Samuelson cho rằng, khác với nền kinh tế trao đổi, nền kinh tế tiền tệ, mà đặc trưng cơ bản của nó là sử dụng tiền tệ như là một công cụ quan trọng, quy định và chi phối toàn bộhành vi k
Trang 1CHƯƠNG 1: TIỀN TỆ VÀ CUNG CẦU TIỀN TỆ.
1.1- VAI TRÒ, BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG VÀ QUÁ TRÌNH TIẾN HÓA CỦA TIỀN
1.1.1- Vai trò, định nghĩa và chức năng của tiền
1.1.1.1- Vai trò của tiền
Tiền như là máu trong cơ thể, nhưng nhận thức về vai trò của tiền lại rất khác nhautrong mỗi thời kỳ khác nhau
Giai đoạn đầu, vào khoảng thế kỷ 16, tiêu biểu là trường phái trọng thương, cho tiền là
đại diện cho sự giàu có của mỗi quốc gia, mỗi gia đình và cho mỗi người Và để có tiền,con đường khả dĩ có thể thực hiện được là buôn bán để kiếm được nhiều tiền
Giai đoạn hai, người ta lại cho tiền như là một thứ hư tưởng, đại diện cho trường phái
này là Francois Quesney Ông ta cho rằng, sự giàu có phải tìm ở nông nghiệp – một quanđiểm đại diện cho trường phái trọng nông thời đó
Giai đoạn ba, từ đầu thế kỷ thứ 19 đến giờ, các nhà kinh tế bắt đầu xét lại quan điểm
của các nhà kinh tế trước đó (tức các tác giả cổ điển) và cho rằng, tiền đóng vai trò hếtsức quan trọng, bắt đầu từ S.M.Keynes, Samuelson và các nhà kinh tế khác Với Keynes,được phản ánh trong tác phẩm “Lý thuyết tổng quát về nhân dụng, tiền tệ và lãi suất-1936” cho rằng tiền có hai vai trò:
- Tiền là công cụ để Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế, quản lý các hoạt động
đó theo một chính sách nhất định
- Tiền có vai trò tổng hợp thông tin trên các thị trường
Samuelson cho rằng, khác với nền kinh tế trao đổi, nền kinh tế tiền tệ, mà đặc trưng cơ
bản của nó là sử dụng tiền tệ như là một công cụ quan trọng, quy định và chi phối toàn bộhành vi kinh tế, điều khiển tất cả các hoạt động kinh tế, thực hiện các mối quan hệ kinh tếtrên các thị trường
Còn Frederic S Mishkin cho rằng: Tiền được gắn với những thay đổi trong các biến số
kinh tế Những biến số này tác động đến tất cả chúng ta và chúng ta coi đó là quan trọngđối với sức khỏe của nền kinh tế
Trong điều kiện kinh tế thị trường, vai trò của tiền được thể hiện rõ nét với các nội dung:
*Tiền là phương tiện để mở rộng và phát triển sản xuất trao đổi hàng hóa.
Tiền là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa Nhưng khi tiền xuất hiện, nó lại trở thànhcông cụ thúc đẩy sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển lên mức độ cao hơn, bởi vì:
Thứ nhất, tiền đã làm cho giá trị của các hàng hóa được biểu hiện một cách đơn giản.
Nghĩa là giá trị của các hàng hóa đều được biểu hiện bằng tiền, do đó chúng có thể so sánhđược với nhau một cách dễ dàng Trên cơ sở này, những người sản xuất hàng hóa có thể sosánh được với nhau về mức độ và trình độ lao động của mình đã bỏ ra cho xã hội trongcùng một đơn vị thời gian
Trang 2Thứ hai, tiền đã làm cho giá trị của hàng hóa được thực hiện một cách thuận lợi Người
sở hữu hàng hóa, chỉ cần chuyển đổi hàng hóa của mình thành tiền rồi từ đó họ có thể đạttới giá trị sử dụng mới mọt cách dễ dàng theo “sở thích”
Thứ ba, tiền đã làm cho trao đổi hàng hóa không bị ràng buộc về không gian và thời gian.
Chính vì thế đã làm cho sự lựa chọn của những người tham gia vào quá trình trao đổi càngnên thận trọng và chính xác hơn
Thứ tư, tiền đã làm cho việc hạch toán hiệu quả sản xuất kinh doanh trở nên thuận tiện và
đầy đủ
*Tiền biểu hiện quan hệ xã hội
Đằng sau quan hệ tiền – hàng, đó là quan hệ giữa người với người Những người sản xuấthàng hóa, tiến hành sản xuất riêng lẻ, độc lập Nhưng họ lại có quan hệ mật thiết với nhauthông qua trao đổi Trong quan hệ này tiền là “sợi dây” liên hệ ràng buộc giữa những ngườisản xuất với nhau Sự liên hệ và ràng buộc giữa những người sản xuất hàng hóa thẻ hiệnbằng quan hệ tiền – hàng chỉ là hình thức Bên trong quan hệ này luôn luôn diễn ra sự phânhóa chia rẽ giữa những người “bạn hàng” Tiêu thụ hết hàng, là nguyện vọng của nhữngngười sản xuất Nhưng tùy theo điều kiện và trình độ của từng người, tùy theo thị trường vàthời điểm bán… có người bán hết hàng, nhưng có người lại không tiêu thụ được hàng Quátrình này đã phân hóa những người sản xuất thành kẻ giàu người nghèo Do đó dẫn đến địa
vị của họ rong xã hội khác nhau Chính vì vậy mà người ta coi việc chuyển hàng thànhtiền: nhanh, chậm, nhiều, ít; đắt, rẻ… gắn với “số phận” và sự “may rủi”của từng người.Cái đó đã dẫn đến hiện tượng sùng bái tiền trong xã hội
* Tiền là phương tiện phục vụ mục đích của người sử dụng chúng
Tùy thuộc vào tính chất của phương thức sản xuất xã hội , tùy thuộc vào địa vị của người
sở hữu tiền, mà tiền được sử dụng với những mục đích khác nhau
Trong nền kinh tế hàng hóa, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế thị trường, các cá nhân,các doanh nghiệp, các tổ chức, kể cả Nhà nước muốn đạt được mục đích của mình đều phải
sử dụng tiền ở mức độ tích hợp
Tiền là biểu hiện bên ngoài của tài chính và của nguồn lực Ở đâu còn chính quyền vàluật pháp, thì ở đó vẫn còn thé lực của tiền và đằng sau chúng là những người sở hữu tiền.Thế lực này chưa thể bi tước bỏ khi nền kinh tế thị trường ngày càng mở rộng Vì vậy thélực của tiền không chỉ thể hiện trong phạm vi quốc gia, mà còn mang tinh chất quốc tế
1.1.1.2 Định nghĩa tiền
Do từ tiền (money) được sử dụng một cách thường xuyên trong các cuộc nói chuyệnhàng ngày, nó có thể có nhiều nghĩa, nhưng đối với các nhà kinh tế, có có nghĩa riêng Đểlàm sáng tỏ, phải làm rõ việc dùng tiền của các nhà kinh tế và so với việc sử dụng theothông lệ
Giả sử một kẻ cướp lăm le một con dao đòi tiền, vậy chính xác là hắn ta muốn Muốn tiền mặt
gì?-Định nghĩa tiền (money) chỉ đơn thuần là đồng tiền (currency) thì quá hẹp đối với cácnhà kinh tế vì séc được chấp nhận như là tiền khi mua bán, do vậy các món tiền gửi ở tàikhoản séc cũng được coi như là tiền, nhưng như vậy cũng chưa đủ vì có các loại khácnhư séc du lịch hay tiền gửi tiết kiệm đôi khi được dùng để thanh toán cho hàng hóa và
Trang 3dịch vụ, và nó cũng giống như tiền, nếu nó có thể được chuyển hóa ra tiền mặt một cách
dễ dàng
Gây rắc rối hơn còn ở những khía cạnh khác
- Tiền thường được dùng một cách đồng nghĩa với của cải (weath) Khi ta nói ngườinào đó có nhiều tiền, có thể là họ muốn nói không chỉ có tiền mặt mà còn là số dư cótrong tài khoản, cổ phiếu, rái phiếu, nhà cửa, xe cộ, đất đai,…
Và bao giờ các nhà kinh tế cũng phân biệt giữa tiền và của cải
- Tiền khác với thu nhập (income) Thu nhập là lượng tiền kiếm được trong một dơn
vị thời gian
Tóm lại, tiền theo định nghĩa của chúng ta là, bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để lấy hàng hóa hay dịch vụ khác nhau hoặc để hoàn trả nợ.
1.1.1.3 Chức năng của tiền
Dù tiền như trước kia là vỏ sò, hoặc đó, hoặc vàng, hoặc giấy… trong nền kinh tế, cácnhà kinh tế cho tiền có 3 chức năng, đó là phương tiện trao đổi, đơn vị tính toán và tồntrữ giá trị
(Trong một sách giáo khoa trước đây người ta cho rằng tiền có 5 chức năng: chức năng thước đo giá trị, chức năng làm phương tiện lưu thông, chức năng làm phương tiện thanh toán, chức năng cất trữ và chức năng làm tiền tệ thế giới)
*Phương tiện trao đổi (means of exchange)
Hầu hết các giao dịch thị trường trong nền kinh tế, dù là tiền mặt hay séc, đều làphương tiện trao đổi, tức là nó dễ dàng đổi lấy hàng hóa hay dịch vụ Nó khắc phục sựbất tiện của sự đổi chác
Ví dụ: Một giáo sư kinh tế nếu muốn ăn thì phải tìm đến một người làm ruộng với điềukiện là người nông dân này không chỉ làm ra lúa gạo, thức ăn mà còn phai thích học kinh
tế Đây rõ ràng là khó khăn, thậm chí vị giáo sư này phai bỏ giảng để làm ruộng để có ăn.Chi phí thời gian để trao đổi hàng hóa và dịch vụ gọi là chi phí giao dịch Trong mộtnền kinh tế trao đổi, chi phí giao dịch là cao vì người ta phải thỏa mãn hi ý muốn trùngkhớp Khắc phục điều này chỉ có tiền, nghĩa là vị giáo sư có thể dạy học và khi có tiền,dùng tiền để mua đồ ăn và do đó, tiết kiệm được thời gian
Tiền cũng thúc đẩy hiệu quả khi cho phép người ta chuyên làm một việc Nó như là mộtthức dầu mỡ bôi trơn cho guồng máy kinh tế, nó khuyến khích chuyên môn hóa và phâncông lao động
Để một hàng hóa hoạt động như là tiền thì phải có một số tiêu chuẩn:
- Nó có thể tạo ra hàng loạt một cách dễ dàng, làm dễ dàng cho việc xác định giá trịcủa nó
- Nó phải được chấp nhận một cách rộng rãi
- Nó có thể chia nhỏ, qua đó dễ đổi chác
- Nó phải dễ chuyên chở
- Không bị hư hỏng một cách nhanh chóng
Trước đây người ta đã sáng tạo ra những công cụ từ thế giới hàng hóa để từ thế giớinày, tách ra một hàng hóa nào đó để làm tiền, như vỏ sò(người thổ dân Châu Mỹ), thuốc
là và rượu Wisky (do thực dân buổi đầu tìm ra chây Mỹ) và cuối cùng là vàng và bạc
Trang 4* Đơn vị đánh giá hay tiêu chuẩn giá trị( Standard of Value)
Chức năng thứ hai của tiền là đơn vị đánh giá nghĩa là nó được dùng để do giá trị củanền kinh tế Chúng ta đo giá trị hàng hóa bằng tiền giống như chúng ta đo khối lượngbằng kg, độ dài bằng : Tiền cung cấp đơn vị chuẩn cho việc đo lường giá trị
- Tồn trữ giá trị: tiền hôm nay có thể được sử dụng vào ngày mai cho nên tiền có chứcnăng dự trữ giá trị
1.1.2 Các hình thái của tiền
Tiền tệ xuất hiện và đã phát triển qua các hình thái chủ yếu: hóa tệ, tín tệ, bút tệ và tiềnđiện tử
1.1.2.1 Hóa tệ
Một hàng hóa nào đó giữ vai trò của vật trung gian trong trao đổi được gọi là hóa tệ
Có thể chia hóa tệ thành hai loại: hóa tệ không kim loại và hóa tệ kim loại quý (kim tệ)
* Hóa tệ không kim loại:
Sản xuất và trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển Sự trao đổi không còn ngẫu nhiên,không còn trên cơ sở của sự định giá giản đơn Trao đổi đã vượt khỏi cái khung nhỏ hẹpmột vài hàng hóa, giới hạn trong một vài địa phương Sự trao đổi ngày càng nhiều hơn đógiữa các hàng hóa đòi hỏi phải có một hàng hóa có tính chất đồng nhất, tiện dụng trongvai trò của vật ngang giá, có thể tạo điều kiện thuận tiện cho trao đổi và bảo tồn giá trị.Hình thái đầu tiên của tiền tệ có vẻ lạ lung, nhưng nói chung là những vật trang sức haynhững thứ để ăn.Thổ dân ở các bờ biển châu Á, châu phi trước đây đã dung vỏ sò, vỏ ốclàm tiền Người dân quần đảo Polyneise thì dùng long chim Gạo thì được dùng ở quầnđảo Philippines Ở Trung Quốc thì dùng lưỡi câu, dao và từ thế kỷ III trước côngnguyên, cả vải lụa Gia súc cũng là một trong những loại “tiền” như cừu, dê, bò,…
Tiền tệ bằng hàng hóa có những bất tiện nhất định của nó trong quá trình phục vụ traođổi như không được mọi người, mọi nơi chấp nhận, dễ hư hỏng, không đồng nhất nênkhó phân chia thanh những đơn vị nhỏ để phục vụ trao đổi… những khó khăn đó đưa đếnviệc sử dụng hóa tệ bằng kim loại quí
* Hóa tệ bằng kim loại quí
Khi sản xuất trao đổi hàng hóa phát triển kèm theo sự mở rộng phân công lao động xãhội đồng thời với sự xuất hiện các giao dịch quốc tế thường xuyên và sự ra đời Nhà nướcthì người giao Kim loại ngày càng có những ưu điểm nổi bật trong vai trò của vật nganggiá bởi những thuộc tính bền, gọn, có giá trị phổ biến… và từ đó, những đồng tiền bằngkim loại đồng, chì, kẽm, thiếc, bạc, vàng xuất hiện thay thế cho hóa tệ không kim loại.Tiền bằng chì xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc dưới dạng một thỏi dài có lỗ ở một đầu để
có thể xâu thanh chuỗi Tiền bằng hợp kim vàng và bạc xuất hiện đầu tiên vào nhữngnăm 685-652 trước công nguyên ở vùng Lidia (Tiểu Á) có đóng dấu in hình nổi để đảmbảo giá trị Các đồng tiền bằng kim loại đã sớm xuất hiện ở vùng Địa Trung Hải, songcũng sớm bị mất giá vì thường bị cắt xẻo xung quanh, sau nhờ kỹ thuật đúc tiền có khuônkhổ nhất định có khía ở mép ngoài nên tránh được việc cắt xẻo Tiền kim loại đầu tiên ởAnh làm bằng thiếc, ở Thụy Sĩ và Nga làm bằng đồng, khi bạch kim mới được phát hiện.Trong thời kỳ 1828-1844, người Nga cho đó là kim loại không sử dụng được nên đemđúc tiền Nếu so với các loại tiền tệ trước đó, tiền bằng kim loại, bên cạnh những ưu điểmnhất định cũng đưa đến những bất tiện trong quá trình phát triển trao đổi cồng kềnh, khó
Trang 5cất giữ, khó chuyên chở… Cuối cùng các kim loại quý như vàng bạc, một loại tiền tệthực tự chúng có giá trị nội tại trở nên thong dụng trong một thời gian khá lâu cho đếncuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.
Khoảng thế kỷ thứ 16 ở châu Âu nhiều nước sử dụng vàng làm tiền, có nước vừa sửdụng vàng vừa sử dụng bạc Các nước châu Á sử dụng bạc là phổ biến Việc đúc quý kimthành tiền ngay từ đầu coi là vương quyền, đánh dấu kỷ nguyên ngự trị của lãnh chúa,vua chúa phong kiến
Lịch sử phát triển của tiền kim loại quí đã trải qua 3 biến cố chủ yếu, quyết định đếnviệc sử dụng phổ biến tiền làm bằng kim loại quý
- Sự gia tăng dân số
1.1.2.2 Tín tệ hay tiền danh nghĩa ( Fiat Currency or Token Currency)
Giá trị của tiền cao hơn nhiều so với giá trị vật làm tiền bao gồm tiền giấy và tiền kimloại
- Tiền bằng kim loại thuộc hình thái tín tệ khác với kim loại tiền tệ thuộc hình thái hóa
tệ Ở hình thái này giá trị nội tại của kim loại thường không phù hợp với giá trị danhnghĩa, tiền bằng kim loại hiện nay phần lớn được đúc để sử dụng làm tiền lẻ
- Tiền giấy bao gồm tiền giấy khả hoán và tiền giấy bất khả hoán
+ Tiền giấy khả hoán là thứ tiền được lưu hành thay cho tiền vàng hay tiền bạc kýthác ở ngân hàng Bất cứ lúc nào mọi người cũng có thể đem tiền giấy khả hoán đó đổilấy vàng hay bạc có giá trị tương đương với giá trị ghi trên tiền giấy khả hoán đó
Ở Trung Hoa từ đời Tống đã xuất hiện tiền giấy Vì những nhu cầu mua bán, các thương gia hình thành những thương hội có nhiều chi nhánh ở khắp các thị trấn, thị tứ lớn Các thương gia ký thác vàng hay bạc vào hội sở của thương hội rồi nhận lấy giấy
chứng nhận gọi là phi tiền, với phi tiền các thương gia có thể mua hàng ở các thị trấn
khác nhau có chi nhánh của thương hội, ngoài phi tiền triều đình nhà Tống còn phát hành tiền giấy gọi là giao sao (giao tử) được dân chúng chấp nhận.
Ở Việt Nam vào cuối đời trần, Hồ Quí Ly đã thí nghiệm cho phát hành tiền giấy Nhân dân ai cũng phải nộp tiền vào cho Nhà nước, cứ một quan tiền tiền đồng đổi được hai quan tiền giấy, việc sử dụng tiền giấy của Hồ Quí Ly thất bại vì nhà Hồ sớm bị lật
đổ, dân chưa quen sử dụng tiền giấy và cộng thêm sai lầm khi xác định quan hệ giữa tiền đồng và tiền giấy (cho tiền giấy có giá trị thấp hơn)
Nguồn gốc của tiền giấy chỉ có thể được hiểu rõ khi xem xét lịch sử tiền tệ các nước Châu Âu Từ đầu thế kỷ 17, ở Hà Lan, ngân hàng Ansterdam đã cấp cho những than chủ gửi vàng bạc vào ngân hàng những chứng nhận bao gồm nhiều tờ nhỏ Khi cần, có thể đem những tờ giấy nhỏ đổi lấy vàng hay bạc tại ngân hàng Trong thanh toán cho người khác, các giấy nhỏ này cũng được chấp nhận Sau đó một chủ ngân hàng người Thụy Điển tên Palmstruch đã mạnh dạn phát hành tiền giấy để cho vay Từ đó ngân hàngPalmstruch đã có khả năng cho vay nhiều hơn vốn tự có Với nhiều loại tiền giấy được phát hành, lưu thông tiền tệ bị rối loạn và nhiều nhà ngân hàng lạm dụng gây nhiều thiết hại cho dân chúng, trong trường hợp này vua chúa các nước phải can thiệp
và cho rằng, việc đúc tiền từ xưa là vương quyền và mặt khác việc phát hành tiền giấy là một nguồn lợi lớn Vương quyền các nước Châu Âu chỉ thừa nhận một ngân hàng tư có quyền phát hành tiền giấy với những điều kiện nhất định:
Trang 6- Điều kiện khả hoán: tức có thể đổi lấy bất kỳ lúc nào tại ngân hàng phát hành.
- Điều kiện dự trữ vàng làm đảm bảo, điều kiện này ban dầu quy định là 100% sau còn khoản 40%.
- Điều kiện phải nộp thuế
1.1.2.3 Bút tệ
Tiền do hoạt động ngân hàng tạo ra Bút tệ lưu động là séc (cheque) nó là một hìnhthái tiền tệ được sử dụng bằng cách ghi chép trong sổ sách của ngân hàng
1.1.2.4.Tiền điện tử hay tiền nhựa
Hiện nay nhờ công nghệ thông tin phát triển và dịch vụ ngân hàng ngày càng hiện đại
do đó xuất hiện các loại thẻ Credit Card, Master Card được sử dụng như tiền
1.1.3 Chế độ tiền
Là hình thức tổ chức lưu thông tiền tệ của một nước được xác định bằng luật pháp,dựa trên một cơ sở nhất định gọi là bản vị tiền tệ
1.1.3.1 Chế độ bản vị bạc và chế độ bản vị vàng
- Bản vị bạc là dùng bạc để định nghĩa cho đơn vị tiền
- Bản vị vàng là dùng vàng để định nghĩa cho đơn vị tiền
Đặc điểm chung:
- Đơn vị tiền được định nghĩa theo vàng hay bạc
- Cho phép đổi tiền lấy vàng hay bạc và ngược lại
- Cho phép lưu thông tiền và vàng bạc ra nước ngoài
Ví dụ: Năm 1775 1USD =25,92 gram bạc ròng
1.1.3.2 Chế độ song bản vị (Bimetalic standard): Dùng cả vàng và bạc làm bản vị cho
tiền và lưu hành song song với nhau
Ví dụ: * Vào năm 1914, Pháp định nghĩa đồng franc vừa theo vàng vừa theo bạc như sau:
Chế độ song bản vị có những đặc điểm chính như sau:
- Dân chúng được mang vàng và bạc đến sở để đúc ra tiền
- Có mối quan hệ pháp định giữa vàng và bạc
- Vàng và bạc là tiền pháp định
1.1.3.3 Chế độ bản vị ngoại tệ
Trang 7Là chế độ tiền tệ trong đó đơn vị tiền tệ của một quốc gia nào đó được định nghĩa theomột ngoại tệ nhất định, thường là ngoại tệ mạnh Ngoại tệ mạnh được dung làm bản vị cóthể không được chuyển đổi ra vàng Nhưng các nước theo chế độ bản vị ngoại tệ thườngtích lũy ngoại tệ được chọn làm bản vị và ký gửi ở ngân hang Trung ương quốc gia cóngoại tệ được làm bản vị nhằm đảm bảo giá trị cho đồng tiền của mình Lịch sử tiền tệcho thấy những ngoại tệ mạnh như bảng Anh(GBP), dollar Mỹ(USD), franc Pháp(FrF)
đã từng được chọn làm bản vị cho nhiều đồng tiền của nhiều nước trên thế giới
1.1.4 Chế độ lưu thông tiền giấy
1.1.4.1 Giá trị của tiền giấy và quy luật lưu thông tiền giấy ( được đổi ra vàng)
- Giá danh nghĩa là mệnh giá ghi trên tờ giấy
- Giá trị thực – biểu hiện mối tương quan giữa giá trị danh nghĩa của tổng số tiền giấy
và giá trị của số lượng tiền vàng cần thiết cho lưu thông mà nó đại diện – tức là sức muacủa tiền giấy
Ví dụ: Giả sử ta có: + số lượng tiền cần thiết cho lưu thông là 11.000 tỷ
+ Số lương tiền phát hành là 11.000 triệu tờThì giá trị của một tờ tiền giấy là 11.000 tỷ/11.000 triệu = 1.000đồng
Giá trị thực của một tờ tiền giấy là 1.000đ (phù hợp với giá trị dang nghĩa)
1.1.4.2.Chế độ lưu thông tiền giấy khả hoán (đổi được ra vàng) (Convertible Paper Money)
a Chế độ bản vị bảng Anh
Chiến tranh Thế giới Thứ Hai ( 1914-1918) làm cho các nước tư bản suy yếu tuynhiên sau một thời gian ngắn các nền kinh tế này đã phục hồi Trước tình hình đó một sốnước lớn đã cố gắng phục hồi chế độ bản vị vàng
- Các nước có dự trữ vàng lớn lấy vàng làm bản vị
- Các nước không có lượng vàng dự trữ lớn lấy Bảng Anh làm bản vị Việc này đã làmcho nước Anh có một vị trí rất quan trọng trên thế giới
b Chế độ bản vị USD hay gọi là hệ thống tiền tệ Bretton Woods
Trước khi chế độ này thành lập, trên thế giới chia thành ba khu vực bản vị USD,FrF,GBP Cuộc Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Hai kết thúc, kinh tế Mỹ phát triển vànền kinh tế Anh suy thoái do đó đã ra đời Hiệp ước Bretton Woods Theo hiệp ướcnày USD sẽ lấy vàng làm bản vị, các nước khác lấy USD làm bản vị Sau đó Mỹ salầy ở Việt Nam nên phá giá đồng tiền của mình liên tục và đến ngày 12/02/1973 chế
độ bản vị USD chính thức khai tử
Hình 1: Bản vị USD
USD Vàng
FrF
GBP
Tiền khác
Trang 8 Quyền rút vốn đặc biệt (Special Drawing Right)(SDR) Đây là đơn vị tiền ghi sổ doIMF phát hành cho các nước hội viên gồm hỗn hợp các loại tiền USD, DEM, GBP,FRF, JPY) và tài sản dự trữ quốc tế (ngoại trừ vàng) được ghi tên trong các thành viêntùy theo ngạch được cấp Theo hiệp ước Bretton Woods các nước đóng một lượngtiền vào quỹ của IMF:
- 75% bằng tiền của nước mình
- 25% bằng tiền mạnh
Khi các nước này gặp khó khăn trong cán cân thanh toán quốc tế, có thể rút 125% số tiền của mình đóng góp
c Đồng tiền chung Châu Âu.
Thực tế đây là chế độ tỷ giá hối đoái cố định trong đó các thành viên sử dụng một loại tiền đó là đồng Euro (Liên minh châu Âu với 15 nước thành viên: Anh, Ailen, Áo, Bỉ,
Bồ Đào Nha, Đan mạch, Đức, Hà Lan, Hy Lạp, Italia, Lucxambua, Pháp, Phần Lan, Tây Ban Nha, và Thụy Điển)
1.1.4.3 Chế độ tiền giấy không đổi ra vàng
Sự sụp đổ của hiệp ước Bretton Woods đã làm cho chế độ bản vị vàng cáo chung và xuất hiện chế độ lưu thông tiền giấy không đổi ra vàng
- Tiền giấy phải là tiền pháp định
- Tuy vàng không được thừa nhận là tiền song nó được sử dụng mặc định là một loại tiền
- Các nước vẫn coi trọng việc giữ vàng và ngoại tệ
- Cần có một chính sách tiền tệ tốt để không xảy ra lạm phát quá cao
1.1.5 Đo lượng tiền
Xuất hiện 4 phương pháp: lí thuyết, kinh nghiệm, xác định tổng lượng tiền và phươngpháp đo lượng tiền như một tổng số theo tỷ trọng
1.1.5.1 Phương pháp lí thuyết
Phương pháp lí thuyết định nghĩa tiên bằng cách dùng lí thuyết kinh tế để xem những
gì trong số các tì sản phải được đưa vào phạm vi đo lượng tiền
Như chúng ta đã biết, đặc điểm cơ bản của tiền là nó được dùng làm phương tiện traođổi Theo quan điểm này chỉ có tiền mặt, tiền gửi tài khoản séc và séc du lịch
Thực tế có tài khoản séc không hoàn toàn có khả năng thanh khoản như tiền mặt và cáctài khoản séc khác Ví dụ, khách hàng của một hãng môi giới có thể viết séc ứng với sốchứng khoán mà công ty chứng khoán mua cho họ, có phải là phương tiện trao đổi haykhông, trong khi đó, tài khoản tiết kiệm gửi ở ngân hàng có thể chuyển nhanh chóngthành tiền mặt Từ thực tế đó, xuất hiện việc đo lượng tiền theo phương pháp khác
1.1.5.2 Phương pháp kinh nghiệm
Cái gì được coi là tiền phải được dựa trên cơ sở phép đo lượng tiền, nó tác động tốtnhất trong việc dự báo các diễn biến của những biến số mà tiền có tác dụng đo lường, ví
dụ tiền nào giúp dự báo tỷ lệ lạm phát hoặc chu kỳ sản xuất Rất tiếc điều này cũng không
rõ ràng: Một phép đo giúp dự báo tốt trong tời kỳ này co thể là không thích hợp cho thời
kỳ khác, hoặc phép đo tốt về dự báo lạm phát lại không tốt đối với chu kỳ sản xuất
1.1.5.2 Phương pháp xác định tổng lượng tiền
Trang 9Quỹ dự trữ liên bang Mỹ (Federal reserves fund) từ năm 1980 đã nhiều lần thay đổikhái niệm về tiền liên quan đến việc xem xét các thành phần của lượng tiền cung ứng, để
từ đó hướng dẫn chính sách tiền tệ bằng cách điều chỉnh nó theo cách xác định tổnglượng tiền (monetary aggregates)
Theo đó, M1 ứng với cách định nghĩa theo phương pháp lí thuyết, bao gồm tiền mặt,tiền gửi, tài khoản séc và séc du lịch Những loại này rõ ràng là tiền vì chúng có thể trựctiếp làm chức năng trao đổi Trước năm 1970, chỉ có các ngân hàng thương mại mới đượcphép cho mở các tài khoản séc và không tính lãi Nhưng với những thay đổi mới tài chínhxuất hiện thì các quỹ tiết kiệm cho vay, ngân hàng tiết kiệm hỗ tương và liên hiệp tíndụng cũng có thể mở các tài khoản séc Về phía ngân hàng có thể mở các tài khoan khácnhư Now-account thông thường hoặc Now-account cao cấp (Super now-account) và tàikhoản ATS (automatic transfer from saving account – tự động chuyển từ tài khoản tiếtkiệm), có trả lãi, từ đó được bổ sung vào khối lượng tiền M1
M2, ngoài M1 cộng thêm những tài sản khác có đặc điểm sử dụng séc tài khoản tiềngửi thuộc thị trường tiền tệ và chứng khoán thuộc quỹ hỗ tương thị trường tiền tệ và tàisản khác như tiền gửi có kỳ hạn loại nhỏ, tiền gửi tiết kiệm, hợp đồng mua lại và đô langoại biên qua đêm
Những loại này có tính thanh khoản cao vì có thể chuyển thành tiền một cách nhanhchóng với phí tổn thấp
M3, ngoài M2, cộng thêm những loại tài sản kém thanh khoản hơn như tiền gửi có kỳhạn loại lớn, hợp đồng mua lại dài hạn, đô la ngoại biên có kỳ hạn và quỹ hỗ tương thịtrường tiền tệ có tổ chức
L, ngoài M3, cộng thêm một vào loại chứng khoán kho bạc ngắn hạn, thương phiếu,trái phiếu tiết kiệm và hối phiếu được ngân hàng chấp nhận (banker’s accetance)
Khối lượng tiền tệ trong lưu thông được ung ứng từ các tác nhân sau:
1.2.1.1 Ngân hàng trung ương cung tiền
Ngân hàng trung ương (NHTW)giữ độc quyền phát hành vào lưu thông giáy bạc ngânhàng, ngân phiếu thanh toán và các phương tiện lưu thông – thanh toán khác, thông quacác nghiệp vụ sau:
a-Tái chiết khấu các thương phiếu, các chứng chỉ tiền gửi, các chứng từ có giá… củacác ngân hàng thương mại và của các tổ chức tín dụng
b- Tái cầm cố các phương tiện nêu trên
c- Ngân hàng trung ương ứng tiền cho ngân cách nhà nước
1.2.1.2 Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng cung tiền.
Những tác nhân này về nguyên tắc không được cung tiền vào lưu thông Nhưng trongthực tiễn chúng lại góp phần tích cực làm gia tăng khối lượng tiền hiện có Những nhiệp
Trang 10vụ làm tăng khối lượng tiền lưu thông của các ngân hàng thương mại (NHTM)và các tổchức tín dụng là:
a- Tổng nghiệp vụ “Có” lớn hơn nghiệp vụ “Nợ” Nghĩa là sử dụng vốn nhiều hơn sốvốn hiện có
Nguồn vốn của các ngân hàng thương mại là một lượng có hạn hưng trong thực tiễn,khi thực hiện nghiệp vụ chúng lại sử dụng số vốn lớn hơn nguồn thực có, như:
* Cho khách hàng vay quá nguồn vốn huy động được Các ngân hàng thương mại chokhách vay bằng hình thức chiết khấu, cầm cố các thương phiếu, các chứng từ có giá, hoặcbằng tín chấp Tổng hợp lại, tại một thời diểm nào đó, tổng giá trị các khoản cho vay này,
có thể vượt quá nguồn vốn hiện có của ngân hàng thương mại Nếu xảy ra hiện tượng nàyngĩa là các ngân hàng thương mại đã “góp phần” làm gia tăng khối lượng tiền trong lưuthông
* Cho khách hàng chi vượt quá số tiền gửi Mỗi khách hàng có thể mở một số tàikhoản tại ngân hàng thương mại để thực hiện giao dịch Nếu được ngân hàng thương mạitín nhiệm, thì một số nghiệp vụ thanh toán của khách hàng này, có thể dược xử lí “trái quitrình”, như:
- Xử lí chứng từ thanh toán đòi tiền khách hàng, bằng cách ghi “Có” trước, ghi “Nợ”sau Thực chất là ngân hàng thương mại đã ứng tiền cho khách hàng để trả cho ngườibán Đây cũng là một loại cho vay không đảm bảo của các ngân hàng thương mại
- Cho khách hàng phát hành séc quá số dư tiền gửi trên tài khoản của họ
Những nghiệp vụ trên được coi là nghiệp vụ tạo tiền của các ngân hàng thương mại.Tùy theo qui chế quản lí tài chính của mỗi quốc gia và chính sách tiền tệ của ngân hàngtrung ương, nghiệp vụ trên có thể bị ngăn cấm hoặc giới hạn phạm vi Nhưng trên thực tếnghiệp vụ này vẫn được thực hiện và một số lượng tiền mới lại được tăng thêm trong lưuthông Các nghiệp vụ trên tuy được thực hiện bằng hình thức ghi sổ và tiền tồn tại dướidạng “bút tệ”, nhưng chúng vẫn phát huy chức năng thực sự của tiền Đồng thời sau đóchúng có thể chuyển hóa thành những phương tiện chuyển tải giá trị khác nhau
b- Các loại kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các phương tiện có giá trị thanh toán khác,được các ngân hàng thương mại phát hành theo qui chế quản lí tài chính
Những phương tiện này có thể thay tiền thực hiện chức năng phương tiện lưu thông
và phương tiện thanh toán Chúng đã góp phần làm tăng khối lượng tiền trong lưu thông
1.2.1.3 Các tác nhân và tổ chức phi ngân hàng cung tiền
Các tác nhân này rất đa dạng Mỗi tác nhân có thể phát hành vào lưu thông để nhữngphương tiện lưu thông và thanh toán đặc thù, được qui chế tài chính cho phép
* Chính phủ: Phát hành công trái, trái phiếu chính phủ, trái phiếu đô thị (cấp tỉnh hoặccấp bang) trái phiếu công trình, tín phiếu kho bạc…
* Các tác nhân mở tài khoản trong hệ thống ngân hàng thương mại, như: Các doanhnghiệp, các tổ chức không kinh doanh, các thể nhân…Các tác nhân này, tuìy theo mụctiêu hoạt động, quy chế tài chính có thể cho phép chúng phát hành: Cổ phiếu, trái khoán,séc các loại…
Các phương tiện nêu trên làm cho thành phần của tiền trong lưu thông thêm phongphú Tuy nhiên “tính lỏng” của chúng kém hơn các thành phần khác của tiền Vì vậynhững tác nhân và thể nhân sở hữu chúng luôn luôn tìm cách chuyển hóa chúng về M1, để
Trang 11từ đó lại chuyển hóa thành những phương tiện khác phù hợp Sự chuyển hóa này làthường xuyên Nhưng tại thời điểm chuyển hóa, nó chỉ làm thay đổi các thành phần củatiền, chứ không làm thay đổi tổng khối lượng tiền.
Nghiệp vụ cung ứng tiền cho lưu thông rất đa dạng Có nhiều tác nhân tham gia vàoquá trình này, trong đó ngân hàng trung ương đóng vai trò quan trọng nhất, vì:
- Ngân hàng trung ương (NHTW) quyết định khối lượng tiền đưa vào lưu thông vàkhối lượng giấy bạc ngân hàng trong lưu thông thông qua lãi suất tái chiest khấu
-NHTW quyết định qui mô đầu tư tín dụng của các NHTM bằng tỉ lệ dự trữ bắt buộc,ngĩa là ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng tiền đang lưu thông
- NHTW quyết định việc điều chuyển vốn trong hệ thống ngân hàng và do đó tácđộng đến điều hòa tiền trong nền kinh tế
Nhu cầu tiền của các tác nhân và thể nhân được chia thành các loại sau đây:
1.2.2.1 Nhu cầu tiền cho giao dịch
Hoạt động giao dịch của các tác nhân và thể nhân (gọi chung là tác nhân) diễn rathường xuyên Mọi giao dịch đều cần phải sử dụng tiền, như trả công lao động (trảlương), mua nguyên vật liệu, thanh toán nợ, mua vật phẩm tiêu dùng…Các khoản chi này
hợp thành Tổng cầu tiền cho giao dịch Tiền cần thiết cho giao dịch được các tác nhân
giữ lại nhiều hay ít chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:
- Giá trị giao dịch
Số lượng, số lần và giá trị giao dịch quyết định đến mức cầu tiền, tức là lượng tiền cầngiữ lại của các tác nhân Nếu giá cả hàng hóa trong kỳ tăng leenhay giảm xuống, thì nhucầu tiền cho giao dịch cũng thay đổi tương ứng
- Sự không đồng bộ về thời gian giữa thu và chi
Nếu thu nhập và chi tiêu của các tác nhân phát sinh đều đặn, thì nhu cầu tiền giữ lạicho giao dịch là ít nhất Nếu có cách quãng về thời gian giữa thu và chi, thì số tiền phảigiữ lại nhiều hơn để đảm bảo các khoản chi thường xuyên Sự “lệch pha” về thời gian thchi càng lớn thì nhu cầu tiền được giữ lại càng nhiều và ngược lại
- Lãi suất tiền gửi
Lãi suất tiền gửi tác động trực tiếp đến tổng cầu tiền Giữ lại tiền chờ cơ hội mua hoặcthanh toán là mất đi một khoản thu nhập tính theo lãi suất tiền gửi hoặc đầu tư và thờigian Lãi suất thay đổi sẽ tác động đến tư duy kinh tế của các tác nhân gửi tiền Những tácnhân này sẽ so sánh giữa lợi ích của việc giữ tiền và lợi tức mất đi Họ sẽ hành động theohướng lợi ích vượt trội Nhìn chung lợi giảm thì nhu cầu giữ tiền sẽ tăng và ngược lại
- Tập quán dân tộc và địa phương
Trang 12Tập quán dân tộc và địa phương được phản ánh khá đậm nét trong nhu cầu tiền.Những nơi kinh tế thuận lợi, kiếm tiền không khó khăn thì tiền được giữ lại ít Ngược lạinhững vùng có cuộc sống khó khăn, thì tiền đượ giữ lại nhiều hơn Những điều kiện ấy đãhình thành tập quán thanh toán của vùng, miền và dân tộc Tập quán này sẽ thay đổi theođời sống kinh tế, nhưng rất chậm chạp.
1.2.2.2 Nhu cầu tiền cho tích lũy
Ngoài các khoản chi thường xuyên cho giao dịch, các tác nhân còn phải tích lũy mộtkhoản tiền nhất định cho các nhu cầu dã dự định trước, như: mua sắm tài sản, đầu tư, ho
kỳ du lịch sắp đến…Giá trị của các khoản này chưa đến “độ sử dụng”, chúng ở trong quỹcác tác nhân dưới dạng tiền nhàn rỗi
Khi lãi suất tiền gửi thấp, thì số tiền dành cho nhu cầu tích lũy với các mục đích trên
sẽ cao Nhu cầu tích lũy phụ thuộc vào mức thu nhập và mục đích của các tác nhân Thờigian sử dụng tiền càng cấp bách thì đòi hỏi tác nhân tích lũy càng nhanh Giá trị khoảnchi càng lớn thì phải tích lũy càng nhiều
1.2.2.3 Nhu cầu tiền cho dự phòng
Dự phòng là nhu cầu bắt buộc của các tác nhân Nhu cầu này dược chi làm 3 loại:
* Dự phòng một số tiền để chờ cơ hội mua mà không dự báo trước được Khoản tiềnnày thường phát sinh khi các tác nhân chuẩn bị có những hoạt động ở xa trụ sở Khoản dựphòng này với một tác nhân tuy không lớn nhưng tổng hợp cả nền kinh tế, thì lại là một
số lượng không nhỏ
* Dự phòng chi thường xuyên, đây là những khoản chi thường xuyên cho nhu cầu cánhân, buộc mọi người phải dự phòng một khoản tiền tối thiểu Số lượng tiền dự phòngnày phụ thuộc vào mức thu nhập của các tác nhân
* Dự phòng chi cho rủi ro Rủi ro thường gặp với các tác nhân, như: hỏng phương tiệngiao thông, các cong cụ lao động gặp sự cô bất chợt cần sửa chữa, bệnh tật, tai nạn…Khôn có tác nhân nào để riêng tiền cho khoản chi này Nhưng thực tế khoản chi này lạihường xuyên phát sinh ở một số ít trong số đông các tác nhân Trong nền kinh tế thịtrường có nhiều yếu tố tác động đến các tác nhân, như: thu nhập, giá cả, lãi suất và cácyếu tố kinh tế - xã hội khác, nên dự phòng một khoản tiền cho nhu cầu này là cần thiết
1.2.2.1 Nhu cầu tiền để cất trữ
Sự phân hóa thu nhập giữa các thể nhân trong nền kinh tế thị trường là một quy luật.Một số ít các thể nhân, do các nguyên nhân khác nhau đã giàu lên nhanh Họ có một sốlượng “tiền thừa” Đây là số tiền nhà rỗi lâu dài, chưa có mục tiêu đầu tư Trường hợpnày các thể nhân thường đưa số “tiền thừa” đó vào cất trữ Tiền cất trữ thể hiện bằngvàng Nhu cầu cất trữ của các thể nhân trong nền kinh tế thị trường tuy không lớn nhưng
là hiện thực Cất trữ đã làm giảm khối lượng các phương tiện lưu thông
Tổng các nhu cầu tiền nêu trên thành tổng cầu tiền của nền kinh tế trong một thời kỳ.Thành phần của từng nhu cầu trong tổng cầu tiền có sự khác nhau giữa các nước Ở cácquốc gia kinh tế chậm phát triển, tiền được giữ lại ở các tác nhân, chủ yếu là giấy bạcngân hàng(tiền mặt) Hiện tượng này làm cho tốc độ lưu thông của tiền thấp, chi phí lưuthông tăng, vì phải phát hành thêm nhiều tiền Quan trọng hơn là lãng phí một nguồn vốn
Trang 13lớn và không kiểm soát được được nguồn thu nhập của các tác nhân, cũng như các thểnhân Vì vậy, nâng cao chất lượng phục vụ của hệ thống ngân hàng nhằm giảm thấp
“kinh tế tiền mặt” giảm tổng cầu tiền là một yêu cầu kinh tế quan trọng của các nướcđang xây dựng nền kinh tế thị trường
1.2.3- Cân đối cung cầu tiền tệ
Cung cầu tiền thường không khớp nhau Trong điều kiện lưu thông giấy bạc ngânhàng mất cân đối cung cầu tiền là hiện tượng phỏ biến Trong đó cung thường lớn hơncầu tiền
Mất cân đối cung cầu – cung lớn hơn cầu, ở mức độ cao, sẽ dẫn đến lạm phát, giá cảhàng hóa gia tăng và cuối cùng làm giảm thấp tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Mất cân đối cung cầu có thể xảy ra ở mộ dạng khác, là: cung nhỏ hơn cầu tiền Hiệntượng này cũng ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên đây là hiện tượng
ít xuất hiện trong lịch sử lưu thông giáy bạc ngân hàng
Mất cân đối cung cầu tiền dù là ở dạng nào cũng cần phải có những giải pháp để lậplại thế cân đối Đặc biệt là hiện tượng cung lớn hơn cầu ở mức độ cao (lạm phát) có ảnhhưởng xấu đến sự phát triển kinh tế - xã hội Những giải pháp thường được áp dụng là:
- Hạn chế số lượng tiền gia tăng trong lưu thông bằng cách:
+ Nâng tỉ lệ dự trữ các NHTM
+ Nâng lãi suất tái chiết khấu
- Nâng lãi suất tiền gửi, để thu hút tiền vào ngân hàng
- Các NHTM bán các công cụ lưu thông – tín dụng, để thu hút giấy bạc NH, như: kỳphiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu kho bạc, cổ phiếu trái khoán công ty…
- Gia tăng cung cấp hàng hóa – dịch vụ
Những giải pháp trên nếu được áp dụng đúng thời điểm, phù hợp và đồng bộ, sẽ cóhiệu quả thiết thực đến việc lập lại thế cân đối cung cầu tiền trên thị trường
1.3 GIẤY BẠC NGÂN HÀNG VIỆT NAM
Giấy bạc ngân hàng Việt Nam là tiền dấu hiệu, do Ngân hàng Nhà nước (NHNN)Việt Nam độc quyền phát hành vào lưu thông
Tiền của nước CHXHCNVN gọi là “đồng” Kí hiệu quốc gia là “đ”, kí hiệu quốc tế
là “VND” Tiền đơn vị của Việt Nam là đồng
“Tiền ước số” là “hào” và “xu”
1đ = 10 hào và 1 hào = 10 xu
Trang 14“Tiền bội số”, có nhiều mệnh giá:
Theo luật pháp của CHXHCN Việt Nam, giấy bạc Nhà nước Việt Nam, có quyền lựclưu thông trên toàn lãnh thổ Việt Nam và được thanh toán không hạn chế với mọi khoảntrao đổi hàng hóa dịch vụ Mọi hành vi giả mạo, phá hoại giấy bạc NHVN là vi phạm luậtpháp và sẽ bị xử lí theo luật pháp hiện hành
Trên thị trường Việt Nam, giấy bạc NHVN là phương tiện thanh toán và chi trả có
“tính lỏng” cao nhất Để cung ứng đầy đủ khối lượng giấy bạc ngân hàng cho lưu thông,NHNN Việt Nam căn cứ vào tổng mức chu chuyển hàng hóa – dịch vụ và các nhu cầukhác về tiền, tốc độ lưu thông tiền, tâm lí sử dụng tiền mặt trong dân cư… để lập kếhoạch cung ứng Đồng thời sử dụng công cụ lãi suất, dự trữ bắt buộc và các công cụ khác
để điều hòa khối lượng tiền trong lưu thông
Ở Việt Nam hiện nay, tiền mặt được sử dụng phổ biến trong hầu hết các giao dịch củadân cư và một số của doanh nghiệp Vì vậy đã làm cho tỷ trọng giấy bạc NH trong tổngcác phương tiện thanh toán là rất lớn Tình trạng này không những làm cho chi phí lưuthong tăng lên, mà còn làm cho giao dịch kinh tế trở nên không an toàn, khó kiểm soát
Để khắc phục dần dần tình trạng này, tiến tới NHNN Việt Nam có thể aps dụng nhữngbiện pháp:
* Quy định có tính cưỡng chế tồn quỹ tiền mặt đối với các doanh nghiệp và cơ quanthuộc phạm vi kiểm soát của NHTM
* Yêu cầu các đơn vị có kế hoạch sử dụng tiền mặt, NHTM cùng KBNN kiểm soátcác kế hoạch này
Trang 15* Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thanh toán không dùng tiềnmặt trong các giao dịch về hàng hóa – dịch vụ.
* Đưa vào lưu thông những phương tiện thanh toán hiện đại, phù hợp với điều kiệnkin tế và trình độ dân cư
CHƯƠNG 2: TÍN DỤNG VÀ LÃI SUẤT TÍN DỤNG
2.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUAN HỆ TÍN DỤNG
2.1.1- Định nghĩa về tín dụng
- Tín dụng theo tiếng Latinh gọi là creditium, tiếng Anh gọi là credit, có nghĩa là sự tin tưởng và tín nhiệm Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn
Tín dụng là sự vận động đơn phương của giá trị từ người cho vay sang người vay và
sẽ quay lại về với người cho vay (hoặc với người mà được người cho vay chỉ định) cảvốn và lãi trong một kỳ hạn xác định nào đó
a Người cho vay - Giá trị (H2 hay tiền tệ) - Người vay
b Người cho vay - Giá trị (H2 hay tiền tệ) -Người vay (đến hạn )
Khái niệm trên phản ánh các đặc điểm:
- Khoản cho vay sẽ quay về với người cho vay tín dụng hai cực
- Khoản cho vay sẽ được trả cho một người thụ hưởng nào đó mà được người cho vaychỉ định tín dụng 3 cực
- Giá trị cho vay có thể dưới hình thức hàng hóa hay tiền tệ
Một quan hệ được xem là quan hệ tín dụng khi nào chứa đựng đầy đủ 3 nội dung:
1 Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng
2 Sự chuyển nhượng này có thời hạn
3 Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí
Nếu thiếu một trong những nội dung trên thì không còn là quan hệ tín dụng Chẳnghạn trong 3 nội dung trên, nếu chúng ta bỏ bớt đi nội dung thứ 3 thì quan hệ không còn làquan hệ cho vay mà chỉ là quan hệ cho mượn vì không có chi phí nghĩa là không có lãi.Còn nếu thiếu luôn nội dung thứ 2 thì quan hệ không phải là quan hệ cho vay, cho mượn
cuộc sống Kế đến là có sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa Ví dụ:?
Khi có sự phân công lao động xã hội và xuất hiện sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là
cơ sở ra đời của tín dụng
* Sự phát triển của tín dụng
Trang 16Tín dụng ra đời từ xa xưa chủ yếu dưới hình thức cho vay nặng lãi và phát triển lâudài cho đến ngày nay trải qua nhiều hình thái tín dụng khác nhau Tín dụng nặng lãi rađời từ rất sớm, quan hệ tín dụng nặng lãi chủ yếu giữa bên cho vay là những ngườithương gia, các nhà kinh doanh tiền tệ và một số quan lại giàu có với bên đi vay chủ yếu
là những người nông dân và thợ thủ công nghèo khó Nhu cầu tín dụng xuất phát từnhững rủi ro bất khả kháng trong cuộc sống khiến cho người lao động phải đi vay nhằmgiải quyết khó khăn cuộc sống hoặc đảm bảo sản xuất Ngoài ra nhu cầu và tập quánsống xa hoa của một số quan lại cũng làm phát sinh nhu cầu vay tiền
Đặc điểm của tín dụng nặng lãi là lãi suất cho vay rất cao, có khi lên đến 40 – 50,thậm chí 100 -200% và mục đích vay vốn tường là để tiêu dùng và giải quyết khó khăncuộc sống hơn là phục vụ sản xuất kinh doanh Lý do là vì lãi suất quá cao nên chi phí trảlãi lớn hơn cả khả năng sinh lợi của nhà sản xuất kinh doanh Do vậy, các nhà sản xuấtkinh doanh nếu vay mượn không thể nào có lợi nhuận để tái sản xuất Nhưng đối vớingười tiêu dùng họ vẫn phải chấp nhận vay vì họ không có lựa chọn nào khác
2.1.3- Phân loại tín dụng
1 Phân theo thời hạn
- Ngắn hạn =< 1 năm
- Trung hạn 1- 5 năm
- Dài hạn trên 5 năm
2 Phân theo đối tượng tín dụng
Mua chịu hàng hóa là hình thức tín dụng vì:
- Người bán chuyển giao cho người mua quyền sử dụng vốn tạm thời trong một thời gian nhất định
- Đến thời hạn đã được thỏa thuận người mua hoàn lại vốn cho người bán
Giấy nợ trong quan hệ tín dung thương mại:
* Hối phiếu ( Bill of Exchange)
Trang 17Do người chủ nợ lập ra để lệnh cho người thiếu nợ trả một khoản tiền khi đáo hạn cho chủ nợ.
Về hình thức có các loại hối phiếu sau:
- Hối phiếu vô danh: không ghi người hưởng thụ, người hưởng thụ chính là người nắm giữ hối phiếu
- Hối phiếu ký danh: có ghi người hưởng thụ và người này được quyền chuyển quyền hưởng thụ cho người khác nhờ ký hậu (bối thư)
- Hối phiếu định danh: ghi người hưởng thụ nhưng không được chuyển nhượng
Các hạn chế của tín dụng thương mại:
- Hạn chế về quy mô tín dụng
- Hạn chế về thời gian vay
- Hạn chế về phương hướng tín dụng ( ràng buộc với một số loại hàng hóa)
b Tín dụng ngân hàng
Khái niệm
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các nhà doanh nghiệp và cá nhân
- Tín dụng ngân hàng vừa cho vay vùa đi vay
- Tín dụng được cung cấp dưới hình thức tiền tệ
- Tín phiếu kho bạc để vay vốn của ngân hàng TW hay công ty và cá nhân
* Tín dụng dài hạn: là khoản vay trên 5 năm được thực hiện bằng cách phát hành trái
phiếu
- Trái phiếu tạm thời (Bond) có quy định thời gian đáo hạn
- Trái phiếu vĩnh viễn (Consol) không có thời gian đáo hạn
3.2- CÁC CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG
Trang 183.3.4- Tín dụng tiêu dùng
3.4- Lãi suất tín dụng
3.4.1- Định nghĩa
3.4.2- Các loại lãi suất
3.4.3- Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất và nguyên tắc xác định lãi suất
3.4.4- Chính sách lãi suất và điều hành chính sách lãi suất
3.4.5- ý nghĩa của lãi suất tín dụng
CHƯƠNG 4: HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC TỔ CHỨC TÍN
DỤNG4.1- SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
4.1.1- Sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng trên thế giới
4.1.2- Sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng ở nước Cộng hoà XHCN VN
4.2- NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
4.2.1- Định nghĩa
4.2.2- Các loại hình ngân hàng thương mại
4.2.3- Các chức năng của ngân hàng thương mại
4.2.4- Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
4.2.5- Vai trò của ngân hàng thương mại
4.3- CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG PHI NGÂN HÀNG
4.3.1- Công ty tài chính
Trang 194.3.2- Quỹ tín dụng nhân dân
4.3.3- Công ty Bảo hiểm
4.3.4- Kho bạc Nhà nước
4.3.5- Ngân hàng chính sách
4.4- NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
4.4.1- Định nghĩa
4.4.2- Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng Trung ương
4.4.3- Vị trí và hệ thống tổ chức quản trị, điều hành của NHTW
4.5.2- Định nghĩa về thị trường tiền tệ
4.5.3- Cấu trúc của thị trường tiền tệ
4.5.4- Các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ
4.5.5- " Hàng hoá" và phương thức giao dịch trên thị trường tiền tệ
4.5.6- Vai trò của thị trường tiền tệ
CHƯƠNG 5: TIỀN TỆ - TÍN DỤNG VÀ THANH TOÁN QUỐC
TẾ5.1- tiền TỆ QUỐC TẾ VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
5.1.1- Các chế độ tiền tệ quốc tế
5.1.2- Tỷ giá hối đoái
5.2- THANH TOÁN QUỐC Tế
5.2.1- Khái niệm
5.2.2- Các phương tiện thanh toán quốc tế
5.2.3- Các hình thức thanh toán quốc tế
5.3- TÍN DụNG QUỐC TẾ
Trang 205.4.2- Nội dung của cán cân thanh toán quốc tế
5.4.3- ý nghĩa của cán cân thanh toán quốc tế
5.4.4- Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế
5.5- MỘT SỐ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH - TÍN DỤNG QUỐC TẾ
5.5.1- Sự hình thành các tổ chức Tài chính - Tín dụng quốc tế
5.5.2- Vai trò của các tổ chức Tài chính - Tín dụng quốc tế
5.5.3- Các tổ chức Tài chính - Tín dụng quốc tế chủ yếu
CHƯƠNG 1: TIỀN TỆ VÀ CUNG CẦU TIỀN TỆ.
1.1- Bản chất, các chức năng và vai trò của tiền tệ
1.1.1- Sự ra đời và bản chất của tiền tệ
1.1.2- Các chức năng của tiền tệ
1.1.3- Vai trò của tiền tệ
1.1 Vai trò, định nghĩa và chức năng của tiền
1.1.1 Vai trò
Tiền như là máu trong cơ thể, nhưng nhận thức về vai trò của tiền lại rất khác nhautrong mỗi thời kỳ khác nhau
Giai đoạn đầu, vào khoảng thế kỷ 16, tiêu biểu là trường phái trọng thương, cho tiền là
đại diện cho sự giàu có của mỗi quốc gia, mỗi gia đình và cho mỗi người Và để có tiền,con đường khả dĩ có thể thực hiện được là buôn bán để kiếm được nhiều tiền
Trang 21Giai đoạn hai, người ta lại cho tiền như là một thứ hư tưởng, đại diện cho trường phái
này là Fran ois Quesney Ông ta cho rằng, sự giàu có phải tìm ở nông nghiệp – mộtquan điểm đại diện cho trường phái trọng nông thời đó
Giai đoạn ba, từ đầu thế kỷ thứ 19 đến giờ, các nhà kinh tế bắt đầu xét lại quan điểm
của các nhà kinh tế trước đó (tức các tác giả cổ điển) và cho rằng, tiền đóng vai trò hếtsức quan trọng, bắt đầu từ S M keynes, Samuelson và các nhà kinh tế khác Với Keynes,được phản ánh trong tác phẩm “Lý thuyết tổng quát về nhân dụng, tiền tệ và lãi suất-1936” cho rằng tiền có hai vai trò:
- Tiền là công cụ để Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế, quản lý các hoạt động
1.1.3 Chức năng của tiền
- Chức năng làm phương tiện trao đổi (Means of Exchange): Tiền được dùng làmphương tiện trao đổi hàng hoá và dịch vụ
- Đơn vị đánh giá hay tiêu chuẩn giá trị( Standard of Value): Tiền cung cấp đơn vịchuẩn cho việc đo lường giá trị
- Tồn trữ giá trị: tiền hôm nay có thể được sử dụng vào ngày mai cho nên tiền có chứcnăng dự trữ giá trị
1.2 Các hình thái của tiền
Tiền tệ xuất hiện và đã phát triển qua các hình thái chủ yếu: hóa tệ, tín tệ, bút tệ và tiền điện tử
1.2.1 Hóa tệ
Một hàng hóa nào đó giữ vai trò của vật trung gian trong trao đổi được gọi là hóa tệ
Có thể chia hóa tệ thành hai loại: hóa tệ không kim loại và hóa tệ kim loại quý (kim tệ)
* Hóa tệ không kim loại:
Sản xuất và trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển Sự trao đổi không còn ngẫu nhiên,không còn trên cơ sở của sự định giá giản đơn Trao đổi đã vượt khỏi cái khung nhỏ hẹpmột vài hàng hóa, giới hạn trong một vài địa phương Sự trao đổi ngày càng nhiều hơn đógiữa các hàng hóa đòi hỏi phải có một hàng hóa có tính chất đồng nhất, tiện dụng trongvai trò của vật ngang giá, có thể tạo điều kiện thuận tiện cho trao đổi và bảo tồn giá trị.Hình thái đầu tiên của tiền tệ có vẻ lạ lung, nhưng nói chung là những vật trang sức haynhững thứ để ăn.Thổ dân ở các bờ biển châu Á, châu phi trước đây đã dung vỏ sò, vỏ ốclàm tiền Người dân quần đảo Polyneise thì dùng long chim Gạo thì được dùng ở quầnđảo Philippines Ở Trung Quốc thì dùng lưỡi câu, dao và từ thế kỷ III trước côngnguyên, cả vải lụa Gia súc cũng là một trong những loại “tiền” như cừu, dê, bò,…
Tiền tệ bằng hàng hóa có những bất tiện nhất định của nó trong quá trình phục vụ traođổi như không được mọi người, mọi nơi chấp nhận, dễ hư hỏng, không đồng nhất nênkhó phân chia thanh những đơn vị nhỏ để phục vụ trao đổi… những khó khăn đó đưa đếnviệc sử dụng hóa tệ bằng kim loại quí
* Hóa tệ bằng kim loại quí
Trang 22Khi sản xuất trao đổi hàng hóa phát triển kèm theo sự mở rộng phân công lao động xãhội đồng thời với sự xuất hiện các giao dịch quốc tế thường xuyên và sự ra đời Nhà nướcthì người giao Kim loại ngày càng có những ưu điểm nổi bật trong vai trò của vật nganggiá bởi những thuộc tính bền, gọn, có giá trị phổ biến… và từ đó, những đồng tiền bằngkim loại đồng, chì, kẽm, thiếc, bạc, vàng xuất hiện thay thế cho hóa tệ không kim loại.Tiền bằng chì xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc dưới dạng một thỏi dài có lỗ ở một đầu để
có thể xâu thanh chuỗi Tiền bằng hợp kim vàng và bạc xuất hiện đầu tiên vào nhữngnăm 685-652 trước công nguyên ở vùng Lidia (Tiểu Á) có đóng dấu in hình nổi để đảmbảo giá trị Các đồng tiền bằng kim loại đã sớm xuất hiện ở vùng Địa Trung Hải, songcũng sớm bị mất giá vì thường bị cắt xẻo xung quanh, sau nhờ kỹ thuật đúc tiền có khuônkhổ nhất định có khía ở mép ngoài nên tránh được việc cắt xẻo Tiền kim loại đầu tiên ởAnh làm bằng thiếc, ở Thụy Sĩ và Nga làm bằng đồng, khi bạch kim mới được phát hiện.Trong thời kỳ 1828-1844, người Nga cho đó là kim loại không sử dụng được nên đemđúc tiền Nếu so với các loại tiền tệ trước đó, tiền bằng kim loại, bên cạnh những ưu điểmnhất định cũng đưa đến những bất tiện trong quá trình phát triển trao đổi cồng kềnh, khócất giữ, khó chuyên chở… Cuối cùng các kim loại quý như vàng bạc, một loại tiền tệthực tự chúng có giá trị nội tại trở nên thong dụng trong một thời gian khá lâu cho đếncuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20
Khoảng thế kỷ thứ 16 ở châu Âu nhiều nước sử dụng vàng làm tiền, có nước vừa sửdụng vàng vừa sử dụng bạc Các nước châu Á sử dụng bạc là phổ biến Việc đúc quý kimthành tiền ngay từ đầu coi là vương quyền, đánh dấu kỷ nguyên ngự trị của lãnh chúa,vua chúa phong kiến
Lịch sử phát triển của tiền kim loại quí đã trải qua 3 biến cố chủ yếu, quyết định đếnviệc sử dụng phổ biến tiền làm bằng kim loại quý
- Sự gia tăng dân số
1.2.2 Tín tệ hay tiền danh nghĩa ( Fiat Currency or Token Currency)
Giá trị của tiền cao hơn nhiều so với giá trị vật làm tiền bao gồm tiền giấy và tiền kimloại
- Tiền bằng kim loại thuộc hình thái tín tệ khác với kim loại tiền tệ thuộc hình thái hóa
tệ Ở hình thái này giá trị nội tại của kim loại thường không phù hợp với giá trị danhnghĩa, tiền bằng kim loại hiện nay phần lớn được đúc để sử dụng làm tiền lẻ
- Tiền giấy bao gồm tiền giấy khả hoán và tiền giấy bất khả hoán
+ Tiền giấy khả hoán là thứ tiền được lưu hành thay cho tiền vàng hay tiền bạc kýthác ở ngân hàng Bất cứ lúc nào mọi người cũng có thể đem tiền giấy khả hoán đó đổilấy vàng hay bạc có giá trị tương đương với giá trị ghi trên tiền giấy khả hoán đó
Ở Trung Hoa từ đời Tống đã xuất hiện tiền giấy Vì những nhu cầu mua bán, các thương gia hình thành những thương hội có nhiều chi nhánh ở khắp các thị trấn, thị tứ lớn Các thương gia ký thác vàng hay bạc vào hội sở của thương hội rồi nhận lấy giấy
chứng nhận gọi là phi tiền, với phi tiền các thương gia có thể mua hàng ở các thị trấn
khác nhau có chi nhánh của thương hội, ngoài phi tiền triều đình nhà Tống còn phát hành tiền giấy gọi là giao sao (giao tử) được dân chúng chấp nhận.
Ở Việt Nam vào cuối đời trần, Hồ Quí Ly đã thí nghiệm cho phát hành tiền giấy Nhân dân ai cũng phải nộp tiền vào cho Nhà nước, cứ một quan tiền tiền đồng đổi được
Trang 23hai quan tiền giấy, việc sử dụng tiền giấy của Hồ Quí Ly thất bại vì nhà Hồ sớm bị lật
đổ, dân chưa quen sử dụng tiền giấy và cộng thêm sai lầm khi xác định quan hệ giữa tiền đồng và tiền giấy (cho tiền giấy có giá trị thấp hơn)
Nguồn gốc của tiền giấy chỉ có thể được hiểu rõ khi xem xét lịch sử tiền tệ các nước Châu Âu Từ đầu thế kỷ 17, ở Hà Lan, ngân hàng Ansterdam đã cấp cho những than chủ gửi vàng bạc vào ngân hàng những chứng nhận bao gồm nhiều tờ nhỏ Khi cần, có thể đem những tờ giấy nhỏ đổi lấy vàng hay bạc tại ngân hàng Trong thanh toán cho người khác, các giấy nhỏ này cũng được chấp nhận Sau đó một chủ ngân hàng người Thụy Điển tên Palmstruch đã mạnh dạn phát hành tiền giấy để cho vay Từ đó ngân hàngPalmstruch đã có khả năng cho vay nhiều hơn vốn tự có Với nhiều loại tiền giấy được phát hành, lưu thông tiền tệ bị rối loạn và nhiều nhà ngân hàng lạm dụng gây nhiều thiết hại cho dân chúng, trong trường hợp này vua chúa các nước phải can thiệp
và cho rằng, việc đúc tiền từ xưa là vương quyền và mặt khác việc phát hành tiền giấy là một nguồn lợi lớn Vương quyền các nước Châu Âu chỉ thừa nhận một ngân hàng tư có quyền phát hành tiền giấy với những điều kiện nhất định:
- Điều kiện khả hoán: tức có thể đổi lấy bất kỳ lúc nào tại ngân hàng phát hành.
- Điều kiện dự trữ vàng làm đảm bảo, điều kiện này ban dầu quy định là 100% sau còn khoản 40%.
- Điều kiện phải nộp thuế
1.2.3 Bút tệ
Tiền do hoạt động ngân hàng tạo ra Bút tệ lưu động là séc (cheque) nó là một hìnhthái tiền tệ được sử dụng bằng cách ghi chép trong sổ sách của ngân hàng
1.2.4.Tiền điện tử hay tiền nhựa
Hiện nay nhờ công nghệ thông tin phát triển và dịch vụ ngân hàng ngày càng hiện đại
do đó xuất hiện các loại thẻ Credit Card, Master Card được sử dụng như tiền
1.3 Chế độ tiền
Là hình thức tổ chức lưu thông tiền tệ của một nước được xác định bằng luật pháp,dựa trên một cơ sở nhất định gọi là bản vị tiền tệ
1.3.1 Chế độ bản vị bạc và chế độ bản vị vàng
- Bản vị bạc là dùng bạc để định nghĩa cho đơn vị tiền
- Bản vị vàng là dùng vàng để định nghĩa cho đơn vị tiền
Đặc điểm chung:
- Đơn vị tiền được định nghĩa theo vàng hay bạc
- Cho phép đổi tiền lấy vàng hay bạc và ngược lại
- Cho phép lưu thông tiền và vàng bạc ra nước ngoài
Ví dụ: Năm 1775 1USD =25,92 gram bạc ròng
1.3.2 Chế độ song bản vị (Bimetalic standard): Dùng cả vàng và bạc làm bản vị cho
tiền và lưu hành song song với nhau
Ví dụ: * Vào năm 1914, Pháp định nghĩa đồng franc vừa theo vàng vừa theo bạc như sau:
Trang 24Chế độ song bản vị có những đặc điểm chính như sau:
- Dân chúng được mang vàng và bạc đến sở để đúc ra tiền
- Có mối quan hệ pháp định giữa vàng và bạc
- Vàng và bạc là tiền pháp định
1.3.3 Chế độ bản vị ngoại tệ
Là chế độ tiền tệ trong đó đơn vị tiền tệ của một quốc gia nào đó được định nghĩa theomột ngoại tệ nhất định, thường là ngoại tệ mạnh Ngoại tệ mạnh được dung làm bản vị cóthể không được chuyển đổi ra vàng Nhưng các nước theo chế độ bản vị ngoại tệ thườngtích lũy ngoại tệ được chọn làm bản vị và ký gửi ở ngân hang Trung ương quốc gia cóngoại tệ được làm bản vị nhằm đảm bảo giá trị cho đồng tiền của mình Lịch sử tiền tệcho thấy những ngoại tệ mạnh như bảng Anh(GBP), dollar Mỹ(USD), franc Pháp(FrF)
đã từng được chọn làm bản vị cho nhiều đồng tiền của nhiều nước trên thế giới
1.4 Chế độ lưu thông tiền giấy
1.4.1 Giá trị của tiền giấy và quy luật lưu thông tiền giấy ( được đổi ra vàng)
- Giá danh nghĩa là mệnh giá ghi trên tờ giấy
- Giá trị thực – biểu hiện mối tương quan giữa giá trị danh nghĩa của tổng số tiền giấy
và giá trị của số lượng tiền vàng cần thiết cho lưu thông mà nó đại diện – tức là sức muacủa tiền giấy
Ví dụ: Giả sử ta có: + số lượng tiền cần thiết cho lưu thông là 11.000 tỷ
+ Số lương tiền phát hành là 11.000 triệu tờThì giá trị của một tờ tiền giấy là 11.000 tỷ/11.000 triệu = 1.000đồng
Giá trị thực của một tờ tiền giấy là 1.000đ (phù hợp với giá trị dang nghĩa)
1.4.2.Chế độ lưu thông tiền giấy khả hoán (đổi được ra vàng) (Convertible Paper Money)
a Chế độ bản vị bảng Anh
Chiến tranh Thế giới Thứ Hai ( 1914-1918) làm cho các nước tư bản suy yếu tuynhiên sau một thời gian ngắn các nền kinh tế này đã phục hồi Trước tình hình đó một sốnước lớn đã cố gắng phục hồi chế độ bản vị vàng
Trang 25 Trước khi chế độ này thành lập, trên thế giới chia thành ba khu vực bản vị USD,FrF,GBP Cuộc Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Hai kết thúc, kinh tế Mỹ phát triển vànền kinh tế Anh suy thoái do đó đã ra đời Hiệp ước Bretton Woods Theo hiệp ướcnày USD sẽ lấy vàng làm bản vị, các nước khác lấy USD làm bản vị Sau đó Mỹ salầy ở Việt Nam nên phá giá đồng tiền của mình liên tục và đến ngày 12/02/1973 chế
độ bản vị USD chính thức khai tử
Hình 1: Bản vị USD
Quyền rút vốn đặc biệt (Special Drawing Right)(SDR) Đây là đơn vị tiền ghi sổ doIMF phát hành cho các nước hội viên gồm hỗn hợp các loại tiền USD, DEM, GBP,FRF, JPY) và tài sản dự trữ quốc tế (ngoại trừ vàng) được ghi tên trong các thành viêntùy theo ngạch được cấp Theo hiệp ước Bretton Woods các nước đóng một lượngtiền vào quỹ của IMF:
- 75% bằng tiền của nước mình
- 25% bằng tiền mạnh
Khi các nước này gặp khó khăn trong cán cân thanh toán quốc tế, có thể rút 125% số tiền của mình đóng góp
c Đồng tiền chung Châu Âu.
Thực tế đây là chế độ tỷ giá hối đoái cố định trong đó các thành viên sử dụng một loại tiền đó là đồng Euro (Liên minh châu Âu với 15 nước thành viên: Anh, Ailen, Áo, Bỉ,
Bồ Đào Nha, Đan mạch, Đức, Hà Lan, Hy Lạp, Italia, Lucxambua, Pháp, Phần Lan, Tây Ban Nha, và Thụy Điển)
1.4.3 Chế độ tiền giấy không đổi ra vàng
Sự sụp đổ của hiệp ước Bretton Woods đã làm cho chế độ bản vị vàng cáo chung và xuất hiện chế độ lưu thông tiền giấy không đổi ra vàng
- Tiền giấy phải là tiền pháp định
- Tuy vàng không được thừa nhận là tiền song nó được sử dụng mặc định là một loại tiền
- Các nước vẫn coi trọng việc giữ vàng và ngoại tệ
- Cần có một chính sách tiền tệ tốt để không xẩy ra lạm phát quá cao
1.5 Đo lượng tiền
M0 =Tiền mặt
M1 = M0 + tiền gửi không kỳ hạn
USD Vàng
FrF
GBP
Tiền khác
Trang 263.4.2- Các loại lãi suất
3.4.3- Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất và nguyên tắc xác định lãi suất
3.4.4- Chính sách lãi suất và điều hành chính sách lãi suất
3.4.5- ý nghĩa của lãi suất tín dụng
ĐẠI CƯƠNG VỀ TÍN DỤNG
3.1 Khái niệm
3.3 Bản chất của tín dụng
1 Sự vận động của tín dụng
- Phân phối vốn tín dụng dưới hình thức cho vay
- Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất
- Sự hoàn trả của tín dụng
Sự hoàn trả của tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tín dụng, là dấu
ấn phân biệt giữa phạm trù tín dụng với các phạm trù khác
2 Hoạt động tín dụng trong phạm vi vĩ mô
a Cung và cầu của quỹ cho vay
* Cung của quỹ cho vay
Trang 27- Tiết kiệm cá nhân
- Tiết kiệm của các doanh nghiệp
- Thặng dư ngân sách nhà nước
- Mức tăng của khối lượng tiền cung ứng
* Cầu của quỹ cho vay
- Nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp
- Nhu cầu tín dụng của tiêu dùng cá nhân
- Thâm hụt ngân sách chính phủ
b Đặc điểm của quỹ cho vay
Mục đích của quỹ cho vay nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn tiền tệ tạm thời cho sản xuất và tiêu dùng
- Các quỹ cho vay chủ yếu tập trung qua các trung gian tài chính
- Quỹ cho vay vận động trên cơ sở hoàn trả và có lãi suất
3.4 Các hình thức tín dụng
1 Phân theo thời hạn
- Ngắn hạn =< 1 năm
- Trung hạn 1- 5 năm
- Dài hạn trên 5 năm
2 Phân theo đối tượng tín dụng
Mua chịu hàng hóa là hình thức tín dụng vì:
- Người bán chuyển giao cho người mua quyền sử dụng vốn tạm thời trong một thời gian nhất định
- Đến thời hạn đã được thỏa thuận người mua hoàn lại vốn cho người bán
Giấy nợ trong quan hệ tín dung thương mại:
* Hối phiếu ( Bill of Exchange)
Trang 28Do người chủ nợ lập ra để lệnh cho người thiếu nợ trả một khoản tiền khi đáo hạn cho chủ nợ.
Về hình thức có các loại hối phiếu sau:
- Hối phiếu vô danh: không ghi người hưởng thụ, người hưởng thụ chính là người nắm giữ hối phiếu
- Hối phiếu ký danh: có ghi người hưởng thụ và người này được quyền chuyển quyền hưởng thụ cho người khác nhờ ký hậu (bối thư)
- Hối phiếu định danh: ghi người hưởng thụ nhưng không được chuyển nhượng
Các hạn chế của tín dụng thương mại:
- Hạn chế về quy mô tín dụng
- Hạn chế về thời gian vay
- Hạn chế về phương hướng tín dụng ( ràng buộc với một số loại hàng hóa)
b Tín dụng ngân hàng
Khái niệm
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các nhà doanh nghiệp và cá nhân
- Tín dụng ngân hàng vừa cho vay vùa đi vay
- Tín dụng được cung cấp dưới hình thức tiền tệ
- Tín phiếu kho bạc để vay vốn của ngân hàng TW hay công ty và cá nhân
* Tín dụng dài han: là khoản vay trên 5 năm được thực hiện bằng cách phát hành trái
phiếu
- Trái phiếu tạm thời (Bond) có quy định thời gian đáo hạn
- Trái phiếu vĩnh viễn (Consol) không có thời gian đáo hạn
3.5 Chức năng và vai trò của tín dụng
1 Chức năng
- Phân phối lại tài nguyên
- Tạo cơ sở lưu thông dấu hiệu giá trị ( các bút tệ thay tiền)
2 Vai trò của tín dụng
- Đáp ứng nhu cầu về vốn
- Thúc đảy nền linh tế
- Công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và mũi nhọn
- Tăng cường chế độ tự hạch toán của các công ty
- Phát triển quan hệ kinh tế với nước ngoài
Trang 29CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
2.1 Thị trường tài chính, các yếu tố cấu thành chủ yếu của thị trường tài chính
Một nền kinh tế muốn phát triển, tăng trưởng nhanh và bền vững trước hết phải đápứng đủ nhu cầu về vốn đầu tư Đồng thời muốn có vốn đầu tư lớn và dài đòi hỏi phải giatăng tiết kiệm Ngược lại, tăng trưởng kinh tế cao sẽ tạo điều kiện để tăng tỉ lệ tiết kiệm
và từ đó tăng khả năng cung ứng vốn đầu tư Đây chính là mối quan hệ nhân quả và nềntảng để phát triển kinh tế-xã hội, mở rộng sản xuất kinh doanh, từ đó tăng thu nhập quốcdân và cải thiện đời sống của mọi tầng lớp nhân dân
Đầu tư là việc sử dụng một khoản tiền tích lũy nhất định vào một việc nhất định nhằm
mục đích thu lại một khoản tiền lớn hơn Mục tiêu của đầu tư là sử dụng đồng tiền nhằmsinh lợi Tính sinh lợi là đặc trưng cơ bản của đầu tư, nó không chỉ là tạo ra một mộtlượng tiền lớn hơn số vốn đã bỏ ra mà còn là đạt được các giá trị xã hội khác
Tích lũy
Tiết kiệm
Đầu tư
Sản lượngThu nhập
Trang 30Tiết kiệm là một phần thu nhập quốc dân chưa sử dụng cho nhu cầu hiện tại nó được
hình thanh từ các nguồn như thu nhập của dân cư, phần thu ngân sách của Chính phủchưa chi tiêu đến, lợi nhuận không chia cho cổ đông của công ty, và từ phần vốn chưa sửdụng đến của các tổ chức kinh tế - xã hội
Trong nền kinh tế, nhu cầu về vốn để đầu tư và các nguồn tiết kiệm có thể phát sinh từnhững chủ thể khác nhau Những người có cơ hội đầu tư sinh lời thì thiếu vốn, trái lạinhững người có vốn nhàn rỗi lại không có cơ hội để đầu tư Từ đó, trong nền kinh tế cũng
hình thanh nên một cơ chế chuyển vốn từ tiết kiệm sang đầu tư Khái niệm đầu tư có
thêm một nội dung mới là đầu tư tài chính Những người có vốn thừa thay vì đầu tư vàomáy móc thiết bị, nhà xưởng để sản xuất hang hóa hay cung cấp dịch vụ, sẽ đầu tư vàocác tài sản tài chính do những người cần vốn phát hành
Đầu tư tài chính có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các trung gian tài chính.+ Trực tiếp: chủ thể thừa vốn chuyển vốn thẳng cho chủ thể thiếu vốn (mua các tài sản tàichính phát hành)
+ Gián tiếp: chủ thể thừa vón không trực tiếp cung ứng vốn cho chủ thể thiếu vốn làngười sử dụng vốn cuối cùng mà là gián tiếp thong qua các trung gian tài chính như ngânhang, các tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và cho vay, các công ty bảo hiểm hay các địnhchế tài chính trung gian khác
Cơ chế đó, việc mua bán các tài sản tài chính, ban đầu diễn ra mang tính chất ngẫu nhiên,dựa trên các quan hệ cá nhân Dần dần, theo đà phát triển của nền kinh tế, nó được tổchức thanh thi trường, được gọi là thị trường tài chính Để hiểu thị trường tài chính, trướchết, chúng ta cần hiểu các công cụ tài chính (hay các tài sản tài chính) và các trung giantài chính
2.2 Tài sản tài chính
2.2.1 Khái niệm
- Tài sản là bất cứ một vật sở hữu nào có thể đem lại giá trị trong một giao dịch
Tài sản có thể phân loại thành hữu hình và vô hình
+ Tài sản hữu hình là loại tài sản mà giá trị của nó tùy thuộc vào tính chất đặc thù nhưnhà cửa, đất đai, máy móc, …
+ Tài sản vô hình là tài sản thể hiện quyền hợp pháp đối với một lợi ích nào đó trongtương lai Giá trị của nó không liên quan gì đến hình thức mà những quyền đó được ghilại Tài sản tài chính thuộc loại tài sản vô hình Lợi ích trong tương lai của những tài sảnnày là quyền được hưởng tiền trong tương lai
- Những chủ thể đồng ý thực hiện những khoản thanh toán trong tương lai gọi là người phát hành tài sản tài chính, người chủ của tài sản tài chính gọi là người chủ đầu tư.
- Một tài sản tài chính mang lại cho người nắm giữ nó một khối lượng tiền cố định, ấn
định trước gọi là một công cụ nợ ( debt Instrument) Trái phiếu kho bạc, trái phiếu công ty hay các khoản cho vay… là những công cụ nợ; chúng cần phải thanh toán
những khoản lợi tức cố định để có thể vay được tiền
- Một tài sản tài chính mà buộc người phát hành trả cho người nắm giữ nó một khoản
tiền căn cứ vào lợi nhuận thu được gọi là một công cụ vốn Thông dụng nhất là những
cổ phiếu thường
Trang 31Ngoài hai công cụ trên còn có các công cụ mang thuộc tính của cả công cụ nợ và công
cụ vốn như cổ phiếu ưu đãi hay trái phiếu chuyển đổi.
2.2.2 Vai trò
Các tài sản tài chính có hai chức năng kinh tế sau:
- Thứ nhất, chuyển vốn từ người có vốn nhàn rỗi đến những người cần vốn để đầu tưvào tài sản hữu hình
- Thứ hai, chuyển vốn theo một phương thức nào đo sao cho những rủi ra không tránhkhỏi, liên quan tới dòng tiền mà tài sản hữu hình tạo ra, được phân bổ lại giữa nhữngngười đang gọi vốn và những người cung cấp vốn
Ví dụ: Ta xét tình huống sau:
1 Ông A nhận được giấy phép sản xuất đồng hồ đeo tay Ông ước tính cần 1 triệuUSD để mua máy móc thiết bị để sản xuất đồng hồ, nhưng ông chỉ có 200.000USD là sốtiết kiệm cả đời của ông mà ông không muốn đem đầu tư mặc dù ông tin rằng sẽ có mộtthị trường mạnh cho đồng hồ
2 Bà B vừa được thừa kế 730.000$, Bà định chi tiếu 30.000$ cho việc mua sắm nữtrang và đồ nội thất, và đầu tư 700.000$
3 Ông C vừa lĩnh thưởng một số tiền, sau khi đóng thuế số còn lại là 270.000$ Ông
dự định sẽ dung 70.000$ để mua sắm xe hơi, số còn lại 200.000$ sẽ đầu tư
Giả sử 3 người này tình cờ gặp nhau và sau khi đã thỏa thuận Ông A đồng ý đầu100.000$ tiền tiết kiệm của mình vào DN, và bán 50% lợi ích của DN cho bà B với giá700.000$ Ông C đồng ý cho ông A vay 200.000$ trong 4 nam, với lãi suất 18% năm.Ông A sẽ chịu trách nhiệm vận hành DN mà không cần sự trợ giúp của ông C và bà B.Như vậy ông A đã co 1 triệu S để sx
Từ thỏa thuận trên đây đã xuất hiện 2 công cụ tài chính Thứ nhất, một công cụ vốn
do ông A phát hành và bà B mua với giá 700.000$; thứ hai, một công cụ nợ cũng do ông
A phát hành và ông C mua với giá 200.000$ => chuyển vốn từ ông C và bà B sang ông
A để sản xuất -> thể hiện chức năng thứ nhất của các tài sản tài chính
Khi ông A không muốn đầu tư hết toàn bộ tiền tiết kiệm cả đời của mình thì điều đó
có nghĩa là ông ta muốn san sẻ bớt một phần rủi ro Ông đã làm điều đó bằng cách báncho bà B một tài sản tài chính cho phép bà có quyền hưởng một nửa thu nhập sau khi đãtrả lãi của DN Ông còn nhận thêm một khoản tiền nữa từ ông C, là người không muốnchia sẻ rủi ra, bằng cách cam kết thanh toán cho ông C một dòng tiền cố định bất kể việckinh doanh mang lại kết quả như thế nào Phân bổ rủi ro là chức năng kinh tế thứ 2 củacác tài sản tài chính
=> khi cung và cầu vốn tăng lên theo đà phát triển của nền kinh tế, thì hình thức huyđộng và cung cấp vốn trực tiếp tỏ ra không đáp ứng được nữa mà phải cần có một thịtrường để các bên cung và cầu vốn gặp nhau, đó chính là thị trường tài chính
2.3 Các tổ chức tài chính trung gian (Intermediary Financial Institutions)
2.3.1 Các loại tổ chức tài chính trung gian:
a Các tổ chức nhận tiền gửi:
- Ngân hàng thương mại
- Hiệp hội tiết kiệm
- Liên hiệp tín dụng
Trang 32Các tổ chức này nhận tiền gửi sau đó cho vay hay đầu tư kiếm lợi nhuận.
b Các tổ chức không nhận tiền gửi:
- Công ty bảo hiểm bao gồm công ty bảo hiểm nhân thọ và công ty bảo hiểm tài sản, sự
cố ngẫu nhiên
- Quỹ hưu trí ( tính thanh khoản rất thấp)
- Quỹ đầu tư: là các tổ chức tài chính trung gian bán cổ phiếu ra công chúng, đầu tư số tiền đó vào một danh mục chứng khoán đã đa dạng hóa ( Diversified Portfollio of Investment)
2 Vai trò của các tổ chức tài chính trung gian:
a Chuyển đổi thời gian đáo hạn của các tài sản tài chính: các nhà đầu tư có thể lựa chọn thời gian thích hợp, nối kết các khoản tiền gửi ngắn hạn để cho vay dài hạn
b Giảm đến mức thấp nhất rủi ro bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư
c Giảm thiểu đến mức thấp nhất chi phí hợp đồng và chi phí thông tin
d Tạo lập các cơ chế cho việc thanh toán như séc, thẻ tín dụng
2.4 Thị trường tài chính
2.4.11 Khái niệm
Thị trường tài chính là nơi diễn ra các mua bán tài sản tài chính
2.4.2 Vai trò của thị trường tài chính
a Hình thành giá các tài sản tài chính:
- Cung và cầu về tài sản quyết định giá của của tài sản tài chính đó
b Cung cấp các chế cho các đầu tư bán hay mua các tài sản tài chính
- Thị trường tài chính làm tăng tính thanh khoản của các tài sản nói chung và tài sản tài chính nói riêng
c Giảm đến mức thấp nhất chi phí tìm kiếm và chi phí thông tin
2.4.3 Cân bằng thị trường tài chính
Các giao dịch trên thị trường chứng khoán được xem xét trên hai giác độ: Thị trường tiền tệ và thị trường vốn hay thị trường mua bán tài sản tài chính và thị trường chovay và vay vốn
- Trên giác độ cho vay và đi vay vốn, lãi suất trên thị trường được xác định bởi cung vàcầu các khoản vốn có thể cho vay
- Lãi suất càng cao thì cung về vốn càng lớn và cầu về vốn càng thấp
Giá cả của các tài sản tài chính thấp làm cho cho lợi tức trên một công cụ sẽ cao hơn, giá tại điểm cân bằng của thị trường là mức giá mà cung và cầu bằng nhau
Công cụ thi trường thứ cấp Công cụ thi trường thứ cấp
Công cụ thi trường sơ cấp
Công cụ thi trường sơ cấp
Thị trường tài chính
+ Thị trường tiền tệ + Thị trường vốn
Các tổ chức trung gian
tài chính + Ngân hàng + Bảo hiểm
+ Quỹ hưu trí
Tiền tiết kiệm Tiền tiết kiệm
Trang 33+ Hoạt động kinh doanh hưởng chênh lệch giá ( Arbitrager)
+ Hoạt động tín dung liên thị trường ( vay ở thị trường nay, cho vay ở thị trường kia)
Trang 342.4.4.Phân loại thị trường tài chính
Căn cứ vào thời hạn luân chuyển người ta chia thị trường tài chính thành:
+ Thị trường tiền tệ ( dưới 1 năm)
+ Thị trường vốn ( trên 1 năm)
Hình 3 Phân loại thị trường tài chính
a Thị trường tiền tệ:
Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn
Đặc điểm:
- Thời gian luân chuyển vốn ngắn
- Hình thức tài chính đặc trưng là tài chính gián tiếp
- Độ an toàn tương đối cao
Tín phiếu: ( T-bill) là công cụ ngắn hạn của chính phủ để vay tiền từ thi trường mở ( 3,6
hay 12 tháng)
Các khoản vay liên ngân hàng: theo quy định của ngân hàng trung ương, các tổ chức
nhân tiền gửi phải có một tỷ lệ dự trữ bắt buộc để đáp ứng nhu cầu rút tiền của những người gửi tiền Một số tổ chức có thể thừa hay thiếu nên thông qua thị NHTW cho các tổ chức khác vay hay vay từ các tổ chức tài chính khác
Giấy chấp nhận thanh toán của ngân hàng ( Banker’s acceptance): Giấy đảm bảo rằng
một ngân hàng sẽ thanh toán vô điều kiện một khoản tiền cho nhà xuất khẩu vào một ngày xác định
Thị trường tín dung thuê mua
Sở giao dịch chứng khoán
Thị trường OTC
Thị trường thế chấp
Thị trường hối đoái
Cho vay ngắn hạn
Thị trường liên ngân hàng
Trang 35Thương phiếu và chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng: ( Negotiable Certificate of Deposit - NCD).
- Thương phiếu: Do công ty hay công ty tài chính phát hành để tài trợ cho các khoản lưu
kho hay khoản nợ phải thu
- NCD- Là chứng chỉ do ngân hàng phát hành nêu rõ người gửi tiền đã gửi một khoản
tiền vào ngân hàng với lãi suất, thời hạn cụ thể
Thị trường ngoại hối là thị trường ngoại tệ
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Thị trường chứng khoán được chia thành thị trường tập trung và thị trường phi tập trung (OTC- Over The Counter)
1 Chức năng của thị trường chứng khoán
a Huy dộng vốn đầu tư cho nền kinh tế
b Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
c Cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán
d Đánh giá giá trị doanh nghiệp và đo hoạt động của nền kinh tế
e Giúp chính phủ thực thi chính sách vĩ mô
2 Các mục tiêu của thị trường chứng khoán
a Mục tiêu hiệu quả
- Không biến động quá mức
3 Cơ cấu của thị trường chứng khoán
a Thị trường sơ cấp
Trang 36- Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành
Vai trò - Vốn công ty được huy động
- Đưa tiền nhàn rỗi đến người cần vốn
Đặc điểm: -Là nơi duy nhất để phát hành chứng khoán
- Tiền từ dân chúng vào công ty phát hành
- Mệnh giá do tổ chức phát hành quyết định và được in trên chứng khoán
b Thị trường thứ cấp
Là thị trường trao đổi các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp
Đặc điểm:
Tiền sẽ đi từ nhà đầu tư - trung gian tài chính
CHƯƠNG 3 ĐẠI CƯƠNG VỀ TÍN DỤNG
3.1 Khái niệm
- Tín dụng theo tiếng Latinh gọi là creditium, tiếng Anh gọi là credit, có nghĩa là sự tin tưởng và tín nhiệm Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn
Tín dụng là sự vận động đơn phương của giá trị từ người cho vay sang người vay và
sẽ quay lại về với người cho vay (hoặc với người mà được người cho vay chỉ định) cảvốn và lãi trong một kỳ hạn xác định nào đó
a Người cho vay - Giá trị (H2 hay tiền tệ) - Người vay
b Người cho vay - Giá trị (H2 hay tiền tệ) -Người vay (đến hạn )
Khái niệm trên phản ánh các đặc điểm:
- Khoản cho vay sẽ quay về với người cho vay tín dụng hai cực
- Khoản cho vay sẽ được trả cho một người thụ hưởng nào đó mà được người cho vaychỉ định tín dụng 3 cực
- Giá trị cho vay có thể dưới hình thức hàng hóa hay tiền tệ
Một quan hệ được xem là quan hệ tín dụng khi nào chứa đựng đầy đủ 3 nội dung:
1 Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng
2 Sự chuyển nhượng này có thời hạn
3 Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí
Nếu thiếu một trong những nội dung trên thì không còn là quan hệ tín dụng Chẳnghạn trong 3 nội dung trên, nếu chúng ta bỏ bớt đi nội dung thứ 3 thì quan hệ không còn làquan hệ cho vay mà chỉ là quan hệ cho mượn vì không có chi phí nghĩa là không có lãi
Trang 37Còn nếu thiếu luôn nội dung thứ 2 thì quan hệ không phải là quan hệ cho vay, cho mượn
cuộc sống Kế đến là có sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa Ví dụ:?
Khi có sự phân công lao động xã hội và xuất hiện sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là
cơ sở ra đời của tín dụng
* Sự phát triển của tín dụng
Tín dụng ra đời từ xa xưa chủ yếu dưới hình thức cho vay nặng lãi và phát triển lâudài cho đến ngày nay trải qua nhiều hình thái tín dụng khác nhau Tín dụng nặng lãi rađời từ rất sớm, quan hệ tín dụng nặng lãi chủ yếu giữa bên cho vay là những ngườithương gia, các nhà kinh doanh tiền tệ và một số quan lại giàu có với bên đi vay chủ yếu
là những người nông dân và thợ thủ công nghèo khó Nhu cầu tín dụng xuất phát từnhững rủi ro bất khả kháng trong cuộc sống khiến cho người lao động phải đi vay nhằmgiải quyết khó khăn cuộc sống hoặc đảm bảo sản xuất Ngoài ra nhu cầu và tập quánsống xa hoa của một số quan lại cũng làm phát sinh nhu cầu vay tiền
Đặc điểm của tín dụng nặng lãi là lãi suất cho vay rất cao, có khi lên đến 40 – 50,thậm chí 100 -200% và mục đích vay vốn tường là để tiêu dùng và giải quyết khó khăncuộc sống hơn là phục vụ sản xuất kinh doanh Lý do là vì lãi suất quá cao nên chi phí trảlãi lớn hơn cả khả năng sinh lợi của nhà sản xuất kinh doanh Do vậy, các nhà sản xuấtkinh doanh nếu vay mượn không thể nào có lợi nhuận để tái sản xuất Nhưng đối vớingười tiêu dùng họ vẫn phải chấp nhận vay vì họ không có lựa chọn nào khác
3.3 Bản chất của tín dụng
1 Sự vận động của tín dụng
- Phân phối vốn tín dụng dưới hình thức cho vay
- Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất
- Sự hoàn trả của tín dụng
Sự hoàn trả của tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tín dụng, là dấu
ấn phân biệt giữa phạm trù tín dụng với các phạm trù khác
2 Hoạt động tín dụng trong phạm vi vĩ mô
a Cung và cầu của quỹ cho vay
* Cung của quỹ cho vay
- Tiết kiệm cá nhân
- Tiết kiệm của các doanh nghiệp
- Thặng dư ngân sách nhà nước
- Mức tăng của khối lượng tiền cung ứng
* Cầu của quỹ cho vay
Trang 38- Nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp
- Nhu cầu tín dụng của tiêu dùng cá nhân
- Thâm hụt ngân sách chính phủ
b Đặc điểm của quỹ cho vay
Mục đích của quỹ cho vay nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn tiền tệ tạm thời cho sản xuất và tiêu dùng
- Các quỹ cho vay chủ yếu tập trung qua các trung gian tài chính
- Quỹ cho vay vận động trên cơ sở hoàn trả và có lãi suất
3.4 Các hình thức tín dụng
1 Phân theo thời hạn
- Ngắn hạn =< 1 năm
- Trung hạn 1- 5 năm
- Dài hạn trên 5 năm
2 Phân theo đối tượng tín dụng
Mua chịu hàng hóa là hình thức tín dụng vì:
- Người bán chuyển giao cho người mua quyền sử dụng vốn tạm thời trong một thời gian nhất định
- Đến thời hạn đã được thỏa thuận người mua hoàn lại vốn cho người bán
Giấy nợ trong quan hệ tín dung thương mại:
* Hối phiếu ( Bill of Exchange)
Do người chủ nợ lập ra để lệnh cho người thiếu nợ trả một khoản tiền khi đáo hạn cho chủ nợ
Về hình thức có các loại hối phiếu sau:
- Hối phiếu vô danh: không ghi người hưởng thụ, người hưởng thụ chính là người nắm giữ hối phiếu