1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bình luận các quy định của Luật doanh nghiệp (2005) về công ty hợp danh

16 607 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bình luận các quy định của Luật doanh nghiệp (2005) về công ty hợp danh
Tác giả Bùi Thị Minh Trang
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Luật Doanh Nghiệp
Thể loại Bài tập học kỳ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 92,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế này đòi hỏi hướng ổn định những quy định của pháp luật về công ty hợp danh nói riêng cũng như về các loại hình doanh nghiệp nói chung, từ đó nâng cao nhận thức của xã hội về loại hình doanh nghiệp này

Trang 1

MỤC LỤC

Lời mở đầu……… 1

1 Khái niệm công ty hợp danh……… 2

2 Tư cách pháp nhân của công ty hợp danh……… 2

3 Thành viên của công ty hợp danh……… 4

3.1 Thành viên hợp danh……….4

3.2 Thành viên góp vốn……… 6

4 Quy chế quản lý công ty hợp danh………8

5 Quy chế về vốn góp của công ty hợp danh………9

6 Thành lập và giải thể công ty hợp danh……… 11

6.1 Thành lập cồng ty hợp danh………11

6.2 Giải thể công ty hợp danh………12

Kết luận……….14

Danh sách tài liệu tham khảo………15

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong giai đoạn đầu của quá trình hội nhập, công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, nền kinh tế nước ta còn non trẻ và có nhiều biến động bất ổn thì một mô hình kinh doanh được tạo ra do sự liên kết của những người thân quen và tin cậy lẫn nhau với quy mô nhỏ và vừa như công ty hợp danh tỏ ra là thích hợp

Tuy nhiên trên thực tế lại khác, kể từ khi mô hình công ty hợp danh ra đời cho đến nay, số lượng các công ty hợp danh được đăng kí kinh doanh là không đáng kể và tỷ lệ của nó so với các công ty khác là rất nhỏ Theo số liệu thống kê tại trang Web của Sở Kế hoạch Đầu tư Hà Nội, tính đến tháng 3/2007 thì có tổng

số 52.124 doanh nghiệp đăng kí kinh doanh được lưu trên máy tính, trong đó có 30.826 công ty trách nhiệm hữu hạn; 16.734 công ty cổ phần; 2.826 doanh nghiệp tư nhân; 1.014 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; 17 công ty hợp danh và 4 hợp tác xã

Lý do của việc có quá ít các công ty hợp danh được đăng kí kinh doanh trong thời gian qua là rất đa dạng Đó có thể là do xã hội nhìn nhận chưa đúng, chưa sâu sắc về bản chất công ty hợp danh; cũng có thể là do pháp luật chưa có những quy định khuyến khích các nhà đầu tư tham gia vào mô hình này

Thực tế này đòi hỏi hướng ổn định những quy định của pháp luật về công

ty hợp danh nói riêng cũng như về các loại hình doanh nghiệp nói chung, từ đó nâng cao nhận thức của xã hội về loại hình doanh nghiệp này Trong điều kiện nhận thức xã hội về mô hình công ty hợp danh được nâng cao thì việc lựa chọn

mô hình kinh doanh này cũng sẽ được chú ý hơn

Chính vì thế, trong bài tập học kì này, em đã quyết định lựa chọn đề bài:

“Bình luận các quy định của Luật doanh nghiệp (2005) về công ty hợp danh”

để có thể tìm hiểu thêm và hiểu rõ hơn về bản chất của loại hình công ty này

Trang 3

1 Khái niệm công ty hợp danh.

Công ty hợp danh là một loại hình doanh nghiệp có từ lâu trong lịch sử loài người Tuy nhiên loại hình này mới chỉ được ghi nhận trong pháp luật của Việt Nam chưa lâu Lần đầu tiên loại hình doanh nghiệp này được ghi nhận là ở Luật doanh nghiệp 1999 với chỉ vỏn vẹn năm điều Những quy định hiện hành về công

ty hợp danh tập trung trong Luật doanh nghiệp 2005, theo đó thì: “Công ty hợp

danh là doanh nghiệp, trong đó:

a) Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn;

b) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;

c) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty”.

Như vậy, khái niệm của công ty hợp danh ở Việt Nam được hiểu rất khác so với các nước trên thế giới Ở các nước khác, “công ty hợp danh” thường

được hiểu là hợp danh thông thường (hợp danh tuyệt đối) – tức là cong ty mà chỉ

có một loại thành viên là thành viên hợp danh và các thành viên hợp danh này cùng chịu chung một chế độ trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ của công ty Ngoài ra còn có loại thứ hai là công ty hợp danh hữu hạn – công ty bao gồm cả những thành viên chịu trách nhiệm vô hạn – có quyền điều hành, quản lý công ty

và những thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn – không có quyền điều hành, quản

lý công ty Ở Việt Nam thì cả hai loại hình công ty này đều được gộp chung vào

dưới cái tên “công ty hợp danh”.

2 Tư cách pháp nhân của công ty hợp danh.

Theo khoản 2 Điều 130 Luật doanh nghiệp 2005 thì: “Công ty hợp danh có

tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh”.

Trang 4

Trên thực tế sự tồn tại của tư cách pháp nhân của công ty hợp danh và chế độ chịu trách nhiệm vô hạn không mang lại lợi ích lớn cho các thành viên hợp danh; thậm chí, ở một chừng mực nào đó, nó còn là sự cản trở Ở hầu hết

các nước, do việc xác định hợp danh là sự liên kết của hai hay nhiều người cùng hùn vốn, tạo tài sản chung, chia sẻ quyền điều hành, cùng chịu lỗ hưởng lãi nên pháp luật đề cao sự thỏa thuận, không bắt buộc phải đăng ký kinh doanh Với điều kiện như vậy, pháp luật nhiều nước không đánh thuế thu nhập đối với công

ty hợp danh, từng thành viên chịu thuế với phần thu nhập cá nhân của riêng mình Lợi ích của những cá nhân tham gia vào hợp danh thông thường là những cá nhân này sẽ không phải chịu thuế hai lần (double taxation) Khác với loại hình hợp danh ở các nước khác, công ty hợp danh ở Việt Nam do có tư cách pháp nhân nên đương nhiên phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp Khoản lợi nhuận sau thuế chia cho thành viên hợp danh có thể sẽ bị đánh thuế một lần nữa Lợi ích của các thành viên rõ ràng là bị ảnh hưởng lớn, trong khi họ đồng thời phải chịu chế độ trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ của công ty

Mặt khác những quy định về tính độc lập về tài sản của công ty hợp danh – căn cứ chính để xác định công ty hợp danh có tư cách pháp nhân – thì lại chưa thật triệt để Tại khoản 1 Điều 132 Luật doanh nghiệp 2005 quy định về

việc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn của thành viên thành tài sản của công

ty để khẳng định tính độc lập về tài sản của công ty hợp danh với các thành viên tạo ra nó Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp lại đồng thời quy định chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của thành viên hợp danh đối với các nghĩa vụ của của công ty Chế

độ này được hiểu là thành viên hợp danh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình của mình về các nghĩa vụ của công ty Cụ thể hơn, đối với những khoản

nợ của công ty, thành viên hợp danh có nghĩa vụ chịu trách nhiệm thanh toán hết

số nợ còn lại của công ty nếu tài sản của công ty không đủ để trang trải số nợ của

công ty Như vậy, thành viên hợp danh sẽ phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài

Trang 5

sản của mình, không kể là tài sản đã chuyển quyền sở hữu cho công ty hay tài sản

của cá nhân không đưa vào tài sản công ty Nhưng khoản 3 Điều 94 Bộ luật Dân

sự 2005 lại quy định: “Thành viên pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay

cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện” Chúng

ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của thành viên hợp danh vô hình chung đã đi ngược lại tinh thần của các quy định của Bộ luật dân sự 2005 về pháp nhân

Như vậy tư cách pháp nhân của công ty hợp danh tuy là một điểm đặc thù của Luật Doanh nghiệp 2005 nhưng lợi ích của quy định này là không cao, thậm chí còn làm hạn chế sự phát triển của loại hình công ty này Trong

những lần sửa đổi Luật doanh nghiệp 2005 có thể có trong tương lai hoặc thậm chí là trong bộ luật thay thế cho Luật doanh nghiệp 2005, chúng ta rất cần sự thay đổi và nhìn nhận kĩ lưỡng hơn từ các nhà làm luật về vấn đề này

3 Thành viên của công ty hợp danh.

3.1 Thành viên hợp danh.

Theo quy định tại Điều 130 Luật doanh nghiệp 2005 thì công ty hợp danh phải có ít nhất 2 thành viên hợp danh – các thành viên hợp danh này phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty

Theo khoản 2 Điều 13 Luật doanh nghiệp 2005, các đối tượng sau đây không thể trở thành thành viên hợp danh của công ty hợp danh:

“2 Tổ chức, cá nhân sau đây không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:

a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho

cơ quan đơn vị mình

b) Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức

Trang 6

c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, dơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam

d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn

sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản

lý phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp khác

đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc

bị mất năng lực hành vi dân sự.

e) Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Tòa án cấm hành nghề kinh doanh

g) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản…”.

Ngoài ra trong một số trường hợp đặc biệt, thành viên hợp danh phải có trình độ chuyên môn, chứng chỉ hành nghề hoặc bằng cấp, nghiệp vụ nhất định Chẳng hạn như công ty hoạt động trong những ngành nghề nhưu dịch vụ pháp lý, khám chữa bệnh, buôn bán dược phẩm, dịch vụ thú y, thiết kế công trình, kiểm toán, môi giới chứng khoán…

Theo quy định tại Điều 134 Luật doanh nghiệp 2005 thì thành viên hợp danh có quyền như một chủ công ty thực sự Đi đôi với quyền ấy là một chế độ trách nhiệm vô hạn mà loại thành viên này phải chịu khi tiến hành các hoạt động nhân danh công ty Thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm về các hoạt động của công ty kể từ khi đăng kí vào danh sách thành viên của công ty, bất kể thành viên này có trực tiếp tham gia vào các hoạt động phát sinh trách nhiệm ấy hay không, trừ trường hợp thành viên đó và các thành viên còn lại có thỏa thuận khác (khoản 3 Điều 139 Luật doanh nghiệp 2005) Ngay cả khi đã chấm dứt tư cách thành viên thì thành viên hợp danh vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn

bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của công ty đã phát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên (khoản 5 Điều 138 Luật doanh nghiệp 2005)

Trang 7

Pháp luật đã có một số quy định hạn chế đối với quyền của các thành viên hợp danh bao gồm:

- Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc làm thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh khác trong công ty

- Thành viên hợp danh không được quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty

đó để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác

- Thành viên hợp danh không được quyền chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng pháp luật quy định rất chặt chẽ về các

quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp danh trong công ty hợp danh Điều này

xuất phát từ vai trò quan trọng của các thành viên hợp danh đối với sự tồn tại và phát triển của công ty hợp danh

3.2 Thành viên góp vốn.

Theo mục a khoản 1 Điều 130 Luật doanh nghiệp 2005 thì công ty hợp danh cũng có thể có các thành viên góp vốn Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Khác với thành viên hợp danh, thành viên góp vốn của công ty hợp danh có thể là

tổ chức, không nhất thiết phải là cá nhân Điều kiện để trở thành thành viên góp vốn của công ty hợp danh cũng đơn giản hơn nhiều so với điều kiện để trở thành thành viên hợp danh Tuy nhiên thành viên góp vốn không có quyền tham gia quản lý và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty Ngoài ra, pháp luật cũng không buộc các thành viên này phải có chứng chỉ hành nghề hoặc phải qua đào tạo về ngành nghề thuộc lĩnh vực hoạt động của công ty

Trang 8

Không giống các thành viên hợp danh, thành viên góp vốn của công ty hợp danh được quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác mà không phải chịu quy chế quản lý khắt khe

Các quy định này khá là hợp lý, xuất phát từ vai trò không thực sự quan trọng của thành viên góp vốn đối với công ty hợp danh Trong công ty hợp

danh, các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn Do đó, mọi kết quả hoạt động kinh doanh của công ty đều ảnh hưởng rất lớn đến các thành viên hợp danh Nếu người quản lý không cẩn thận, điều hành công ty bị thua lỗ, phá sản thì các thành viên hợp danh sẽ rất dễ bị khánh kiệt gia sản Vì vậy hơn ai hết, thành viên hợp danh chính là những người phải có quyền quản lý

và điều hành công ty Ngược lại, các thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn Nếu dành quyền quản lý công ty cho các đối tượng này thì có thể sẽ gây ảnh hưởng đến các thành viên hợp danh của công ty hay cả đối với đối tác của công ty vì họ sẽ không có được sự cẩn trọng như các thành viên hợp danh trong công việc

Tuy nhiên liên quan đến vấn đề quy định về thành viên góp vốn trong công ty hợp danh, Luật doanh nghiệp 2005 có một số quy định mâu thuẫn nhau Tại điểm c khoản 1 Điều 130 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: “Thành

viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào” Tuy nhiên khoản 3 Điều 131 Luật doanh nghiệp 2005 lại quy

định: “Trường hợp có thành viên góp vốn không góp đủ và đúng hạn số vốn đã

cam kết thì số vốn chưa góp đủ được coi là khoản nợ của thành viên đó đối với công ty…” Tiếp đó tại điểm a khoản 2 Điều 140 Luật doanh nghiệp 2005 cũng

tiếp tục xác định: “Thành viên góp vốn chịu trách nhiệm về các khoản nợ và

nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp” Vậy thành

viên góp vốn sẽ phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản của công ty theo

Trang 9

số vốn cam kết góp hay số vốn đã góp vào??? Đây là một câu hỏi đặt ra cần có

sự giải thích kĩ lưỡng hơn từ phía các nhà làm luật

4 Quy chế quản lý công ty hợp danh.

Cơ quan quản lý cao nhất của công ty hợp danh là Hội đồng thành viên Nhưng so với Luật doanh nghiệp 1999, thì Luật doanh nghiệp 2005 đã có sự thay đổi trong quy định về Hội đồng này Theo Luật doanh nghiệp 2005 thì Hội đồng thành viên bao gồm tất cả các thành viên của công ty – cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn Tuy nhiên xét về bản chất, Hội đồng thành viên của công ty hợp danh không giống với Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn Các thành viên của Hội đồng thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn đều

có quyền tham gia thảo luận, biểu quyết về các vấn đề của công ty Ở công ty hợp danh, các thành viên hợp danh có quyền thảo luận và quyết định mọi vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên Đối với thành viên góp vốn, tuy được tham gia vào cơ quan quản lý cao nhất của công ty nhưng lại chỉ được tham gia thảo luận và biểu quyết những vấn đề về sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty; sửa đổi, bổ sung quyền, nghĩa vụ của các thành viên góp vốn; về tổ chức lại, giải thể công ty và các vấn đề khác của Điều lệ có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của họ

Trong công ty hợp danh, Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm Chủ tịch Hội đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc nều Điều lệ của công ty không có quy định khác Các chức danh này về bản chất cũng khác so với các công ty khác Nếu ở công ty trách nhiệm hữu hạn

và công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên hay Giám đốc, Tổng giám đốc

có một vị trí quan trọng trong công ty, thực hiện những công việc kinh doanh của công ty với tư cách của chính vị trí, chức vụ của mình thì trong công ty hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên hay Giám đốc, Tổng giám đốc không có quyền hành cao hơn các thành viên hợp danh khác Họ chỉ có nhiệm vụ phân công, phối

Trang 10

hợp, điều hòa công việc giữa các thành viên trong công ty; điều hành công ty theo sự phân công, phân nhiệm hoặc ủy quyền của Hội đồng thành viên Giám đốc công ty hợp danh không có quyền tự quyết định bất cứ một vấn đề gì nếu không thông qua Hội đồng thành viên của công ty Ngay cả việc đại diện cho công ty trong quan hệ với cơ quan nhà nước, trong các thủ tục tố tụng… thì cũng đơn giản chỉ vì họ cũng chính là một thành viên hợp danh của công ty mà thôi, không liên quan nhiều đến chức vụ của họ

Hội đồng thành viên có thể được triệu tập theo quyết định của Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc theo yêu cầu của thành viên hợp danh Trình tự, thể thức họp được quy định tại Điều 136 Luật doanh nghiệp 2005 Hội đồng thành viên có quyền quyết định tất cả công việc kinh doanh của công ty Nếu Điều lệ của công

ty không có quy định khác thì các vấn đề quan trọng phải được ít nhất 3/4 tổng số thành viên hợp danh chấp thuận Đối với các vấn đề khác ít quan trọng thì chỉ cần

ít nhất 2/3 tổng số thành viên hợp danh chấp thuận Mỗi thành viên hợp danh có một phiếu biểu quyết hoặc có số phiếu biểu quyết khác quy định tại Điều lệ công ty

Như vậy, việc quản lý, giám sát nội bộ cũng như cơ chế điều hành của công ty hợp danh về thực chất đều nằm trong tay các thành viên hợp danh.

Tuy rằng luật quy định cho phép thành viên góp vốn cũng được tham gia vào Hội đồng thành viên – cơ quan có quyền quyết định cao nhất của công ty hợp danh những thực chất việc quyết định các vấn đề của công ty vẫn thuộc về các thành viên hợp danh – thông qua những quy định về tỷ lệ tối thiều số thành viên hợp danh biểu quyết các vấn đề của công ty

5 Quy chế về vốn góp của công ty hợp danh.

Theo khoản 4 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 thì “…Tài sản góp vốn có

thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất,

Ngày đăng: 06/04/2013, 18:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w