Nếu mật độ tạp chất Nd = Na trong hai bán dẫn thì hai miền điện tích này có độ dày bằng nhau và chúng tạo thành một lớp chuyển tiếp với điện trở rất lớn... Nguyên lí hoạt động: Nếu đưa p
Trang 1CÁC LOẠI SOLAR CELLS
GVHD: Thầy Lê Trấn HVTH: Nguyễn Thị Hoài Phương Lớp Cao học Quang học khóa 21
BỘ MÔN VẬT LÝ ỨNG DỤNG
Trang 2I GIỚI THIỆU VÀ PHÂN LOẠI
II PIN MẶT TRỜI THẾ HỆ THỨ I VÀ II
Trang 5Các thế hệ pin mặt trời
Thế hệ thứ I:
- Silic đơn tinh thể ( c-Si) Thế hệ thứ II:
- Silic vô định hình (a-Si)
- Silic đa tinh thể ( poly- Si)
- Cadmium telluride ( CdTe) Thế hệ thứ III:
- Pin tinh thể nano (nanocrystal solar cell)
- Photoelectronchemical (PEC) cell
- Pin hữu cơ ( polymer solar cell)
- Dye sensitized solar cell ( DSSC) Thế hệ thứ IV:
- Hydrid – inorganic crystals within a polymer matrix
Trang 6n, tại vùng gần mặt tiếp xúc sẽ hình thành một miền điện tích dương, trong bán dẫn loại p, tại vùng gần mặt tiếp xúc cũng xuất hiện một miền điện tích âm Nếu mật độ tạp chất Nd = Na trong hai bán dẫn thì hai miền điện tích này có độ dày bằng nhau và chúng tạo thành một lớp chuyển tiếp với điện trở rất lớn
Trang 71 Cấu tạo Khi trạng thái cân bằng được thiết lập, ở
lớp tiếp xúc hình thành một hiệu điện thế tiếp xúc UK (đối với Si vào cỡ 0,6V đến 0,7V Đây
là hiệu thế sinh ra ở chỗ tiếp xúc không tạo ra dòng điện được) và tương ứng nó là một hàng rào thế Vbi Hàng rào thế Vbi cản sự khuếch tán của electron từ bán dẫn loại n sang bán dẫn loại p và sự khuếch tán của lỗ trống từ bán dẫn loại sang bán dẫn loại n Dưới tác dụng của điện trường lớp chuyển tiếp, các mức năng lượng của bán dẫn n tụt xuống, các mức năng lượng của bán dẫn p dịch lên phía trên Qúa trình dịch chuyển các mức năng lượng sẽ ngừng khi các mức Fecmi của hai bán dẫn trùng nhau Độ lớn của thế rào:
Trang 8Silic dùng làm pin mặt trời đòi hỏi độ tinh khiết cao, điều này được thực hiện bằng 2 cách:
Nuôi cấy nhờ nấu chảy: một mẩu nhỏ của vật liệu đơn tinh thể, được gọi là
mầm, được đưa vào tiếp xúc với bề mặt của cùng vật liệu trong pha lỏng và sau
đó được kéo lên từ từ khỏi vật liệu nóng chảy Khi mầm được kéo chậm, sự đông đặc xuất hiện dọc theo giao diện rắn- lỏng
Nuôi ghép: là quá trình ở đó một lớp mỏng đơn tinh thể được nuôi trên một nền đơn tinh thể Có hai loại nuôi ghép: đồng ghép và ghép khác loại
1 Cấu tạo
Trang 9QUÁ TRÌNH PHA TẠP ĐỂ TẠO THÀNH BÁN DẪN LOẠI N VÀ LOẠI P: pha tạp nguồn rắn/ khí và pha tạp ion.
Sự khuếch tán tạp chất xuất hiện khi tinh thể bán dẫn được đặt trong môi
trường khí nhiệt độ cao (1000oC) chứa nguyên tử tạp chất mong muốn Sự
khuếch tán tạp chất là quá trình mà nhờ đó các hạt tạp chất chuyển động từ vùng
có nồng độ cao cạnh bề mặt tới vùng có nhiệt độ thấp hơn trong tinh thể Khi nhiệt
độ giảm, các nguyên tử tạp chất bị cố định lại vĩnh viễn thành các điểm mạng thay thế
Nuôi cấy ion xảy ra tại nhiệt độ thấp hơn khuếch tán Một chùm chuẩn trực các ion khuếch tán được gia tốc có động năng trong dảy 50 eV hoặc lớn hơn và được gia tốc về phía tinh thể Những ion pha tạp năng lượng cao đi vào tinh thể và dừng lại ở một độ sâu trung bình tính từ bề mặt Một ưu điểm của cấy ion là có thể điều khiển được những nguyên tử ion đi vào một vùng đặc biệt của tinh thể Một nhược điểm của kĩ thuật này là những nguyên tử tạp chất tới va chạm với những nguyên
tử tinh thể làm hỏng sự thay đổi vị trí mạng
1 Cấu tạo
Trang 10Nồng độ tạp chất cm -3 Điện trở suất ρ (Ω.cm)
6 10 -3
180 12 1,8 0,3 6,2 10 -3 1,2 10 -2
Sự phụ thuộc của điện trở suất vào nồng độ tạp chất
1 Cấu tạo
Trang 112 Nguyên lí hoạt động:
Nếu đưa phiến bán dẫn đã tạo lớp tiếp
xúc p - n phơi cho ánh sáng mặt trời chiếu
vào thì photon của ánh sáng mặt trời có thể
kích thích làm cho điện tử đang liên kết với
nguyên tử bị bật ra khỏi nguyên tử, đồng
thời ở nguyên tử xuất hiện chỗ trống vì
thiếu electron, người ta gọi là photon đến
tạo ra cặp electron - lỗ trống Nếu cặp
electron - lỗ trống này sinh ra ở gần chỗ có
tiếp p - n thì hiệu thế tiếp xúc sẽ đẩy
electron về một bên (bên bán dẫn n) đẩy lỗ
trống về một bên (bên bán dẫn p) Nhưng
cơ bản là electron đã nhảy từ miền hoá trị
(dùng để liên kết) lên miền dẫn ở mức cao
hơn, có thể chuyển động tự do Càng có
nhiều photon chiếu đến càng có nhiều cơ
hội để electron nhảy lên miền dẫn
Trang 122 Nguyên lí hoạt động:
Nếu ở bên ngoài ta dùng một dây dẫn
nối bán dẫn loại n với bán dẫn loại p (qua
một phụ tải như lèn LED chẳng hạn) thì
electron từ miền dẫn của bán dẫn loại n
sẽ qua mạch ngoài chuyển đến bán dẫn
loại p lấp vào các lỗ trống Đó là dòng
điện pin Mặt trời silic sinh ra khi được
chiếu sáng Hiệu suất pin khoảng 28%
Trang 133 Sự hấp thụ photon:
Khi chất bán dẫn được chiếu bằng ánh sáng, photon sáng có thể bị hấp thụ hoặc truyền qua chất bán dẫn, phụ thuộc năng lượng photon và phụ thuộc năng lượng vùng cấm Eg Nếu năng lượng photon E bé hơn Eg, photon không dễ dàng
bị hấp thụ Trong trường hợp này, ánh sáng được truyền qua vật liệu và chất bán dẫn xuất hiện là trong suốt Nếu E> Eg, photon có thể tương tác với một điện tử hóa trị và nâng điện tử vào vùng dẫn Vùng hóa trị chứa nhiều điện tử và vùng dẫn chứa nhiều trạng thái trống Tương tác này tạo nên một điện tử trong vùng dẫn và một lỗ trống trong vùng hóa trị
Cường độ dòng photon tại vị trí x:
α: hệ số hấp thụ
x v
Trang 14không cao
Trang 152 Nguyên lí hoạt động:
Sự chuyển hóa năng lượng quang điện trong PMT gồm hai bước cơ bản:
Đầu tiên chất bán dẫn hấp thụ những photon với năng lượng bằng hoặc lớn hơn năng lượng vùng cấm Eg làm sinh ra những cặp electron và lỗ trống khi pin được phơi sáng Đây là quá trình chuyển hóa quang năng thành hóa năng
Sau đó những cặp electron và
lỗ trống này được phân ly và chuyển ra mạch ngoài Đây là quá trình chuyển hóa hóa năng thành điện năng
Trang 162 Nguyên lí hoạt động:
Điện cực kim loại trong PMT thực ra là một tiếp xúc kim – loại bán dẫn, nó được chia làm hai loại: tiếp xúc Ohmic và tiếp xúc Schottky Tiếp xúc Ohmic cho phép trao đổi hạt tải đa số giữa bán dẫn và kim loại một cách dễ dàng trong khi tiếp xúc Schottky thì ngăn cản sự trao đổi hạt tải đa số giữa bán dẫn
và kim loại Vì thế trong PMT người ta mong muốn các tiếp xúc kim – loại bán dẫn là tiếp xúc Ohmic
Trang 172 Nguyên lí hoạt động:
Trang 182 Nguyên lí hoạt động:
Trang 192 Nguyên lí hoạt động:
Trang 203 Khuyết điểm của pin mặt trời thế hệ II:
Có hiệu suất chuyển hóa năng lượng ánh sáng thành điện năng thấp hơn, tuổi thọ cũng thấp hơn so với pin thế hệ I trong khi đó mức độ độc hại của các hóa chất sử dụng trong quá trình chế tạo cao hơn
Trang 21Khi polymer liên hợp kết hợp với dopant sẽ trở thành polymer dẫn điện Khi đó, điện
tử p đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra dòng điện Khi có sự kích thích của ánh sáng mặt trời, polymer mang nối liên hợp "phóng thích" các điện tử p và để lại nhiều lỗ trống (+) trên mạch polymer Vì vậy, polymer liên hợp được gọi là vật liệu loại p (p-type,
p = positive = dương) Ngược lại, fullerene là vật liệu nhận điện tử rất hiệu quả; sau khi nhận điện tử fullerene mang điện tích âm nên được gọi là vật liệu loại n (n-type, n = negative = âm)
Quang tử trong ánh sáng mặt trời đánh bật điện tử ra khỏi mạch polymer của poly (3-hexylthiophene)
Trang 23 Điện tử bị quang tử kích thích nhảy lên
trạng thái kích thích để lại một lỗ trống (+);
Vì điện tử có điện tích âm (-) và lỗ trống
mang điện dương (+) tạo nên cặp âm-dương
(-)(+), hay là lỗ trống - điện tử (exciton) (hình
3), chúng liên kết với nhau do lực hút tĩnh
điện;
Cặp (+)(-) phải được tách rời để điện tử
hoàn toàn tự do đi lại tạo ra dòng điện
Những quang tử sẽ đánh bật điện tử ra khỏi
mạng của vật liệu p tạo ra cặp âm dương (-)
(+) (cặp điện tử - lỗ trống) Chỉ những cặp ở
gần vùng chuyển tiếp p-n (p-n junction) mới bị
phân tách Sau khi phân tách, điện tử sẽ di
động trong vật liệu n tiến đến cực dương và lỗ
trống (+) di động trong vật liệu p tiến đến cực
âm (hình a) Dòng điện xuất hiện.
Hình a) Sự phân ly của cặp lỗ trống - điện tử (h+ và e-) tại mặt chuyển tiếp giữa vật liệu p và
n b) Điện tử (e-) đi theo đường vân vật liệu n tiến đến cực dương, và lỗ trống (h+) theo đường vân vật liệu p tiến đến cực âm Dòng điện xuất hiện.
Trong pin mặt trời dùng vật liệu hữu
cơ, nguyên tắc chính là sự di chuyển
điện tử từ một polymer/phân tử cho điện
tử (electron donor (D) – bán dẫn loại p)
đến một polymer/phân tử nhận điện tử
(electron acceptor (A) – bán dẫn loại n)
Sự di chuyển của điện tử sẽ tạo thành
dòng điện
Trang 24Tăng khả năng hấp thụ ánh sáng
Các nhà khoa học đang cố gắng tìm kiếm các polyme dẫn có khả năng hấp thụ đến ánh sáng đỏ của bức xạ mặt trời Hỗn hợp polyme – fullerene có khe dải năng lượng thấp, đã thay thế cho các dẫn xuất PPV Các dẫn xuất của polythiophene, copolyme polypyrrole/thiazadole và thiophene/naphthene, có khả năng hấp thụ đến ánh sáng đỏ, có thể được ứng dụng trong quang điện
Một cách khác là thay thế polyme truyền điện tử trong hỗn hợp bằng các chất màu tinh thể liên hợp, như anthrancence hoặc perylene, cho dải hấp thụ rộng hơn Điều này cũng có thể đạt được khi dùng các hạt nano bán dẫn vô cơ hấp thụ ánh sáng đỏ, như CdSe nano dạng que có khả năng hấp thụ ánh sáng có bước sóng 700nm Đặc biệt với CuInSe2 có khe năng lượng rất thấp (ở dạng khối khe năng
lượng ~1 eV), hiện đang được dùng trong các hỗn hợp polyme – hạt nano
Một xu hướng khác là dùng các chất màu nhạy sáng, thường là chất màu hữu
cơ, người ta tạo một đơn lớp chất màu giữa donor và acceptor, lớp chất màu này có vai trò hấp thụ ánh sáng Yoshino (Nhật Bản) đã đưa ra cấu trúc pin hữu cơ: donor
Trang 25Tăng sự phát dòng quang điện và tăng sự truyền điện tích
Bản chất độ linh động của các điện tử trong chất hữu cơ là kém, ngoài ra nó còn bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng bẫy điện tích của các tạp chất Trong các nghiên cứu hiện nay, các polyme có độ linh động cao hơn như fluorene-triarylamine và các copolyme thiophene đã được sử dụng trong các thiết bị có cấu trúc hỗn hợp
Để cải thiện sự truyền các electron, người ta đã thêm vào thành phần vô cơ là tinh thể nano TiO2 TiO2 có ưu điểm là rẻ, không độc, lại bền trong không khí, và có thể xử lý được ở dạng tấm cứng có cấu trúc nano Ngoài ra, tinh thể dạng dài cũng được quan tâm, bởi khi kích thước tinh thể và hướng được khống chế thì chúng như các chất truyền electron Người ta đã nghiên cứu các thiết bị mà sử dụng các chất màu tinh thể hình kim, CdSe nano dạng que và các ống nano cacbon Bên cạnh đó, các chất chuyển điện tử hữu cơ có độ linh động và độ bền tốt hơn cũng đang được xem xét
Trang 26Sự điều chỉnh hình thái cấu trúc bề mặt
Trong thiết bị dị đầu nối phân tán, việc tạo dòng quang điện và truyền điện tích đều phụ thuộc vào hình thái cấu trúc bề mặt vật liệu Dòng quang điện tạo ra phụ thuộc vào độ dài khuyếch tán exciton, còn sự truyền điện tích lại cần có đường dẫn đi từ bề mặt chung tới các điện cực Trong thực
tế, các vật liệu có xu hướng tách rời nhau ra khi trộn lẫn chúng với nhau Người ta đã tập trung tìm cách điều chỉnh hình thái cấu trúc của hỗn hợp,
có các hướng sau: khống chế hình thái cấu trúc hỗn hợp thông qua các điều kiện của quá trình xử lý, như: dung môi, áp suất, nhiệt độ chất nền
Trang 27Độ bền và hiệu suất của pin
Các pin mặt trời hữu cơ không bền bởi hai nguyên nhân chính:
- Thứ nhất, nhiều polyme liên hợp không bền trong sự có mặt của oxi và ánh sáng, sinh ra các chất có khả năng phản ứng mạnh như peoxit, chất này phản ứng với vật liệu và làm suy biến hóa tính của vật liệu
- Thứ hai là tính không bền của hỗn hợp donor – acceptor Khi tạo lớp, các thành phần của hỗn hợp bị đông cứng lại, theo thời gian các thành phần này có thể tách nhau ra, làm giảm sự hòa trộn của hỗn hợp và hiệu quả tách điện tích Vấn đề này đặc biệt quan trọng đối với hỗn hợp polymer – fullerene, trong đó fullerene có xu hướng tạo thành bó Vì vậy, cần có giải pháp để khắc phục các vấn đề này
Trang 28Pin mặt trời trên cơ sở chất màu nhạy quang (DSSC), còn gọi là pin
O'Regan-Grätzel được O'Regan và Michael Grätzel công bố lần đầu tiên trên tạp chí Nature năm 1991 Hiệu suất chuyển hóa năng lượng ánh sáng mặt trời thành điện năng lúc đó là 7,1 – 7,9% dưới ánh sáng nhân tạo
trong phòng thí nghiệm, hiệu suất này tương đương với hiệu suất của pin mặt trời Silicon đa tinh thể cùng thời điểm, nhưng giá thành rẻ, chỉ bằng ¼ giá pin mặt trời Silicon đa tinh thể
Tuy nhiên, do phải sử dụng dung dịch điện ly, pin mặt trời thế hệ mới này gặp phải tính không ổn định trong quá trình sử dụng do tính rò rỉ không thể tránh khỏi của nó Để hạn chế khuyết điểm này, rất nhiều những nghiên cứu
đã ra đời nhằm mục tiêu thay thế dung dịch điện ly bằng những chất điện ly rắn hoặc bán rắn Các loại chất điện ly dạng này bao gồm: chất bán dẫn loại
p, các loại muối nóng chảy ở nhiệt độ phòng, polymer dẫn điện dạng ion,
Trang 29Pin mặt trời trên cơ sở chất màu nhạy quang (DSSC), còn gọi là pin Grätzel được O'Regan và Michael Grätzel công bố lần đầu tiên trên tạp chí Nature năm 1991 Hiệu suất chuyển hóa năng lượng ánh sáng mặt trời thành điện năng lúc đó là 7,1 – 7,9% dưới ánh sáng nhân tạo trong phòng thí nghiệm, hiệu suất này tương đương với hiệu suất của pin mặt trời Silicon đa tinh thể cùng thời điểm,
O'Regan-nhưng giá thành rẻ, chỉ bằng ¼ giá pin mặt trời Silicon đa tinh thể
Tuy nhiên, do phải sử dụng dung dịch điện ly, pin mặt trời thế hệ mới này gặp phải tính không ổn định trong quá trình sử dụng do tính rò rỉ không thể tránh khỏi của nó Để hạn chế khuyết điểm này, rất nhiều những nghiên cứu đã ra đời nhằm mục tiêu thay thế dung dịch điện ly bằng những chất điện ly rắn hoặc bán rắn Các loại chất điện ly dạng này bao gồm: chất bán dẫn loại p, các loại muối nóng chảy
ở nhiệt độ phòng, polymer dẫn điện dạng ion,
polymer hữu cơ dẫn điện và các loại chất điện ly dạng gel
Trang 30làm việc (photo electrode), hệ điện ly (hệ oxi hóa khử I-/I3-), điện cực đối và tấm polymer gắn kết 2 điện cực
Trang 31Điện cực làm việc hay còn gọi là điện cực quang hay điện cực anode của pin mặt trời DSSC cấu tạo bởi một lớp màng mỏng, xốp bằng vật liệu có năng lượng vùng cấm phù hợp, được hấp phụ một lớp đơn phân tử chất nhạy quang, và được phủ trên nền thủy tinh dẫn điện hoặc polymer dẫn
điện Các oxide kim loại như TiO2, SnO2, ZnO, Nb2O5, W2O5… được sử dụng làm điện cực cho pin DSSC, nhưng TiO2 anatase kích thước nano là phù hợp nhất để sử dụng làm màng bán dẫn cho điện cực làm việc của pin
DSSC vì không độc, giá thành thấp và có năng lượng vùng cấm phù hợp nhất
Lớp màng mỏng dày 10 - 30 μm của điện cực làm việc cấu tạo từ các hạt nano TiO2 có kích thước 10-30 nm liên kết với nhau nhằm tăng diện tích
bề mặt riêng, tăng khả năng hấp phụ chất màu nhạy quang đồng thời có độ xốp cao giúp quá trình khuếch tán chất điện ly dễ dàng Ngoài màng mỏng làm nhiệm vụ hấp phụ màu nhạy quang, trên điện cực anode còn được phủ một lớp hạt TiO2 có kích thước vài trăm nm, làm nhiệm vụ tán sắc ánh sáng, giúp việc hấp thu năng lượng của photon ánh sáng chiếu vào điện cực làm
Trang 32Chất màu nhạy quang
Chất màu sử dụng trong pin mặt trời thế hệ mới này có khả năng hấp thụ năng lượng mặt trời trong vùng khả kiến để đạt trạng thái kích thích Chất màu nhạy quang được lựa chọn sao cho phù hợp với các mức năng lượng của chất bán dẫn đồng thời có độ bền bền nhiệt và độ bền quang hóa cao Chất màu sử dụng trong các ứng dụng pin mặt trời DSSC hiện nay là các phức polypyridyl với nguyên tử kim loại trung tâm là thường ruthenium, sắt, mangan…