những đứa con bà được sống và lớn lên.

Qua những giải bày của người mẹ, người vợ, người đàn bà đáng thưuơng ấy ở toà án huyện, ta thấy rõ nguồn gốc của mọi sự chịu đựng, hi sinh vô bờ bến vì tình thương đối với những đứa con

"phải sống cho con chứ không phải cho mình" Sự chịu đựng, cam chịu ấy thật đáng được chia sẻ, cảm thông Và thấp thoáng trong cái bóng dáng người đàn bà ấy lại hiện lên bóng dáng biết bao người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha, đức hy sinh Cũng phải nói thêm rằng, đời sống kinh tế còn lắm những khó khăn cảu thời "mở cửa" và cái nghèo bao trùm của bóng

ma chiến tranh kéo dài mấy mươi năm trước đó đã góp phần phủ bóng đen lên cuộc đời họ Ở phương diện người cầm bút, Nguyễn Minh Châu dường như đưa ra một tuyên ngôn đầy tính nhân bản mà người nghệ sĩ phải tuân thủ như là một sứ mệnh thiêng liêng, rằng: hãy ngoảnh lại và quantâm một cách thiết thực với những "chiếc thuyền đời" quanh ta mà người đàn bà trong thiên truyệnnày là một điển hình

Tóm lại, "chiếc thuyền ngoài xa" có sự nhận thức và phê phán cái xấu, cái ác trong đời sống thường nhật, nhằm góp phần hoàn thiện nhân cách con người, cho cuộc sống thêm đẹp hơn

NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC

1)Bài " Tuyên ngôn độc lập"

Câu 1: Hãy nêu quan điểm sáng tác của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Gợi ý trả lời:

- Hồ Chí Minh coi văn học là một vũ khí chiến đấu lợi hại phụng sự cho sự nghiệp cách mạng Người lại khẳng định: " Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy"

- Hồ Chí Minh luôn coi trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn học Người nhắc nhở các nghệ sĩ: " Nên phát huy cốt cách dân tộc" và đề cao sự sáng tạo "chớ gò bó vào khuôn"

- Khi cầm bút, Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm

Câu 2: Tóm tắt những nét chính trong sự nghiệp văn học của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Gợi ý trả lời:

Sự nghiệp văn học của Người bao gồm:

- Văn chính luận: Được viết với mục đích đấu tranh chính trị, tiến công trực diện kẻ thù,thức tỉnh và giác ngộ quần chúng với cách mạng Các tác phẩm tiêu biểu: " Bản án chế độ Thực dân Pháp (1925), Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quý hơn độc lập tự do (1966),…

Trang 10

- Truyện và kí: Được viết trong thời gian Người hoạt động ở Pháp Nội dung tố cáo tội ác dã mang,bản chất tàn bạo và xảo trá của bọn thực dân Pháp và phong kiến tay sai đối với các nước thuộc địa Đồng thời đề cao những tấm gương yêu nước cách mạng.

Các tác phẩm chính: " Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), Con người biết mùi hun khói

(1922), Đồng tâm nhất trí (1922), Vi hành (1923), …

- Thơ ca: Thơ ca Hồ Chí Minh gồm hai loại: Thơ tuyên truyền cách mạng và thơ trữ tình nghệ thuật Thơ ca của Người tập trung chủ yếu ở các tập thơ: "Nhật kí trong tù (1942-1943), thơ Hồ ChíMinh (1967), và thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (1990)

Sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh có giá trị nhiều mặt được biểu hiện qua những hình thức nghệthuật phong phú là những viên ngọc quý trong kho tàng văn học của dân tộc, góp phần nâng cao tâm hồn, đạo đức cũng như nhân cách của con người Việt Nam

Câu 3: Hãy trình bày vài nét về phong cách nghệ thuật của thơ Hồ Chí Minh.

Gợi ý trả lời:

Phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh độc đáo, đa dạng.Văn chính luận của người thường ngắn gọn,súc tích, lập luận sắc sảo, chặt chẽ, bằng chứng giàu sức thuyết phục và đa dạng về bút pháp Truyện và kí của người rất hiện đại, có tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén.Thơ nghệ thuật của Hồ Chí Minh có sự hoà hợp độc đáo giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại; giữa chất trữ tình và chất "thép"; giữa sự trong sáng giản dị và hàm súc sâu sắc

Câu 4: Trình bày hoàn cảnh ra đời và mục đích của bản "Tuyên ngôn độc lập"

Gợi ý trả lời:

a) Hoàn cảnh ra đời:

Sau khi Cánh mạng tháng Tám thành công, ngày 26/8/1945,Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội.Tại ngôi nhà số 48, phố Hàng Ngang, Bác đã viết bản "Tuyên ngôn độc lập" và đọc vào ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình

b) Mục đích của bản "Tuyên ngôn độc lập"

- Tuyên bố sự ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

- Tuyên bố chấm dứt và xoá bỏ mọi đặc quyền đặc lợi,mọi văn bản ràng buộc đã kí kết trước đây giữa Pháp và chính quyền phong kiến trên toàn lãnh thổ Việt Nam, Tố cáo tội cá của thực dân Pháp

- Tuyên bố quyền được hưởng tự do độc lập và khẳng định quyết tâm bảo vệ độc lập tự do của tổ quốc

Câu 5:Phân tích nội dung của bản "Tuyên ngôn độc lập"

Gợi ý phân tích:

a) Mở bài: Bản "Tuyên ngôn độc lập" của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một văn kiện lịch sử quan trọng đánh dấu thời điểm ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và mở ra một kỉ nguyên mới cho lịch sử của dân tộc,kỉ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội Đồng thời đây cũng là một bài chính luận xuất sắc, một trong những "Thiên cổ hùng văn" của văn học đân tộc

b) Thân bài: gồm các ý chính sau:

- Độc lập tự do là quyền của các dân tộc và của con người Đây là một chân lí vĩnh hằng mà nhân loại theo đuổi và thực hiện Để khẳng định chân lí ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng các luậnđiểm cơ bản được đưa ra trong bản "Tuyên ngôn độc lập" của Hoa Kì năm 1776 và "Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền" của Pháp năm 1791 Bác đã sử dụng biện pháp "lấy gậy ông đập lưng ông" để ngăn chặn âm mưu tái xâm lược nước ta của Thực dân Pháp Đồng thời khẳng định quyền bình đẳng của các dân tộc Biện pháp nghệ thuật này cũng giống như Lý Thường Kiệt lấy "Thiên thư" để lập luận cho chủ quyền của đất nước trong bài thơ ''Nam quốc sơn hà" và Nguyễn Trãi lấy

Trang 11

"bờ cõi vã văn hiến" lâu đời để khẳng định quyền tồn tại ngang hàng với các quốc gia khác trong

"Đại cáo bình Ngô"

- Để có được tự do độc lập,nhân dân ta đã tự vùng lên, dùng sức mạnh mà giải phóng cho ta khỏi ách nô lệ thực dân Đồng thời, Bác cũng vạch ra tội ác tày trời của bọn thực dân trong suốt hơn tám mươi năm nô lệ, chủ yếu là các tội ác trên hai bình diện chính trị và kinh tế

- "Tuyên ngôn độc lập" chuẩn bị sẵn cơ sở để bác bỏ mọi luận điệu của thực dân Pháp, bằng cách chứng minh một cách thuyết phục là:" Từ mùa thu năm 1940, nước ta đã là thuộc địa của Nhật", bằng sự kiện ngày 9/3/1945, Nhật hất cẳng Pháp, như vậy chỉ " trong năm năm chúng đã bán nước

ta hai lần cho Nhật" Việt Nam giành lại quyền độc lập của mình từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp: "Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp"

- Hơn nữa cuộc đấu tranh giành độc lập không phải là kết quả của một ngày mà là kết quả của một chuỗi đấu tranh liên tục, không ngững không nghỉ, không quản ngại hi sinh mất mát của toàn thể nhân dân Việt Nam Người Việt Nam đã hiểu được cái già phải trả to lớn để có được độc lập tự do, vì thế: "toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy"

- "Tuyên ngôn độc lập" của Hồ Chí Minh là một văn kiện chính trị, đánh dấu kỉ nguyên độc lập tự

do và chủ nghĩa xã hội của dân tộc, tuyên bố xoá bỏ mọi đặc quyền đặc lợi, xoá bỏ mọi hiệp ước mà nhà nước phong kiến trước đây đã kí với Pháp Đồng thời khẳng định vị thế chủ nhân mới của đất nước Việt Nam

"Tuyên ngôn độc lập" của Hồ Chí Minh một lần nũa nhấn mạnh quyền của con người, quyền đượctự do độc lập của các dân tộc, do đó ý nghĩa của văn bản này là rất lớn Nó cổ vũ cuộc đấu tranh chung vì độc lập tự do, vì hoà bình, vì quyền được sống, quyền được làm người của các dân tộc trên thế giới

- "Tuyên ngôn độc lập" của Hồ Chí Minh còn có giá trị vế thuật Đây là một văn bản chính luận xuất sắc thể hiện qua sự lập luận chặt chẽ, lôgic, mang giá trị pháp lí cao Giọng văn hùng hồn,lí lẽ đanh thép,đầy sức thuyết phục tạo ra cảm hứng trang trọng, xúc động lòng người, xứng đáng là một áng "thiên cổ hùng văn"

c) Kết bài: "Tuyên ngôn độc lập của Hố Chí Minh có giá trị lịch sử và giá trị văn chương, là mẩu mực của thể loại chính luận trong văn học nước nhà

2)Bài "SÓNG"- Xuân Quỳnh

Câu 1: Phân tích hình tượng Sóng trong bài thơ sóng của Xuân Quỳnh Nêu cảm nhận về vẻ đẹp

tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng này.

Gợi ý làm bài:

a) Mở bài:

- Xuân Quỳnh (1942- 1988) là một nhà thơ nữ xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại Thơ Xuân Quỳnh thể hiện một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành, khao khát tình yêu, biết nâng niu hanh phúc đời thường bình dị

- "Sóng" (in trong tập "Hoa dọc chiến hào" được sáng tác năm 1967, tiêu biểu về nhiều mặt cho hồn thơ Xuân Quỳnh Bài thơ cho thấy một tâm hồn khát khao tìm kiếm hạnh phúc ẩn chứa trong một tiếng lòng đầy trắc ẩn, suy tư song cũng rất chân thành tha thiết

b) Thân bài:

- Sóng là hình tượng trung tâm của bài thơ và là một hình tượng ẩn dụ Cùng với hình tượng em ( cả hai hình tượng này song hành suốt tác phẩm), sóng thể hiện những trạng thái, quy luật riêng của tình yêu cùng vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ rất truyền thống mà hiện đại

Trang 12

- Sóng có nhiều đối cực như tình yêu có nhiều cung bậc, trạng thái và như tâm hồn người phụ nữ có những mặt mâu thuẫn mà thống nhất ( Phân tích hai câu đầu với kết cấu đối lập- song hành và với việc đặt các từ "dịu êm, lặng lẽ" ở cuối câu tạo điểm nhấn.)

- Hành trình của sóng tìm tới biển khơi như hành trình của tình yêu hướng về cái vô biên, tuyệt đích, như tâm hồn người phụ nữ không chịu chấp nhận sự chật hẹp, tù túng ( phân tích hai câu sau của khổ một với kiểu nói nhấn mạnh như không hiểu nổi, tìm ra tận,…)

- Điểm khởi đầu bí ẩn của sóng giống điểm khới đầu và sự mầu nhiệm, khó nắm bắt của tình yêu (phân tích khổ 3, 4 của bài thơ với điệp từ nghĩ và sự xuất hiện của nhiều câu hỏi…)

- Sóng luôn vận động như tình yêu gắn liền với những khát khao trăn trở không yên, như người phụ nữ khi yêu luôn da diết nhớ nhung, cồn cào ước vọng về một tình yêu bền vững, chung thuỷ ( phân tích các khổ 5,6,7,8 của bài thơ với lối sử dụng điệp từ, điệp ngữ, điệp cú pháp; với hiệu quả của hình thức đối lập trên- dưới, thức- ngủ, nam- bắc, xuôi- ngược…; với kiểu giải bày tình cảm bộc trực như lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức…)

- Sóng là hình tượng thiên nhiên vĩnh cửu như tình yêu là khát vọng muôn đời của con người, trướchết là người phụ nữ muốn dâng hiến cả cuộc đời cho tình yêu đích thực ( phân tích khổ thơ cuối của bài thơ với ý nghĩ và cách nói táo bạo của người con gái hiện đại: Làm sao được tan ra…)

- Hình tượng sóng cho ta thấy được những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ trong tình yêu: thật đămd thắm, dịu dàng,thật hồn hậu dễ thương, thật chung thuỷ

- Hình tượng sóng cũng thể hiện được nét đẹp hiện đại của người phụ nữ trong tình yêu: táo bạo, mãnh liệt, dám vượt qua mọi trở ngại để giữ gìn hạnh phúc, dù có phấp phỏng trước cái vô tận củathời gian, nhưng vẫn vững tin vào sức mạnh của tình yêu

Câu 2: Phân tích tâm trạng trữ tình trong khổ thơ sau:

" Sóng bắt đầu từ gió

Gío bắt đầu từ đâu?

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau."

- "Sóng"- Xuân

Quỳnh-Gợi ý làm bài:

a) Mở bài: ( giống phần mở bài trên)

b) Thân bài: Phân tích tâm trạng

- Trong tình yêu luôn có một vấn đề được đặt ra đó là giải thích thế nào là tình yêu, song đó là một câu hỏi có muôn vàng đáp số mà mỗi cặp tình nhân, mỗi người yêu nhau đèu cố gắng giải đáp, trước hết là cho mình và cho người mình yêu Với khổ thơ trên đây Xuân Quỳnh cũng đưa ra một cách giải thích, một cách cắt nghĩa tình yêu theo cách riêng của mình Đó là cách cắt nghĩa mang tính trực cảm, rất nữ tính và cũng rất Xuân Quỳnh Cách bắt đầu đi từ "sóng" mà cội nguồn của sóng theo Xuân Quỳnh là bắt đầu từ "gió" Nhưng khi phải trả lời tiếp "gió" bắt đầu từ đâu, thìthật khó đưa ra lời giải đáp Xuân Quỳnh tìm lời giải đáp ấy từ chình "tình yêu", từ chính lôgic củatrái tim và đấy cũng là cách suy luận tràn đầy nữ tính Bởi lẻ, nguồn gốc của sóng, của gió cũng giống như nguồn gốc của tình yêu vừa là rất cụ thể nhưng cũng lại rất trừu tượng, bởi tình yêu bí ẩn, thiêng liêng và kì lạ vô cùng, càng bí ẩn thiêng liêng thì nó càng kì lạ, càng cao quý, càng hiện ra vẻ đẹp vô ngần của nó

Trang 13

- Cách cắt nghĩa của Xuân Quỳnh cho thấy một quy luật phổ biến trong tình yêu nam nữ, đó là từ trực cảm đến lí trí Người ta yêu nhau trước hết qua sự cảm nhận bằng trực giác, bằng linh tính, bằng một sự cảm nhận đặc biệt về nhau mà thiếu đi sự cảm nhận trực giác ấy, tình yêu chỉ còn là sự tính toán hơn thua được mất Trong tình yêu người ta đến với nhau tự nguyện, không ai bắt buộc

ai, người ta chiếm lĩnh tâm hồn và tình cảm của nhau bằng một điểm gì đấy rất người mà không thể nói ra được, bằng một sự rung cảm sâu lắng nào đấy trong tâm can mà không diễn tả thành lời được, bởi khi đã nói ra được bằng lời, nghĩa là bằng sự sắp xếp ngôn từ theo tư duy lí tính của tình yêu mất đi vẻ đẹp thiên liêng bí ẩn của nó Sự quyến rũ của tình yeu chính là ở sự rung động bí ấnnày, là sự cảm nhận trực giác vừa nhại bén vừa mong manh này Vì thế đã không ít người đã coi tình yêu mang chất "thiên định", là sự sắp sếp của tạo hoá

c) Kết bài:

Xuân Quỳnh qua bài thơ sóng đã cho thấy những vẻ đẹp mới của tình yêu nam nữ, trong đó nỗi bậtlên là khát vọng được yêu, được sống trọn vẹn trong hạnh phúc tình yêu

Câu 3: Phân tích bài thơ sóng của Xuân Quỳnh.

Gợi ý làm bài:

a) Mở bài:

"Sóng" là một hình tượng đẹp trong thiên nhiên Các thi nhân thường mượn hình tượng sóng để

biểu đạt những sắc thái tình cảm của mình Như Huy Cận, Thâm Tâm, Chế Lan Viên và Xuân Diệu cũng đã từng đề cập đến sắc thái của từng con sóng

Sóng trong thơ Xuân Quỳnh là hình tượng biểu hiện cho tình yêu nồng ấm, dạt dào, thiết tha, cao

vời, bền bỉ và vĩnh hằng "Sóng" và "em" trong bài thơ có mối quan hệ mật thiết với nhau "Sóng"

chính là biểu tượng của tình yêu của "em"- Người con gái đang yêu nồng nàn say đắm

Sóng là bài thơ được Xuân Quỳnh viết năm 1967 và được in trong tập "Hoa dọc chiến hào" Bài thơ đã bộc lộ một tâm hồn đắm say tha thiết hồn nhiên vả trong sáng, thuỷ chung trong tình yêu của Xuân Quỳnh

b) Thân bài:

Trong bài thơ này " sóng" là một hình tượng ẩn dụ Xuân Quỳnh đã mượn hình tượng sóng để nói lên những tính chất của tình yêu Mở đầu bài thơ Xuân Quỳnh đã đưa ra hai tính chất đối lập của sóng:

" Dữ dội và dịu êm

Ônf ào và lặng lẽ"

Qủa đúng như vậy, những khi nào baõ tố, biển động thì sóng trào lên một cách dữ dội, ồn ào như giận dữ muốn nghiền nát bờ Nhưng những lúc trời êm biển lặng thì sóng chỉ rì rào dịu êm và lặng lẽ Hai tính chất đối lập này của sóng cũng chính là hai tính chất đối lập của tình yêu Tình yêu cũng như sóng, có lúc khát khao cháy bỏng, mãnh liệt, ào ạt nhưng có lúc lại dịu êm, lặng lẽ, mơ màng đi vào chiều sâu của sự trân trọng, lòng nhớ thương mong đợi

Ta nhận thấy ở đây tâm hồn đang yêu của nhà thơ đã tự nhận thức về những biến động khác thường nhỏ bé của tình yêu để tìm đến những niềm bao la, vô ttận, vĩnh cửu giữa cuộc đời như con sóng kia từ những lòng sông chật chội, giới hạn bởi đôi bờ tìm về với biển cả mênh mông

" Sóng không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể"

Để từ đó, Xuân Quỳnh nói nhiều đến nỗi nhớ của người con gái trước hình tượng "sóng":

" Trước muôn trùng sóng bể

Anh nghĩ về anh em

Em nghĩ về biển lớn

Trang 14

Từ nơi nào sóng lên"

Nỗi nhớ của nhà thơ được khơi đi từ những cái cao cả, lớn lao mà không hề tủn mủn, tầm thường nhỏ nhặt chút nào Nhà thơ như muốn đi tìm căn nguyên của tình yêu, tìm ra nơi khởi đầu của

"sóng": "từ nơi nào sòng lên" để tìm ra nơi khởi đầu của tình yêu, nhưng qui luật của sóng là qui luật của tự nhiên nên có thể giải thích được, còn đi tìm căn nguyên của tình yêu và câu giải đáp cho thật thoả đáng thì thật là vô cùng khó khăn bởi tình yêu thuộc phạm trù tình cảm, những tình cảm được rung lên trong lòng người và hơi thở của trái tim, mà chiều sâu lòng người và chiều sâu trái tim của mỗi con người ta làm sao hiểu hết được Vì thế, trong tình yêu thì muôn đời có những câu hỏi mà ta không bao giờ trả lời được: "Vì sao ta yêu nhau?","Khi nào ta yêu nhau?" cho nên nhà thơ cảm thấy lo lắng, thảng thốt:

"Sóng bắt đầu từ gió

Gío bắt đầu từ đâu

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau."

" Em cũng không biết nữa", câu thơ vừa chứa đựng một sự ngây thơ, bối rối, vừa chứa đựng đôi chút bất lực của nhà thơ trước câu hỏi " Khi nào ta yêu nhau" câu hỏi mà muôn đời các thế hệ thi nhân vẫn chưa trả lời được Ngay cả Xuân Diệu một nhà thơ được mệnh danh là "ông hoàng của thơ tình" mà cũng đành bối rối:

" Làm sao cắt nghĩa được tình yêu"

Nhà thơ có một óc quan sát thật tinh tế, cảm nhận được con sóng ở nhiều tầng, nhiều lớp cũng như bản chất của tình yêu:

" Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước"

Tình yêu cũng thế, có khi nó được biểu hiện một cách cụ thể trên bề mặt của nó, rất dễ nhận biết nhưng tình yêu có khi lại lắng sâu vào tậng đáy tâm hồn và chỉ có những người thật nhại cảm, có chiều sâu tâm tưởng mới nhận được ra nó Và ở đây nhà thơ đã khéo léo dùng phép nhân hoá để khẳng định một cách chắc chắn rằng dù là những con sóng chìm hay những con sóng nổi, con nào cũng nhớ bờ và thao thức đêm ngày không ngủ được:

" Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được"

Con sóng nhớ bờ và ngày đêm không ngủ được hay đó chính là nỗi nhớ thiết tha rạo rực, thao thức trong tình yêu của Xuân Quỳnh Nỗi nhớ được trải dài theo suốt chiều dài của thời gian " ngày" và

"đêm" Nỗi nhớ lại còn tràn về trong những cơn mơ:

" Lòng em nhớ tới anh

Cả trong mơ còn thức"

Cách diễn đạt nỗi nhớ của Xuân Quỳnh quả thật là độc đáo " trong mơ" vẫn "còn thức", tức là nỗi nhớ vẫn cứ tồn tại, vẫn cứ hiện diện trong tâm hồn, nó không hề lắng xuống mà vẫn trào dâng mãnh liệt, quay quắt khôn nguôi Thế mới biết nỗi nhớ trong tình yêu của Xuân Quỳnh da diết biết bao nhiêu

Từ nỗi nhớ thiết tha trong tình yêu, Xuân Quỳnh đã khẳng định tấm lòng son sắc thuỷ chung của mình đối với người yêu Dẫu người yêu có ở tận không gian xa vời nào " Dẫu xuôi về phương bắc"hay " Dẫu ngược về phương nam" thì tấm lòng của Xuân Quỳnh vẫn thế , vẫn thuỷ chung son sắt, không hề thay đổi, lúc nào cũng nhớ thương mong đợi, luôn hướng về người yêu:

" Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam

Trang 15

Nơi nào em vẫn nghĩ

Hướng về anh một phương"

Lời rhơ như một lời thề, một lời tự đính ước với người yêu xuất phát tự đáy lòng nhà thơ

Chính từ sự khẳng định lòng thuỷ chung của mình mà từ những con sóng cụ thể của cá thể Xuân Quỳnh biết nâng lên thành vô và con sóng quần thể và khái quát rồi nêu thành một chân lí hiển nhiên: con sóng nào cũng nhớ tới bờ dù có phải trải qua bao nhiêu cách trở:

" Ở ngoài kia đại dương

Trăm ngàn con sóng đo

Con nào cũng tới bờ

Dù muôn vời cách trở"

Đó chính là một niềm tin mãnh liệt vào một tình yêu chân chính, đích thực của Xuân Quỳnh Thật vậy, một tình yêu chân chính, đích thực, cao cả sẽ giúp con người vượt qua bao sóng gió của cuộc đời để đưa " thuyền yêu" cập bến bờ hạnh phúc, yêu thương Và nó cũng là một chân lí hiển nhiên:

" Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa"

Và cũng chính là từ sự khái quát ấy, niềm tin mãnh liệt ấy mà tình yêu ở đây không mang màu sắc

vị kỉ, tầm thường, nhỏ hẹp mà thật lớn lao và cao thưuợng Cái niềm hạnh phúc riêng của nhà thơ như hoà chung vào cái niềm hạnh phúc của cuộc đời rộng lớn, cái riêng tồn tại trong cái chung bao

la, rộng lớn ấy nên trở thành vĩnh cửu:

"Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vổ"

Không gian cho tình yêu chợt rộng lớn thênh thang và phương của vectơ tình yêu thì luôn "hướng về anh" Vâng, sắc thái tình yêu thì nhiều, nhưng sự thuỷ chung của người phụ nữ thì chỉ có "một phương" mà thôi? Nó không bao giờ chia lìa, bởi nó là tình yêu vĩnh cửu.Tagore, nhà thơ Âns Độ muốn đập tan viên ngọc "thành trăm manht":

" Nếu đời anh chỉ là viên ngọc

Anh sẽ đập nó thành trăm mảnh

Và xâu thành một chuỗi

Quàng vào cổ em"

Sự tan ra " thành trăm mảnh" của hình tượng viên ngọc trong bài thơ tình số 28 của Tagore cũng có nghĩa là khát vọng tăng dần về tần số của tình yêu.Và tình yêu tăng lên, tăng lên của sự tận tuỵ, thuỷ chung Xuân Quỳnh cũng khao khát " Thành trăm con sóng nhỏ" để diễn tả sự muôn trùng của tình yêu, tất cả đều là sự nhận thức về tình yêu vô tận, vô biên của sự hiến dâng trọn vẹn của tất cả cảm xúc con người, cũng có nghĩa là sự khao khát hoà hợp tuyệt đỉnh của thế giới tâm hồn

c) Kết bài:

Qua hình tượng "sóng" ta cảm nhận được sức sống và vẻ đẹp của một tâm hồn phụ nữ thể hiện trong bài thơ Xuân Quỳnh mạnh dạn, chủ động bày tỏ những khát vọng và những rung động chân thành của con tim đang rào rạt và đắm mình trong tình yêu

Trang 16

"Sóng" là một trong những bài thơ tình hay nhất của Xuân Quỳnh và là bài thơ tình sáng giá trên thi đàn hiện đại Việt Nam Bài thơ đã bộc lộ một tình yêu tha thiết, trong sáng, thuỷ chung, cao thượng với bao nỗi nhớ thương, niềm khao khát, sự tin yêu đầy hy vọng và khát vọng.Đó là nét mới, rất hiện đại trong thơ Xuân Quỳnh Phải có một tình yêu nôngd cháy và chung thuỷ, thì mới có những vần thơ đẹp lung linh đến như vệy Xuân Quỳnh đã góp một hơi thở đắm say, nồng nàn đã làm tươi thắm thêm cho thi đàn hiện đại Việt Nam.

Bài thơ Tây Tiến ( Quang Dũng)

Đề 1: Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính trong đoạn thơ sau:

" Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Aó bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành"

Gợi ý làm bài:

-Câu "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh" chi thấy quyết tâm cảm tử cho tổ quốc quyết sinh của những người chiến sĩ Tây Tiến Một mặt vữa xua đi nỗi buồn của hình ảnh nhuẽng nấm mồ xa xứ

xa quê nằm rãi rác trên miền biên cương, mặt khác vừa cho thấy chí khí và nghị lực của những ngươi chiến sĩ Họ luôn sẵn sàng cống hiến cả đời mình cho đất nước, cống hiến cả "đời xanh" và tuổi trẻ của họ Tình chất bi tráng được hé mở Cả hai câu thơ này đều có sự đảo trật tự từ tạo ra nhịp điệu âm hưởng của câu thơ

Trang 17

- Câu thơ: "Aó bào thay chiếu anh về đất" trực tiếp nói về cái chết của người chiến sĩ Tác giả không nói tới lí do của cái chết mà thay vào đó tác giả nói tới cách thức mà đồng đội đưa tiễn người đồng đội chiến đấu của mình "áo bào" trở thành cách nói trang trọng, mang tính ước lệ mà qua đó hình ảnh người chiến sĩ đã hi sinh mang dáng dấp của một tráng sĩ, của một anh hùng.Tác giả cũng không dùng từ chết mà thay vào đó tác giả sử dụng lối nói giảm "anh về đất" Anh chiến

sĩ trở về với đất mẹ, mảnh đất đã sinh ra và nuôi dương anh Cái chết, do đó, không còn mang tính

bi luỵ nữa mà mang được tráng khí anh hùng Hiển nhiên "áo bào" ở đây không phải là thứ áo bào mà các tướng sĩ thời phong kiến được trang bị, mà chỉ là cách nói ước lệ để chỉ những bbộ quân phục mà người lính được cấp phát Cách nói ước lệ này có tính hợp lí của nó, thể hiện cách nhìn lãng mạn qua cách tạo ra cho cái bình thường những phẩm chất phi thường

- Câu thơ: "Sông Mã gầm lên khúc độc hành" tiếp tục nâng cao tầm vóc của cái chết của người chiến sĩ Tây Tiến, cái chết làm cảm động cả đất trời núi sông non nước, bởi vì cái chết đó không uổng phí Sự hi sinh của "đầu xanh tuổi trẻ" không phí hoài mà để bảo vệ tổ quốc thiên liêng Một lần nữa các từ Hán Việt được sử dụng đang cài vào câu thơ, đó là cụm từ "khúc độc hành" Bản hành khúc đưa tiễn chỉ là một, và cũng chỉ được tấu lên một lần duy nhất, nhưng cách thức cử hành khúc hành khúc đó cũng rất kì lạ, đó là "gầm lên" Việc cử bản hành khúc đưa tiễn này do sông Mã đảm nhiệm, do đó, việc độc hành cũng đễ hiểu Song, ở đây, cần thấy được tính chất longtrọng của buổi tang lễ ấy Đó là đưa tiễn người đồi đội hi sinh không chỉ có các đồng ngũ của anh mà còn có cả đất trời ssông núi Anh chết trong sự cảm mến trân trọng của đồng đội và trong âm vang của núi rừng, ssông suối Cái chết, do đó, mang âm hưởng bi tráng, toát lên niềm lạc quan qua việc chấp nhận sẵn sàng hi sinh vì tổ quốc

c) Kết bài:

Bốn câu thơ đã tái hiện cái chết của người chiến sĩ Tây Tiến mà qua đó sự hi sinh của người lính Tây Tiến là vô giá Vẻ đẹp của sự hi sinh được miêu tả một cách ấn tượng, mang tính gợi cảm và biểu cảm cao

Đề 2: Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và tâm hồn lãng mạn, hào hoa của người lính Tây Tiến trong bốn câu thơ sau:

" Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa."

Gợi ý làm bài:

- Vẻ đẹp được tạo ra bằng những nét chấm phá, tác giả chỉ gợi không tả, nhưng lại tạo ra được ấn tượng rất sâu sắc, ấn tượng khó phai mờ trong tâm khảm của những con người đã một thời gắn bó với vùng quê Tây Bắc, với những con người Tây Bắc Bằng các nét chấm phá ấy, tác giả chỉ ra

Trang 18

được cái hồn của cảnh vật thien nhiên, do đó thiên nhiên trở thành đối tượng trữ tình giúp bộc lộ tình cmr của tác giả.

- Cảnh vật thiên nhiên được gợi tả vừa có ấn tượng tạo hình vừa có tác dụng nhắc nhở về kỉ niệm một thời không quên trong tâm tư người chiến sĩ Tây Tiến Ở đây vẫn có nét chung về bến và thuyền, về người đi kẻ ở như thường gặp trong ca dao dân ca, song các động từ "có thấy", "có nhớ"như là cách khẳng định mối quan hệ khăng khích giữa người đi và người ở lại, khẳng định tình quân dân thân thiết

c) Kết bài:

Khẳng định sự quan sát tinh tế, cách thức thể hiện tài hoa của Quang Dũng

Đề 3: Cảm nhận của anh chị về chất tâm hồn của người lính trong bốn câu thơ sau:

" Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi"

Gợi ý làm bài:

a) Mở bài:

Giới thiệu qua nhà thơ Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến, giới thiệu vị trí của bốn câu thơ trong đoạn đầu của bài thơ Xác định bốn câu thơ trên đề cập tới những cuộc hành quân gian khổ qua các nơi khác nhau của núi rừng hiểm trở vùng biên giưới Việt- Lào, trên địa bàn nhiều tỉnh ở Tây Bắc

b) Thân bài:

- Hình ảnh trung tâm của bốn câu thơ là " dốc" núi cùng đoàn quân Tây Tiến Ở đây có hai loại dốc " dốc lên" thì "khúc khuỷu", " dốc xuống" thì " thăm thẳm" mà xét về chiều kích không gian thí " ngàn thước lên cao" đối với " dốc lên" và tương tự cũng có " ngàn thước xuống" của " dốc xuống" Tính chất gian nan vất vả của cuộc hành quân được tái hiện qua một hoạt động rất đặc trưng đòi hỏi nhiều nổ lực, gắng sức của từng con người, đó là dốc lên và dốc xuống

- Câu một cho thấy sự gập ghềnh gian nan qua một loạt các thanh trắc năm từ có thanh trắc trong khi đó chỉ có hai từ có thanh bằng, thêm vào đó là các từ láy mang tính tượng hình cao: " khúc khuỷu", " thăm thẳm"

- Câu hai thể hiện tài năng dùng từ của Quang Dũng qua cụm từ " súng ngửi trời" vừa có dáng vẻ tinh nghịch của những người chiến sĩ vừa rời ghế nhà trường, vừa có chất lính ra trận Vị trí của đoàn quân được miêu tả là rất cao, như đứng trên " cồn mây heo hút" bởi vì đỉnh núi cao bị mây mù che phủ, ngọn núi, đỉnh núi bồng bềnh trong mây như thể một " cồn mây" mà ở đó chỉ lên chútxíu nữa thôi là đến trời.Vì thế tình huống "súng ngửi trời" xuất hiện, tạo ra dáng đứng, thế đứng kì

vĩ của người lính Tây Tiến, đồng thời cũng cho thấy sự gian nan vất vả song vẫn lạc quan yêu đời của họ trên đường hành quân

- Câu ba một lần nữa nhấn mạnh tính chất cam go của đèo dốc trên đường hành quân bằng một sự

so sánh đo đếm được song từ " ngàn" ở đây còn mang tính phiếm chỉ Câu thơ:" Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống" tạo ra sự tương phản: lên cao- xuống thấp với một độ dài chẳng kém gì nhau, đều là " ngàn thước" cả, có nghĩa là sự gian nan không chỉ khi leo dốc mà còn nằm ở chỗ xuống dốc nữa Câu thơ như tựa hồ bị bẻ gập làm đôi, như là một hình ảnh của chính con dốc ấy

- Câu bốn với đặc điểm đạc biệt là chỉ gồm vần bằng cho thấy một ý nghĩa biểu trưng, đó là tất cả mọi người trong đoàn quân đã vượt qua thử thách mà con dốc ấy đã đặt ra, và trong tư thế chiến thắng thử thách ấy, họ cùng phóng tầm mắt ra xa, để quan sát, để nhìn rộng hơn, đất trời tại vị trí và tư thé mà họ đã chiếm lĩnh được Niềm vui ở đây lan toả đồng đều trong mỗi thành viên và được nhân lên bởi ngôi nhà mà họ được nhìn thấy ở Pha Luông vưad thân quen vừa khó phân biệt

Trang 19

Cụm từ " nhà ai" ở đây như là một cách họ tự hỏi nhau, tự đố nhau, bởi lẽ, những người chiến sĩ ấyđã từng có mặt ở Pha Luông.

- Hai câu ba và bốn có sự đan cài, phối hợp âm thanh, câu ba có bốn thanh bằng và ba thanh trắc, còn câu bốn thì toàn thanh bằng:

"Ngàn- thước- lên- cao/ ngàn- thước- xuống

Nhà- ai- Pha- Luông- mưa- xa- khơi"

Tái hiện một cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ mà con người đã chiếm lĩnh bằng khả năng của chính họ

- Bốn câu thơ này có tính tạo hình rất cao, tạo ra bức tranh hành quân trên đèo dốc ở miền núi phíaTây Đây cũng là một nét tài hoa của Quang Dũng, tạo ra tính chất " thi trung hữu hoạ" độc đáo

c) Kết bài:

Bốn câu thơ cho thấy sự gian nan vất vả của các chiến sĩ Tây Tiến trên đường hành quân, đồng thời cũng cho thấy vẻ đẹp của thiên nhiên để qua đó nổi bật lên vẻ đẹp chiến thắng gian khổ của người lính Tây Tiến

Đề 4: Phân tích hình ảnh đoàn quân Tây Tiến trong đoạn thơ sau trích trong bài thơ "Tây

Tiến" của nhà thơ Quang Dũng:

" Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

………

Sông Mã rầm lên khúc độc hành"

Gợi ý làm bài:

a) Mở bài:

Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu nhất trong sáng tác của Quang Dũng và cũng là thành phần không thể thiếu trong bức tranh bằng thơ về người lính kháng chiến chống Pháp Được viết năm 1948 khi Quang Dũng rời xa đơn vị Tây Tiến một thời gian, chân tình về một thời kháng chiến đầy gian khổ Cảm hứng lãng mạn thể hiện ở "cái tôi cảm xúc", nhấn mạnh cái dữ dội, phi thường, tô đậm vẻ đẹp mộng mơ, mang âm hưởng hùng tráng

b) Thân bài:

Giữa thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, bao la, vừa dữ dội, hình ảnh đoàn quân Tây Tiến đã được khắc hoạ với nhiều chi tiết gây ấn tượng:

" Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm"

Nhiều hình ảnh thật khác thường " không mọc tóc", " quân xanh màu lá", có thể thấy đoàn quân Tây Tiến đã phải vượt qua nhiều chặng đường gian khổ, nhiều vất vả thiếu thốn, mà còn phải chịunhững cơn sốt rét quái ác khiến cho da xanh, tóc rụng Điều đó cũng từng được nói đến trong bài

thơ đồng chí của Chính Hữu:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt rung người vầng trán ướt mồ hôi

Nhưng có lẽ ý thơ Quang Dũng có sức gợi tưởng tượng và cảm nghĩ sâu xa hơn Bệnh tật khắc nghiệt dã biến những người lính Tây Tiến thành những anh " vvệ trọc" gầy yếu xanh xao, nhưng tưthế, dáng vẻ của họ vẫn " dữ oai hùm", vẫn mạnh mẽ hùng dũng, hiên ngang một nghị lực kiên cường, mặc dù đau yếu bệnh tật nhưng sức mạnh rất vững vàng đầy nhiệt huyết

Quang Dũng khai thác những hình ảnh trong câu thơ:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Trang 20

Cánh nói tương phản như vậy cho thấy đằng sau vẻ ngoài dữ dội đầy lòng căm thù giặc Người lính Tây Tiến vẫn có tâm hồn mơ mộng và đằm thắm trong tình cảm yêu thương, nỗi nhớ về hậu phương, về những người thân yêu

Trong bài thơ Đồng chí, Chính Hữu nói về nỗi nhớ ruộng nương, gian nhà, giếng nước, gốc đa ở làng quê thân thuộc Trong bài thơ nhơ,ù Hồng Nguyên nói về nỗi nhớ người vợ vất vả ở quê nhà

Đó là nỗi nhớ của những người nông dân mặc áo lính bình thường gắn bó với ruộng đồng, thôn xóm, lam lũ, nhọc nhằn, còn nỗi nhớ của những người thanh niên thủ đô đi kháng chiến gần với hình ảnh, vẻ đẹp thơ mộng của người con gái thành phố quê hương

Hai câu thơ tiếp theo nói về hình ảnh của thế hệ thanh niên đi theo cuộc sống cách mạng kháng chiến:

Rãi rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Ở đây Quang Dũng không ngần ngại khi nói về cái chết của người chiến sĩ dù đấy là cái chết ở chiến trường biên giới xa xôi, dù cảnh những nấm mồ cô đơn giữa nơi núi rừng hoang vu Chính sựđối lập tương phản về ý nghĩa giữa hai câu thơ, đã nêu bật cái triết lí sống, cái phương châm sống rất hào hùng của người lính Tây Tiến vì sự sống muôn đời của tổ quốc Họ quyết tâm ra đi chiến đấu và sẵn sàng hy sinh cả tuổi xuân phơi phới của mình

Hai câu cuối được khặng định sâu sắc:

Aó bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Đối với họ còn sống là còn chiến đấu vì tổ quốc, chiến đấu quên mình chẳng tiếc đời xanh Quang Dũng đã làm đẹp cuộc đời chiến đấu của người lính Tây Tiến bằng những từ ngữ Hán Việt mang sắc thái cố kính " biên cương, viễn xứ, chiến trường" Cái áo bình thường sẽ đưa người chiến sĩ về nấm mộ của anh bổng trở nên mang đậm màu chiến trận hơn và tăng thêm vẻ trang trọng thiêng liêng khi được gọi là " áo bào" Chữ " về đất" cách nói giảm như thế đã làm bớt sự bi luỵ, ghê sợ của cái chết, đồng thời làm tăng thêm tính chất hào hùng thanh thản của sự hy sinh Người chiến sĩngã xuống cũng là trở về với đất mẹ, trở về trong lòng tổ quốc yêu thương Đáng chú ý là trước cáichết của người đồng đội, Quang Dũng không trực tiếp bày tỏ tình cảm, ở đây chỉ có thiên nhiên chứng kiến và sông Mã cùng "gầm lên", đau đớn cùng chia sẻ cảm thông trước nỗi đau xót vô hạn.Sông Mã tấu lên khúc nhạc bi trngs của đất trời núi sông tổ quốc để tiễn biệt một người chiến sĩ đã hy sinh

c) Kết bài:

Bài thơ đi vào kết thúc với những câu thơ ngậm ngùi bâng khuâng nhưng dạt dào thương nhớ Sông Mã và Tây Tiến đều xa rồi giữa nhà thơ với kĩ niệm năm xưa có một khoảng cách của thời gian và không gian thăm thẳm nhưng tấm lòng nhà thơ vẫn mãi gắn bó thiết tha với đoàn quân Tây Tiến, với những ngày Tây Tiến:

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi

Đề 5 : Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gởi mộng qua biên giới

Trang 21

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

B DÀN BÀI:

I MỞ BÀI:

- Khẳng định vị trí nổi bật của Tây Tiến trong dòng thơ ca viết về anh bộ đội của nền thơ

kháng chiến chống Pháp

- Nhắc qua những nội dung của hai đoạn thơ trước để đi đến các nội dung cảm xúc ở đoạn

3 này: dựng cả chân dung đoàn binh, biểu hiện đời sống tâm hồn, ngợi ca lí tưởng cao cả và sự hisinh bi tráng của người lính Tây Tiến

II THÂN BÀI:

1 Cặp câu thứ nhất:

Chân dung đoàn binh Tây Tiến được dựng tả bằng nét bút vừa hiện thực, gân guốc vừalãng mạn, hào hùng Biện pháp nghệ thuật tương phản giữa ngoại hình gầy gò, tiều tụy với sứcmạnh tinh thần đã gây ấn tượng mạnh về vẻ đẹp khác thường của đoàn binh Tây Tiến

2 Cặp câu thứ hai:

Sự biểu hiện chân thực đời sống tâm hồn mộng mơ của chàng trai Tây Tiến chứ không

phải cái “mộng rớt”, “buồn rớt” như một thời nhiều người phê phán

3 Cặp câu thứ ba:

Sự kết hợp hài hòa giữa bi (câu trước) và tráng (câu sau) để thành khúc ca bi tráng về lítưởng người lính Tây Tiến Tinh thần lãng mạn hào hùng, ý nguyện xã thân thanh thản và cao cả

của một thế hệ qua các chữ “chẳng tiếc đời xanh”.

4 Cặp câu thứ tư:

Ca ngợi sự hi sinh bi tráng của người đồng đội Tây Tiến Hình ảnh “áo bào thay chiếu” tăng thêm không khí cổ điển trang trọng Từ “về đất” ca ngợi sự hi sinh thanh thản, vô tư Khúc

“độc hành” của dòng sông Mã đang gầm lên như dội vào nỗi xót đau, như tô đậm vẻ lẫm liệt cao

cả của người lính Tây Tiến Đoạn thơ khép lại bằng một âm thanh bi tráng Âm hưởng thơ như cònngân dài, vang xa mãi

III KẾT BÀI:

Đoạn thơ dựng nên bức tượng đài về đoàn binh Tây Tiến với những vẻ đẹp phong phú Nó là kết quả của một tình cảm mến yêu, cảm phục sâu sắc, của một ngòi bút thi sĩ tài hoa

Câu 6:

Trang 22

BÀI THƠ TÂY TIẾN

ĐỀ BÀI: " Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng là đặc điểm nổi bật trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng".

Chứng minh nhận định trên.

Gợi ý làm bài:

a) Mở bài:

- Quang Dũng là nhà thơ tài hoa về nhiều lĩnh vực nhưng ông đạt thành công nhất ở thơ ca Thơ ông thể hiện một tâm hồn nhạy cảm, giàu chất lãng mạn, có khả năng cảm nhận tinh tế vẻ đẹp của thiên nhiên và tình người, nghệ thuật diễn tả tâm hồn bình dị, chân thật

- Tây Tiến là một trong những bài thơ đặc sắc của Quang Dũng Đặc điểm nổi bật trong bài thơ này là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng

b) Thân bài:

- Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối họp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt- Lào, đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh noên Hà Nội

- Quang Dũng là đại đội trưởng ở đó đến suốt năm 1948, rồi chuyển sang đơn vị khác Trong nỗi nhớ tha thiết về đoàn quân gắn bó một thời với mình Quang Dung sáng tác bài thơ Tây Tiến với

cái tên ban đầu là nhớ Tây Tiến vào cuối năm 1948 tại Phù Lưu Chanh Sau này, bài thơ được in trong tập mây đầu ô.

* Cảm hứng lãng mạn:

(1) Bức tranh kiêu hùng của người lính Tây Tiến được dệt nên bởi cảm hứng lãng mạn trên cái nền hùng vĩ và thơ mộng của núi rừng Tây Bắc Bài thơ miêu tả một xứ lạ, hoang sơ và nguyên

thuỷ, người lính vượt qua bao đèo cao, suối sâu với tư thế đẹp, hùng dũng, với nỗi nhớ chơi vơi, heo hút cồn mây súng ngửi trời, với Mường Lát hoa về trong đêm hơi, với nhà ai Pha Luông mưa xa khơi …

Trang 23

(2) Bút pháp lãng mạn còn thể hiện qua âm thanh ghê rợn của thác gầm thet, cọp trêu người nhằm tô đậm vẻ hoang dại, bí mật của rừng thiêng dữ dội, rồi đột ngột mơ ra một nỗi nhớ ấm áp: Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khỏi, Mai Châu mùa em thơm nếp xôi, Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm …

(3) Thực- ảo đan xen trong đêm liên hoan: ( bừng lên ngọn đuốc hoa) với cái nhìn ngơ ngác ( kìa

em xiêm áo tự bao giờ) lẫn cái e ấp tình tứ ( Khèn lên man điệu nàng e ấp- Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ) Từ cảnh liên hoan chuyển sang cảnh sông nước đầy chất thơ bằng bút pháp chấm phá tinh tế ( Người đi … chiều sương; hồn lau nẻo bến bờ; dáng người trên độc mộc; trôi dòng nướclũ hoa đong đưa …) Cảnh như được phủ lên màn sương huyền thoại, da diếc hồn của ngàn lau … giống như một bức hoạ cổ

(4) Hùng vĩ và thơ mộng là cái nhìn riêng của chất thơ lãng mạn Quang Dũng Tác giả gợi một hoài niệm, một tình yêu bâng khuâng đối với những vùng đất một thời gian gắn bó sâu nặng …

* Tinh thần bi tráng:

(1) Người chiến sĩ Tây Tiến luôn hiên ngang, bất khuất mặt dù chịu mất mác, đau buồn Trên cái

nền thiên nhiên hùng vĩ tráng lệ, người lính xuất hiện với tầm vóc bi tráng khác thường: Không mọc tóc, xanh màu lá dữ oai hùm, mắt trừng gửi mộng qua biên giới …

(2) Các câu thơ tiếp theo nói về cái chết cũng khác thường: (Rải rác biên cương mồ viễn xứ- Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh- Aó bào thay chiếu anh về đất) Hai khổ thơ tạo hình dữ đội, nói lên

cái gian khổ tột cùng lẫn cái lẫm liệt kiêu hùng

Cái chết cũng được tác giả bao bọc trong không khí hoành tráng Từ Hán Việt đượng sử dụng tạo

nên âm hưởng bi hùng Câu thơ sông Mã gầm lên khúc độc hành giống như khúc nhạc chiêu hồn tử

sĩ thật dữ dội, bi tráng giữa không gian bát ngát

(3) Chính cảm hứng lãng mạn đã tạo ra ở Quang Dũng cái nhìn mang tính anh hùng ca trước cáichết của người lính Tác giả nhìn thẳng vào sự thật là nỗi cơ cực, cái chết nhưng cảm hứng lãngmạn đã xoá đi những nét tiều tuỵ, lam lũ, bi thảm làm cho người lính trở nên oai hùng, sang trọng,

hào hoa Đó là những tráng sĩ " một đi không trở về" , một quang niệm về người anh hùng mang

màu sắc lãng mạn riêng của văn học quá khứ

(4) Cảm hứng lãng mạn và tính chất bi tráng tạo nên chất sử thi đặc biệt của bài thơ Bức chândung người lính hào hoa, dũng cảm trên cái nền hùng vĩ, tráng lệ đượng tác giả hướng hồn thơ

ngưỡng vọng vào cả một thế hệ anh hùng, nhữn người lính "quyết tử cho tổ quốc quyết sinh" c) Kết bài:

Tây tiến là bài thơ hay viết về người lính Bài thoqư góp tiến nói độc đáo cũng với những bài thơ viết về kháng chiến của Hồng Nguyên, Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi,…, đã làm thành mảng riêng đặc sắc trong thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp

ĐỀ BÀI:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơiSài Khao sương lấp đoàn quân mỏiMường Lát hoa về trong đêm hơiDốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳmHeo hút cồn mây súng ngửi trờiNgàn thước lên cao, ngàn thuốc xuốngNhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữaGục lên súng mũ bỏ quên đời

Trang 24

Chiều chiều oai linh thác gầm thétĐêm đêm Mường Hịch cọp trêu ngườiNhớ ôi Tây Tiến cơm lên khóiMai Châu mùa em thơm nếp xôi

(Tây Tiến – Quang Dũng)

Anh hoặc chị hãy phân tích đoạn thơ trên

B HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:

1 Nỗi nhớ Tây Tiến:

* Nhớ núi rừng, nhớ dòng sông Mã khôn nguôi:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

- “Nhớ chơi vơi”: Cách dùng từ ngữ đặc sắc, mới lạ, giàu sáng tạo

- Câu cảm thán và điệp ngữ “nhớ” có tác dụng cộng hưởng, nhấn mạnh nỗi nhớ

* Ấn tượng về miền Tây Bắc thật mãnh liệt:

Sài khao sương lấp đoàn quân mỏiMường lát hoa về trong đêm hơi

- Hình ảnh dị thường táo bạo “xương lấp đoàn quân”, “hoa về trong đêm hơi”, “dốc thăm thẳm”, “súng ngửi trời”, “mưa xa khơi”, “thác gầm thét”, “cọp trêu người”.

- Địa danh xa lạ, làm tăng cấp ấn tượng xa xôi, hoang sơ cho độc giả: Sài Khao,Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu

- Cách phối hợp thanh bằng – trắc tạo âm hưởng lạ tai, mông lung, tạo cảm giác âm

u, kích thích hứng thú phiêu lưu mạo hiểm:

+ Mường lát hoa về trong đêm hơi (6 thanh bằng)

+ Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm (5 thanh trắc)

+ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi (toàn thanh bằng)

- Nghệ thuật đối ngữ tạo cảm giác hiểm trở ngợp cả người:

ngàn thước lên cao >< ngàn thuốc xuống

- Nghệ thuật nói giảm, nói tránh:

Anh bạn dãi dầu không bước nữaGục lên súng mũ bỏ quên đời

Nhà thơ không nói chết, mà nói “không bước nữa”, “gục lên súng mũ”, “bỏ quên đời”.

Lời thơ bi mà không lụy, bi mà tráng, bi mà hùng, mang vẻ mĩ học sâu sắc

* Nghệ thuật nhân hóa tu từ:

Chiều chiều oai linh thác gầm thétĐêm đêm Mường Hịch cọp trêu ngườiLàm tôn thêm cái bí mật, cái uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng thiêngnước độc, nơi đại ngàn hoang vu

2 Nỗi nhớ đồng bào Tây Tiến:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

* Lời thơ như tiếng hát của một bài ca hoài niệm vừa ngọt ngào, vừa bâng khuâng, thathiết

Ngày đăng: 28/05/2015, 00:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w