1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

NHỮNG BÀI VĂN 9 (Tham khảo)

176 242 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 237 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viếng lăng Bác Viễn Phương Trong chương trình ngữ văn trung học cơ sở , em được đọc và học một số bài thơ rất hay viết về Bác Hồ kính yêu của dân tộc.. Cũng xuất phát từ tình cảm đó ch

Trang 1

Viếng lăng Bác ( Viễn Phương ) Trong chương trình ngữ văn trung học cơ sở , em được đọc và học một số bài thơ rất hay viết về Bác Hồ kính

yêu của dân tộc Nhưng có lẽ bài thơ gây cho em ấn tượng nhất , xúc động nhất là bài thơ Viếng lăng Bác của

nhà thơ Viễn Phương Bài thơ viết về Bác , sau khi Bác đã đi xa Bằng tình cảm thành kính và bao nhiêu năm mong mỏi nay bỗng bật dậy trào dâng và được thể hiện trong những vần thơ vô cùng sâu sắc ( dẫn cả bài thơ ) Bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương thể hiện niềm xúc động , thiêng liêng thành kính , lòng biết ơn vàtự hào pha lẫn nỗi xót đau khi tác giả từ miền Nam ra viếng lăng Bác Bài thơ gọn chỉ có 4 khổ , 16 dòng nhưng đã kết hợp giữa miêu tả và biểu hiện cảm xúc tâm trạng

Mở đầu bài thơ tác giả viết :

Trang 2

“ Con ở miền nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôâi hàng tre xanh xanh Việt Nam Bãûo táp mưa sa đứng thẳng hàng ”

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác ,câu thơ mở đầu ngắn gọn như một lời thông báo nhưng lại gợi ra rất nhiều điều : có thể nghĩ đó là tâm trạng xúc động của một người từ chiến trường miền Nam sau bao năm mong mỏi bây

giờ mới được ra viếng Bác Câu thơ vừa ấm áp tình người với cách xưng hô thân mật Con – Bác bởi tất cả chúng ta đều là những người con của Bác “ Người là Cha là Bác là Anh - Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ ”

Nhà thơ đã tạo nên một không khí ấm áp, gần gũi , thân thiết

Trang 3

Hòa vào dòng người xếp hàng vào lăng viếng Bác , Viễn Phương có dịp quan sát khung cảnh xung quanh lăng Người Hình ảnh đầu tiên mà tác giả thấy được và cũng là ấn tượng đậm nét về cảnh quan quanh lăng Bác là hàng tre Cây tre từ bao đời là hình ảnh thân thuộc của đất nước Việt Nam Nhắc đến tre ta lại nghỉ về đất nước , về dân tộc Việt Nam với bao đức tính cao quí tre anh hùng trong chiến đấu , tre yêu thương giúp đỡ dân tộc , tre hi sinh cho thế hệ mai sau và tre cũng rất kiên cường , bâùt khuất

Nòi tre đâu chịu mọc cong Chưa lên đã nhọn như chông lạ thừơng”

Có thể nói cây tre Việt Nam là biểu tượng sức sống biền bỉ , kiên cường của dân tộc Việt Nam bão táp mưa sa

đứng thẳng hàng Mặc cho bão táp mưa sa tre vẫn thanh thản bình yên đúng đó thẳng hàng như những vệ binh

đứng gác bảo vệ lăng Người

Trang 4

Theo đoàn người vào lăng viếng Bác nhà thơ đã cảm nhận được

“ Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ ”

Mặt trời ngày ngày đi qua trên lăng là hình ảnh thực : mặt trời của đất , nguồn ánh sáng lớn nhất , rực rỡ nhất

và vĩnh viễn trên thế gian Mặt trời trong lăng rất đỏ là một hình ảnh ẩn dụ , nhà thơ muốn nói Bác Hồ chúng ta là mặt trời Mặt trời đỏ chiếu sáng con đường chúng ta đang đi bằng sự nghiệp vĩ đại của người Có phải chăng đây là niềm tôn kính của nhà thơ , cũng là của nhân dân đối với Bác , vừa là lời ca ngợi sự vĩ đại của Bác chúng

ta

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân

Trang 7

Mặ dù hiện tại nhà thơ đang đứng bên lăng Người , trong lăng Người nhưng khi nghĩ đến những ngày phải rời miền Bắc , ngày xa Bác Viễn Phương thấy bịn rịn không muốn rời Tình cảm trong những ngày được sống bên Bác luôn luôn sâu lắng từng giây từng phút Tác giả không thể nào ngăn được nữa những dòng nước mắt trào dâng và tha thiết

Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Câu thơ thật bình dị nhưng chứa chan tình thươngấp ủ sâu lắng tận đáy lòng làm cho mỗi chúng ta khi đọc lêncảm thấy vô cùng xúc động Đây là một cách nói không hoa mỹ mà là một cách nói rất chân thành của người dân Nam Bộ nhưng lại lắng đọng trong lòng người không gì có thể nói và tả được Cũng xuất phát từ tình cảm đó cho nên nhà thơ có ước nguyện thành kính và đây có thể là ước vọng chung của tất cả mọi người đã một lần hoặc chưa một lần gặp Bác

Trang 8

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này

Điệp ngữ “ Muốn làm ” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong đoạn thơ thể hiện ước nguyện muốn tự nguyện tự giác của Viễn Phương nhà thơ muốn làm con chim hót dâng tiếng hót vui Muốn làm bông hoa dâng hương thơm và sắc đẹp muốn làm cây tre trung hiếu canh giữ cho lăng Bác ngày đêm Hình ảnh cây tre lại xuất hiệnởđoạn cuối bài thơ làm nhiệm vụ khép lại bài thơ một cách khéo léo , tạo cho người đọc một ấn tượng mạnh mẽ khó phai mờ

Trang 9

Ước vọng của nhà thơ thể hiện tình cảm thành kính thiêng liêng của người con Nam Bộ đối với Bác Hồ Ước

muốn đó cũng là tình cảm của mỗi người dân Việt Nam đối với Bác Hồ Những người đã về lăng Bác “ Kết

tràng hoa dâng 79 mùa xuân ” và những ai chưa đến lăng nhưng lòng vẫõn thành tâm hướng về Bác

Viếng lăng Bác , bài thơ gây một xúc cảm đặc biệt , thành công trước hết phải nói là nhờ cảm xúc hết sức chân thành và sâu sắc của Viễn Phương Xúc cảm đó được “ cộng hưởng ” bởi tình cảm thiêng liêng mà Bác dành cho nhân đân miền Nam và tình cảm thành kính , ngưỡng mộ mà toàn dân tộc Việt Nam dành cho Bác Cảm ơn nhà thơ đã truyền cảm xúc của mình đến với người đọc Chúng ta con cháu của Bác xin nguyện như nhàthơ Viễn Phương làm tiếng chim hót , làm bông hoa đẹp , làm cây tre trung hiếu và sẵn sàng làm muôn ngàn công việc tốt để kính dâng Người

Phân tích : sang thu ( Hữu Thỉnh )

Trang 10

Mùa thu thường là đề tài của các thi nhân Việt Nam Bởi mùa thu là thời điểm giao cảm của tâm hồn con người với thiên nhiên tạo thành một truyền thống thi ca của mùa thu Cũng viết về mùa thu nhưng mỗi nhà thơ viết về

một thời điểm khác nhau Nguyễn Khuyến viết “ Thu điếu ” vào thời điểm trong thu Xuân Diệu viết “ Đây mùa

thu tới ” ở thời điểm cuối thu Còn nhà thơ Hữu Thỉnh viết “ Sang thu” ở thời điểm chớm thu bài thơ là sự cảm

nhận của nhà thơ về sự biến đổi của đất trời từ cuối hạ sang đầu thu

Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về

Trang 11

Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu

Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi

Trang 12

Thật vậy , bài thơ sang thu tuy ngắn nhưng có nhiều hình ảnh đặc sắc , gợi cảm về thời điểm giao mùa từ hạ sang thu ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ Mở đầu bài thơ tác giả viết :

“ Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về ”

Ta thấy tác giả cảm nhận không gian làng quê sang thu thật bất ngờ “ Bỗng nhận ra hương ổi ” , từ bỗng thể

hiện sự đột ngột , bất ngờ nhưng cái bất ngờ mới nên thơ làm sao ! Bất ngờ nhận ra những dấu hiệu thiên nhiên

khi mùa thu về Đó là hương ổi thoang thoảng thơm trong gió thu se lạnh Từ phả có thể thay bằng các từ thổi ,

Trang 13

đưa , bay ,lan , tan … Nhưng cả bấy nhiêu từ đều không có cái nghĩa đột ngột , bất ngờ Mùa quả chín , mùa ổi đã trỡ thành nhan đề cho cả một bộ phim truyện nổi tiếng , giờ đây đã trở thành mùi hươngcủa mùa thu miền Bắc Việt Nam

Ta thấy nhà thơ Hữu Thỉnh sử dụng từ ngữ rất đắt ở hai câu thơ “ Sương chùng chình qua ngõ - hình n hư thu

đã về ” chùng chình là từ láy gợi hình , có thể thay bằng từ dềnh dàng , đủng đỉnh , chầm chậm , lững thững

Dùng chùng chình có cái hay riêng tác giảđã nhân hóa làn sương nó đi qua ngõ nhà có vẻ cố ý chậm hơn mọi

ngày Ta thấy có cái gì đó thật duyên dáng , thật yểu điệu của một làn sương , một hình bóng thiếu nữ , một

người bạn â gái nào đó …Và tất cả chưa thật rõ ràng , hay vì quá đột ngột mà tác giả chưa nhận ra Từ hình như

thể hiện cái ngỡ ngàng , ngạc nhiên đó Từ cảm nhận này ta có thể hiểu được tâm hồn nhạy cảm , yêu thiên nhiên , yêu thời tiết thu và cuộc sống nơi làng quê, cao hơn nữa đó là tình yêu dân tộc

Trang 14

Cùng với không gian làng quê sang thu , ta còn thấy tác giả cảm nhận không gian đất trời vào thu

Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu

Đất trời sang thu được cảm nhận từ những hình ảnh quen thuộc , gần gũi : sông , cánh chim , đám mây Sông có lúc dềnh dàng gợi lên một cảnh tượng cụ thể , dòng sông nước bắt đầu cạn , chảy chậâm lại , không cuồn cuộn , ào ạt như thời gian vào hạ Từ dềnh dàng cũng như từ chùng chình ở trên làm cho con sông trở nên duyên dáng ,

gần người hơn Lúc này chim cũng vội vã hơn vì sợ lạnh phải đi tránh rét ở những miền ấm áp Đặc biệt nhất là

đám mây mùa hạ – vắt nửa mình sang thu là một liên tưởng sáng tạo thú vị Sự thật , không hề có đám mây nào

Trang 15

như thế Vì làm sao có sự phân biệt rạch ròi bằng mắt thường trên bầu trời Đó là đám mây trong liên tưởng , tưởng tượng của tác giả Nhưng chính cái hình ảnh mùa hạ nối với mùa thu bởi nửa đám mây lững lờ , cũng dềnhdàng , chùng chình , bảng lảng trên tầng không làm cho người đọc cảm nhận cả về không gian và thời gian chuyển mùa thật là đẹp , thật là khêu gợi hồn thơ có thể nói hình ảnh giao mùa thể hiện duyên dáng và thần

tình nhất trong bài thơ là ở hai câu thơ : Có đám mây mùa hạ - vắt nửa mình sang thu ở đây, cái dềnh dàng , cái

chùng chình của sương , của sông , cái nhè nhẹ của gió , cái thoang thoảng của hương được kết đọng trong cái vắt nửa mình ngập ngừng của đám mây trên bầu trời giao mùa Hữu Thỉnh cũng đã có những câu thơ , đoạn thơ gần giống tứ thơ này nhưng không tài hoa , bất ngờ thú vị bằng

Đi suốt cả ngày thu Vẫn chưa về tới ngõ

Trang 16

Dùng dằng hoa quan họ Nở tím bên sông Thương Nắng thu đang trải đầy Đã trăng non múi bưởi Bên cầu con nghé đợi Cả chiều thu sang sông ( Chiều sông Thương )

Bài thơ sang thu của Hữu Thỉnh không những mang đậm chất dân gian làng quê dân dã , mang đậm hơi thở của ruộng đồng mà còn mang tính triết lí sâu sắc :

Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa

Trang 17

Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi

Ta thấy thiên nhiên trong Sang thu còn được nhà thơ gợi ra bằng những hình ảnh độc đáo : nắng , mưa , sấm

chớp , hàng cây … Nắng mưa lúc sang thu cũng không giống như hồi giữa hạ Nắng nhạt dần chứ không còn

chói chang , dữ dội , gay gắt Mưa cũng ít đi , nhất là những trận mưa rào , mưa dông ầm ầm ào ạt Bởi vậy sấmcũng bớt bất ngờ trên hàng cây đứng tuổi

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trang 18

Trên hàng cây đứng tuổi

Hai câu thơ có hai tầng nghĩa : tả thực và ẩn dụ sấm mùa hạ ít đi khi sang thu bởi vậy hàng cây không còn bịgiật mình , đột ngột Nhưng đó còn là những âm vang ba động bất thường của ngoại cảnh , của cuộc đời Và ở những con người từng trải , đứng tuổi thì tất nhiên sẽ vững vàng , trầm tĩnh hơn , càng không bị bất ngờ , giật mình trước những tác động của ngoại giới dù là những tiếng sấm đầu thu Như vậy hai câu thơ không ø chỉ tả cảnh sang thu mà còn chất chứa suy nghiệm về con ngừơi và cuộc sống

Bài thơ sang thu của Hữu Thỉnh là khúc giao mùa nhẹ nhàng , thơ mộng , bâng khuâng mà cũng thầm thì triết

lí , đã nối tiếp hành trình thơ thu dân tộc , góp một tiếng thơ đằm thắm về mùa thu quê hương , đem đến cho thếhệ trẻ tình yêu đất nước qua nét thu đẹp Việt Nam

Phân tích : TRUYỆN NGẮN “ LÀNG ” CỦA KIM LÂN

Trang 19

Truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân được viết vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và được in trong báo văn nghệ năm 1948 Truyện ca ngợi tình yêu làng thắm thiết thống nhất với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến ở nhân vật ông Hai , môït nông dân phải xa làng đi tản cư qua đó ta cũng cảm nhận được tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong thời kháng chiến chống Pháp

Truyện Làng khai thác một tình cảm bao trùm và phổ biến trong con người thời kháng chiến đó là tình

cảm quê hương đất nước Một tình cảm mang tính cộng đồng nhưng thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động của một con người , trở thành một nét tâm lí sâu sắc ở nhân vật ông Hai vì thế nó là tình cảm chung mà lại mang rõ màu sắc riêng cá nhân , in rõ cá tính của nhân vật

Cũng như những người nông dân khác thời kháng chiến , ông Hai rất yêu làng , mảnh đất ông đã sinh ra và lớn lên , nơi cất tiếng khóc chào đời đầu tiên của ông Đó là làng Chợ Dầu bằng một thứ tình cảm khá đặc biệt

Trang 20

Thái độ của ông Hai với làng thể hiện gọn gàng trong một chữ khoe , tám chữ khoe Những lời khoe của ông thật đa dạng , khi thì hảnh diện , khi thì mê man giảng giải , khi thì rành rọt , khi nói liên miên Ông Hai khoe làng ông có cái phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa rộng rãi nhất vùng , chòi phát thanh cao bằng ngọn tre chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy Ôâng khoe làng ông nhà ngói san sát sầm uất như tỉnh đường trong làng toàn lát đá xanh Ông Hai còn khoe cái sinh phần của viên tổng đốc làng ông Ôâng có vẻ hảnh diện cho

Trang 21

làng được cái sinh phần đó lắm Cái dinh cơ cụ Thượng làng tôi có lăm lắm là của Vườn hoa cây cảnh nom như

động ấy còn hơn cả cái lăng cụ Thiếu Hà Đông Sau cách mạng ở ông Hai có những nhận thức mới hơn trong

việc khoe về làng mình Ôâng không khoe cái lăng ấy nữa mà còn biết chính cái lăng ấy nó làm khổ ông , làm khổ những con người của làng ông Bây giờ nói đến làng ông khoe những ngày khởi nghĩa , những buổi tập quânsự , những hố những ụ , những giao thông hào của làng ông Thậm chí có đôi lúc ông Hai ngậm ngùi kể lại cả những chuyện phiêu dạt và những chuyện đẩu chuyện đâu

Phải nói rằng những biểu hiện và tính khoe làng của ông Hai đó là tình yêu làng tha thiết Yêu lắm về mảnh đất làng que ânên khoe nên nói cho đỡ nhớ làng , đỡ nhớ phong trào cách mạng ở làng mà ông đã từng tham gia phụ lão cứu quốc và tham gia đào hào đắp ụ Một biểu hiện khác của ông Hai cũng xuất phát từ tình

yêu làng chợ Dầu , ông không muốn bỏ làng ra đi vào lúc hữu sự Ôâng luôn luôn có suy nghĩ :Mình sinh sống ở

Trang 23

Cách mạng và kháng chiến đã khơi dậy ở người nông dân tình cảm yêu nước rộng lớn Ở ông Hai tình cảm

yêu làng là thống nhất với lòng yêu nước Đúng như nhà văn I-li- aÊ ren bua có nói : … lòng yêu nhà , yêu làng

xóm , yêu làng quê trở nên lòng yêu tổ quốc Để mỗi người đọc chúng ta cảm nhận sâu sắc hơn tình cảm yêu

làng yêu nước của ông Hai – người nông dân cách mạng Tác giả đã đặt ông Hai vào một tình huống gay gắt

Trang 24

tình huống ấy là cái tin làng chợ Dầu theo giặc mà chính ông nghe được từ miệng những người tản cư qua làng ông Một người luôn luôn khoe làng , tự hào về làng như ông Hai khi nghe tin đột ngột ấy không đau đớn sao

được ôââng Hai sững sờ Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại , da mặt tê rân rân Oââng lão lặng đi tưởng như không thở

được Từ lúc ấy trong tâm trí ông Hai cái tin dữ ấy xâm chiếm , Nó thành một nỗi ám ảnh day dứt trong ông

Ra đường ông cuối gằm mặt xuống mà đi , về nhà nằm vật ra đường nước mắt trào ra Bao nhiêu câu hỏi dày vò, rồi trằn trọc không ngủ được Không chỉ có the ámà suốt mấy ngày hôm sau ông Hai không dám đi đâu chỉ quẩn quanh ở nhà nghe ngóng , rồi nơm nớp lo chuyện loang ra Oâng Hai lo người ta đuổi người làng Việt gian thật là tiệt đường sinh sống Mà ông cũng không thể về làng vì về là bỏ kháng chiến , bỏ cụ Hồ Với ông làng

thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù Tấm lòng của ông , tình yêu làng yêu nước của ông chỉ có một

mình ông hiểu chẳng biết nói cùng ai Ôâng đem nỗi lòng của mình trò chuyện cùng thằng con út cho vơi bớt

Trang 25

lòng ông : Nước mắt ông lão giàn ra chảy ròng ròng trên hai má , chết thì chết có bao giờ dám đơn sai Đó có

phải chăng là tấm lòng của ông Hai Tình cảnh của ông Hai , diễn biến tâm trạng của ông khiến ta cảm động biết bao, đồng thời cũng cảm nhâïn được tấm lòng thủy chung với kháng chiến , với cách mạng mà biểu tượng là Bác Hồ

Nhưng có thể nói điều khiến ta xúc động hơn là tâm trạng của ông Hai khi nghe làng chợ Dầu được cải chính không theo giặc Cái mặt buồn thiu mọi ngày bổng vui tươi hẳn lên ông gọi con ra chia quà Ôâng múa tay múa chân lên mà khoe , xúc động nhất là ông Hai chẳng hề nghĩ tiếc hay buồn về ngôi nhà riêng của ông bị giặcđốt Niềm vui vì làng không theo giặc , không làm Việt gian đã chiếm hết tâm trí ông , đau khổ bế tắt đã được khơi thông Lúc này ông Hai nói chuyện về làng mình cho mọi người nghe thật rành rọt , tỉ mỉ như chính ông vừađược dự trận đánh mới về Có thể nói rằng ông Hai là một hình ảnh đẹp của những người nông dân bình thường

Trang 26

Đọc tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân , tác giả đã để lại trong ta một ấn tượng tốt đẹp về hình ảnh ông Hai Một nông dân hay làm hay khoe , gắn bó bền chặt với làng Tình yêu làng gắn với tinh thần kháng

Trang 27

chiến , lòng yêu nước , một lòng theo Cụ Hồ Đồng thời cũng cảm nhận sự sáng tạo tình huống truyện của một cây bút có sở trường viết về nông dân , viết về làng quê của nhà văn Kim Lân

Phân tích : Aùnh trăng (Nguyễn Duy)

Mình về thành thị xa xôi Nhà cao còn thấy núi đồi nũa chăng Phố đông còn nhớ bản làng Sáng đèn còn nhớ ánh trăng cuối rừng

( Tố Hữu )

Trăng là đề tài muôn thuở của thi ca Với ánh sáng hiền diệu , với chu kì tròn khuyết lạ lùng , trăng đã gợi cho các thi nhân cổ kim nhiều ý tưởng sâu xa Nguyễn Duy là nhà thơ lớn lên từ đồng quê , trăng như một ám

Trang 29

Hai câu thơ đầu nhà thơ nói về vầng trăng của tuổi thơ và vầng trăng của thời chiến tranh

Hồi nhỏ sống với û đồng với sông rồøi với bể Vầng trăng tuổi thơ trải rộng trên một không gian bao la Hai câu thơ 10 tiếng , gieo vầng lưng ( đồng –

sông ) , từ “ với ” được điệp lại 3 lần nhằm diễn tả một tuổi thơ đi nhiều , được hạnh phúc cảm nhận những vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên , từng được ngắm trăng trên đồng quê , ngắm trăng trên dòng sông và ngắm trăng trên bãi bể Ta thấy hồi ức được kể lại bằng hình ảnh Hình ảnh chuyển rất nhanh , cái hay là bằng hình ảnh không gian đã diễn tả được sự vận động của thời gian

Hai câu thơ tiếp theo nói về thơì chiến tranh , vầng trăng của người lính , trăng đã thành tri kỉ

Hồøi chiến tranh ở rừng

Trang 30

Vầng trăng thành tri kỉ

Tri kỉ là biết người biết mình , bạn tri kỉ là người bạn rất thân , hiểu biết mình Trăng với người lính , với nhà thơ trong những năm ở rừng thời chiến tranh đã trở thành đôi bạn tri kỉ Người chiến sĩ nằm ngủ dưới trăng , giữa rừng khuya sương muối , người chiến sĩ đứng chờ giặc tới Con đường hành quân của người lính nhiều đêm đã trở thành con đường dát vàng Trăng đã chia sẻ ngọt bùi hân hoan trong niềm vui thắng trận với người lính tiền phương Đất nước đã trải qua những năm dài máu lửa , trăng với anh bộ đội đã vượt lên mọi tàn phá hủy diệt của bom đạn quân thù Thật thú vị khi đọc những vầng thơ của Nguyễn Duy vì nó đã mở ra trong lòng nhiều người một trường liên tưởng

Hồi chiến tranh ở rừng Vầng trăng thành tri kỉ

Trang 31

Sang khổ thơ thứ 2 như một lời nhắc nhở của tác giả về những năm tháng gian lao đã qua của cuọc đời ngườilính gắn bó với thiên nhiên , với đất nước bình dị , hiền hậu Bằng nghệ thuật ẩn dụ , so sánh nhà thơ làm nổibật chất trần trụi , chất hồn nhiên của người lính những năm tháng ở rừng Đó là cốt cách của các anh

Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ ngỡ không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa

Vầng trăng là biểu tượng của những ăm tháng ấy , đã trở thành vầng trăng tri kỉ , vầng trăng tình nghĩa , ngỡnhư không bao gì có thể quên Một ý thơ làm động đến tâm hồn như một thức tỉnh lương tâm đối với những kẻvô tình

Trang 32

Sự thay đổi của lòng người thật đáng sợ Hoàn cảnh sống thay đổi con người dễ thay đổi , có lúc trở nên vôtình , có kẻ dễ trở thành “ ăn ở bạc ” Từ ở rừng , sau chiến tranh trở về thành phố được sống sung sướng ởbuynh đinh cao ốc , quen ánh điện cửa gương , vầng trăng tri kỉ – vằng trăng tình nghĩa đã bị người lãng quêndửng dưng Cách so sánh của tác giả làm chột dạ nhiều người

Từ hồi về thành phố quen ánh điện cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường

Trang 33

Trăng được nhân hóa lặng lẽ đi qua đường , trăng như người dưng đi qua chẳng còn ai nhớ , chẳng còn aihay Những câu thơ rất bình dị , giọng thơ thầm thì như trò chuyện , giải bày tâm sự cho nên chất trữ tình củathơ trở nên sâu lắng chân thành

Cũng như dòng sông có thác ghềnh , quanh co uốn khúc Cuộc đời người cũng có những biến động li kì Ghilại một tình huống “ Cuộc sống thành thị ” của những con người mới ở rừng về thành phố , nhà thơ chỉ sử dụng 4câu thơ 20 từ Các từ “ Thình lình ”, “ vội ”, “ Đột ngột ” gợi tả tình thái đầy biểu cảm

Thình lình đèn điện tắt phòng buyn đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn

Trang 34

Hai chữ “ mặt ” trong đoạn thơ Mặt trăng mặt người cùng “ Đối diện đồng tâm” Trăng chẳng nói , trăngchẳng trách , thế mà người lính cảm thấy “ có cái gì rưng rưng ” “ Rưng rưng ” nghĩa là vì xúc động , nước

Trang 35

mắt đang ứa ra , sắp khóc Giọt nước mắt làm cho lòng người thanh thản lại , cái tốt lành hé lộ , bao kỉ niệmđẹp một đời người ùa về , tâm hồn gắn bó , chan hòa với thiên nhiên , với vần trăng xưa , với đồng với bể , vớisông , với rừng , với quê hương đất nước Cấu trúc câu thơ song hành , với biện pháp tu từ so sánh , với điệp ngữ

là cho thấy ngòi bút của Nguyễn Duy thật tài hoa Ta thấy đoạn thơ hay ở chất thơ bộc bạch chân thành , ở

tính biểu cảm , ở hình tượng và cảm xúc Từ ngôn ngữ hình ảnh đi vào lòng người , khắc sâu điều nhà thơ muốntâm sự với chúng ta một cách nhẹ nhàng , thấm thía

Khổ thơ cuối mang tính hàm nghĩa độc đáo , đưa tới chiều sâu tư tưởng triết lí

Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc

Trang 36

đủ cho ta giật mình

Tròn vành vạnh là trăng rằm , một vẻ đẹp viên mãn Im phăng phắc là im như tờ , không một tiếng động nhỏ Vầng trăng cứ tròn đầy và lặng lẽ “ kể chi người vô tình ”

Là biểu tượng của sự bao dung độ lượng , của nghĩa tình thủy chung trọn vẹn , trong sáng mà không hề đòi hỏiđền đáp Đó cũng chính là phẩm chất cao cả của nhân dân mà Nguyễn Duy cũng như nhiều nhà thơ cùngthời đã phát hiện và cảm nhận một cách sâu sắc trong thời chiến tranh chống Mỹ

Aùnh trăng là bài thơ hay của Nguyễn Duy Qua bài thơ tác giả tâm sự với người đọc những sâu kín nhất nơilòng mình Chất triết lí thâm trầm được diễn tả qua hình tượng “ ánh trăng ” đã tạo nên giá trị tư tưởng và nghệthuật của bài thơ Không nên sống vô tình phải thủy chung trọn vẹn , phải ngiã tình sắt son với bạn bè , đồngchí , nhân dân Đó là điều mà Nguyễn Duy nói thật hay , thật cảm động qua bài thơ này

Trang 37

Phân tích : Bếp lửa (Bằng Việt ) Chúng ta đã được đọc nhiều áng thơ hay về tình yêu quê hương , tình cảm gia đình Có người thích vẻ đẹp thiết tha nồng nàn của Tế Hanh ở bài “ Quê hương ” Có người yêu sự mộng mơ , lãng mạn của tình mẹ con trong bài “ Mây và sóng ” của Ta -Go Riêng tôi , tôi đồng cảm cùng tình bà cháu nồng đượm , đằm thắm trong bài “Bếp lửa ” của nhà thơ Bằng Việt

Nhiều người đọc bài thơ có ấn tượng sâu sắc về lời thơ đẹp , cảm xúc dạt dào , giọng thơ thiết tha bồi hồi , hình tượng độc đáo , sáng tạo dặc sắc Bài thơ có 41 câu thơ , phần lớn là thơ 8 chữ ( 31 câu ) , còn có 7 câu thơ thất ngôn và 3 câu thơ 9 tiếng Tất cả đều kết hợp một cách hài hòa , phong phú vần điệu , đọc lên ngâm lên nghe rất thích , rất thú vị

Trang 38

Bài thơ nhăùc lại kí ức tuổi thơ một thời gian khổ – đói nghèo , chiến tranh , loạn lạc Qua hình tượng bếp lửa ,

ngọn lửa , đứa cháu ca ngợi đức hi sinh , sự tần tảo và tình thương bao la của bà , đồng thời nói lên lòng biết ơn

bà thương nhớ bà khôn nguôi

Ba câu thơ đầu nói về bếp lửa và lòng cháu thương bà Bếp lửa được nhóm lên trong sương sớm , ngọn lửa

“ chồn vờn ” rung rinh , hắt ánh sáng lên tường nhà , liếp cửa Bêùp lửa ấm áp “ nồng đượm ” ấy còn mang tình

thương chở che , ôm ấp , ấp iu của lòng bà Bếp lửa của bà là bếp lửa của một cuộc đời đã trãi qua biết mấy

nắng mưa , nghèo khổ và vất vả Nghĩ về bếp lửa , nhớ về bếp lửa gia đình , mà đứa cháu thương bà khôn xiết

kể

Trang 39

Hai câu đầu song hành làm hiện lên hình ảnh bếp lửa của bà Các chữ : “ ấp iu , nồng đượm” , “ chờn vờn” rất hình tượng , gợi tả ; chữ “ thương ” dùng thật đắt qua vần thơ cảm thán làm cho cảm xúc lan tỏa , thấm sâu vào hồn người :

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa âùp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy náêng mưa

Trang 40

Naím cađu thô tieâp theo , taùc giạ nhaĩc ñi nhaĩc lái : muøi khoùi , khoùi hun ñaõ laøm nheøm maĩt chaùu laøm cho soẫng

muõi coøn cay ñeân taôn bađy giôø kư nieôm thôøi thô beù khi leđn boân tuoơi , kư nieôm mođït thôøi ñen toâi ñoùi khoơ Ñoù laø naím ñoùi moøn ñoùi moûi , naím aât daôu 1945 , khi ngöôøi cheât ñoùi nhö ngạ rá Gióng thô trưu xuoâng nao nao loøng ta :

Leđn boân tuoơi chaùu ñaõ queđn muøi khoùi Boâ ñi ñaùnh xe khođ rác ngöïa gaăy Chư nhôù khoùi hun nheøm maĩt chaùu nghó lái ñeân giôø soẫng muõi coøn cay

Caùi vò cay xoøe cụa khoùi hun nôi beâp löûa nhöõng nhaø ngheøo seõ maõi maõi baùm laây bao tađm hoăn tuoơi thô ? Cho duø

naím thaùng trođi qua nhöng kí öùc aây trôû thaønh moôt veât thöông loøng ñađu deê nguođi ngoi

Ngày đăng: 08/05/2015, 18:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w