Sau mỗi kỳ kiểm tra, GV cần bố trí thời giantrả bài, hướng dẫn HS tự đánh giá kết quả làm bài, tự cho điểm bài làm của mình, nhận xét mức độ chính xác trong chấm bài của GV.Trong quá trì
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VỤ GIÁO DỤC TRUNG HỌC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRUNG HỌC
BỒI DƯỠNG BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA, XÂY DỰNG THƯ VIỆN CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
MÔN : LỊCH SỬ THPT
HUẾ, THÁNG 3-2011
Trang 2PHẦN THỨ NHẤT ĐỊNH HƯỚNG CHỈ ĐẠO VỀ ĐỔI MỚI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm theo dõi quá trình học tập của học sinh, đưa ra các giải pháp kịp thời điều chỉnhphương pháp dạy của thầy, phương pháp học của trò, giúp học sinh tiến bộ và đạt được mục tiêu giáo dục
Đánh giá gồm có 3 khâu chính là: Thu thập thông tin, xử lí thông tin và ra quyết định Đánh giá là một quá trình bắt đầu khi
chúng ta định ra một mục tiêu phải theo đuổi và kết thúc khi chúng ta đã đề ra một quyết định liên quan đến mục tiêu đó Điều đó không cónghĩa là quá trình tổng thể kết thúc khi ra quyết định Ngược lại, quyết định đánh dấu sự khởi đầu một quá trình khác cũng quan trọng nhưđánh giá: đó là quá trình đề ra những biện pháp cụ thể tuỳ theo kết quả đánh giá
Chuẩn đánh giá là căn cứ quan trọng để thực hiện việc đánh giá, được hiểu là yêu cầu cơ bản, tối thiểu cần đạt được trong việc xem xét chất lượng sản phẩm.
Kiểm tra là tiền đề của đánh giá, là khâu không thể thiếu được trong quá trình dạy học
Việc đánh giá phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây
1 Đảm bảo tính khách quan, chính xác
Phản ánh chính xác kết quả như nó tồn tại trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu đề ra, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của ngườiđánh giá
2 Đảm bảo tính toàn diện
Đầy đủ các khía cạnh, các mặt cần đánh giá theo yêu cầu và mục đích
3 Đảm bảo tính hệ thống
Tiến hành liên tục và đều đặn theo kế hoạch nhất định, đánh giá thường xuyên, có hệ thống sẽ thu được những thông tin đầy đủ, rõràng và tạo cơ sở để đánh giá một cách toàn diện
4 Đảm bảo tính công khai và tính phát triển
Đánh giá được tiến hành công khai, kết quả được công bố kịp thời, tạo ra động lực để thúc đẩy đối tượng được đánh giá mong muốnvươn lên, có tác dụng thúc đẩy các mặt tốt, hạn chế mặt xấu
5 Đảm bảo tính công bằng
Đảm bảo rằng những học sinhthực hiện các hoạt động học tập với cùng một mức độ và thể hiện cùng một nỗ lực se nhận được kết quảđánh giá như nhau
Trang 31 Định hướng chỉ đạo đổi mới kiểm tra, đánh giá
1) Phải có sự hướng dẫn, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp QLGD
Các cấp quản lý GD chỉ đạo chặt chẽ, coi trọng hướng dẫn các cơ quan quản lý GD cấp dưới đến các trường học, các tổ chuyên môn
và từng GV trong việc tổ chức thực hiện, sao cho đi đến tổng kết, đánh giá được hiệu quả cuối cùng Thước đo thành công của các giảipháp chỉ đạo là sự đổi mới cách nghĩ, cách làm của từng GV và các chỉ số nâng cao chất lượng dạy học
2) Phải có sự hỗ trợ của đồng nghiệp, nhất là GV cùng bộ môn
Đơn vị tổ chức thực hiện đổi mới PPDH, đổi mới KT-ĐG là trường học, môn học với một điều kiện tổ chức dạy học cụ thể Do việcđổi mới KT-ĐG phải gắn với đặc trưng mỗi môn học, nên phải coi trọng vai trò của các tổ chuyên môn, là nơi trao đổi kinh nghiệm giảiquyết mọi khó khăn, vướng mắc Trong việc tổ chức thực hiện đổi mới KT-ĐG, cần phát huy vai trò của đội ngũ GV giỏi có nhiều kinhnghiệm, GV cốt cán chuyên môn để hỗ trợ GV mới, GV tay nghề chưa cao, không để GV nào phải đơn độc Phải coi trọng hình thức hộithảo, thao giảng, dự giờ thăm lớp để rút kinh nghiệm kịp thời, đánh giá hiệu quả từng giải pháp cụ thể trong việc đổi mới PPDH và đổi mớiKT-ĐG: kinh nghiệm ra đề sao cho bảo đảm chất lượng, kinh nghiệm kết hợp hình thức tự luận với trắc nghiệm cho phù hợp với đặc trưng
bộ môn
3) Cần lấy ý kiến xây dựng của HS để hoàn thiện PPDH và KT-ĐG
Đổi mới PPDH và đổi mới KT-ĐG chỉ mang lại kết quả khi HS phát huy vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo, biết đổi mới PPHT, biết
tự học, tự đánh giá kết quả học tập Trong môi trường sư phạm thân thiện, việc thu thập ý kiến xây dựng của HS để giúp GV đánh giá đúng
về mình, tìm ra con đường khắc phục các hạn chế, thiếu sót, hoàn thiện PPDH, đổi mới KT-ĐG là hết sức cần thiết và là cách làm mang lạinhiều lợi ích, phát huy mối quan hệ thúc đẩy tương hỗ giữa người dạy và người học
4) Đổi mới KT-ĐG phải đồng bộ với các khâu liên quan và nâng cao các điều kiện bảo đảm chất lượng dạy học
Đổi mới KT-ĐG gắn liền với đổi mới PPDH của GV và đổi mới PPHT của HS, kết hợp đánh giá trong với đánh giá ngoài Ở cấp độthấp, GV có thể dùng đề kiểm tra của người khác (của đồng nghiệp, do nhà trường cung cấp, từ nguồn dữ liệu trên các Website chuyênngành) để KT-ĐG kết quả học tập của HS lớp mình Ở cấp độ cao hơn, nhà trường có thể trưng cầu một trường khác, cơ quan chuyên mônbên ngoài tổ chức KT-ĐG kết quả học tập của HS trường mình
Đổi mới KT-ĐG chỉ có hiệu quả khi kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS Sau mỗi kỳ kiểm tra, GV cần bố trí thời giantrả bài, hướng dẫn HS tự đánh giá kết quả làm bài, tự cho điểm bài làm của mình, nhận xét mức độ chính xác trong chấm bài của GV.Trong quá trình dạy học và khi tiến hành KT-ĐG, GV phải biết “khai thác lỗi” để giúp HS tự nhận rõ sai sót nhằm rèn luyện PPHT, PP tưduy
Trang 4Chỉ đạo đổi mới KT-ĐG phải đồng thời với nâng cao phẩm chất và năng lực của đội ngũ GV, đầu tư nâng cấp CSVC, trong đó cóthiết bị dạy học và tổ chức tốt các phong trào thi đua mới phát huy đầy đủ hiệu quả.
5) Phát huy vai trò thúc đẩy của đổi mới KT-ĐG đối với đổi mới PPDH
Trong mối quan hệ hai chiều giữa đổi mới KT-ĐG với đổi mới PPDH, khi đổi mới mạnh mẽ PPDH sẽ đặt ra yêu cầu khách quan phảiđổi mới KT-ĐG, bảo đảm đồng bộ cho quá trình hướng tới nâng cao chất lượng dạy học Khi đổi mới KT-ĐG bảo đảm yêu cầu kháchquan, chính xác, công bằng sẽ tạo tiền đề xây dựng môi trường sư phạm thân thiện, tạo động lực mới thúc đẩy đổi mới PPDH và đổi mớicông tác quản lý Từ đó, sẽ giúp GV và các cơ quan quản lý xác định đúng đắn hiệu quả giảng dạy, tạo cơ sở để GV đổi mới PPDH và cáccấp quản lý đề ra giải pháp quản lý phù hợp
6) Phải đưa nội dung chỉ đạo đổi mới KT-ĐG vào trọng tâm cuộc vận động "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự
học và sáng tạo" và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
Trong nhà trường, hoạt động dạy học là trung tâm để thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao, thực hiện sứ mệnh “trồng người” Hoạtđộng dạy học chỉ đạt hiệu quả cao khi tạo lập được môi trường sư phạm lành mạnh, bầu không khí thân thiện, phát huy ngày càng cao vaitrò tích cực, chủ động, sáng tạo của HS Do đó, phải đưa nội dung chỉ đạo đổi mới PPDH nói chung và đổi mới KT-ĐG nói riêng thành
trọng tâm của cuộc vận động "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo" và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Cũng trong mối quan hệ đó, bước phát triển của cuộc vận động và phong trào thi đua này sẽ tạo động
lực thúc đẩy quá trình đổi mới PPDH và đổi mới KT-ĐG đạt được mục tiêu cuối cùng là thúc đẩy nâng cao chất lượng GD toàn diện
2 Một số nhiệm vụ trong đổi mới kiểm tra, đánh giá
- Trách nhiệm của Tổ chuyên môn:
+ Đơn vị tổ chức bồi dưỡng thường xuyên quan trọng nhất là các tổ chuyên môn Cần coi trọng hình thức tổ chức cho GV tự học, tựnghiên cứu, sau đó GV có kinh nghiệm hoặc GV cốt cán chủ trì thảo luận, giải đáp thắc mắc, trao đổi kinh nghiệm Sau khi nghiên cứu mỗichuyên đề, cần tổ chức dự giờ, rút kinh nghiệm để hỗ trợ GV thực hiện đổi mới PPDH và KT-ĐG;
+ Tổ chức cho GV nghiên cứu nắm vững chuẩn KT-KN của CT môn học và hoạt động GD mình phụ trách và tổ chức đều đặn việc dựgiờ và rút kinh nghiệm, giáo dục ý thức khiêm tốn học hỏi và sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm; thảo luận cách giải quyết những vấn đề mới,vấn đề khó, phát huy các hoạt động tương tác và hợp tác trong chuyên môn;
+ Đề xuất với Ban giám hiệu về đánh giá phân loại chuyên môn GV một cách khách quan, công bằng, phát huy vai trò GV giỏi trongviệc giúp đỡ GV năng lực yếu, GV mới ra trường;
+ Phản ánh, đề xuất với nhà trường về công tác chuyên môn và công tác bồi dưỡng GV, phát hiện và đề nghị nhân điển hình tiên tiến
về chuyên môn, cung cấp các giáo án tốt, đề kiểm tra tốt để các đồng nghiệp tham khảo;
Trang 5+ Đánh giá đúng đắn và đề xuất khen thưởng những GV thực hiện đổi mới PPDH, đổi mới KT-ĐG có hiệu quả.
- Trách nhiệm của GV:
+ Mỗi GV cần xác định thái độ cầu thị, tinh thần học suốt đời, không chủ quan thỏa mãn; tự giác tham gia các lớp bồi dưỡng, tự bồi
dưỡng thường xuyên và sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ GV cốt cán chuyên môn khi được lựa chọn; kiên trì vận dụng những điều đã học đểnâng cao chất lượng dạy học;
+ Phấn đấu thực sự nắm vững nội dung chương trình, đổi mới PPDH và KT-ĐG, rèn luyện kỹ năng, kỹ thuật dạy học (trong đó có kỹnăng ứng dụng CNTT, khai thác internet…), tích lũy hồ sơ chuyên môn, tạo được uy tín chuyên môn trong tập thể GV và HS, không ngừngnâng cao trình độ các lĩnh vực hỗ trợ chuyên môn như ngoại ngữ, tin học;
+ Thực hiện đổi mới PPDH của GV phải đi đôi với hướng dẫn HS lựa chọn PPHT hợp lý, biết tự học, tự đánh giá, tự chủ, khiêm tốntiếp thu ý kiến của đồng nghiệp và của HS về PPDH, KT-ĐG của mình để điều chỉnh;
+ Tham gia dự giờ của đồng nghiệp, tiếp nhận đồng nghiệp dự giờ của mình, thẳng thắn góp ý kiến cho đồng nghiệp và khiêm tốn tiếpthu góp ý của đồng nghiệp; tự giác tham gia hội giảng, thao giảng, thi GV giỏi, báo cáo kinh nghiệm để chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm nhằmtrau dồi năng lực chuyên môn
Trong quá trình đổi mới sự nghiệp GD, việc đổi mới PPDH và KT-ĐG là giải pháp then chốt để nâng cao chất lượng dạy học nóiriêng và chất lượng GD toàn diện nói chung Đây là một yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài, đòi hỏi phải chỉ đạo chặt chẽ, liên tục và phảiđộng viên mọi sự kiên trì nỗ lực sáng tạo của đội ngũ GV, lôi cuốn sự hưởng ứng của đông đảo HS Để tạo điều kiện thực hiện có hiệu quảchủ trương đổi mới PPDH và KT-ĐG, phải từng bước nâng cao trình độ đội ngũ GV, đồng thời tăng cường đầu tư xây dựng CSVC, nhất làTBDH Các cơ quan quản lý GD phải lồng ghép chặt chẽ công tác chỉ đạo đổi mới PPDH và KT-ĐG với việc tổ chức thực hiện cuộc vậnđộng "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo" và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinhtích cực” để từng bước nâng cao chất lượng GD toàn diện, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hộinhập quốc tế
Trang 6PHẦN THỨ HAI BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP HỌC SINH MÔN LỊCH SỬ
1.Về khái niệm kiểm tra, đánh giá:
Đánh giá, trong giáo dục là một quá trình tiến hành có hệ thống để xác định mức độ đạt được của học sinh về các mục tiêu giáo dục
Nó có thể bao gồm sự mô tả về mặt định tính hay định lượng những hành vi của người học cùng với những nhận xét đánh giá những hành
vi này đối chiếu với sự mong muốn đạt được về mặt hành vi đó
Khái niệm khác cho rằng đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và lý giải kịp thời có hệ thống thông tin về hiện trạng, khảnăng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo làm cơ sở cho những chủ trươngbiện pháp và hành động giáo dục tiếp theo
Kiểm tra, đánh giá (KTĐG) kết quả học tập lịch sử ở trường phổ thông là một quá trình tiến hành có hệ thống, liên tục và thường xuyên, theo dõi thu thập số liệu, chứng cứ nhằm đánh giá kết quả học tập, củng cố, mở rộng, tăng cường hoạt động học tập của học sinh Đồng thời, qua đó xác định mức độ các mục tiêu dạy học đạt được, làm cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên, cho nhà trường và cho bản thân học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường phổ thông KTĐG kết quả học tập
lịch sử ở trường phổ thông nhằm đo khả năng biết, hiểu và vận dụng kiến thức của học sinh về sự phát triển của lịch sử thế giới và
lịch sử dân tộc, qua đó rút ra điểm mạnh, điểm yếu của nội dung, chương trình, SGK để có những bổ sung, điều chỉnh kịp thời về cách dạy và cách học, giúp bộ môn lịch sử thực hiện tốt vai trò giáo dục của mình
Như vậy, kiểm tra và đánh giá là hai công việc có nội dung khác nhau, nhưng có mối liên quan mật thiết với nhau, những thông tinthu được đối chiếu với những mục tiêu đề ra nhằm đề xuất những giải pháp phù hợp để điều chỉnh phương pháp, hình thức tổ chức dạy họcnhằm nâng cao chất lượng dạy học Trong quá trình dạy học, kiểm tra được xem là phương tiện và hình thức của đánh giá Thông qua kiểm
tra cung cấp những dữ liệu, những thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc đánh giá chất lượng dạy học KTĐG hướng tới thực hiện mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo Cho nên, xét ở một mức độ nào đó KTĐG có điểm chung: kiểm tra gắn liền với đánh giá, đánh giá được hiểu
theo nghĩa bao gồm cả kiểm tra
Trang 72 Mục đích, ý nghĩa của kiểm tra, đánh giá:
KTĐG có vị trí quan trọng để củng cố, phát triển kiến thức của học sinh trong học tập nói chung, học tập lịch sử nói riêng Nó là một
khâu không thể tách rời diễn ra trong suốt quá trình dạy học nhằm đánh giá thường xuyên năng lực học tập của học sinh hướng tới việchướng dẫn học sinh học tập, giáo viên giảng dạy và giám sát, cải tiến chất lượng giáo dục trong nhà trường Từ kết quả KTĐG, những kếtluận chính xác về thực trạng dạy học đã được rút ra để điều chỉnh hoạt động dạy học của thầy - trò Vì vậy, KTĐG có hệ thống và thườngxuyên sẽ cung cấp kịp thời những thông tin cần thiết giúp học sinh tự điều chỉnh hoạt động học, giúp giáo viên có những thông tin phản hồi
để điều chỉnh và hoàn thiện quá trình dạy, đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học từ đó nâng cao chất lượng dạy học của nhà
trường phổ thông KTĐG có tính mục đích, có ý nghĩa đối với cả giáo viên và học sinh
a.Mục đích của kiểm tra, đánh giá: giúp cho quá trình dạy học vận động đúng hướng:
*Thứ nhất: Định hướng và thúc đẩy quá trình học tập:
- Qua KTĐG thông báo cho từng học sinh biết được trình độ tiếp thu kiến thức và những kỹ năng môn học của mình so với yêu cầucủa chương trình cũng như sự tiến bộ của họ trong quá trình học tập, nhằm thúc đẩy tính tích cực, hứng thú học tập
- KTĐG giúp học sinh phát hiện những nguyên nhân sai sót cần phải bổ sung, điều chỉnh trong hoạt động học
*Thứ hai: KTĐG để phân loại, xếp loại học sinh:
- Công khai hoá các nhận định về năng lực và kết quả học tập của mỗi học sinh và mỗi tập thể lớp, tạo cơ hội để các em phát triển kỹnăng tự đánh giá để nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích, động viên các em học tập, có kế hoạch bồi dưỡng kịp thời Đồng thời, qua
đó giáo dục học sinh nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, rèn luyện tu dưỡng đạo đức, có thêm niềm tin ở sức lực, khả năng củamình để từ đó có nhu cầu tự KTĐG thường xuyên
- Giúp giáo viên có cơ sở nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình, tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy học, không ngừngnâng cao chất lượng dạy học bộ môn
Như vậy, KTĐG là nhiệm vụ cần thiết, phức tạp nhất và tất yếu không thể thiếu được của quá trình dạy học nói chung, dạy học lịch
sử nói riêng Nó chính là động lực thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động dạy - học KTĐG không những là một nhân tố dạy học mà còn là mộtnhân tố kích thích học sinh học tập vươn lên, hai nhân tố này có mối liên hệ biện chứng lẫn nhau Việc đánh giá càng chính xác giúp giáoviên hoàn thiện, cải tiến phương pháp dạy học ngày càng có hiệu quả Ngược lại, nếu mục đích dạy học của KTĐG bị xem nhẹ sẽ dẫn tớihậu quả buông lỏng quá trình dạy học, không động viên, khuyến khích, thúc đẩy học sinh tự vươn lên trong quá trình học tập
Trang 8b.Ý nghĩa của kiểm tra, đánh giá:
* Đối với học sinh:
KTĐG là thước đo kết quả học tập của học sinh trong từng môn học cụ thể Việc KTĐG thường xuyên (bao gồm KTĐG của giáoviên và hoạt động tự KTĐG của học sinh) tạo nên mối “liên hệ ngược” giúp các em tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình:
-Về kiến thức: KTĐG giúp học sinh nhận thức đúng mức độ kiến thức đã đạt được so với yêu cầu của chương trình Nó giúp các em
phát hiện những thiếu sót, “lỗ hổng” trong kiến thức, kỹ năng để kịp thời sửa chữa, thay đổi, điều chỉnh phương pháp học tập đạt kết quảcao hơn
-Về giáo dục: KTĐG được thực hiện nghiêm túc đúng qui trình sẽ có tác dụng giáo dục rất lớn góp phần hình thành những phẩm
chất đạo đức tốt đẹp: ý chí tự giác vươn lên trong học tập, củng cố lòng tự tin vào khả năng của mình, nâng cao ý thức tự giác, khắc phụctính chủ quan, tự mãn, thể hiện lòng trung thực, tinh thần tập thể…
-Về kĩ năng: Thông qua KTĐG, học sinh có điều kiện rèn luyện các kĩ năng tư duy trí tuệ từ đơn giản đến phức tạp: biết tái hiện sự
kiện, hiện tượng lịch sử, hiểu sâu sắc các sự kiện, hiện tượng lịch sử, qua đó vận dụng khả năng thực hành, phân tích, tổng hợp, khái quáthoá, trừu tượng hoá, rút ra qui luật và bài học lịch sử … KTĐG được thực hiện tốt sẽ giúp các em phát triển trí thông minh, biết vận dụnglinh hoạt các kiến thức đã học để tiếp thu kiến thức mới
* Đối với giáo viên:
KTĐG thường xuyên, nghiêm túc, cung cấp cho giáo viên những thông tin tương đối chính xác và toàn diện về mức độ hiểu và nắmkiến thức của học sinh đạt hay chưa đạt so với mục tiêu môn học đề ra, nắm được mức độ tiến bộ hay sút kém của từng học sinh để cónhững biện pháp khuyến khích, động viên hay giúp đỡ, bồi dưỡng kịp thời Từ những “mối lên hệ ngược” này giáo viên điều chỉnh cáchoạt động dạy học, tìm ra những biện pháp cải tiến, nâng cao chất lượng dạy học Thông qua KTĐG giúp giáo viên thẩm định trên thực tếhiệu quả những cải tiến, đổi mới nội dung và phương pháp dạy học của mình
3 Yêu cầu của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh:
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả KTĐG cần đảm bảo thực hiện các yêu cầu sau:
*Một là: KTĐG kết quả học tập của học sinh phải bảo đảm độ tin cậy, tính giá trị, tính toàn diện về nội dung và các loại hình KTĐG
- Độ tin cậy yêu cầu quan trọng đối với bài kiểm tra Nó là thước đo năng lực sư phạm của người thầy, đồng thời phản ánh đúng
trình độ, năng lực của người học Bài kiểm tra đạt được độ tin cậy với điều kiện sau:
+ Ít nhất trong hai lần kiểm tra khác nhau, cùng một học sinh phải đạt số điểm xấp xỉ hoặc bằng nhau nếu bài kiểm tra có cùng mộtnội dung và mức độ khó tương đương nhau
Trang 9+ Nhiều giáo viên chấm cùng một bài đều cho điểm như nhau hoặc gần như nhau.
+ Kết quả bài kiểm tra phản ánh đúng trình độ, năng lực của người học
Độ tin cậy của bài KTĐG bị tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quyết định là ra đề kiểm tra Nếu đề kiểm tra quá dễ hoặc quákhó sẽ không xác định được sự phân hoá trình độ học sinh Vì vậy, để một bài kiểm tra đạt được độ tin cậy, vai trò quyết định là ở khâu ra
đề của giáo viên Khi ra đề giáo viên cần:
Giảm các yếu tố ngẫu nhiên, may rủi đến mức tối thiểu
Diễn đạt đề bài rõ ràng để học sinh hiểu đúng nội dung, yêu cầu của đề
Ra nhiều câu hỏi, bao quát tới mức tối đa các vấn đề cần kiểm tra
Câu hỏi kiểm tra đòi hỏi học sinh vừa phải ghi nhớ, vừa phải hiểu, vừa phải biết vận dụng vào việc tiếp thu kiến thức mới vào cuộcsống
Nội dung kiểm tra phải giảm đến mức thấp nhất sự gian lận trong thi cử (đề thi phải đảm bảo học sinh “biết”, “hiểu”, “vận dụng”thông minh) và cách thi (có thể sử dụng hay không sử dụng tài liệu) Đồng thời giám sát chặt chẽ việc thi
Chuẩn bị tốt đáp án, thang điểm để một người chấm trong nhiều lần hoặc nhiều người chấm đều cho kết quả tương đương
*Hai là: Kiểm tra, đánh giá phải bảo đảm kết hợp giữa sự đánh giá của giáo viên với sự tự đánh giá của học sinh.
Yêu cầu và đòi hỏi của KTĐG đặt ra là phát huy tính chủ động tích cực của học sinh trong việc xác định mục đích, động cơ, thái độ
và tâm lý trong học tập, biết tự đánh giá kết quả học tập của mình một cách chủ động, không quá lo sợ kiểm tra dẫn tới học tập đối phó vàgian lận trong thi cử
KTĐG đảm bảo sự kết hợp giữa đánh giá của giáo viên với tự đánh giá của học sinh là đòi hỏi cấp thiết của lý luận dạy học hiện đạinhằm tích cực hoá người học trong quá trình tiếp nhận tri thức Tự đánh giá được coi như một hoạt động học tập của học sinh Hoạt động
tự KTĐG của học sinh chủ yếu được thực hiện sau mỗi bài học, mỗi phần, mỗi chương học thông qua giải các bài tập, qua việc nắm kiếnthức lịch sử của mỗi học sinh
Cách thức tiến hành hoạt động tự đánh giá của học sinh do giáo viên đề xuất Muốn tổ chức cho các em tự KTĐG , giáo viên cầnchuẩn bị nội dung đánh giá, hình thức và tiêu chuẩn đánh giá Để học sinh tự đánh giá kết quả học tập của mình, giáo viên có thể tổ chứccho học sinh đánh giá qua nhóm (đánh giá chéo nhau trong một nhóm), hoặc để học sinh tự đánh giá năng lực học tập của mình trên cơ sởđịnh hướng của giáo viên Hoạt động tự đánh giá này đòi hỏi học sinh phải tự nêu nhận xét về kết quả học tập của bản thân hay nhận xét vềkết quả học tập của bạn Hình thức tự đánh giá có thể tiến hành bằng phát biểu ý kiến cá nhân, bình chọn bằng phiếu kín hoặc cho điểm độclập Để đánh giá đúng, chính xác giáo viên cần gợi ý để học sinh tự xác lập các tiêu chuẩn đánh giá cho phù hợp với từng kiến thức hoặc kỹnăng cần đánh giá
Trang 10*Ba là: Các phương pháp kiểm tra, đánh giá càng đơn giản, tốn ít thời gian, sức lực và ít chi phí, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể càng tốt.
Đơn giản không có nghĩa là sơ sài, bài kiểm tra đơn điệu và buồn tẻ với câu hỏi của giáo viên và trả lời của học sinh nhằm tóm tắtnhững kiến thức có sẵn trong SGK và lời thầy giảng trong vở ghi Bài kiểm tra đòi hỏi học sinh khả năng hiểu sâu sắc các kiến thức lịch sử
và biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn
4.Nội dung kiểm tra, đánh giá:
Chương trình bộ môn lịch sử ở trường phổ thông được xây dựng trên cơ sở đồng tâm Ở cấp THCS học sinh được trang bị nhữngkiến thức cơ bản, có hệ thống về sự phát triển của lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc từ nguyên thuỷ cho đến nay Lên cấp THPT, học sinhtiếp tục được trang bị những kiến thức ở mức độ nhận thức cao hơn, sâu hơn Cho nên, tiến hành KTĐG, giáo viên bộ môn phải căn cứ vàonội dung, chương trình của môn học, cấp học để đánh giá toàn diện học sinh trên cả ba mặt kiến thức, kỹ năng và định hướng thái độ
*Về mặt kiến thức: Đánh giá trình độ, khả năng tiếp nhận kiến thức lịch sử của học sinh ở trường phổ thông hiện nay, về cơ bản
chúng ta đánh giá khả năng Biết (ghi nhớ, thuộc sự kiện), Hiểu (bản chất sự kiện) và Vận dụng kiến thức trong quá trình học tập, trong
thực hành Đây cũng là 3 cấp độ trong thang đánh giá thường được sử dụng ở nước ta và được vận dụng cụ thể vào từng môn học, từng cấphọc, lớp học Đối với bộ môn lịch sử ở trường THCS đánh giá học sinh ở 3 cấp độ Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng Cấp THPT, việc đánhgiá kết quả học tập của học sinh ở 3 cấp độ trên nhưng ở mức cao hơn Tuy nhiên, thực tế các đề kiểm tra hiện nay các đề kiểm tra cho thấykhó có sự tách bạch một cách tuyệt đối các cấp độ đánh giá trong một đề kiểm tra, mà chúng thường đan xen lẫn nhau, mức độ trước có thể
là cơ sở cho mức độ sau, chẳng hạn như kiến thức nhận biết và thông hiểu, vận dụng Thậm chí, trong một câu hỏi kiểm tra cũng có thể baogồm 2 đến 3 cấp độ khác nhau Vì vậy, kết quả học tập của học sinh được đánh giá theo các cấp độ không có nghĩa là trong mỗi đề kiểm traphải kiểm tra đủ các cấp độ đó, vì nếu có muốn như vậy cũng khó có thể thực hiện được
*Về thái độ, tình cảm: Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông rất có ưu thế trong việc giáo dục thế hệ trẻ, rèn luyện những phẩm chất,
nhân cách cao đẹp của con người mới từ những bài học kinh nghiệm quí báu của cha ông trong công cuộc dựng nước và giữ nước
*Về kỹ năng: KTĐG kỹ năng của học sinh đối với bộ môn lịch sử phải căn cứ vào đặc trưng của môn học Lịch sử đã diễn ra, không
lặp lại Kiến thức lịch sử ở trường phổ thông được chuyển tải qua kênh chữ và kênh hình (bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh.) Cho nên, KTĐG kỹ
năng của học sinh trong dạy học lịch sử cũng giống như các bộ môn khoa học xã hội khác nhằm rèn luyện tư duy biện chứng trong nhậnthức và hành động, biết phân tích, đánh giá, liên hệ Đồng thời, cần tập trung vào các kỹ năng bộ môn như: khả năng trình bày nói và viết,đặc biệt là kỹ năng thực hành, vận dụng:
- Sử dụng bản đồ, lược đồ
- Quan sát, nhận xét tranh ảnh, bản đồ
Trang 11- Kỹ năng so sánh, phân tích, tổng hợp, đánh giá, vận dụng kiến thức.
- Kỹ năng thu thập, xử lý, viết báo cáo và trình bày các vấn đề lịch sử
5.Phương pháp kiểm tra, đánh giá:
Lựa chọn phương pháp KTĐG phù hợp với với đối tượng học sinh, với nhà trường, với xu thế chung của tình hình KTĐG của thế giới hiện nay là yêu cầu và đòi hỏi cấp thiết hiện nay Việc xác định đúng mục tiêu, nội dung KTĐG chỉ đạt được kết quả mong muốn khi xác định đúng phương pháp KTĐG Tuy nhiên, khi lựa chọn các phương pháp KTĐG cần phải xác định rõ những ưu, nhược điểm của mỗi
phương pháp để phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế của những phương pháp này Ví dụ:
*Đối với câu hỏi tự luận: Đòi hỏi học sinh phải vận dụng vốn kiến thức, kinh nghiệm học tập để tự trình bày ý kiến về vấn đề mà
câu hỏi nêu ra
-Ưu điểm:
+Việc ra đề Tự luận, thường không khó, dễ thực hiện, tốn ít thời gian, dựa vào kinh nghiệm chủ yếu của giáo viên
+Các câu hỏi tự luận cho phép đánh giá được tối đa kỹ năng diễn đạt, khả năng suy luận lôgíc của học sinh để trả lời đầy đủ các dạngcâu hỏi “Tại sao?” và “như thế nào?” Hay nói cách khác, câu hỏi tự luận cho phép đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh ở mức độ cao
-Hạn chế:
+Câu hỏi kiểm tra tự luận thường kích thích thói quen học tủ của học sinh
+Chấm bài tốn nhiều thời gian và công sức đồng thời kết quả đánh giá thường mang nhiều yếu tố chủ quan của người chấm
Tuy nhiên, nếu lựa chọn phương pháp kiểm tra kết hợp trắc nghiệm với tự luận thì câu hỏi dạng tự luận nên chọn câu tự luận ngắn,
vì với loại câu này mỗi bài kiểm tra có nhiều câu hỏi hơn so với bài kiểm tra có câu hỏi tự luận truyền thống Câu tự luận ngắn đề cập tớimột nội dung hạn chế, câu trả lời là một đoạn ngắn, tạo điều kiện cho việc chấm điểm nhanh chóng, chính xác, có độ tin cậy cao hơn loạicâu hỏi tự luận truyền thống
*Đối với câu hỏi trắc nghiệm khách quan: Câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học lịch sử gồm nhiều loại: Trắc nghiệm
đúng - sai, trắc nghiệm nhiều lựa chọn, trắc nghiệm điền khuyết, trắc nghiệm đối chiếu - cặp đôi, thực hành (vẽ bản đồ, biểu đồ) Câu hỏikiểm tra trắc nghiệm cho phép bao kín kiến thức của chương trình, trong đó mỗi câu chỉ nêu ra một vấn đề cùng những thông tin cần thiết
để học sinh lựa chọn câu trả lời ngắn, song lại có độ tin cậy cao đòi hỏi học sinh phải tích luỹ được nhiều kiến thức
-Ưu điểm:
+Độ phổ kiến thức cần kiểm tra rộng
+Ít tốn công chấm bài (có thể sử dụng các phần mềm chuyên dụng như QUEST, TEST) để chấm
+Tính khách quan của kết quả chấm bài được đảm bảo, ít bị ảnh hưởng bởi tính chủ quan của người chấm
Trang 12-Hạn chế:
+Tốn thời gian và công sức ra đề
+Không đánh giá được một số kỹ năng của học sinh, đặc biệt là khả năng sáng tạo trong trình bày, lập luận và phát biểu ý kiến củamình
Khi sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan cần thống nhất đưa về một dạng câu hỏi nhất định để tạo sự thuận lợi cho quá trìnhchấm bài Thông thường câu hỏi trắc nghiệm khách quan được sử dụng phổ biến là loại câu hỏi nhiều lựa chọn có 4 lựa chọn
Như vậy, mỗi loại câu hỏi đều có những ưu điểm và hạn chế của nó, khi xây dựng đề kiểm tra không nên tuyệt đối hoá một loại câu
hỏi nào mà cần kết hợp sử dụng các loại câu hỏi cho phù hợp với đối tượng học sinh Tuy nhiên, khi xây dựng hệ thống câu hỏi cần chú ý:
-Xác định mục đích của câu hỏi: Nhằm KTĐG năng lực học tập, kĩ năng thực hành lịch sử của học sinh qua một tiết học hay mộtphần học cụ thể
-Xác định yêu cầu mức độ các câu hỏi: Câu hỏi phải rõ ràng, phải thể hiện sự phân hoá trình độ học tập của học sinh Mỗi câu hỏitrong một đề kiểm tra đều nhằm phân loại năng lực học tập của học sinh theo các mức giỏi - khá - trung bình- yếu kém
+Câu hỏi dễ dành cho học sinh có năng lực học yếu
+Câu hỏi trung bình để dành cho học sinh có năng lực học trung bình
+Câu hỏi khó giành cho học sinh co lực học khá giỏi
Như vậy, phương pháp KTĐG đóng vai trò quan trọng đối với việc đổi mới hoạt động KTĐG, tác động trở lại đổi mới phương phápdạy học, thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học Giúp lựa chọn đúng những hình thức và phương pháp KTĐG vừa đảm bảo phát huy tínhtích cực, chủ động của học sinh trong trong học tập vừa đánh giá đúng chất lượng học tập bộ môn
6 MÔ TẢ VỀ CẤP ĐỘ TƯ DUY VẬN DỤNG TRONG MÔN LỊCH SỬ
Nhận biết
Học sinh nhớ được (bản chất) những khái niệm cơ bản của chủ đề và có thể nêu hoặc nhận ra các khái niệm khi được yêu
cầu.
Đây là bậc thấp nhất của nhận thức, khi học sinh kể tên, nêu lại, nhớ lại một sự kiện, hiện tượng.
Thí dụ: Học sinh nhớ được ngày, tháng của một sự kiện lịch sử, tên một nhân vật lịch sử cụ thể.
Thông hiểu Học sinh hiểu các khái niệm cơ bản và có thể sử dụng khi câu hỏi được đặt ra gần với các ví dụ học sinh đã được học trên
lớp.
Trang 13Cấp độ tư duy Mô tả
Ở bậc nhận thức này, học sinh có thể giải thích được một sự kiện, hiện tượng lịch sử, tóm tắt được diễn biến một sự kiện, nghe và trả lời được câu hỏi có liên quan.
Thí dụ: Học sinh có thể giải thích được sự kiện lịch sử diễn ra như thế nào.
Vận dụng ở cấp độ
thấp
Học sinh vượt qua cấp độ hiểu đơn thuần và có thể sử dụng các khái niệm của chủ đề trong các tình huống tương tự nhưng không hoàn toàn giống như tình huống đã gặp trên lớp.
Ở bậc nhận thức này, học sinh có thể sử dụng được kiến thức để giải quyết 1 tình huống cụ thể
Thí dụ: áp dụng một sự kiện lịch sử này để lý giải một sự kiện khác.
Vận dụng ở cấp độ
cao
Học sinh có khả năng sử dụng các khái niệm cơ bản để giải quyết một vấn đề mới hoặc không quen thuộc chưa từng được học hoặc trải nghiệm trước đây, nhưng có thể giải quyết bằng các kỹ năng và kiến thức đã được dạy ở mức độ tương đương Các vấn đề này tương tự như các tình huống thực tế học sinh sẽ gặp ngoài môi trường lớp học.
Ở bậc này học sinh phải xác định được những thành tố trong 1 tổng thể và mối quan hệ qua lại giữa chúng; phát biểu ý kiến cá nhân và bảo vệ được ý kiến đó về 1 sự kiện, hiện tượng hay nhân vật lịch sử nào đó.
Thí dụ: tìm hiểu một sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử, học sinh phải phân biệt, phân tích được các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử khác nhau, v.v.
Hoặc học sinh đánh giá được một sự kiện, nhân vật lịch sử.
Trong dạy học, để thuận lợi cho việc xác định mục tiêu nhận thức của bài học, các nhà giáo dục đã đưa về các bậc:
Biết(nhớ) (bậc 1): Với các động từ: nêu được, trình bày được, liệt kê được, phát biểu …
Hiểu (bậc 2 ) : Với các động từ: Tại sao, vì sao, hãy lí giải, vì sao nói, giải thích ….
Vận dụng (bậc 3) : với các động từ so sánh, phân tích, bình luận, nhận xét …
Trang 14II KĨ THUẬT BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA
1 QUI TRÌNH BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA
Đánh giá kết quả học tập của học sinh là một hoạt động rất quan trọng trong quá trình giáo dục Đánh giá kết quả học tập là quá trìnhthu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm củagiáo viên, các giải pháp của các cấp quản lí giáo dục và cho bản thân học sinh, để học sinh học tập đạt kết quả tốt hơn Đánh giá kết quả họctập của học sinh cần sử dụng phối hợp nhiều công cụ, phương pháp và hình thức khác nhau Đề kiểm tra là một trong những công cụ đượcdùng khá phổ biến để đánh giá kết quả học tập của học sinh
Để biên soạn đề kiểm tra cần thực hiện theo quy trình sau:
Bước 1 Xác định mục đích của đề kiểm tra
Đề kiểm tra là một công cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khi học xong một chủ đề, một chương, một học kì, mộtlớp hay một cấp học nên người biên soạn đề kiểm tra cần căn cứ vào yêu cầu của việc kiểm tra, căn cứ chuẩn kiến thức kĩ năng của chươngtrình và thực tế học tập của học sinh để xây dựng mục đích của đề kiểm tra cho phù hợp
Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông nhằm giúp cho học sinh có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dântộc và lịch sử thế giới ; góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, truyền thống dântộc, cách mạng, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội
Môn Lịch sử ở trường phổ thông nhằm giúp học sinh đạt được :
1 Về kiến thức
Nắm vững sự kiện lịch sử tiêu biểu, những bước phát triển chủ yếu, những chuyển biến quan trọng của lịch sử thế giới từ thời nguyên thuỷ đến nay Chú trọng đến những nội dung quan trọng nhất để hiểu biết về quá trình phát triển của lịch sử loài người, những nền văn minh, những mô hình xã hội tiêu biểu, lịch sử các nước trong khu vực và các sự kiện lịch sử thế giới có ảnh hưởng lớn, liên quan đến lịch
sử nước ta
Hiểu biết về quá trình phát triển của lịch sử dân tộc từ nguồn gốc đến nay, trên cơ sở nắm vững những sự kiện tiêu biểu của từng thời
kì, những chuyển biến lịch sử và sự phát triển hợp quy luật của lịch sử dân tộc trong sự phát triển chung của thế giới
Hiểu biết về một số nội dung cơ bản, cần thiết về nhận thức xã hội như : kết cấu xã hội loài người, mối quan hệ giữa các yếu tố trong
cơ cấu hệ thống xã hội, vai trò to lớn của sản xuất (vật chất, tinh thần) trong tiến trình lịch sử, vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân, nguyên nhân và động lực tạo ra các chuyển biến lịch sử, quy luật vận động của lịch sử
Trang 152 Về kĩ năng
Hình thành các kĩ năng cần thiết trong học tập bộ môn như :
+ Xem xét các sự kiện lịch sử trong các quan hệ không gian, thời gian (đồng đại, lịch đại)
+ Làm việc với sách giáo khoa và các nguồn sử liệu
+ Phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, đánh giá các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử
Bồi dưỡng năng lực phát hiện, đề xuất và giải quyết các vấn đề trong học tập lịch sử (điều tra, thu thập, xử lí thông tin, nêu dự kiến giải quyết vấn đề, tổ chức thực hiện dự kiến, kiểm tra tính đúng đắn của kết quả, thông báo, trình bày về kết quả, vận dụng kiến thức đã họcvào thực tế đời sống và để tiếp nhận kiến thức mới )
Hình thành năng lực tự học, tự làm giàu tri thức lịch sử cho học sinh thông qua các nguồn sử liệu khác nhau (đã có và phát hiện mới)
3 Về tình cảm, thái độ, tư tưởng
Có tình yêu quê hương, đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lòng tự hào dân tộc, có thái độ trân trọng đối với các di sản lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc
Trân trọng nền văn hoá của các dân tộc trên thế giới, có tinh thần quốc tế chân chính, vì hoà bình, tiến bộ xã hội
Có niềm tin về sự phát triển từ thấp đến cao, từ lạc hậu đến văn minh của lịch sử nhân loại và lịch sử dân tộc
Có những phẩm chất cần thiết nhất của người công dân : thái độ tích cực trong việc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm đối với đất nước
− cộng đồng ; yêu lao động ; sống nhân ái, có kỉ luật, tôn trọng và làm theo luật pháp, đoàn kết dân tộc và quốc tế
Bước 2 Xác định hình thức đề kiểm tra
Đề kiểm tra có các hình thức sau:
1) Đề kiểm tra tự luận;
2) Đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan;
3) Đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trên: có cả câu hỏi dạng tự luận và câu hỏi dạng trắc nghiệm khách quan
Mỗi hình thức đều có ưu điểm và hạn chế riêng nên cần kết hợp một cách hợp lý các hình thức sao cho phù hợp với nội dung kiểm tra
và đặc trưng môn học để nâng cao hiệu quả, tạo điều kiện để đánh giá kết quả học tập của học sinh chính xác hơn
Nếu đề kiểm tra kết hợp hai hình thức thì nên cho học sinh làm bài kiểm tra phần trắc nghiệm khách quan độc lập với việc làm bàikiểm tra phần tự luận: làm phần trắc nghiệm khách quan trước, thu bài rồi mới cho học sinh làm phần tự luận
Trang 16Bước 3 Thiết lập ma trận đề kiểm tra (bảng mô tả tiêu chí của đề kiểm tra)
Lập một bảng có hai chiều, một chiều là nội dung hay mạch kiến thức chính cần đánh giá, một chiều là các cấp độ nhận thức của học sinhtheo các cấp độ: nhận biết, thông hiểu và vận dụng (gồm có vận dụng ở cấp độ thấp và vận dụng ở cấp độ cao)
Trong mỗi ô là chuẩn kiến thức kĩ năng chương trình cần đánh giá, tỉ lệ % số điểm, số lượng câu hỏi và tổng số điểm của các câu hỏi
Số lượng câu hỏi của từng ô phụ thuộc vào mức độ quan trọng của mỗi chuẩn cần đánh giá, lượng thời gian làm bài kiểm tra và trọng
số điểm quy định cho từng mạch kiến thức, từng cấp độ nhận thức
KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA (Dùng cho loại đề kiểm tra TL hoặc TNKQ)
Tên Chủ đề
(nội dung, chương…)
Cấp độ thấp Cấp độ cao
Chủ đề 1 Chuẩn KT, KN
cần kiểm tra
Chuẩn KT, KN cần kiểm tra
Chuẩn KT, KN cần kiểm tra
Chuẩn KT, KN cần kiểm tra
Chủ đề 2 Chuẩn KT, KN
cần kiểm tra
Chuẩn KT, KN cần kiểm tra
Chuẩn KT, KN cần kiểm tra
Chuẩn KT, KN cần kiểm tra
Chuẩn KT, KN cần kiểm tra
Chuẩn KT, KN cần kiểm tra
Trang 17Tên Chủ đề
(nội dung, chương…)
Chuẩn KT,
KN cần kiểm tra
Chuẩn KT,
KN cần kiểm tra
Chuẩn KT,
KN cần kiểm tra
Chuẩn KT,
KN cần kiểm tra
Chuẩn KT,
KN cần kiểm tra
Chuẩn KT,
KN cần kiểm tra
Chuẩn KT,
KN cần kiểm tra
Chuẩn KT,
KN cần kiểm tra
Chuẩn KT,
KN cần kiểm tra
Chuẩn KT,
KN cần kiểm tra
Chuẩn KT,
KN cần kiểm tra
Chuẩn KT,
KN cần kiểm tra
%
Trang 18Các bước cơ bản thiết lập ma trận đề kiểm tra: (minh họa tại phụ lục)
B1 Liệt kê tên các chủ đề (nội dung, chương ) cần kiểm tra;
B2 Viết các chuẩn cần đánh giá đối với mỗi cấp độ tư duy;
B3 Quyết định phân phối tỉ lệ % tổng điểm cho mỗi chủ đề (nội dung, chương );
B4 Quyết định tổng số điểm của bài kiểm tra;
B5 Tính số điểm cho mỗi chủ đề (nội dung, chương ) tương ứng với tỉ lệ %;
B6 Tính số điểm và quyết định số câu hỏi cho mỗi chuẩn tương ứng;
B7 Tính tổng số điểm và tổng số câu hỏi cho mỗi cột;
B8 Tính tỉ lệ % tổng số điểm phân phối cho mỗi cột;
B9 Đánh giá lại ma trận và chỉnh sửa nếu thấy cần thiết
Cần lưu ý:
- Khi viết các chuẩn cần đánh giá đối với mỗi cấp độ tư duy:
+ Chuẩn được chọn để đánh giá là chuẩn có vai trò quan trọng trong chương trình môn học Đó là chuẩn có thời lượng quy địnhtrong phân phối chương trình nhiều và làm cơ sở để hiểu được các chuẩn khác
+ Mỗi một chủ đề (nội dung, chương ) đều phải có những chuẩn đại diện được chọn để đánh giá
+ Số lượng chuẩn cần đánh giá ở mỗi chủ đề (nội dung, chương ) tương ứng với thời lượng quy định trong phân phối chương trìnhdành cho chủ đề (nội dung, chương ) đó Nên để số lượng các chuẩn kĩ năng và chuẩn đòi hỏi mức độ tư duy cao (vận dụng) nhiều hơn
- Quyết định tỉ lệ % tổng điểm phân phối cho mỗi chủ đề (nội dung, chương ):
Trang 19Căn cứ vào mục đích của đề kiểm tra, căn cứ vào mức độ quan trọng của mỗi chủ đề (nội dung, chương ) trong chương trình và thờilượng quy định trong phân phối chương trình để phân phối tỉ lệ % tổng điểm cho từng chủ đề.
- Tính số điểm và quyết định số câu hỏi cho mỗi chuẩn tương ứng
Căn cứ vào mục đích của đề kiểm tra để phân phối tỉ lệ % số điểm cho mỗi chuẩn cần đánh giá, ở mỗi chủ đề, theo hàng Giữa ba cấpđộ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng theo thứ tự nên theo tỉ lệ phù hợp với chủ đề, nội dung và trình độ, năng lực của học sinh
+ Căn cứ vào số điểm đã xác định ở B5 để quyết định số điểm và câu hỏi tương ứng, trong đó mỗi câu hỏi dạng TNKQ phải có sốđiểm bằng nhau
+ Nếu đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trắc nghiệm khách quan và tự luận thì cần xác định tỉ lệ % tổng số điểm của mỗi mộthình thức sao cho thích hợp
Bước 4 Biên soạn câu hỏi theo ma trận
Việc biên soạn câu hỏi theo ma trận cần đảm bảo nguyên tắc: mỗi câu hỏi chỉ kiểm tra một chuẩn hoặc một vấn đề, khái niệm; sốlượng câu hỏi và tổng số câu hỏi do ma trận đề quy định
Để các câu hỏi biên soạn đạt chất lượng tốt, cần biên soạn câu hỏi thoả mãn các yêu cầu sau: (ở đây trình bày 2 loại câu hỏi thường
dùng nhiều trong các đề kiểm tra)
a Các yêu cầu đối với câu hỏi có nhiều lựa chọn
1) Câu hỏi phải đánh giá những nội dung quan trọng của chương trình;
2) Câu hỏi phải phù hợp với các tiêu chí ra đề kiểm tra về mặt trình bày và số điểm tương ứng;
3) Câu dẫn phải đặt ra câu hỏi trực tiếp hoặc một vấn đề cụ thể;
4) Không trích dẫn nguyên văn những câu có sẵn trong sách giáo khoa;
5) Từ ngữ, cấu trúc của câu hỏi phải rõ ràng và dễ hiểu đối với mọi học sinh;
6) Mỗi phương án nhiễu phải hợp lý đối với những học sinh không nắm vững kiến thức;
7) Mỗi phương án sai nên xây dựng dựa trên các lỗi hay nhận thức sai lệch của học sinh;
8) Đáp án đúng của câu hỏi này phải độc lập với đáp án đúng của các câu hỏi khác trong bài kiểm tra;
Trang 209) Phần lựa chọn phải thống nhất và phù hợp với nội dung của câu dẫn;
10) Mỗi câu hỏi chỉ có một đáp án đúng, chính xác nhất;
11) Không đưa ra phương án “Tất cả các đáp án trên đều đúng” hoặc “không có phương án nào đúng”.
b Các yêu cầu đối với câu hỏi tự luận
1) Câu hỏi phải đánh giá nội dung quan trọng của chương trình;
2) Câu hỏi phải phù hợp với các tiêu chí ra đề kiểm tra về mặt trình bày và số điểm tương ứng;
3) Câu hỏi yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức vào các tình huống mới;
4) Câu hỏi thể hiện rõ nội dung và cấp độ tư duy cần đo;
5) Nội dung câu hỏi đặt ra một yêu cầu và các hướng dẫn cụ thể về cách thực hiện yêu cầu đó;
6) Yêu cầu của câu hỏi phù hợp với trình độ và nhận thức của học sinh;
7) Yêu cầu học sinh phải am hiểu nhiều hơn là ghi nhớ những khái niệm, thông tin;
8) Ngôn ngữ sử dụng trong câu hỏi phải truyền tải được hết những yêu cầu của cán bộ ra đề đến học sinh;
9) Câu hỏi nên nêu rõ các vấn đề: Độ dài của bài luận; Mục đích bài luận; Thời gian để viết bài luận; Các tiêu chí cần đạt.
10) Nếu câu hỏi yêu cầu học sinh nêu quan điểm và chứng minh cho quan điểm của mình, câu hỏi cần nêu rõ: bài làm của học sinh sẽđược đánh giá dựa trên những lập luận logic mà học sinh đó đưa ra để chứng minh và bảo vệ quan điểm của mình chứ không chỉ đơn thuần
là nêu quan điểm đó
Bước 5 Xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm
Việc xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm đối với bài kiểm tra cần đảm bảo các yêu cầu:
- Nội dung: khoa học và chính xác;
- Cách trình bày: cụ thể, chi tiết nhưng ngắn gọn và dễ hiểu;
- Phù hợp với ma trận đề kiểm tra
Cách tính điểm