VIẾNG LĂNG BÁC Viễn Phương Trong chương trình ngữ văn trung học cơ sở , em được đọc và học một số bài thơ rất hay viết về Bác Hồ kính yêu của dân tộc , nhưng có lẽ bài thơ gây cho em ấ
Trang 1Tư liệu tham khảo:NHỮNG BÀI TẬP LÀM VĂN LỚP 9
1 VIẾNG LĂNG BÁC( Viễn Phương )
Trong chương trình ngữ văn trung học cơ sở , em được đọc và học một số bài thơ rất hay viết về Bác Hồ kính yêu
của dân tộc , nhưng có lẽ bài thơ gây cho em ấn tượng nhất , xúc động nhất là bài thơ Viếng lăng Bác của nhà thơ
Viễn Phương Bài thơ viết về Bác , sau khi Bác đã đi xa Bằng tình cảm thành kính và bao nhiêu năm mong mỏi naybỗng bật dậy trào dâng và được thể hiện trong những vần thơ vô cùng sâu sắc ( dẫn cả bài thơ )
Bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương thể hiện niềm xúc động , thiêng liêng thành kính , lòng biết ơn và tự hào pha lẫn nỗi xót đau khi tác giả từ miền Nam ra viếng lăng Bác Bài thơ gọn chỉ có 4 khổ , 16 dòng nhưng đã kếthợp giữa miêu tả và biểu hiện cảm xúc tâm trạng
Mở đầu bài thơ tác giả viết :
“ Con ở miền nam ra thăm lăng Bác
Trang 2Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng ”
Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác ,câu thơ mở đầu ngắn gọn như một lời thông báo nhưng lại gợi ra rất nhiều điều :
có thể nghĩ đó là tâm trạng xúc động của một người từ chiến trường miền Nam sau bao năm mong mỏi bây giờ mới
được ra viếng Bác Câu thơ vừa ấm áp tình người với cách xưng hô thân mật Con – Bác bởi tất cả chúng ta đều là những người con của Bác “ Người là Cha là Bác là Anh - Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ ” Nhà thơ đã tạo
nên một không khí ấm áp, gần gũi , thân thiết
Hòa vào dòng người xếp hàng vào lăng viếng Bác , Viễn Phương có dịp quan sát khung cảnh xung quanh lăng Người Hình ảnh đầu tiên mà tác giả thấy được và cũng là ấn tượng đậm nét về cảnh quan quanh lăng Bác là hàng tre Cây tre từ bao đời là hình ảnh thân thuộc của đất nước Việt Nam Nhắc đến tre ta lại nghỉ về đất nước , về dân tộc
Trang 3Việt Nam với bao đức tính cao quí tre anh hùng trong chiến đấu , tre yêu thương giúp đỡ dân tộc , tre hi sinh cho thế
hệ mai sau và tre cũng rất kiên cường , bât khuất
Nòi tre đâu chịu mọc cong Chưa lên đã nhọn như chông lạ thừơng”
Có thể nói cây tre Việt Nam là biểu tượng sức sống biền bỉ , kiên cường của dân tộc Việt Nam bão táp mưa sa
đứng thẳng hàng Mặc cho bão táp mưa sa tre vẫn thanh thản bình yên đúng đó thẳng hàng như những vệ binh đứng
gác bảo vệ lăng Người
Theo đoàn người vào lăng viếng Bác nhà thơ đã cảm nhận được
“ Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ ”
Mặt trời ngày ngày đi qua trên lăng là hình ảnh thực : mặt trời của đất , nguồn ánh sáng lớn nhất , rực rỡ nhất và
vĩnh viễn trên thế gian Mặt trời trong lăng rất đỏ là một hình ảnh ẩn dụ , nhà thơ muốn nói Bác Hồ chúng ta là mặt
Trang 5như ánh trăng rằm và cũng có lúc Bác là trời xanh yên ả Hình ảnh ẩn dụ như để nói cái trường tồn vĩnh hằng khôngbao giờ mất của Bác
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim
Những cái mênh mông bao la của vũ trụ được tác giả ví như cái bao la rộng lớn trong tình thương của Bác Đó cũng
là biểu hiện sự vĩ đại cao siêu của con người Bác trong mỗi chúng ta ai cũng biết rằng Bác Hồ sống mãi
với non sông đất nước Sống mãi trong tâm trí nhân dân như bầu trời xanh vĩnh viễn trên cao Nhưng Viễn Phương vẫn không khỏi thấy nhói đau trong lòng khi đứng trước thi thể của Người “ Mà sao nghe nhói ở trong tim ” Nỗi đau như hàng ngàn mũi kim châm vào trái tim thổn thức của nhà thơ Đây chính là sự rung động mãnh liệt chân thành củaViễn Phương
Trang 6Mặ dù hiện tại nhà thơ đang đứng bên lăng Người , trong lăng Người nhưng khi nghĩ đến những ngày phải rời miềnBắc , ngày xa Bác Viễn Phương thấy bịn rịn không muốn rời Tình cảm trong những ngày được sống bên Bác luôn luôn sâu lắng từng giây từng phút Tác giả không thể nào ngăn được nữa những dòng nước mắt trào dâng và tha thiết
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Câu thơ thật bình dị nhưng chứa chan tình thươngấp ủ sâu lắng tận đáy lòng làm cho mỗi chúng ta khi đọc lên cảm thấy vô cùng xúc động Đây là một cách nói không hoa mỹ mà là một cách nói rất chân thành của người dân Nam Bộ nhưng lại lắng đọng trong lòng người không gì có thể nói và tả được Cũng xuất phát từ tình cảm đó cho nên nhà thơ có ước nguyện thành kính và đây có thể là ước vọng chung của tất cả mọi người đã một lần hoặc chưa một lần gặp Bác
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Trang 7Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này
Điệp ngữ “ Muốn làm ” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong đoạn thơ thể hiện ước nguyện muốn tự nguyện tự giác của Viễn Phương nhà thơ muốn làm con chim hót dâng tiếng hót vui Muốn làm bông hoa dâng hương thơm vàsắc đẹp muốn làm cây tre trung hiếu canh giữ cho lăng Bác ngày đêm Hình ảnh cây tre lại xuất hiệnở đoạn cuối bàithơ làm nhiệm vụ khép lại bài thơ một cách khéo léo , tạo cho người đọc một ấn tượng mạnh mẽ khó phai mờ
Ước vọng của nhà thơ thể hiện tình cảm thành kính thiêng liêng của người con Nam Bộ đối với Bác Hồ Ước
muốn đó cũng là tình cảm của mỗi người dân Việt Nam đối với Bác Hồ Những người đã về lăng Bác “ Kết tràng
hoa dâng 79 mùa xuân ” và những ai chưa đến lăng nhưng lòng vẫn thành tâm hướng về Bác
Viếng lăng Bác , bài thơ gây một xúc cảm đặc biệt , thành công trước hết phải nói là nhờ cảm xúc hết sức chân thành và sâu sắc của Viễn Phương Xúc cảm đó được “ cộng hưởng ” bởi tình cảm thiêng liêng mà Bác dành cho nhân đân miền Nam và tình cảm thành kính , ngưỡng mộ mà toàn dân tộc Việt Nam dành cho Bác Cảm ơn nhà thơ
đã truyền cảm xúc của mình đến với người đọc Chúng ta con cháu của Bác xin nguyện như nhà thơ Viễn Phương
Trang 8làm tiếng chim hót , làm bông hoa đẹp , làm cây tre trung hiếu và sẵn sàng làm muôn ngàn công việc tốt để kính dângNgười
2 Phân tích : sang thu ( Hữu Thỉnh )
Mùa thu thường là đề tài của các thi nhân Việt Nam Bởi mùa thu là thời điểm giao cảm của tâm hồn con người với thiên nhiên tạo thành một truyền thống thi ca của mùa thu Cũng viết về mùa thu nhưng mỗi nhà thơ viết về một thời
điểm khác nhau Nguyễn Khuyến viết “ Thu điếu ” vào thời điểm trong thu Xuân Diệu viết “ Đây mùa thu tới ” ở thời điểm cuối thu Còn nhà thơ Hữu Thỉnh viết “ Sang thu” ở thời điểm chớm thu bài thơ là sự cảm nhận của nhà
thơ về sự biến đổi của đất trời từ cuối hạ sang đầu thu
Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ
Trang 9Hình như thu đã về Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi
Trang 10Ta thấy tác giả cảm nhận không gian làng quê sang thu thật bất ngờ “ Bỗng nhận ra hương ổi ” , từ bỗng thể hiện
sự đột ngột , bất ngờ nhưng cái bất ngờ mới nên thơ làm sao ! Bất ngờ nhận ra những dấu hiệu thiên nhiên khi mùa
thu về Đó là hương ổi thoang thoảng thơm trong gió thu se lạnh Từ pha có thể thay bằng các từ thổi , đưa , bay ,lan
Trang 11, tan … Nhưng cả bấy nhiêu từ đều không có cái nghĩa đột ngột , bất ngờ Mùa quả chín , mùa ổi đã trỡ thành nhan
đề cho cả một bộ phim truyện nổi tiếng , giờ đây đã trở thành mùi hươngcủa mùa thu miền Bắc Việt Nam
Ta thấy nhà thơ Hữu Thỉnh sử dụng từ ngữ rất đắt ở hai câu thơ “ Sương chùng chình qua ngõ - hình n hư thu
đã về ” chùng chình là từ láy gợi hình , có thể thay bằng từ dềnh dàng , đủng đỉnh , chầm chậm , lững thững
Dùng chùng chình có cái hay riêng tác giảđã nhân hóa làn sương nó đi qua ngõ nhà có vẻ cố ý chậm hơn mọi
ngày Ta thấy có cái gì đó thật duyên dáng , thật yểu điệu của một làn sương , một hình bóng thiếu nữ , một người
bạn gái nào đó …Và tất cả chưa thật rõ ràng , hay vì quá đột ngột mà tác giả chưa nhận ra Từ hình như thể hiện cái
ngỡ ngàng , ngạc nhiên đó Từ cảm nhận này ta có thể hiểu được tâm hồn nhạy cảm , yêu thiên nhiên , yêu thời tiết thu và cuộc sống nơi làng quê, cao hơn nữa đó là tình yêu dân tộc
Cùng với không gian làng quê sang thu , ta còn thấy tác giả cảm nhận không gian đất trời vào thu
Sông được lúc dềnh dàng
Trang 12Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu
Đất trời sang thu được cảm nhận từ những hình ảnh quen thuộc , gần gũi : sông , cánh chim , đám mây Sông có lúc
dềnh dàng gợi lên một cảnh tượng cụ thể , dòng sông nước bắt đầu cạn , chảy chậm lại , không cuồn cuộn , ào ạt như
thời gian vào hạ Từ dềnh dàng cũng như từ chùng chình ở trên làm cho con sông trở nên duyên dáng , gần người hơn Lúc này chim cũng vội vã hơn vì sợ lạnh phải đi tránh rét ở những miền ấm áp Đặc biệt nhất là đám mây mùa
hạ – vắt nửa mình sang thu là một liên tưởng sáng tạo thú vị Sự thật , không hề có đám mây nào như thế Vì làm
sao có sự phân biệt rạch ròi bằng mắt thường trên bầu trời Đó là đám mây trong liên tưởng , tưởng tượng của tác giả Nhưng chính cái hình ảnh mùa hạ nối với mùa thu bởi nửa đám mây lững lờ , cũng dềnh dàng , chùng chình , bảng lảng trên tầng không làm cho người đọc cảm nhận cả về không gian và thời gian chuyển mùa thật là đẹp , thật là khêu
gợi hồn thơ có thể nói hình ảnh giao mùa thể hiện duyên dáng và thần tình nhất trong bài thơ là ở hai câu thơ : Có
Trang 13đám mây mùa hạ - vắt nửa mình sang thu ở đây, cái dềnh dàng , cái chùng chình của sương , của sông , cái nhè nhẹ
của gió , cái thoang thoảng của hương được kết đọng trong cái vắt nửa mình ngập ngừng của đám mây trên bầu trời giao mùa Hữu Thỉnh cũng đã có những câu thơ , đoạn thơ gần giống tứ thơ này nhưng không tài hoa , bất ngờ thú
vị bằng
Đi suốt cả ngày thu Vẫn chưa về tới ngõ Dùng dằng hoa quan họ
Nở tím bên sông Thương Nắng thu đang trải đầy
Đã trăng non múi bưởi Bên cầu con nghé đợi
Cả chiều thu sang sông
Trang 14( Chiều sông Thương )
Bài thơ sang thu của Hữu Thỉnh không những mang đậm chất dân gian làng quê dân dã , mang đậm hơi thở của ruộng đồng mà còn mang tính triết lí sâu sắc :
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi
Ta thấy thiên nhiên trong Sang thu còn được nhà thơ gợi ra bằng những hình ảnh độc đáo : nắng , mưa , sấm chớp ,
hàng cây … Nắng mưa lúc sang thu cũng không giống như hồi giữa hạ Nắng nhạt dần chứ không còn chói chang ,
Trang 15dữ dội , gay gắt Mưa cũng ít đi , nhất là những trận mưa rào , mưa dông ầm ầm ào ạt Bởi vậy sấm cũng bớt bất ngờ trên hàng cây đứng tuổi
Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi
Hai câu thơ có hai tầng nghĩa : tả thực và ẩn dụ sấm mùa hạ ít đi khi sang thu bởi vậy hàng cây không còn bị giậtmình , đột ngột Nhưng đó còn là những âm vang ba động bất thường của ngoại cảnh , của cuộc đời Và ở những con người từng trải , đứng tuổi thì tất nhiên sẽ vững vàng , trầm tĩnh hơn , càng không bị bất ngờ , giật mình trước những tác động của ngoại giới dù là những tiếng sấm đầu thu Như vậy hai câu thơ không chỉ tả cảnh sang thu mà còn chất chứa suy nghiệm về con ngừơi và cuộc sống
Bài thơ sang thu của Hữu Thỉnh là khúc giao mùa nhẹ nhàng , thơ mộng , bâng khuâng mà cũng thầm thì triết lí ,
đã nối tiếp hành trình thơ thu dân tộc , góp một tiếng thơ đằm thắm về mùa thu quê hương , đem đến cho thế hệ trẻ tình yêu đất nước qua nét thu đẹp Việt Nam
Trang 16Truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân được viết vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và được in trong báo văn nghệ năm 1948 Truyện ca ngợi tình yêu làng thắm thiết thống nhất với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến ở nhân vật ông Hai , môt nông dân phải xa làng đi tản cư qua đó ta cũng cảm nhận được tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong thời kháng chiến chống Pháp
Truyện Làng khai thác một tình cảm bao trùm và phổ biến trong con người thời kháng chiến đó là tình cảm
quê hương đất nước Một tình cảm mang tính cộng đồng nhưng thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm tâm líchung ấy trong sự thể hiện sinh động của một con người , trở thành một nét tâm lí sâu sắc ở nhân vật ông Hai vì thế
nó là tình cảm chung mà lại mang rõ màu sắc riêng cá nhân , in rõ cá tính của nhân vật
Cũng như những người nông dân khác thời kháng chiến , ông Hai rất yêu làng , mảnh đất ông đã sinh ra và lớn lên, nơi cất tiếng khóc chào đời đầu tiên của ông Đó là làng Chợ Dầu bằng một thứ tình cảm khá đặc biệt Ông say mê
Trang 17Thái độ của ông Hai với làng thể hiện gọn gàng trong một chữ khoe , tám chữ khoe Những lời khoe của ông thật
đa dạng , khi thì hảnh diện , khi thì mê man giảng giải , khi thì rành rọt , khi nói liên miên Ông Hai khoe làng ông cócái phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa rộng rãi nhất vùng , chòi phát thanh cao bằng ngọn tre chiều chiều loa gọi
cả làng đều nghe thấy Ông khoe làng ông nhà ngói san sát sầm uất như tỉnh đường trong làng toàn lát đá xanh Ông Hai còn khoe cái sinh phần của viên tổng đốc làng ông Ông có vẻ hảnh diện cho làng được cái sinh phần đó
lắm Cái dinh cơ cụ Thượng làng tôi có lăm lắm là của Vườn hoa cây cảnh nom như động ấy còn hơn cả cái lăng
cụ Thiếu Hà Đông Sau cách mạng ở ông Hai có những nhận thức mới hơn trong việc khoe về làng mình Ông
Trang 18không khoe cái lăng ấy nữa mà còn biết chính cái lăng ấy nó làm khổ ông , làm khổ những con người của làng ông Bây giờ nói đến làng ông khoe những ngày khởi nghĩa , những buổi tập quân sự , những hố những ụ , những giao thông hào của làng ông Thậm chí có đôi lúc ông Hai ngậm ngùi kể lại cả những chuyện phiêu dạt và những chuyện đẩu chuyện đâu
Phải nói rằng những biểu hiện và tính khoe làng của ông Hai đó là tình yêu làng tha thiết Yêu lắm về mảnh đất làng que nên khoe nên nói cho đỡ nhớ làng , đỡ nhớ phong trào cách mạng ở làng mà ông đã từng tham gia phụ lão cứu quốc và tham gia đào hào đắp ụ Một biểu hiện khác của ông Hai cũng xuất phát từ tình yêu làng chợ Dầu ,
ông không muốn bỏ làng ra đi vào lúc hữu sự Ông luôn luôn có suy nghĩ :Mình sinh sống ở cái làng này từ tấm bé
đến giờ , ông cha cụ kị mình xưa kia cũng sinh sống ở cái làng này đã từ bao nhiêu đời nay rồi Bây giờ gặp phải cái lúc hữu sự như thế này là công việc chung chứ của riêng ai Ông Hai bị hoàn cảnh dồn ép khổ sở lắm Ông không
trực tiếp kháng chiến ở làng mà phải đi tản cư Đi tản cư xa làng ông Hai không ngày nào , không lúc nào không nghĩ về làng Nỗi nhớ làng luôn luôn túc trực trong lòng ông Mọi nỗi nhớ ấy đều tập trung ở những hoạt động
Trang 19kháng chiến ; hát hò , đào hào , khuân đá Tình yêu làng quê của ông Hai đã phát triển , đã được bồi dưỡng thêm bằng tình cảm mới – tình kháng chiến Ông Hai không chỉ là người dân làng chợ Dầu , ông còn là một chiến sĩ gắn
bó với phong trào kháng chiến của làng
Nhà văn Kim Lân đã diễn tả một tình cảm , một nét tâm lí quen thuộc về truyền thống của người nông dân tình cảm gắn bó với làng quê , tự hào về quê hương mình Cái tâm lí tự hào đó cũng được ca dao thể hiện
Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.
Trang 20Cách mạng và kháng chiến đã khơi dậy ở người nông dân tình cảm yêu nước rộng lớn Ở ông Hai tình cảm yêu
làng là thống nhất với lòng yêu nước Đúng như nhà văn I-li- aÊ ren bua có nói : … lòng yêu nhà , yêu làng xóm ,
yêu làng quê trở nên lòng yêu tổ quốc Để mỗi người đọc chúng ta cảm nhận sâu sắc hơn tình cảm yêu làng yêu
nước của ông Hai – người nông dân cách mạng Tác giả đã đặt ông Hai vào một tình huống gay gắt tình huống ấy làcái tin làng chợ Dầu theo giặc mà chính ông nghe được từ miệng những người tản cư qua làng ông Một người luôn
luôn khoe làng , tự hào về làng như ông Hai khi nghe tin đột ngột ấy không đau đớn sao được ông Hai sững sờ Cổ
ông lão nghẹn ắng hẳn lại , da mặt tê rân rân Ong lão lặng đi tưởng như không thở được Từ lúc ấy trong tâm trí
ông Hai cái tin dữ ấy xâm chiếm , Nó thành một nỗi ám ảnh day dứt trong ông Ra đường ông cuối gằm mặt xuống
mà đi , về nhà nằm vật ra đường nước mắt trào ra Bao nhiêu câu hỏi dày vò , rồi trằn trọc không ngủ được Không chỉ có the mà suốt mấy ngày hôm sau ông Hai không dám đi đâu chỉ quẩn quanh ở nhà nghe ngóng , rồi nơm nớp
lo chuyện loang ra Ong Hai lo người ta đuổi người làng Việt gian thật là tiệt đường sinh sống Mà ông cũng không
thể về làng vì về là bỏ kháng chiến , bỏ cụ Hồ Với ông làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù Tấm
Trang 21lòng của ông , tình yêu làng yêu nước của ông chỉ có một mình ông hiểu chẳng biết nói cùng ai Ông đem nỗi lòng của mình trò chuyện cùng thằng con út cho vơi bớt lòng ông : Nước mắt ông lão giàn ra chảy ròng ròng trên hai má ,
chết thì chết có bao giờ dám đơn sai Đó có phải chăng là tấm lòng của ông Hai Tình cảnh của ông Hai , diễn biến
tâm trạng của ông khiến ta cảm động biết bao, đồng thời cũng cảm nhân được tấm lòng thủy chung với kháng chiến ,với cách mạng mà biểu tượng là Bác Hồ
Nhưng có thể nói điều khiến ta xúc động hơn là tâm trạng của ông Hai khi nghe làng chợ Dầu được cải chính không theo giặc Cái mặt buồn thiu mọi ngày bổng vui tươi hẳn lên ông gọi con ra chia quà Ông múa tay múa chân lên mà khoe , xúc động nhất là ông Hai chẳng hề nghĩ tiếc hay buồn về ngôi nhà riêng của ông bị giặc đốt Niềm vui
vì làng không theo giặc , không làm Việt gian đã chiếm hết tâm trí ông , đau khổ bế tắt đã được khơi thông Lúc này ông Hai nói chuyện về làng mình cho mọi người nghe thật rành rọt , tỉ mỉ như chính ông vừa được dự trận đánh mới
về Có thể nói rằng ông Hai là một hình ảnh đẹp của những người nông dân bình thường nhưng giàu lòng yêu nước Một mẫu người đáng quí của dân tộc ta trong những năm trường kì kháng chiến chống thực dân Pháp
Trang 22Bên cạnh thành công về mặt nội dung truyện làng Kim Lân còn thành công về mặt nghệ thuật Truyện xây dựng cốt truyện theo diễn biến tâm lí có sức thuyết phục và có ý nghĩa sâu sắc chính vì tình cảm quê hương của một ngườidân có tinh thần kháng chiến Ngôn ngữ nhân vật được miêu tả nhuần nhuyễn , lời ăn tiếng nói dân dã , mộc mạc Tác giả có tài miêu tả tâm lí nhân vật , xây dựng tình huống truyện độc đáo giúp cho người đọc khi gấp sách lại vẫn còn thấy bồi hồi xúc động về tình yêu làng của ông Hai , về nghệ thuật kể chuyện tạo tình huống hấp dẫn , hồi hôp của Kim Lân
Đọc tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân , tác giả đã để lại trong ta một ấn tượng tốt đẹp về hình ảnh ông Hai Một nông dân hay làm hay khoe , gắn bó bền chặt với làng Tình yêu làng gắn với tinh thần kháng chiến , lòng yêu nước , một lòng theo Cụ Hồ Đồng thời cũng cảm nhận sự sáng tạo tình huống truyện của một cây bút có sở trường viết về nông dân , viết về làng quê của nhà văn Kim Lân
4 Phân tích : Anh trăng (Nguyễn Duy)
Trang 23Mình về thành thị xa xôi Nhà cao còn thấy núi đồi nũa chăng Phố đông còn nhớ bản làng Sáng đèn còn nhớ ánh trăng cuối rừng
( Tố Hữu )
Trăng là đề tài muôn thuở của thi ca Với ánh sáng hiền diệu , với chu kì tròn khuyết lạ lùng , trăng đã gợi cho các thi nhân cổ kim nhiều ý tưởng sâu xa Nguyễn Duy là nhà thơ lớn lên từ đồng quê , trăng như một ám ảnh Rồi xê dịch với thời gian , và không gian , trăng vẫn theo đuổi nhà thơ và thế là thành thơ , thành triết lí ( dẫn bài thơ )
Trang 24Bài thơ “ Anh trăng ” được viết theo thể thơ năm chữ , nhịp điệu linh hoạt để thể hiện sự vận động của khônggiạn , của thời gian Nếu như trong bài thơ “ Tre Việt Nam ” Câu thơ lục bát có khi được tách ra thành 2 hoặc 3 dòng thơ để tạo nên hiệu quả nghệ thuật biểu đạt gây ấn tượng , thì bài thơ “ Anh trăng ” này lại có một nét mới Chữ đầu của dòng thơ , câu thơ không viết hoa Phải chăng nhà thiơ muốn cho cảm xúc được dào dạt trôi theo dòng chảy của thời gian kỉ niệm ?
Hai câu thơ đầu nhà thơ nói về vầng trăng của tuổi thơ và vầng trăng của thời chiến tranh
Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với bể Vầng trăng tuổi thơ trải rộng trên một không gian bao la Hai câu thơ 10 tiếng , gieo vầng lưng ( đồng –
sông ) , từ “ với ” được điệp lại 3 lần nhằm diễn tả một tuổi thơ đi nhiều , được hạnh phúc cảm nhận những vẻ đẹp
kì thú của thiên nhiên , từng được ngắm trăng trên đồng quê , ngắm trăng trên dòng sông và ngắm trăng trên bãi bể
Trang 25Ta thấy hồi ức được kể lại bằng hình ảnh Hình ảnh chuyển rất nhanh , cái hay là bằng hình ảnh không gian đã diễn
tả được sự vận động của thời gian
Hai câu thơ tiếp theo nói về thơì chiến tranh , vầng trăng của người lính , trăng đã thành tri kỉ
Hồi chiến tranh ở rừng Vầng trăng thành tri kỉ
Tri kỉ là biết người biết mình , bạn tri kỉ là người bạn rất thân , hiểu biết mình Trăng với người lính , với nhà thơ trong những năm ở rừng thời chiến tranh đã trở thành đôi bạn tri kỉ Người chiến sĩ nằm ngủ dưới trăng , giữa rừng khuya sương muối , người chiến sĩ đứng chờ giặc tới Con đường hành quân của người lính nhiều đêm đã trở thành con đường dát vàng Trăng đã chia sẻ ngọt bùi hân hoan trong niềm vui thắng trận với người lính tiền phương Đất nước đã trải qua những năm dài máu lửa , trăng với anh bộ đội đã vượt lên mọi tàn phá hủy diệt của bom đạn quân thù Thật thú vị khi đọc những vầng thơ của Nguyễn Duy vì nó đã mở ra trong lòng nhiều người một trường liên tưởng
Trang 26Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ ngỡ không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa
Vầng trăng là biểu tượng của những ăm tháng ấy , đã trở thành vầng trăng tri kỉ , vầng trăng tình nghĩa , ngỡ nhưkhông bao gì có thể quên Một ý thơ làm động đến tâm hồn như một thức tỉnh lương tâm đối với những kẻ vô tình
Trang 27Sự thay đổi của lòng người thật đáng sợ Hoàn cảnh sống thay đổi con người dễ thay đổi , có lúc trở nên vôtình , có kẻ dễ trở thành “ ăn ở bạc ” Từ ở rừng , sau chiến tranh trở về thành phố được sống sung sướng ở buynhđinh cao ốc , quen ánh điện cửa gương , vầng trăng tri kỉ – vằng trăng tình nghĩa đã bị người lãng quên dửng dưng Cách so sánh của tác giả làm chột dạ nhiều người
Từ hồi về thành phố quen ánh điện cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường
Trăng được nhân hóa lặng lẽ đi qua đường , trăng như người dưng đi qua chẳng còn ai nhớ , chẳng còn ai hay Những câu thơ rất bình dị , giọng thơ thầm thì như trò chuyện , giải bày tâm sự cho nên chất trữ tình của thơ trở nênsâu lắng chân thành
Trang 28Cũng như dòng sông có thác ghềnh , quanh co uốn khúc Cuộc đời người cũng có những biến động li kì Ghi lạimột tình huống “ Cuộc sống thành thị ” của những con người mới ở rừng về thành phố , nhà thơ chỉ sử dụng 4 câuthơ 20 từ Các từ “ Thình lình ”, “ vội ”, “ Đột ngột ” gợi tả tình thái đầy biểu cảm
Thình lình đèn điện tắt phòng buyn đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn
Trăng xưa đã đến với người , vẫn tròn , vẫn đẹp , vẫn thủy chung với mọi người , mọi nhà , với thiên nhiên , vớingười lính Người ngắm trăng rồi suy ngẫm bâng khuâng
ngửa mặt lên nhìn mặt
Trang 29có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng.
Hai chữ “ mặt ” trong đoạn thơ Mặt trăng mặt người cùng “ Đối diện đồng tâm” Trăng chẳng nói , trăng chẳngtrách , thế mà người lính cảm thấy “ có cái gì rưng rưng ” “ Rưng rưng ” nghĩa là vì xúc động , nước mắt đang ứa
ra , sắp khóc Giọt nước mắt làm cho lòng người thanh thản lại , cái tốt lành hé lộ , bao kỉ niệm đẹp một đời người
ùa về , tâm hồn gắn bó , chan hòa với thiên nhiên , với vần trăng xưa , với đồng với bể , với sông , với rừng , với quê
hương đất nước Cấu trúc câu thơ song hành , với biện pháp tu từ so sánh , với điệp ngữ là cho thấy ngòi bút của
Nguyễn Duy thật tài hoa Ta thấy đoạn thơ hay ở chất thơ bộc bạch chân thành , ở tính biểu cảm , ở hình tượng vàcảm xúc Từ ngôn ngữ hình ảnh đi vào lòng người , khắc sâu điều nhà thơ muốn tâm sự với chúng ta một cách nhẹnhàng , thấm thía
Khổ thơ cuối mang tính hàm nghĩa độc đáo , đưa tới chiều sâu tư tưởng triết lí
Trang 30Anh trăng là bài thơ hay của Nguyễn Duy Qua bài thơ tác giả tâm sự với người đọc những sâu kín nhất nơilòng mình Chất triết lí thâm trầm được diễn tả qua hình tượng “ ánh trăng ” đã tạo nên giá trị tư tưởng và nghệ
Trang 31Nhiều người đọc bài thơ có ấn tượng sâu sắc về lời thơ đẹp , cảm xúc dạt dào , giọng thơ thiết tha bồi hồi , hình tượng độc đáo , sáng tạo dặc sắc Bài thơ có 41 câu thơ , phần lớn là thơ 8 chữ ( 31 câu ) , còn có 7 câu thơ thất ngôn và 3 câu thơ 9 tiếng Tất cả đều kết hợp một cách hài hòa , phong phú vần điệu , đọc lên ngâm lên nghe rất thích , rất thú vị
Trang 32Bài thơ nhăc lại kí ức tuổi thơ một thời gian khổ – đói nghèo , chiến tranh , loạn lạc Qua hình tượng bếp lửa ,
ngọn lửa , đứa cháu ca ngợi đức hi sinh , sự tần tảo và tình thương bao la của bà , đồng thời nói lên lòng biết ơn bà
thương nhớ bà khôn nguôi
Ba câu thơ đầu nói về bếp lửa và lòng cháu thương bà Bếp lửa được nhóm lên trong sương sớm , ngọn lửa “ chồn vờn ” rung rinh , hắt ánh sáng lên tường nhà , liếp cửa Bêp lửa ấm áp “ nồng đượm ” ấy còn mang tình thương
chở che , ôm ấp , ấp iu của lòng bà Bếp lửa của bà là bếp lửa của một cuộc đời đã trãi qua biết mấy nắng mưa ,
nghèo khổ và vất vả Nghĩ về bếp lửa , nhớ về bếp lửa gia đình , mà đứa cháu thương bà khôn xiết kể
Hai câu đầu song hành làm hiện lên hình ảnh bếp lửa của bà Các chữ : “ ấp iu , nồng đượm” , “ chờn vờn” rất hình tượng , gợi tả ; chữ “ thương ” dùng thật đắt qua vần thơ cảm thán làm cho cảm xúc lan tỏa , thấm sâu vào hồn người :
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa âp iu nồng đượm
Trang 33Cháu thương bà biết mấy náng mưa
Năm câu thơ tiếp theo , tác giả nhắc đi nhắc lại : mùi khói , khói hun đã làm nhèm mắt cháu làm cho sống mũi còn
cay đến tận bây giờ kỉ niệm thời thơ bé khi lên bốn tuổi , kỉ niệm môt thời đen tối đói khổ Đó là năm đói mòn đói mỏi , năm ất dậu 1945 , khi người chết đói như ngả rạ Giọng thơ trỉu xuống nao nao lòng ta :
Lên bốn tuổi cháu đã quên mùi khói
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay
Trang 34Cái vị cay xòe của khói hun nơi bếp lửa những nhà nghèo sẽ mãi mãi bám lấy bao tâm hồn tuổi thơ ? Cho dù năm
tháng trôi qua nhưng kí ức ấy trở thành một vết thương lòng đâu dễ nguôi ngoi
Đoạn thơ thứ 3 gồm có 11 câu ,tác giả nhắc đi nhắc lại một vài kỉ niệm sâu sắc về bà trong suốt thời gian : Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa Thật là hồn nhiên trong sáng khi nhà thơ tâm tình với chim tu hú Chim tú hú kêu trong những ngày hè , khi trái vải đã chí n đỏ cành Tiếng chim tu hú là âm thanh đồng quê nghe thật tha thiết Tiếng chim tu hú trong bài thơ là một sáng tạo của Bằng Việt khi nói về bà :
Trang 35Tu hú ơi ! chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa
Tiếng chim tu hú gợi thương :
Mẹ cùng cha bận công tác chưa về Cháu ở cùng bà , bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm , bà chăm cháu học
Trong nhiều gia đình Việt Nam , do nhiều cảnh ngộ khác nhau , mà vai trò của người bà – bà nội , bà ngoại – đã
thay thế vai trò của người mẹ hiền Các từ ngữ : Bà bảo , bà dạy , bà chăm đã diễn tả một cách sâu sắc tấm lòng đôn
hậu , tình thương bao la , sự chăm chút của bà đối với cháu nhỏ Chữ bà và chữ cháu đước điệp lại 4lần gợi tả tình
bà cháu quấn quít yêu thương
Trang 36Được sống trong tình thương và hạnh phúc Em bé trong bài thơ bếp lửa tuy phải sống xa cha mẹ , tuy gặp nhiều thiếu thốn khó khăn , nhưng em thật hạnh phúc khi được sống trong vòng tay yêu thương của bà Vì thế cháu mới cảm thấy một cách thiết tha nồng hậu
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Đoạn thơ tiếp theo có 10 câu đã tô đậm thêm những phẩm chất cao quí của người bà yêu quí Bà là chỗ dựa tinh
thần vững chắc Sống trong những năm dài chiến tranh , khi giặc đốt làng cháy tàn cháy lụi , được sự đỡ đần của bà
con hàng xóm , hai bà cháu mới dựng lại được túp lều tranh , thế nhưng bà vẫn vững lòng trước mọi tai họa thử thách :
Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh
Bố ở chiến khu bố còn việc bố mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!
Trang 37Từ bếp lửa , đứa cháu nghĩ về ngọn lửa Một hình tượng rất tráng lệ Bếp lửa bà nhen sớm sớm chiều chiều đã sángbừng lên thành ngọn lửa bất diệt , ngọn lửa của tình thương luôn ủ sẵn , ngọn lửa của niềm tin vô cùng dai dẳng bền
bỉ và bất diệt cùng với hình tượng ngọn lửa, các từ ngữ chỉ thời gian rồi sớm rồi chiều , các động từ nhen , ủ sẵn ,
chứa đã khẳng định ý chí , bản lĩnh sống của bà , cũng là của người phụ nữ Việt Nam giữa thời loạn lạc :
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng
Điệp ngữ một ngọn lửa và kết cấu song hành đã làm cho câu thơ vang lên mạnh mẽ , đầy xúc động tự hào
Tám câu thơ tiếp theo là những suy ngẫm sâu sắc của nhà thơ , của đứa cháu về người bà kính yêu , về bếp lửa của mỗi gia đình Việt Nam chúng ta Cuộc đời của bà nhiều lận đận , trải qua nhiều nắng mưa vất vả Bà cần
Trang 38Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Bà đã nhóm bếp lửa trong suốt cuộc đời bà , đã trải qua mấy nắng mưa mấy chục năm rồi Bà không chỉ nhóm bếp lửa bằng đôi bàn tay già nua gầy guộc , mà là bằng tất cả tấm lòng nhân hậu ấp iu nồng đượm của bà đối với con
cháu Chữ nhóm được láy di láy lại bốn lần , đan kết với những chi tiết rất thực và gần gũi thân quen đối với mọi con
người , đối với mọi gia đình chúng ta Vị ngọt bùi của khoai sắn , hương vị ngào ngạt của nồi xôi gạo mới … đều do bàn tay tần tảo của bà nhóm lên Bà đã nhen nhóm , nuôi dưỡng trong lòng con cháu bao niềm yêu thương , bao ước
mơ hoài bảo Tâm hồn và khát vọng tuổi thơ đã sáng bừng lên từ ngọn lửa do bà nhóm suốt mấy chục năm trời :
Trang 39Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Anh sáng bếp lửa gia đình đã chiếu sáng bức chân dung người bà yêu kính Người bà vĩ đại trở nên gần gũi yêu thương Trong kí ức của đứa cháu, hình ảnh người bà phảng phất màu sắc cổ tích Nghĩ về bếp lửa , nghĩ về bà , nhà thơ thốt lên ngợi ca cảm xúc dồn nén bỗng ùa ra , trào lên cảm xúc thơ , chất trí tuệ của thơ qua câu cảm thán đem đến cho ta bao liên tưởng về ba, về mẹ , về mái ấm tình thương , về bếp lửa gia đình
Ôi kì lạ và thiêng liêng bếp lửa
Bốn câu thơ trong phần kết thể hiện một cách đằm thắm tình thương nhớ , lòng kính yêu và biết ơn của đứa cháu
bé bỏng giờ đã đi xa Cuộc đời mới thật vui ,thật đẹp , đã có ngọn khói trăm tàu , đã có ngọn lửa trăm nhà niềm vui
Trang 40trăm ngả , nhưng cháu vẫn khôn nguôi nhớ bà , nhớ bếp lửa gia đình thương yêu Giọng thơ trở nên đằm thắm ngọt ngào:
Giờ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà , niềm vui trăm nga Nhưng chẳng lúc nào quên nhắc nhở Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?
Không gian và thời gian xa cách , và dù cuộc đời có đôỉ thay , nhưng tình thương nhớ bà vẫn thiết tha mãnh liệt Cảm xúc thơ như những lớp sóng cuộn lên trong lòng người Đó là dư ba và âm vang tình bà cháu
Bếp lửa là bài thơ rất hay và độc đáo Trong ca dao , trong thơ ca dân tộc , có rất nhiều bài hay nói về người mẹ hiền Bếp lửa là bài thơ viết về người bà yêu kính , tần tảo có tình thương mênh mông Đó là sự đôc đáo Lời thơ đẹp , chất thơ trong trẻo , trẻ trung hình tượng thơ bếp lửa , khói hun , ngọn lửa , tiếng chim tu hú …đan kết , xâu chuỗi rất thơ, đầy ấn tượng