Hiện nay, đặc biệt là khi nước ta đã trở thành thành viên chính thức của tổchức thương mại thế giới WTO, nên đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn họchỏi, cạnh tranh, vươn lên tìm chỗ đứng
Trang 1Chính sách mở cửa thị trường của nhà nước đã tạo cho hàng hoá ở nước taphong phú đa dạng với nhiều chủng loại mặt hàng trong và ngoài nước Qua đócũng tạo điều kiện để các nghề trong nước cạnh tranh và học hỏi những kinhnghiệm của nhau.
Nước ta là một nước đang phát triển, có nguồn công nhân trẻ, cần cù chịukhó, sáng tạo trong lao động nên cùng với sự quan tâm của nhà nước và các nhàđầu tư đã tạo cho ngành Dệt – May của nước ta phát triển một cách nhanhchóng
Hiện nay, đặc biệt là khi nước ta đã trở thành thành viên chính thức của tổchức thương mại thế giới (WTO), nên đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn họchỏi, cạnh tranh, vươn lên tìm chỗ đứng trên thị trường sản phẩm may mặc vớicác doanh nghiệp nước ngoài Thời trang ngày nay càng phong phú, đa dạng thìđòi hỏi những nhà tạo mẫu, thiết kế cũng như đội ngũ cán bộ công nhân của cácCông ty phải có tay nghề cao mới đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùngtrong nước cũng như trên thế giới
Các mặt hàng Dệt – May của nước ta giữ được uy tín trên thị trường thế giới có vịtrí quan trọng trong kim ngạch suất khẩu của nước ta trong những năm gần đây
Trang 2Kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt – May sang thị trường Mỹ năm 2007 đạt 4,47
tỷ USD, tăng 46,65% so với năm 2006 cao hơn nhiều so với những năm trước Năm 2008 đạt mục tiêu 9,5 tỷ tăng 21,8 % so với năm 2007
Sau khoảng thời gian học tập trên ghế nhà trường, là một sinh viên ngànhmay ngoài những kiến thức được học thì việc đi thực tập tại các công ty để củng
cố nâng cao kỹ năng và có thể chuẩn bị tốt hành trang giúp sinh viên sau khi ratrường có thể tự tin tiếp cận với thực tế sản xuất là điều hết sức bổ ích, ý nghĩa
và cần thiết
Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần X20 em đã học hỏi được rấtnhiều kiến thức bổ ích cho bản thân từ các cán bộ điều hành, các chú, các bác,các anh chị kỹ thuật viên trong Công ty
Được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn : T.s Nguyễn Thị Thuý
Ngọc và T.s Nguyễn Thị Vân Em xin chân thành cảm ơn Nhà trường và Quý
Công ty đã tạo điều kiện, giúp đỡ em học tập cũng như hoàn thành đợt thực tậpnày
Do thời gian thực tập và nghiên cứu còn hạn chế, và sự hiểu biết nông cạn
của em nên “Báo cáo thực tập tốt nghiệp” của em không tránh khỏi những thiếu
sót Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của thầy cô giáo cũng như các côchú, anh chị trong Công ty Cổ phần X20
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn
Trong bản Báo cáo thực tập này em xin trình bày những vấn đề sau:
1 :Qúa trình hình thành và phát triển của công ty Cổ phần X20.
2: Tìm hiểu quá trình sản xuất may công nghiệp tại xí nghiệp.
3: Tìm hiểu và thực hành nhiệm vụ kỹ thuật tại xí nghiệp.
Hà Nội, Ngày 01 tháng 04 năm 2010
Sinh Viên
Đinh Thị Chinh
Trang 3PHẦN THỨ NHẤT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN X20 TÌM HIỂU HỆ THỐNG TỔ CHỨC QUẢN LÝ KINH DOANH CỦA XÍ NGHIỆP MAY 3
I Giới thiệu về công ty cổ phần X20:
Tên công ty: Công ty cổ phần X20 gọi tắt là công ty 20
Tên quốc tế: GARMENT – COMPANY No20
Trực thuộc bộ quốc phòng
Địa chỉ: 35 Phan Đình Giót – Phương Liệt – Thanh Xuân - HN
Giám đốc: Đại tá Chu Đình Quý
Các mặt hàng chủ yếu là các sản phẩm phục vụ trong quân đội, ngoài ra còn sảnxuất một số mặt hàng xuất khẩu
1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty 20.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộnghoà ra đời, nước ta bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của độc lập, tự do, dânchủ nhân dân Ngay sau khi cách mạng thành công, nước ta đứng trước nhữngthử thách nặng nề, khó khăn chồng chất khó khăn Ngoài những nhiệm vụ cấpbách hàng đầu như chống “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”, công việc đảmbảo ăn, mặc cho Quân đội cũng rất cần cấp Đảng, chính phủ đã dựa vào dân,động viên nhân dân ủng hộ vật chất đảm bảo cung cấp cho bộ đội
Trong điều kiện miền Bắc có hoà bình, quân đội thưch hiện chính quy hoá,hiện đại hoá, nhu cầu về trang phục đòi hỏi phải có bước phát triển mới củangành quân trang Trước năm 1957, việc may đo quân phục cho cán bộ trung –cao cấp quân đội do thợ lành nghề may theo hợp đồng của Phòng Sản Xuất trangdụng và Cục Quân nhu Do trình độ tay nghề và nhiều yếu tố khách quan khác,
Trang 4trang phúc may sắn theo phương thức này vừa không đảm bảo chất lượng, vừathiếu thống nhất, cán bộ thường bị động, lúng túng.
Để khắc phục tình trạng đó, từ năm 1956, lãnh đạo, chỉ huy Tổng cục Hậucần, Cục Quân nhu đã có dự định tổ chức một cơ sở may cho cán bộ do nghànhquân nhu trực tiếp quản lý Các đồng chí Nguyễn Thanh Bình – phó chủ nhiệmTổng cục, đồng chí Lê Xy – trưởng phòng sản xuất trang dụng, đồng chíNguyễn Văn Đễ - phó phòng và một số cán bộ chuyên môn đã nghiên cứu chuẩn
bị tổ chức xưởng may này Các đồng chí Trần Tử Đãi, Nguyễn Xuân Mậu,Nguyễn Ngọc Khuê… được giao nhiêm vụ chuẩn bị thành lập xưởng
Vào ngày 18/ 2/ 1957, tại phòng làm việc cũ của chủ nhà máy da Thụy Khuêthuộc quận Ba Đình – Hà Nội, “Xưởng may đo hàng kỹ”,gọi tắt là X.20 đượcthành lập
Xưởng có nhiệm vụ may đo quân trang, phục vụ cán bộ trung – cao cấp các
cơ quan thuộc Bộ Quốc Phòng – Tổng tư lệnh và các quân – binh chủng đóngquân trên địa bàn Hà Nội Xưởng còn có nhiệm vụ tham gia nghiên cứu chế thử
và sản xuất thử nghiệm các kiểu quân trang, quân phục cho quân đội Chính vìnhiệm vụ và yêu cầu đảm bảo kỹ thuật như trên mà xưởng có tên là “Xưởngmay hàng kỹ”
Biên chế ban đầu X.20 có trên 30 cán bộ, công nhân, đa số là mới tuyển theochế độ hợp đồng, trong đó có 4 đảng viên Xưởng X.20 được đặt ngay tại ngôinhà hai tầng của tên chủ nhà máy da Thụy Khuê, cùng nơi X.40 đang sản xuất Thời kỳ đầu, X.20 chú trọng đi sâu vào chất lượng, bảo đảm kỹ thuật sảnphẩm, củng cố tay nghề công nhân Để đảm bảo thu nhập cho công nhân, hìnhthức trả lương theo phương pháp khoán sản phẩm đơn chiếc
Năm 1957, năm đầu tiên sản xuất của X.20, với 36 cán bộ, công nhân trựctiếp sản xuất, với cơ sở vật chất còn nghèo nàn, X.20 đã hoàn thành tổng sảnlượng quy ra bộ tiêu chuẩn là 16.520 bộ, năng suất của một công nhân là1.091.25 đồng Đã làm tiền đề cho sự phát triển sau này
Trang 5Ngày 20/ 6/ 1958, Chính phủ ra nghị định quy định quân hiệu và lễ phụcQuân đội nhân dân Việt Nam Ngày 25/ 7/ 1958, X.20 được giao nhiệm vụ cử 8cán bộ, công nhân làm nòng cốt xây dựng xưởng may quân hàm tại ấp Thái Hà,Đống Đa, Hà Nội, phục vụ cho lễ duyệt binh ngày Quốc Khánh 2/ 9 và lễ phongquân hàm cho toàn quân Ngày 28/ 9/ 1958, X.20 đã được chuyển sang vị trímới Cho đến năm 1959, X.20 vẫn chưa có chi bộ riêng Từ khi đến vị trímới,X.20 thực sự trở thành một đơn vị độc lập Cuối năm 1959, tổ chức cơ sởĐảng
Và tổ chức quần chúng của X.20 đã hình thành, bắt đầu hoạt động độc lập X.20
có bước củng cố về tổ chức, tạo ra tiền đề căn bản để sẵn sàng bước vào thời kỳmới Và cũng tại X.20 chiếc võng Trường Sơn, mái tăng Trường Sơn đã ra đời
Và ngay sau đó chiếc mũ tai bèo cũng ra đời
Tháng 1/ 1961, X.20 phát động phong trào thi đua “Ba nhất” Qua 4 đợt thaodiễn kỹ thuật đã tăng năng suất từ 116% lên 210% ; 100% quân số tham gia thaodiễn, 98,14% đạt và vượt định mức
Tháng 8/ 1961, hội nghị công nhân viên chức X.20 được triệu tập Cuối năm
1961, Tổng cục hậu cần cho phép chuyển vào biên chế chính thức số công nhânlàm hợp đồng từ ngày thành lập xưởng Trải qua 5 năm vừa xây dựng vừa sảnxuất, X.20 từng bước phát triển cả về nhiệm vụ, tổ chức và trang bị kỹ thuật Tháng 12/ 1962, tổng cục hậu cần chính thức ban hành nhiệm vụ cho X.20theo quy chế của xí nghiệp quốc phòng Ngày 17/ 10/ 1962, X.20 ban hành nộiquy và chế độ làm việc cho cán bộ, công nhân Năm 1962, X.20 được giaonhiệm vụ may trang phục cho đoàn đại biểu Chính phủ ta đi dự hội nghị Giơ-ne-
vơ về Lào Đầu năm 1963, đại hội chi bộ lần 6 của X.20 được triệu tập, xác địnhđây là năm bản lề, then chốt trong quá trình phát triển của xí nghiệp, phải nhanhchóng hoàn chỉnh dây chuyền sản xuất hàng loạt
Ngày 5/ 8/ 1964, ngày mở đầu đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đếquốc Mỹ Ngày 30/ 8 /1964, lệnh di chuyển xí nghiệp được chính thức ban hành
Trang 6Đêm đó toàn bộ công nhân, gia đình và thiết bị sản xuất đã đến nơi sơ tán antoàn Sau khi ổn định nơi sơ tán, xí nghiệp X.20 lại bắt tay vào sản xuất Từ
“Xưởng may đo hàng kỹ” đến “Xí nghiệp may 20” X.20 đã trải qua 7 năm trênchặng đường xây dựng và trưởng thành Tháng 6/ 1965, Xí nghiệp 20 nhậnnhiêm vụ may thử bộ quần áo ngủ phủ ngoài bộ kháng áp cho các chiến sĩ láimáy bay, Tổng cục hậu cần đã giao cho cục Quân nhu và Xí nghiệp may 20nghiên cứu chế thử bộ áo giáp chống bom bi
Đầu năm 1966, đại hội chi bộ lần thứ 8 tổng kết công tác lãnh đạo Tháng 5,
Xí nghiệp mở một lớp bồi dưỡng thợ có tay ngề từ bậc 4 trở lên Tháng 6, xínghiệp đưa nội dung “7 quản” vào hoạt động của các tổ sản xuất Năm 1967,chiến tranh lan rộng, nhưng tại nơi sơ tán, Xí nghiệp may 20 tiếp tục đấy mạnhphong trào sản xuất, bảo đảm bí mật, an toàn
Sau tết Mậu Thân 1968, từ tháng 2 xí nghiệp thực hiện kế hoạch sản xuấthàng loạt quần áo lặn, áo phao, áo giáp chống bom bi Tháng 7, Tổng cục hậucần giúp đào tạo thợ may chuẩn bị xây dựng xưởng may 20B Sau 6 tháng,chương trình đào tạo đã hoàn thành Xưởng may 20B ra đời X.20B trở thành
“Xí nghiệp vệ tinh” đầu tiên của xí nghiệp may 20 và ngành may quân đội
Tháng 8/ 1969, xí nghiệp mở một lớp cắt may quân phục cho bạn Lào gồm
11 đồng chí Một lần nữa, xí nghiệp may 20 lại góp phần nhỏ bé hoàn thànhnghĩa vụ quốc tế của ngành hậu cần trong quân đội Cuối tháng 5/ 1970, toàn bộ
xí nghiệp chuyển từ nơi sơ tán về Hà Nội Tháng 6/ 1970, xí nghiệp tiếp tục xâydựng khu nhà máy mới Năm 1971, Đế quốc mỹ ném bom trở lại miền Bắcnước ta Mới sau 2 năm từ nơi soa tán trở về xí nghiệp một lần nữa nhận đượclệnh di chuyển ra khỏi trung tâm Hà Nội Ở nơi sơ tán, máy bay Mỹ đánh bomnhưng do phòng tránh tốt nên chỉ có 1 công nhân bị thương máy móc thiết bịvẫn an toàn
Kết thúc thắng lợi một năm hoàn thành vượt mức kế hoạch, xí nghiệp vinh dựđược nhận lẵng hoa của chủ tịch nước Tôn Đức Thắng và Nhà nước tặng thưởng
Trang 7Huân chương chiến công hạng nhì Từ 1969 – 1972 là 4 năm xí nghiệp may 20phát triển nhanh về mọi mặt
Tháng 5/ 1973, Tổng cục Hậu cần và Cục Quân nhu lệnh cho xí nghiệpchuyển về Hà Nội Tháng 5/ 1974, Ban Giám Đốc quyết định sáp nhập phânxưởng 3 và 5 thành phân xưởng 35
Mười năm trong kháng chiến chống Mỹ, mười năm xí nghiệp trưởng thành
và phát triển cả về tổ chức, đội ngũ cán bộ, công nhân, cơ sở vật chất kỹ thuật vànền nếp quản lý
Kết thúc năm 1975, xí nghiệp may 20 đạt giá trị sản lượng 812.874 bộ tiêuchuẩn, cao nhất kể từ ngày thành lập Ngày 29/ 4/ 1976, Đại hội đại biểu lần 6được triệu tập Đây là hội nghị có ý nghĩa quan trọng trong bước đi ban đầu,chuẩn bị bước vào tuổi 20 Ngày 18/ 2/ 1977, Xí nghiệp may tròn 20 tuổi Toàn
bộ xí nghiệp tổ chức ăn mừng, nhân ngày được nhận Huân Chương hạng nhì Từnăm 1975 -1979, đó là thời kỳ chuyển mình sau chiến tranh của xí nghiệp
Năm 1989, X.20 được đánh dấu một sự kiện vô cùng to lớn Xí nghiệp may
20 được Hội Đồng Nhà Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên dươngdanh hiệu cao quý: “Đơn vị anh hùng lao động”
Ngày 12/ 2/ 1992, Bộ Quốc phòng ra quyết định chuyển Xí nghiệp may 20thành Công ty may 20 Đến cuối năm 1993 về cơ bản công tác tổ chức của Công
ty may 20 đã hoàn thành Tuy vậy nhiều thử thách to lớn đối với Công ty may
20 vẫn còn ở phía trước Doanh thu của năm 1993 đạt 36,3 tỷ đồng, tăng hơnnăm trước gần 4 lần Lương bình quân của công nhân đạt 370.000 đồng/ tháng.Năm 1993 cũng đánh dấu bước đầu thực hiện quản lý theo mô hình mới củaCông ty may 20
Năm 1994, Công ty tiếp tục đổi mới trang thiết bị nên năng suất của năm
1994 rất đáng nể, với tổng doanh thu đạt 64.082.951.382 đồng, đạt 101,14% kếhoạch đề ra, thu nhập đầu người là 537.000 đồng/ tháng Những tiênd đề đó đãgiúp Công ty may 20 tiến thêm một bước trên con đường xây dựng và phát triển
Trang 8Để đáp ứng nhu cầu của quân đội, Ban giám đốc đã đầu tư vào Xí nghiệp Dệtkim Từ khi đi vào sản xuất, mỗi năm xí nghiệp Dệt kim đã thực hiện 1,5 triệusản phẩm mỗi loại Chất lượng ngày càng được nâng cao Với hiệu quả kinh tế
rõ rệt năm 1996 Công ty đã được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao độnghạng nhất
Ngày 17/ 3/ 1998, Trung tướng Trương Khánh Châu – thứ trưởng Bộ Quốcphòng, được uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ký Quyết định số319/1998/QĐ-QP về việc đổi tên và bổ sung ngành nghề cho Công ty may 20.Đổi tên thành Công ty 20, cùng với việc đổ tên Công ty cũng tiến hành ổn địnhlại tổ chức, bổ sung nhân lực để nhanh chóng đi vào sản xuất Đến cuối năm
1999 cơ bản Công ty 20 đã có những bước đi đột phá Là dấu ấn quan trọngtrong lịch sử xậy dựng và phát triển của Công ty
Với sự lớn mạnh, trưởng thành của các tổ chức quần chúng, dưới sự lãnh đạocủa Đảng bộ Công ty 20 thực sự đã chuẩn bị tốt cho cuộc hành trình bước vàothế kỷ XXI
Từ một Xí nghiệp nhỏ bé, lạc hậu, sau 50 năm xây dựng và phát triển Công
ty 20 đã trở thành doanh nghiệp nhà nước lớn của Bộ Quốc phòng và của ngànhdệt may Việt Nam Công ty 20 đã có nhiều hình thức liên doanh, liên kết sảnxuất với bạn bè trên thế giới như Liên Xô (cũ), các nứoc Đông Âu, Mỹ, Canada,Đức, Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật Bản, Tây Ban Nha…và có vị thế quan trọngtrên thị trường trong và ngoài nước
Ngày 1/ 1/ 2009, Công ty 20 chính thức đổi tên thành Công ty Cổ phần X20 Hơn 50 năm xây dựng và phát triển từ Xí nghiệp X.20 giờ thành Công ty Cổphần X20 là cả một quá trình phát triển không ngừng vươn lên phù hợp với tiếntrình lịch sử của đất nước, của quân đội ta nói chung và của Ngành Hậu Cần,Ngành Quân trang quân đội ta nói riêng Đó là quá trình phát triển từ thủ côngđến bán cơ khí, rồi cơ khí toàn bộ Từ đơn ngành đến đa ngành, từ quản lý theo
Trang 9chế độ bao cấp đến hạch toán từng phần rồi toàn phần, tiến tới hoà nhập với thịtrường trong nước, khu vực và trên toàn thế giới.
2 Cơ cấu tổ chức quản lý kinh doanh của Công ty cổ phần X20.
Trang 10II Hệ thống tổ chức quản lý, kinh doanh của xí nghiệp may 3
PHẦN THỨ HAI GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC PHÒNG KẾ HOẠCH TỔNG HỢP PHÒNG KỸ THUẬT PHÒNG CẮT PHÂN XƯỞNG MAY I PHÂN XƯỞNG MAY II PHÂN XƯỞNG MAY III MÔ HÌNH BAN QUẢN LÝ XÍ NGHIỆP MAY 3
TỔ
1
TỔ
2
TỔ 3
TỔ 4
TỔ 1
TỔ 2
TỔ 3
TỔ
4
TỔ 1
TỔ
2
TỔ
3
TỔ 4
Trang 11TÌM HIỂU QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT MAY CÔNG NGHIỆP
TẠI XÍ NGHIỆP MAY 3 – CÔNG TY CỔ PHẦN X20
I Công tác chuẩn bị nguyên phụ liệu:
Công tác cung cấp nguyên phụ liệu của Công ty X20 cho Xí nghiệp May 3khá thuận lợi, vì hầu hết nguyên phụ liệu do khách hàng mang tới
1 Phương pháp, thủ tục giao nhận vật tư:
a Chức năng, nhiệm vụ: Là kho để các nguyên phụ liệu của quá trình sản xuất
như: Nhãn mác, cúc, chỉ, khoá, mex …
b Nhập kho: Thủ kho căn cứ vào những yêu cầu sau để nhận vật tư, nguyên
phụ liệu
+ Kế hoạch cho các mã hàng
+ Nhu cầu vật tư
+ Hướng dẫn phị liệu.(nếu có)
+ Bảng theo dõi nhận phụ liệu
Thủ kho có trách nhiệm theo dõi và giao nhiệm vụ cho bộ phận kiểm kê, đếmtừng chủng loại phụ liệu và lập bảng tổng hợp kiểm kê
- Nếu lô nguyên liệu không đạt chất lượng theo chỉ tiêu thì phải báo cáo choPhó giám đốc phụ trách để xử lý kịp thời
Trang 12c Xuất kho Xuất phụ liệu cho các chuyền may.
- Căn cứ vào mức cấp phụ của mã hàng do cán bộ kế hoạch phụ liệu cung cấp.
- Căn cứ vào hạn mức, mà có kế hoạch phân cho các tổ may.
- Thống kê sau đó lập bảng cấp phụ liệu cho phù hợp.
- Khi cấp phát yêu cầu tổ nhận phụ liệu phải ký nhận vào sổ giao nhận vật tư.
d Kiểm soát lưu kho.
Các phụ liệu còn tồn lại của các mã hàng phải xếp trên các kệ, thùng có đánhdấu để tiện theo dõi và bảo quản
Bảng kê khai các phụ liệu phải rõ ràng dễ hiểu
Thủ kho phải thường xuyên kiểm tra kho vật tư để cung cấp cho cán bộ kếhoạch để có thiếu còn kịp thời bổ xung
2.2 Kho vải( kho nguyên liệu).
a Chức năng, nhiệm vụ: Là kho chứa vải để phục vụ cho sản xuất, kho có
nhiệm vụ cung cấp và bảo quản vật liệu cho tổ cắt
b Nhập kho:
Khi có mã hàng do khách hàng mang tới, thủ kho sẽ đi nhận nguyên liệu dokhách hàng cung cấp Còn khi có mã hàng do Công ty cung cấp thì thủ kho sẽ đinhận nguyên liệu từ kho của Công ty cung cấp theo phiếu nhập kho Công tycung cấp
Giao vật liệu cho bộ phận kiểm tra, để kiểm tra từng chủng loại và viết bảngkiểm tra vật tư
Các vật liệu đạt sẽ đem vào sản xuất còn chưa đạt thông báo lại cho Giámđốc, hoặc cho bên cung cấp vật tư để xem xét lại
Thủ kho nhận hàng trên cơ sở:
+ Căn cứ vào kế hoạch nhập nguyên vật liệu
+ Căn cứ vào thông báo sản xuất
Khi nhập kho phải tuân thủ các nguyên tắc:
+ Phải có phiếu xác nhận của KCS Công ty
Trang 13+ Trên mỗi cây vải phải có tem ghi đầy đủ các thông số kỹ thuật yêu cầu + Cân xác suất và kiểm tra chất lượng một vài cây vải.
Các công đoạn kiểm tra bao gồm:
+ Kiểm tra xem trong lô vải có bao nhiêu cuộn đạt loại A, B, C hoặc loạikhác
+ Kiểm tra khổ vải
+ Kiểm tra loại vải
+ Kiểm tra màu vải
+ Kiểm tra nhãn vật tư
Kiểm tra xem có khớp với chứng từ không
Trang 14PHIẾU XUẤT KHO
Trang 15PHIẾU KIỂM TRA
Bảng màu:………Ngày kiểm tra:……
Mã:………Người kiểm tra:………
BẢNG KÊ CHI TIẾT DÙNG ĐỂ KIỂM SOÁT TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP VẬT LIỆU VÀO KHO
TT Ngày/ Tháng Ký hiệu mẫu Số lượng xuất kg Số lượng nhập(kg)
2.3 Kho thành phẩm:
a Nhập kho.
Khi nhập sản phẩm về kho thủ kho cần chú ý:
+ Khi nhập vào kho cần đối chiếu kiểm tra tính hợp lệ của các loại chứng từ cóliên quan Đối chiếu với số lượng sản phẩm thực tế ghi trên phiếu sản xuất.+ Nếu có sai sót thì ghi lỗi vào phiếu xuất nhập sản phẩm rồi báp lại với chuyềnmay
b Xuất kho.
+ Xuất kho theo phiếu xuất nhập của phòng sản xuất đối với sản phẩm đó
Trang 163 Kiểm tra phân loại cất trữ vật tư:
3.1 Kiểm tra, phân loại đối với phụ liệu.
Mở từng kiện hàng để kiểm tra số lượng, màu sắc, chủng loại…của phụ liệu.Sau đó đối chiếu với hoá đơn hay list phụ liệu khách hàng gửi Rồi ghi vàophiếu theo dõi nhập phụ liệu
Đối với những loại phụ liệu đóng túi, bỏ hộp thì kiểm tra xác suất một số túihoặc hộp bằng cách lấy 4-5 túi để kiểm tra về số lượng, chất lượng Tiến hànhcân trọng lượng các bao gói để so sánh, kiểm tra số lượng phụ liệu ghi trên tem,nhãn hoặc đơn hàng
3.2.Kiểm tra, phân loại đối với nguyên liệu.
Chất lượng nguyên liệu có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất khâu cắt, năng
suất chuyền may và chất lượng sản phẩm vì vậy cần phải kiểm tra trước khi đưavào sản xuất
Khi kiểm tra xem thông số trên cây vải rồi mở kiện hàng ra để kiểm tra + Số lượng( mét)
Yêu cầu chất lượng đối với nguyên phụ liệu.
Độ co của vải: Độ co có ảnh hưởng rất lớn đối với kích thước thành phẩm saunày nên cần phải tiến hành kiểm tra trước khi đem vào sản xuất
Màu vải: Sự khác nhau về màu vải cũng ảnh hưởng rất lớn nên phải so sánhkiểm tra đối với tùng loại
Lỗi vải: Tuỳ thuộc lỗi do khâu dệt vải hay do vận chuyển mà ta có phương pháp
sử lý
Trang 17Độ bám dính của dựng: Bằng cách ép thử mex trước để kiểm tra.
Độ đồng đều của cúc
Khoá kéo có bị kẹt hay không …
Trên mỗi loại nguyên phụ liệu phải có nhãn ghi rõ đầy đủ các thông số của loạinguyên phụ liệu
Phương tiện vận chuyển, thiết bị kiểm tra.
Phương tiện: xe đẩy tay
Thiết bị kiểm tra: bàn cân, đếm tay…
- Thiết bị bảo quản: kệ, giá để hàng, bao túi
II Qúa trình cắt:
Cắt là công đoạn có nhiệm vụ chuẩn bị, cung cấp bán thành phẩm cho côngđoạn may Do vậy năng suất và chất lượng công đoạn cắt có ảnh hưởng trực tiếptới năng suất và chất lượng sản phẩm Đồng thời đóng vai trò quan trọng trongviệc tiết kiệm nguyên liệu, hạ giá thành sản phẩm
Cắt bao gồm các công đoạn sau:
+ Trải vải
+ Sao sơ đồ
+ Cắt vải
+ Đánh số đồng bộ
1.Yêu cầu kỹ thuật công đoạn trải vải và cắt vải:
Quá trình cắt vải ảnh hưởng rất lớn đến kích thước sản phẩm Trải vải, cắt vảiđòi hỏi yêu cầu kỹ thuật rất cao và chặt chẽ
1.1: Quá trình trải vải:
Trải vải là bước đầu tiên của công đoạn cắt, nó giúp hình thành nên chất
lượng sản phẩm
1.1.1: Yêu cầu kỹ thuật công đoạn trải vải:
a Chuẩn bị bàn vải và trải vải:
- Tổ cắt nhận bảng mầu và tài liệu kỹ thuật từ phòng kỹ thuật về sản phẩm
Trang 18- Trước khi trải vải, xem thông tin trên cây vải bao gồm: Mã, loại vải, khổ vải,màu sắc,…Sau đó vải được tở ra để cho vải có thời gian định hình lại hình dáng.Tuỳ từng loại vải mà có thời gian định hình khác nhau.
- Làm sạch bàn trải vải( bàn cắt)
b Trải vải:
Trải vải có nhiều phương pháp, phương pháp của Công ty cổ phần X20 dùng
đa phần là phương pháp thủ công
Thiết bị sử dụng trong trải vải:
Yêu cầu kỹ thuật khi trải vải:
+ Trải vải phải đảm bảo không bị bai, giãn
+ Hai mép vải song song với mép bàn, tránh sô lệch
+ Các lớp vải phải êm phẳng( dùng thước gạt cho phẳng)
+ Nếu mặt vải có khuyết tật thì đánh dấu lại rồi báo cho tổ kỹ thuật phụ tráchkiểm tra và giải quyết
+ Trải vải phải đảm bảo số lá vải phải chính xác theo yêu cầu từng mã hàng.+ Trải xong dùng kẹp kẹp lại tránh xô lệch khi cắt vải
+ Đặt mẫu giác sơ đồ lên mặt lá vải đã được trải phẳng, dùng gậy xoa phấn cholọt qua sơ đồ giác tạo nét vẽ cho quá trình cắt
Quá trình áp mẫu giác sơ đồ cần lưu ý, trải phẳng, cân đối lên lớp vải trên cùng
Trang 19Yêu cầu kỹ thuật khi cắt vải:
+ Những chi tiết không đòi hỏi độ chính xác cao thì được cắt bằng máy cầm tay.+ Mép cắt phải phẳng, đều, không bị răng cưa, rách
+ So sánh lá đầu và lá cuối xem có trùng khít không, nếu có sai lệch phải sửangay
Trang 20Yêu cầu dùng bút chì hoặc phấn ghi vào mặt trái của chi tiết bán thành phẩm Sốviết rõ ràng dễ nhìn, viết sát vào mép đường cắt của chi tiết.
+ Sau khi đánh số xong thì bó từng loại, cỡ số riêng ra thành từng bó trướckhi giao bán thành phẩm cho chuyền may
SƠ ĐỒ MẶT BẰNG PHÂN XƯỞNG CẮT
Bàn cắt phá Bàn cắt phá Bàn cắt phá
Khu để mẫu giác sơ
đồ và sản phẩm may mẫu.
Trang 21III: Quá trình may:
Quá trình may là khâu quan trọng trong suốt quá trình sản xuất Nó chiếmnhiều thời gian nhất từ 70 – 80% khối lượng công việc và chịu sự phân phối vàđiều hành từ nhiều phía: các tổ trưởng, kỹ thuật dây chuyền, năng suất, chấtlượng, hiệu quả lao động…phụ thuộc vào cách quản lý và điều hành bố tríchuyền, điều phối lao động, thiết bị
1.Quá trình tổ chức sản xuất trên chuyền may.
Tổ trưởng nhận tài liệu kỹ thuật từ phòng kỹ thuật gồm:
+ Hướng dẫn kỹ thuật may
+ Yêu cầu kỹ thuật của mẫu chuẩn
+ Mẫu sang dấu
Tổ trưởng kiểm tra những tài liệu kỹ thuật, mẫu chuẩn, mẫu sang dấu và kiểmtra lại sự đồng bộ Nếu không đồng bộ thì phải đưa lại cho phòng kỹ thuật đểkiểm tra lại
a Nhiệm vụ của tổ trưởng chuyền may:
- Khi nhận một mã hàng mới tổ trưởng phải đọc kỹ tài liệu kỹ thuật do phòng kỹ
thuật cung cấp
- Lấy chứng từ bán thành phẩm từ xưởng cắt và nhận bán thành phẩm từ xưởngcắt
- Nghiên cứu mã hàng mới để chuẩn bị sản xuất,
- Sao mẫu các chi tiết trong sản phẩm
- Xem xét sản phẩm mẫu, trên mẫu có những chi tiết gì, phù hợp với tay nghề kỹthuật của công nhân nào trên tổ mình để phân công
- Tổ trưởng và kỹ thuật rải hàng trên chuyền, tổ trưởng có nhiệm vụ phân côngcông việc đến từng công nhân trên dây chuyền
- Tổ trưởng giám sát sản phẩm trên dây chuyền từ lúc đưa bán thành phẩm vàodây chuyền đến lúc sản phẩm ra khỏi chuyền may
- Đôn đốc kịp thời để sản phẩm hoàn thành kịp tiến độ