Khái ni m ILPs: ệu về Bảo hiểm liên kết đầu tư: Bảo hiểm liên kết đầu tư là một sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có khảnăng thỏa mãn hai nhu cầu của khách hàng là được bảo vệ và tham gia đầu t
Trang 1I B o hi m liên k t đ u t ảo hiểm liên kết đầu tư ểm liên kết đầu tư ết đầu tư ầu tư ư
A Gi i thi u v B o hi m liên k t đ u t : ới thiệu về Bảo hiểm liên kết đầu tư: ệu về Bảo hiểm liên kết đầu tư: ề Bảo hiểm liên kết đầu tư: ảo hiểm liên kết đầu tư ểm liên kết đầu tư ết đầu tư ầu tư ư
Bảo hiểm liên kết đầu tư còn được biết đến là Investment LinkedProducts (ILPs) đã có mặt trên thị trường thế giới khoảng 40 năm; tại châu Á
là từ khoảng những năm đầu thập kỷ 90 Tại Việt Nam, cuối năm 2006 đầunăm 2007, thị trường chứng khoán phát triển vượt bậc và ngày càng trở nênđại chúng hơn, vấn đề thiết kế và cho phép triển khai sản phẩm này đượcđặt ra Thậm chí Bảo Việt đã từng đặt vấn đề sớm hơn, Hiệp hội Bảo hiểmViệt Nam cũng đã có kiến nghị từ khá sớm
1 Khái ni m ILPs: ệu về Bảo hiểm liên kết đầu tư:
Bảo hiểm liên kết đầu tư là một sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có khảnăng thỏa mãn hai nhu cầu của khách hàng là được bảo vệ và tham gia đầu
tư vào thị trường chứng khoán Phí bảo hiểm đóng sẽ được dùng để muahợp đồng bảo hiểm và để tham gia đầu tư trong các quỹ đầu tư chuyênnghiệp Hiện có 2 loại cơ bản là loại đóng phí một lần và loại đóng phí định
kỳ
2 Quỹ liên k t đ u t : ết đầu tư ầu tư ư
Một phần phí bảo hiểm của khách hàng, sau khi đã khấu trừ cáckhoản chi phí và phí bảo hiểm rủi ro, sẽ được phân bổ vào các Quỹ đầu tư.Chính những phần phí bảo hiểm được phân bổ này của nhiều hợp đồng Bảohiểm liên kết đầu tư góp lại sẽ hình thành nên giá trị của các Quỹ Đầu tư
3 Giá đ n v quỹ (NAV) ơn vị quỹ (NAV) ị quỹ (NAV)
Giá đơn vị quỹ là giá trị từng đơn vị quỹ tương ứng từng thời điểm.Giá trị đơn vị quỹ được tính bằng tổng giá trị của các tài sản trong quỹ, trừ đicác công nợ (nếu có), chia cho tổng số lượng đơn vị quỹ Hiện tại, việc địnhgiá đơn vị quỹ được tiến hành hàng tuần
4 Tính đ c nh t c a ILPs: ộc nhất của ILPs: ất của ILPs: ủa ILPs:
Sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư về cơ bản là sản phẩm kết hợpnhu cầu bảo vệ và tiết kiệm Tuy nhiên, trong khi các sản phẩm bảo nhân thọkết hợp khác có chia lãi thì sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư “không chialãi” Đối với các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp khác, quỹ bảo hiểmđược hình thành từ phí bảo hiểm sẽ được công ty bảo hiểm đầu tư và được
Trang 2sử dụng để chi trả tiền bảo hiểm cho khác hàng vì thế công ty bảo hiểm sẽcam kết một mức lãi cố định trả cho khách hàng (sản phẩm có chia lãi) Đốivới sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư người tham gia bảo hiểm sẽ là chủđầu tư của các quỹ vì thế sẽ được hưởng lãi đầu tư thực tế của các quỹ đầu
tư mà khách hàng lựa chọn (có nghĩa là nếu quỹ đầu tư có lãi cao kháchhàng sẽ được hưởng lãi cao, ngược lại nếu quỹ đầu tư lãi thấp hoặc không
có lãi khách hàng sẽ được hưởng lãi thấp hoặc không nhận được gì) Nhưvậy, những người muốn có cơ hội đầu tư với lãi suất cao nên tham gia sảnphẩm bảo hiểm liên kết đầu tư
5 Kh năng đ u t vào quỹ liên k t đ u t : ảo hiểm liên kết đầu tư ầu tư ư ết đầu tư ầu tư ư
Các sản phẩm Bảo hiểm liên kết đầu tư thường giới thiệu đến kháchhàng nhiều quỹ đầu tư với những mức độ rủi ro – lợi nhuận khác nhau nhằmcung cấp nhiều lựa chọn cho các đối tượng khách hàng có kỳ vọng đầu tư vàkhả năng chấp nhận rủi ro khác nhau Mức độ rủi ro và tăng trưởng đầu tưtùy thuộc vào từng quỹ đầu tư
Dưới đây là chi tiết về các quỹ, cùng với mức độ rủi ro
của các công ty, với tiềm năng tăng trưởng cao.
Trung Bình đến Cao
Quỹ thu nhập,
đầu tư ổn định,
Trái phiếu
Tập trung đầu tư vào trái phiếu công
ty, trái phiếu chính phủ, và danh mục đầu tư có thu nhập cố định khác
Trung Bình
tệ Quỹ này tập trung đầu tư vào các khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, và các mục đầu tư từ thị trường tiền tệ.
Thấp
các danh mục đầu tư có thu nhập cố định.
Trung Bình
(Nguồn: Bảo hiểm nhân thọ Prudential)
Trang 3Mức độ tăng trưởng của các quỹ trong sản phẩm Bảo hiểm liên kếtđầu tư sẽ không được đảm bảo Thông thường khi tham gia loại sản phẩmnày, người tham gia chính là người hưởng toàn bộ quyền lợi và chịu mọi độrủi ro trong đầu tư Kết quả đầu tư của từng quỹ sẽ quyết định đến giá trịhợp đồng của khách hàng.
B S khác nhau gi a ILPs và B o hi m nhân th truy n ự khác nhau giữa ILPs và Bảo hiểm nhân thọ truyển ữa ILPs và Bảo hiểm nhân thọ truyển ảo hiểm liên kết đầu tư ểm liên kết đầu tư ọ truyển ểm liên kết đầu tư
Trang 4C L i ích c a ILPs ợi ích của ILPs ủa ILPs:
1 L i ích c a ILPs đ i v i công ty b o hi m nhân th ợi ích của ILPs ủa ILPs: ống: ới thiệu về Bảo hiểm liên kết đầu tư: ảo hiểm liên kết đầu tư ểm liên kết đầu tư ọ truyển
- Lợi ích đầu tiên phải kể đến đó là việc chuyển giao rủi ro đầu tư chocác chủ hợp đồng Các công ty bảo hiểm nhân thọ ngày càng thấy khó khănhơn trong việc đảm bảo các khoản lợi tức đã cam kết với chủ hợp đồng,nhất là trong bối cảnh thị trường tài chính luôn có những biến động và cáchợp đồng bảo hiểm nhân thọ thường là dài hạn
- Lợi ích thứ hai đó là hiệu quả sử dụng vốn Những yêu cầu về khảnăng thanh toán (các nước châu Âu yêu cầu biên khả năng thanh toán là 4%
dự phòng toán học cộng 0,3% tổng số tiền rủi ro (sum at risk), VN cũng yêucầu như vậy với những hợp đồng từ 10 năm trở lên, trong khi đó những yêucầu đặt ra với hợp đồng ILPs là thấp hơn (1% giá trị quỹ cộng với 0,3% số
Trang 5tiền rủi ro) Chính vì vậy tỷ trọng sản phẩm ILPs nhiều sẽ có yêu cầu về biênkhả năng thanh toán thấp hơn, vì vậy tỷ suất sinh lợi trên vốn sẽ cao hơn.
- Lợi ích thứ ba là hiệu ứng “phí kép” Đối với hợp đồng bảo hiểmnhân thọ ILPs thì phí quản lý tài sản đầu tư thấp hơn (so với hợp đồng thamgia chia lãi truyền thống ) và lợi ích từ việc thiết lập biên khả năng thanhtoán thấp nên chi phí thấp hơn (tỷ suất sinh lợi cao hơn)
Như vậy, các công ty bảo hiểm nhân thọ có khả năng thu hút nhiềukhách hàng mới, những người mong muốn có được tỷ suất sinh lợi cao hơn
so với việc lấy lợi tức từ các hợp đồng tham gia chia lãi truyền thống rồi đầu
tư vào các quỹ tương hỗ
2 R i ro c a ILPs đ i v i công ty b o hi m nhân th ủa ILPs: ủa ILPs: ống: ới thiệu về Bảo hiểm liên kết đầu tư: ảo hiểm liên kết đầu tư ểm liên kết đầu tư ọ truyển
§ Rủi ro về tài chính: Mặc dù đối với loại hợp đồng ILPs thì rủi ro đầu
tư do chủ hợp đồng quyết định nhưng trong tình hình cạnh tranh trên thịtrường, các công ty thường thêm vào một số quyền lợi trong hợp đồng vìthế các công ty vẫn giữ lại một phần rủi ro đầu tư Một số rủi ro về tài chính
có thế xuất phát từ các quyền lợi như:
- Quyền đảm bảo tích lũy tối thiểu (GMAB – Guaranteed MinimumAccumulation Benefit): công ty bảo hiểm sẽ bị rủi ro khi mức cam kết tốithiểu cao hơn giá trị tích lũy tại thời điểm thanh toán quyền lợi
- Quyền đảm bảo STBH tử vong tối thiểu (GMDB – GuaranteedMinimum Death Benefit): Công ty bảo hiểm sẽ đương đầu với rủi ro này khitính phí bảo hiểm rủi ro tử vong điều chỉnh theo thời gian, trong khi đó STBH
tử vong được đảm bảo và ổn định
- Quyền đảm bảo giá trị giải ước tối thiểu (GMWB – GuaranteedMinimum Withdraw Benefit): cho phép chủ hợp đồng có thể nhận được một
tỷ lệ trên số phí đã đóng, khi đó không căn cứ vào giá trị của các khoản mụcđầu tư
- Quyền đảm bảo chuyển đổi niên kim: với các hợp đồng đáo hạn, chủhợp đồng có thể chuyển sang một loại hình niên kim với tỷ lệ thỏa thuậntrước Trong dài hạn thì điều này cũng là rủi ro đối với các công ty bảo hiểm
- Quyền đảm bảo chi trả niên kim trong một thời hạn nhất định
Trang 6- Quyền nhận giá trị giải ước: các công ty sẽ gánh chịu rủi ro đối vớinhững hợp đồng không tính phí giải ước khi đã thanh toán các khoản chi phí
ký kết hợp đồng ban đầu
§ Rủi ro trong quá trình hoạt động: phụ thuộc vào tình hình thị trườngtài chính, giá trị các khoản đầu tư và tỷ lệ hủy hợp đồng cao hơn (vì khôngràng buộc điều kiện tham gia chia lãi)
§ Rủi ro do quy định của pháp luật: những quy định liên quan về chínhsách thuế, phí quản lý tài sản đầu tư và những thay đổi trong chính sách hưutrí
3 L i ích c a ILPs đ i v i khách hàng ợi ích của ILPs ủa ILPs: ống: ới thiệu về Bảo hiểm liên kết đầu tư:
- Lợi ích đầu tiên là tăng sự lựa chọn các kênh đầu tư của khách hàng.Điều này phù hợp đối với các thị trường vốn có sự phát triển, khi đó chủ hợpđồng được tham gia trực tiếp vào thị trường vốn sôi động
- Lợi ích thứ hai đó là chính sách thuế Các hợp đồng yêu cầu thời hạnhợp đồng tối thiểu và quyền lợi tử vong để được hưởng ưu đãi về thuế Ởmột số quốc gia, lợi tức và và thu nhập đầu tư trong thời hạn hợp đồngđược miễn thuế Tuy nhiên quyền lợi khi nhận thì coi như thu nhập chịuthuế (hoặc được giảm tỉ lệ thuế) Đối với quyền lợi tử vong đảm bảo khi chủhợp đồng chết trước khi hết hạn hợp đồng, khi đó công ty bảo hiểm sẽ chitrả quyền lợi tử vong hoặc giá trị tích lũy cộng với quyền lợi tử vong tốithiểu
- Lợi ích thứ ba là tính minh bạch Đối với các hợp đồng tham gia chialãi truyển thống thì việc xác định khoản mục đầu tư hoặc thu nhập đầu tư sẽkhông rõ ràng và minh bạch bằng hợp đồng ILPs
- Lợi ích thứ tư là khả năng chuyển đổi khoản mục đầu tư giữa cácquỹ Các công ty bảo hiểm cho phép các chủ hợp đồng chuyển đổi danh mụcmột số lần nhất định mà không tính phí phụ trội
Để hiểu rõ hơn cơ chế hoạt động của 1 hợp đồng ILPs, chúng ta xemxét dòng tiền của một hợp đồng ILPs đóng phí năm có quyền lợi tử vong:
Trang 7D Nh ng tr ng i khi s n ph m ILPs đ ữa ILPs và Bảo hiểm nhân thọ truyển ở ngại khi sản phẩm ILPs được triển khai ại khi sản phẩm ILPs được triển khai ảo hiểm liên kết đầu tư ẩm ILPs được triển khai ượi ích của ILPs c tri n khai ểm liên kết đầu tư
Sự phát triển của thị trường chứng khoán thời gian qua đã khiến chonhiều người nghĩ đến sự ra đời và phát triển của loại hình ILPs, và kỳ vọng ở
sự thành công này rất lớn Tuy nhiên có những trở ngại khiến cho việc triểnkhai loại hình này rất khó trong thời gian ngắn sắp tới
Lý do thứ nhất, nhìn từ góc độ tài chính hành vi, việc tham gia bảohiểm nhân thọ tạo ra cho người tham gia một suy nghĩ rằng đây không phải
là là giải pháp đem lại nhiều lợi ích so với các loại hình tiết kiệm, đầu tư khác(mặc dù vẫn biết đặc tính quan trọng của bảo hiểm nhân thọ là bảo vệ) Mộtngười sức khỏe bình thường và còn ở độ tuổi làm việc sung mãn thường có
xu hướng nghĩ rằng xác suất tử vong bất ngờ hay rủi ro có liên quan đến sứckhỏe, tính mạng của mình sẽ nằm ở mức thấp, vì thế bắt đầu hình thànhmột ý nghĩ rằng điều đó sẽ không xảy ra cho mình Mặt khác, đó là góc nhìncủa người mua bảo hiểm về phí bảo hiểm Người tham gia bảo hiểm nhânthọ sẽ có xu hướng đưa phí bảo hiểm vào khoản mục “bị mất, bị lỗ” tronghiện tại, và vì vậy tạo ra tâm lý “định giá thấp” những khoản “lời”, tức nhữngkhoản chi trả nhận được trong tương lai (cho cả hai trường hợp có xảy ra rủi
ro cho họ và họ được bồi thường, hay trong trường hợp hợp đồng đáo hạn).Đánh giá cao những điều bị mất trong hiện tại, và đánh giá thấp thu nhập từtương lai do việc phân tách các dòng tiền này vào các “tài khoản tưởngtượng” (mental account) kiểu như vậy trong tâm trí khiến cho bảo hiểmnhân thọ (dù có yếu tố đầu tư) có vị thế thấp hơn các loại hình đầu tư thuầntúy khác
Lý do thứ hai, thị trường chứng khoán VN chưa phát triển đến mức lànền tảng cho sự ra đời của loại hình bảo hiểm liên kết đầu tư Số lượng cổphiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết tăng nhanh nhưng chưa thật sự đang dạng vàphong phú, hiện vẫn còn thiếu các loại quỹ đầu tư, nhất là quỹ đầu tư ủythác Bên cạnh đó, hiểu biết của người dân về tài chính, chứng khoán, vàđầu tư có bài bản còn rất ít, tập trung chủ yếu ở các thành phố, đô thị lớn Vìvậy lượng “khách hàng tiềm năng’ của loại hình bảo hiểm này chắc chắc rấthạn chế Không những thế, thời gian vừa qua thị trường chứng khoán VNliên tục sụt giảm, “niềm tin” về thị trường bị sụt giảm nghiêm trọng, điềunày chắc chắn là rào cản rất lớn cho việc triển khai dòng sản phẩm này Và
Trang 8thực tế đến thời điểm này chỉ có một công ty BHNT triển khai dòng sảnphẩm này với kết quả không mấy khả quan
Lý do thứ ba, nếu có triển khai được thì cũng sẽ chịu áp lực cạnh tranhlớn từ các định chế tài chính khác như công ty chứng khoán, quỹ đầu tư,ngân hàng đầu tư … với sản phẩm đa dạng, tiện lợi và hấp dẫn
Như vậy, kỳ vọng về sự ra đời và thành công của loại hình ILPs tronggiai đoạn này là rất thấp Nhưng dù sao chúng ta cũng đã nhận thấy đượcquy luật phát triển, rằng sản phẩm liên kết đầu tư cũng sẽ xuất hiện ở VN, vàmột khi đã xuất hiện thì sẽ phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của thị trườngchứng khoán Thế mạnh của các công ty BHNT vẫn sẽ là cung cấp sự bảo vệ.Thị trường bảo hiểm và thị trường tài chính ở các nước phát triển đi trước
VN rất xa nhưng tỷ trọng sản phẩm của các công ty BHNT phần lớn vẫn làcác sản phẩm mang tính bảo vệ cao như tử kỳ, trọn đời và tai nạn sức khỏe.Lợi thế của các công ty BHNT là cơ sở kỹ thuật thống kê, có một kế hoạchđầu tư tài chính dài hạn và kinh nghiệm quản lý rủi ro liên quan đến tínhmạng và sức khỏe của con người vẫn sẽ là lợi thế so với các định chế tàichính khác
Trong tương lai gần, các công ty BHNT ở VN cần chú trọng nhiều đếncác nhóm sản phẩm mang tính chất bảo vệ truyền thống hơn, đi kèm đó lànhững dòng sản phẩm “thời thượng” đáp ứng nhu cầu đầu tư của kháchhàng Dù sao cũng không thể nào quên bảo hiểm là một ngành dịch vụ đặcbiệt, dịch vụ đem lại cho khách hàng diễn ra trong suốt quá trình trước,trong và sau khi ký kết hợp đồng bảo hiểm Lợi ích của BHNT được cảm nhận
rõ nhất khi người tham gia (người được hưởng quyền lợi bảo hiểm) nhậnđược tiền chi trả bảo hiểm Vì vậy chất lượng phục vụ từ khâu tư vấn, quản
lý hợp đồng, giám định và chi trả quyền lợi sẽ quyết định khách hàng lựachọn công ty nào khi mà sản phẩm của các công ty hầu như giống nhau
Chính vì những trở ngại vừa nêu trên, đề tài tiểu luận xin đi đến phầntiếp theo là phân tích tình hình kinh tế xã hội Việt Nam hiện tại và dự báocho giai đoạn 2010 – 2020 để có thể đo lường được khả năng phát triểntăng trưởng của nền kinh tế, kèm theo những biến động có thể xảy ra trongthời gian sắp tới, thông qua đó tác động ngược lại đối với loại hình sảnphẩm ILPs rất tiềm năng này
Trang 9II D báo tình hình kinh t xã h i Vi t Nam giai đo n 2010 – ự khác nhau giữa ILPs và Bảo hiểm nhân thọ truyển ết đầu tư ộc nhất của ILPs: ệu về Bảo hiểm liên kết đầu tư: ại khi sản phẩm ILPs được triển khai 2020:
A K t qu đ t đ ết đầu tư ảo hiểm liên kết đầu tư ại khi sản phẩm ILPs được triển khai ượi ích của ILPs c trong giai 2000 – 2010:
1 H th ng tài chính: ệu về Bảo hiểm liên kết đầu tư: ống:
a) S xu t hi n l i c a l m phát ự xuất hiện lại của lạm phát ất hiện lại của lạm phát ện lại của lạm phát ại của lạm phát ủa lạm phát ại của lạm phát
Kể từ khi kiềm chế được lạm phát phi mã vào giữa những năm 1980,Việt Nam đã thành công trong việc đạt được một tốc độ tăng trưởng kinh tếtương đối cao và ổn định Cùng với quá trình phát triển và hội nhập của nềnkinh tế, việc duy trì một môi trường kinh tế vĩ mô lành mạnh trở nên khókhăn hơn nhiều Sự lúng túng của chính phủ trong việc đối phó với lạm phátthời gian qua chứng tỏ các nhà điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam chưasẵn sàng, hoặc chưa được giao những công cụ chính sách và kỹ thuật cầnthiết Mặc dù Việt Nam có những nhà kinh tế học được đào tạo bài bản ởtrình độ cao, nhưng sự thiếu vắng môi trường thảo luận, phân tích chínhsách, sự chậm chạp của nhiều viện nghiên cứu và trường đại học trong việcđáp ứng nhu cầu của hoạt động ra chính sách là những trở ngại thực sự cho
nỗ lực sử dụng năng lực có tính kỹ thuật để hoạch định chính sách Kết quả
là khoảng cách giữa nhu cầu cần phải có những chính sách tinh vi để điềuhành nền kinh tế nay đã trở nên phức tạp hơn trước rất nhiều và năng lựcthực sự của các nhà hoạch định chính sách ngày càng bị nới rộng
Lạm phát giờ đây đã trở thành mối lo ngại của cả người dân lẫn chínhphủ, một phần là do mức lạm phát thực tế cao hơn nhiều so với số liệu công
bố chính thức Chi tiêu trong nước đã tăng mạnh khi giá trị xuất khẩu dầulửa tăng cao ngất, các khoản viện trợ phát triển chính thức, FDI, vay nợ vàkiều hối vẫn tiếp tục ùn ùn đổ vào Việt Nam Kể từ năm 2003, doanh số bán
lẻ danh nghĩa của Việt Nam liên tục tăng với tốc độ trên 20% mỗi năm Đầu
tư tăng còn nhanh hơn nữa, trong khi lượng cung thực (đo bằng sản lượngthực cộng thâm hụt thương mại thực) chỉ tăng dưới 10% một năm Nếu nhưchi tiêu tăng hơn 20%, trong khi lượng cung thực tăng chưa đến nửa số đó,thì chênh lệch giữa hai đại lượng phải là lạm phát.[1] Mặc dù số liệu lạmphát công bố chính thức thấp hơn do dựa vào giá của một giỏ hàng hóa nhất
Trang 10định, nhưng từ những tính toán trên có thể khẳng định rằng trên thực tế,lạm phát đã lên tới mức hai con số, và đã duy trì ở mức hai con số trong mấynăm trở lại đây.
Đây không phải là một điều đáng ngạc nhiên Tốc độ tăng cung tiềnliên tục ở mức trên dưới 25% mỗi năm kể từ năm 2003, và tín dụng nội địacũng tăng trên 35% Trong khi nhập khẩu tăng đột biến trong mấy năm gầnđây để đáp ứng với lượng cầu nội địa tăng thì đối với một số hàng hóa nhưkhách sạn, văn phòng, điện, lao động có kỹ năng - hay nói chung là nhữnghàng hóa chủ yếu được sản xuất trong nước - không thể tăng một cáchtương ứng Kết quả là giá của những hàng hóa này phải tăng theo tốc độtăng cung tiền Thế nhưng tại sao tốc độ tăng trưởng của Việt Nam lại chỉtăng có 7-8% trong khi đầu tư hàng năm của nền kinh tế chiếm tới 35%GDP? Lưu ý là Đài Loan đã từng tăng trưởng tới 10% liên tục trong 18 nămvới một lượng đầu tư khiêm tốn hơn nhiều, chỉ chiếm khoảng 1/4 GDP màthôi
Chính phủ Việt Nam đã quyết định tăng cung tiền nhằm duy trì tốc độtăng trưởng cao trong một thời gian dài Tuy nhiên, khi sự mất cân đối giữatốc độ tăng cung tiền và tốc độ tăng trưởng GDP trở nên ngày một lớn thìsức ép lạm phát bắt đầu xuất hiện Như được minh họa trong Hình 8, tronghai năm 2005 và 2006, GDP của Việt Nam tăng 17%, trong khi đó M2 (gồmtiền mặt trong lưu thông và tiền gửi ngân hàng) tăng tới 73% Trái lại, trongcùng giai đoạn này, GDP của Trung Quốc tăng 22% trong khi M2 chỉ tăng có36% Chênh lệch giữa tăng trưởng cung tiền và GDP ở Thái-lan còn thấp hơnnữa Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thấp hơn của Trung Quốc nhưng tốc
độ tăng cung tiền lại cao gần gấp đôi Kết quả là trong khi chỉ số giá tiêudùng ở Trung Quốc trong năm 2007 chỉ khoảng 6,5% thì ở Việt Nam lên tới12,6%
Trang 11Hình 1 So sánh mức lạm phát ở một số quốc gia trong khu vựcTại sao cung tiền của Việt Nam lại tăng nhanh như vậy? Một nguyênnhân chính là do nhịp độ tăng chi tiêu của nhà nước Tổng chi tiêu của nhànước trong năm 2006 là 321 nghìn tỉ đồng, tăng 221.8 nghìn tỉ đồng (hay45%) so với năm 2004 Như vậy, tốc độ tăng chi tiêu hàng năm của nhà nướctrong giai đoạn 2004-2006 là 20,3% năm (tương đương với tốc độ tăngtrưởng doanh số bán lẻ) Cũng trong giai đoạn này, thu ngân sách tăng chủyếu không phải từ nguồn thu nội địa mà là từ dầu mỏ, nợ và viện trợ nướcngoài Thu nội địa trong năm 2004 chỉ đạt 119 nghìn tỉ, và trong năm 2006 là
190 nghìn tỉ, tăng có 71 nghìn tỉ Trong khi đó, chi tiêu của nhà nước tăng
131 nghìn tỉ, từ 190 lên tới 321 nghìn tỉ, tức là gần gấp đôi mức tăng thu nộiđịa Khi chi tiêu của nhà nước tăng nhanh hơn nhiều so với các nguồn thungoài dầu mỏ (ngay cả khi nguồn thu tăng này đến từ dầu mỏ hay viện trợ)thì những khoản chi tiêu này sẽ làm tăng tổng cầu Thế nhưng nếu các khoảnchi tiêu này lại không được sử dụng một cách hiệu quả, chỉ đóng góp đượcchút đỉnh cho sản lượng (tức là không làm cho tổng cung tăng một cáchtương ứng) thì tất yếu sẽ dẫn tới lạm phát
Trang 12Hình 2 Chênh lệch giữa lãi suất trái phiếu Chính phủ của các nền kinh
tế mới nổi và của Hoa Kỳ (Chỉ số EMBI của JP Morgan, 1998 - 2007)
Một số quan chức của chính phủ đã đổ lỗi cho các nhân tố khách quannhư giá dầu, sắt thép, và thực phẩm thế giới tăng là thủ phạm của lạm phát.Đúng là các cú sốc về phía cung là một trong những nguồn gây nên lạm phát
ở Việt Nam Cho đến năm 2004, người tiêu dùng Việt Nam nói chung, và đặcbiệt là người nghèo, đã được lợi do giá gạo thấp Tuy nhiên, trong mấy nămtrở lại đây, bên cạnh việc giá gạo tăng thì giá xăng dầu và giá phân hóa họccũng đều tăng cao Những cú sốc toàn cầu này không chỉ ảnh hưởng riêngtới Việt Nam, mà còn tác động tới các quốc gia Châu Á khác, thế nhưng mức
độ lạm phát ở các nước này lại thấp hơn ở Việt Nam rất nhiều (Hình 2) Điềunày có nghĩa là, mặc dù việc giá thế giới tăng là một trong những nguyênnhân gây lạm phát ở Việt Nam, nhưng nó không phải gốc rễ của vấn đề Nếucung tiền tăng chậm hơn thì chi tiêu của nhà nước cũng sẽ phải tăng chậmlại Nếu giá xăng dầu tăng, chi tiêu của người tiêu dùng cho xăng dầu có thể
sẽ tăng lên, và do vậy, họ sẽ phải cắt giảm tiêu dùng đối với các sản phẩmkhác và làm cho giá của chúng giảm xuống Việc mức lạm phát ở Thái-lanthấp hơn rất nhiều so với Việt Nam, trong khi trên thực tế, nền kinh tế Thái-lan tiêu thụ nhiều xăng dầu hơn Việt Nam là một minh chứng cho điều này
b) Hi u qu c a đ u t ện lại của lạm phát ả của đầu tư ủa lạm phát ầu tư ư
Hiệu quả trong phân bổ nguồn lực sẽ quyết định kết quả của nền kinh
tế, và rộng hơn, quyết định sự phát triển của xã hội Việt Nam và Trung
Trang 13Quốc có cùng một vấn đề - đó là để đạt mục tiêu tăng trưởng, hai nước đềuphải duy trì một tỉ lệ đầu tư rất cao Thế nhưng rất nhiều khoản trên danhnghĩa được phân loại là đầu tư nhưng trên thực tế lại là những khoản tiêudùng trá hình Tham nhũng và lãng phí trong nhiều dự án đầu tư của nhànước và của các DNNN làm dòng vốn thay vì phải chạy vào các dự án đầu tưthì lại chạy vào tiêu dùng hay tư túi cá nhân Bên cạnh đó, nhiều dự án củanhà nước do không được hoạch định cẩn thận nên suất sinh lợi không cao.Nếu những khoản đầu tư này được tài trợ bởi tiền tiết kiệm trong nước thì
nó sẽ làm mất cơ hội sinh lợi của các đồng tiết kiệm này ở các dự án khác.Còn nếu chúng được tài trợ thông qua các khoản vay nước ngoài thì nó sẽtạo ra những nghĩa vụ trả nợ, được thực hiện từ nguồn tiền xuất khẩu, bándầu lửa, cà phê, gạo, cao su và những hàng hóa khác trong tương lai Trênnguyên tắc, những dự án này phải thúc đẩy được sản xuất và xuất khẩu.Trong trường hợp yêu cầu này không đạt được thì nó lại trở thành gánhnặng cho sự phát triển trong tương lai Đây là một đặc điểm của các nềnkinh tế ở Đông Nam Á vì những nước này đều cần đến một tỉ lệ đầu tư rấtcao để có thể duy trì được một mức tăng trưởng vừa phải
Bảng 1: Bảng so sánh ICOR (Nguồn World Bank)
Quốc gia Giai đoạn
Tăng trưởng GDP
(%/năm)
Tổng đầu tư (% của GDP/năm)
ICOR
Trang 14tư của Trung Quốc cũng không thực sự hiệu quả, và vì vậy không nên đượccoi là một hình mẫu để noi theo và so sánh
Liệu Việt Nam có đang đứng trước một cuộc khủng hoảng tài chính?Trong ngắn hạn, câu trả lời có lẽ là không Tuy nhiên, nhiều dấu hiệu yếukém từng là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng 1997 đang xuất hiện ở ViệtNam
Đầu tiên, mặc dù thị trường chứng khoán (TTCK) đã phát triển rấtnhanh trong thời gian qua nhưng hệ thống tài chính của Việt Nam vẫn chịu
sự chi phối bởi các ngân hàng thương mại không được kiểm soát một cáchhiệu quả với lượng nợ xấu khá lớn
Thứ hai, đầu tư quá mức (gần 40% GDP) và hệ số ICOR 4,4 (có nghĩa làViệt Nam hiện cần 4,4 đơn vị đầu tư để tạo ra một đơn vị tăng trưởng) là rất
Trang 15cao so với các nước khác trong khu vực ở những giai đoạn phát triển tươngđương như Việt Nam bây giờ (hệ số ICOR trung bình của các nước trong khuvực là khoảng 3).
Thứ ba, một lượng tiền lớn có nguồn gốc tham nhũng, rửa tiền, vàđầu tư nước ngoài đang đổ vào thị trường bất động sản và chứng khoán, tạonên bong bóng tài sản
Thứ tư, thâm hụt thương mại tăng nhanh và tỉ giá dao động bấtthường (chủ yếu do quản lý kinh tế yếu kém) là những dấu hiệu của nhữngrủi ro ngầm ẩn Việt Nam cũng đang tích luỹ một lượng lớn nợ ngoại tệkhông được phòng vệ Tất cả những rủi ro trên chưa dẫn tới một cuộc khủnghoảng tài chính là nhờ Việt Nam vẫn chưa tự do hóa tài khoản vốn, dư nợnước ngoài ngắn hạn của Việt Nam còn ở mức kiểm soát được, và lượng vốnđầu tư nước ngoài vẫn đang tiếp tục đổ vào giúp cân đối lại phần nào cáncân tài khoản vãng lai
Bảng 2: Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng 1997
Triệu chứng Việt Nam năm
2007Thâm hụt tài khoản vãng lai có
Bong bóng tài sản có
Vay ngoại tệ không phòng vệ có
Đầu tư công kém hiệu quả có
Kiểm soát bất cẩn đối với ngân
Vay nợ chéo trong tập đoàn có
Nợ nước ngoài ngắn hạn không
Trang 16Tự do hóa tài khoản vốn không
Việt Nam đang nỗ lực xây dựng một hệ thống tài chính hiện đại vàomột thời điểm tương đối thuận lợi khi thị trường vốn quốc tế, đặc biệt ởChâu Á đang có tính thanh khoản rất cao Chỉ số EMBI của JP Morgan đolường khoảng chênh lệch giữa lãi suất trái phiếu của chính phủ Mỹ và củacác nền kinh tế mới nổi hiện đang ở mức thấp nhất trong 10 năm trở lại đây(Hình 2)
Mặc dù thị trường vừa mới trải qua một số biến động do thị trườngcho vay cầm cố bất động sản ở Mỹ sụp đổ nhưng chỉ số EMBI vẫn đang ởmức rất thấp cho đến cuối tháng 10 Chênh lệch lãi suất của trái phiếu quốc
tế đầu tiên của Việt Nam được phát hành cuối năm 2005 (được kỳ vọng sẽ là
cơ sở để các tập đoàn nhà nước vay vốn trên thị trường quốc tế) luôn thấphơn mức EMBI trung bình Điều này có nghĩa là các nước đang phát triểnnhư Việt Nam có thể vay vốn từ thị trường quốc tế với mức lãi suất thấp, vàđây thực sự là một cơ hội cho Việt Nam nếu việc tài trợ bằng vốn vay nướcngoài được thực hiện một cách cẩn trọng Tuy nhiên, có một nguy cơ làchính phủ và các công ti trong nước sẽ trở nên phụ thuộc quá nhiều vào cáckhoản vay nước ngoài, để né tránh những quyết định khó khăn hơn nhưngcần thiết để củng cố hệ thống tài chính trong nước Các DNNN đang sử dụngvốn một cách kém hiệu quả Nếu tình trạng này tiếp diễn và các doanhnghiệp này lại được phép tiếp cận với thị trường vốn quốc tế thì một rủi rothực tế là Việt Nam sẽ phải trả một cái giá khá đắt cho những khoản vaykhông mang lại mấy giá trị Bên cạnh đó, ngay cả trong giai đoạn thị trườngthuận lợi thì nhà nước vẫn phải thận trọng trong việc giữ nợ ở mức kiểmsoát được để tránh những cú sốc chắn chắn sẽ xảy ra trong tương lai Điềunày có nghĩa là cần giảm thâm hụt ngân sách nhà nước, thậm chí phải liêntục duy trì thặng dư ngân sách Nhà nước phải chống lại “cám dỗ” của việcvay vốn nước ngoài để tài trợ thâm hụt ngân sách vì mặc dù vốn hiện nayđang rẻ nhưng không có bảo đảm chắc chắn rằng nó sẽ tiếp tục rẻ trongnhững năm tới
2 Môi tr ường kinh doanh ng kinh doanh
Môi trường chính sách là nhân tố quyết định năng lực cạnh tranhquốc gia Theo xếp hạng năng lực cạnh tranh hàng năm của Diễn đàn Kinh tếThế giới, Việt Nam đứng dưới hầu hết các láng giềng Đông Á và Đông Nam
Trang 17Á Mặc dù khi diễn giải các kết quả điều tra thuộc loại này cần phải rất thậntrọng, bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh là một công cụ hữu ích trong việcđánh giá tốc độ cải cách của Việt Nam trong mối tương quan với các đối thủcạnh tranh chủ yếu Quan trọng không kém, các nhà đầu tư nước ngoài đềunhìn vào những chỉ số về năng lực cạnh tranh và môi trường chính sách, thểchế trước khi ra quyết định đầu tư Sự tăng nhẹ về thứ hạng của Việt Nam
sẽ trở nên ít ý nghĩa nếu như những nước cạnh tranh với Việt Nam tăngnhanh hơn Tôn Tử đã từng nói, tốc độ là nhân tố quyết định cho mọi thắnglợi
Bảng 3: Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thếgiới 2005, 2006
Năm Sing
ga po
HànQuốc
HồngKông
ĐàiLoan
Malay sia
TháiLan
TrungQuốc
In đô
nê sia
ViệtNam
Phi lippin
2007 * 7 11 12 14 21 28 34 51 64 67
*: (trong số các nước được xếp hạng năm 2006)
FDI sẽ đóng một vai trò then chốt trong sự phát triển tiếp tục của ViệtNam Tuy nhiên, để có thể tận dụng cao nhất hiệu ứng lan toả của FDI thìnhững khoản đầu tư này phải được gắn kết một cách hữu cơ với nền kinh
tế Điều này, đến lượt nó, yêu cầu Việt Nam phải đẩy mạnh việc phát triểnmột khu vực dân doanh năng động có khả năng hấp thụ công nghệ và kinhnghiệm quản lý và tích hợp vào hệ thống cung ứng rộng lớn hơn Thế nhưngtrên thực tế, một số cuộc điều tra về môi trường kinh doanh của Việt Nam
đã cho thấy các doanh nghiệp dân doanh của Việt Nam đang gặp phải nhiềutrở ngại để trở thành lớn mạnh và có sức cạnh tranh cao hơn Bên cạnh haicản trở lớn nhất là nguồn nhân lực và CSHT như đã được đề cập ở trên thìcác doanh nghiệp dân doanh còn phải chịu đựng một hệ thống hành chínhquan liêu kém hiệu quả và nhũng nhiễu Theo các doanh nghiệp được khảosát thì thuế vụ và hải quan là hai cơ quan gây cho họ nhiều khó khăn nhất.Những chi phí và nhũng nhiễu này có thể được coi như một thứ thuế “bấtthành văn” đánh vào khu vực dân doanh và FDI - là hai khu vực xuất khẩumạnh nhất của nền kinh tế
Trang 18Hình 3
Chênh lệch giữa tốc độ tăng cung tiền và GDP, 2004-2007 Cung tiền (được đo bằng M2) bao gồm tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi củacác tổ chức tín dụng tại ngân hàng trung ương, các khoản tiền gửi không kỳhạn và có kỳ hạn Nguồn: IMF, Thống kê Tài chính Quốc tế (IntermationalFinancial Statistics), trừ số liệu tốc độ tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm
2007 được lấy từ Economist Intelligent Unit
Những lĩnh vực hiện nay Việt Nam đang có tính cạnh tranh nhất làhàng nông sản thô như cà phê, hạt điều, cao su, gạo hay hàng thâm dụng laođộng như giày dép và dệt may Đặc trưng chung của những ngành này làchúng tạo ra rất ít giá trị gia tăng, đem lại lợi nhuận rất mỏng, và tốc độ tăngtrưởng rất thấp Thách thức cho tương lai của Việt Nam là một mặt tiếp tụcduy trì tính cạnh tranh trong những ngành này vì dù sao chúng cũng là thếmạnh của Việt Nam, mặt khác chủ động tiến tới sản xuất các sản phẩm vàdịch vụ thâm dụng tri thức, lợi nhuận lớn và tốc độ tăng trưởng cao ViệtNam có thể học được nhiều điều từ bí quyết thành công của các nước Đông
Á, vì các nước này đều tập trung vào những sản phẩm mà nhu cầu co giãncao đối với thu nhập, nghĩa là khi giàu lên người ta tiêu thụ nhiều hơn nhưhàng điện tử tiêu dùng chẳng hạn.[2] Nền kinh tế Việt Nam hiện nay có tínhcạnh tranh đối với các ngành công nghiệp tăng trưởng chậm và lợi nhuậnthấp Thách thức của Việt Nam trong tương lai là làm thế nào vươn tới cácngành tăng trưởng nhanh hơn, thâm dụng hơn về tri thức, và có giá trị giatăng cao hơn
Trang 19Thêm vào đó, ngay cả những ngành công nghiệp cơ bản nhất cũngphải phụ thuộc vào nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu Hiện nay, Việt Namphải nhập khẩu tới 80% sợi nguyên liệu cho ngành may và 65% bột giấy chongành giấy Ngay cả khi Việt Nam có một trữ lượng lớn quặng thép thì tỉ lệnhập khẩu phôi thép cũng lên tới 60% Trong khi Đài Loan sử dụng cácDNNN để đầu tư công nghiệp theo chiều sâu thì Việt Nam lại sử dụng cácDNNN để cạnh tranh với các nhà chế biến hạ nguồn Thêm vào đó, hầu hếtcác DNNN này hầu như không đầu tư cho hoạt động R&D, và đầu tư rất ítcho hoạt động đào tạo và nâng cao tay nghề.
B Duy trì tăng tr ưở ngại khi sản phẩm ILPs được triển khai ng:
Để đạt được những mục tiêu phát triển đầy tham vọng của mình, nềnkinh tế Việt Nam phải có khả năng tiếp tục tăng trưởng cao và công bằngtrong vài thập kỷ tới Kinh nghiệm phát triển của các nước trong khu vực chothấy đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn vì trên thực tế, mới chỉ có mộtvài nước Đông Á thực hiện được điều này Và tương tự như vậy, hầu hết cácnước thu nhập trung bình trên thế giới thường tăng trưởng chậm lại sau khivượt qua ngưỡng thu nhập trung bình thấp Vì vậy, các nhà lãnh đạo củaViệt Nam cần tự hỏi: Làm thế nào để Việt Nam tiếp tục duy trì được nhịp độtăng trưởng như hiện nay?
Rõ ràng rằng, để có thể đạt được mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởngtrong những thập kỷ tới, việc đầu tiên cần làm là nhận dạng những khu vực
có tiềm năng tăng trưởng cao nhất, sau đó tạo mọi điều kiện tốt nhất để cáckhu vực này tiếp tục phát triển Phần này sẽ chỉ ra rằng khu vực FDI và dândoanh trong nước là “động cơ song đôi” của nền kinh tế Việt Nam Đây làhai khu vực kinh tế có nhiều tiềm năng nhất trong việc giúp Việt Nam duy trìđược tốc độ tăng trưởng một cách lâu dài Thế nhưng chính phủ Việt Namvẫn chưa thực sự tạo được điều kiện thuận lợi để hai khu vực này (đặc biệt
là khu vực dân doanh trong nước) tiếp tục thành công Thay vào đó, nhưphần này sẽ chứng minh, chính sách công nghiệp của Việt Nam lại luôn luôn
ưu ái khu vực - mà theo tất cả những phân tích khách quan nhất - kém cạnhtranh nhất, tạo ít công ăn việc làm mới nhất, và có tốc độ tăng trưởng chậmnhất Nếu như ví cuộc đua tranh kinh tế như một giải vô địch bóng đá thìchính sách này của nhà nước tựa như việc trong khi mục tiêu là “đoạt cúp