Cụ thể như sau: * Tái hiện kiến thức, ôn tập các bài: - Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX - Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh - Nguyễn Đình Chi
Trang 1ĐỀ CƯƠNG
ÔN TẬP THI TNTHPTMÔN NGỮ VĂN LỚP 12 – NĂM HỌC: 2010-2011
Trên cơ sở nắm vững chương trình, SGK, HS ôn tập những nội dung cơ bản trong chương trình và SGK như sau :
- Nội dung ôn tập bám sát các yêu cầu về chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ đã được quy định trong chương trình môn học
- Nội dung ôn tập bao gồm toàn bộ chương trình SGK lớp 12 hiện hành Cụ thể
như sau:
* Tái hiện kiến thức, ôn tập các bài:
- Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX
- Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh
- Nguyễn Đình Chiểu, ngụi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc - Phạm Văn Đồng
- Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS,1-12-2003 (Cô-phi An-nan)
- Tây Tiến – Quang Dũng
- Việt Bắc (trích) - Tố Hữu
- Đất Nước (trích) - Nguyễn Khoa Điềm
- Sóng – Xuân Quỳnh
- Đàn ghi ta của Lor-ca – Thanh Thảo
- Người lái đò Sông Đà (trích) - Nguyễn Tuân
- Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích) - Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Vợ chồng A Phủ (trích) - Tô Hoài
- Vợ nhặt – Kim Lân
- Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành
- Những đứa con trong gia đình - Nguyễn Thi
- Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu
- Hồn Trương Ba, da hàng thịt (trích) – Lưu Quang Vũ
- Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Trần Đình Hựu
- Thuốc - Lỗ Tấn
- Số phận con người (trích) – Sô-lô-khốp
- Ông già và biển cả (trích) – Hê-minh-uê
* Vận dụng kiến thức xã hội viết bài văn Nghị luận xã hội (Tư tưởng đạo lí, hiện tượng đời sống)
* Vận dụng kiến thức văn hôc, tiếng Việt, làm văn để viết bài nghị Luận văn học (về một đoạn thơ, bài thơ, một đoạn văn, tác phẩm văn xuôi)
PHẦN MỘT NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
A VĂN HỌC SỬ:
I Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết thế kỉ XX
Đề1 Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm
1975?
Trang 2- Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước.
Văn học nghệ thuật trở thành một mặt trận ; văn học nghệ thuật trở thành vũ khí phục vụ kháng chiến, nhà văn lấy tư tưởng cách mạng và mẫu hình chiến sĩ làm tiêu chuẩn cầm bút Tinh thần tự giác, tự nguyện gắn bó với dân tộc, với nhân dân của nhà văn được đề cao Văn học tập trung vào đề tài tổ quốc và chủ nghĩa xã hội ; thể hiện cảm động tình đồng chí, đồng đội, tình quân dân…
- Nền văn học hướng về đại chúng
Văn học lấy đại chúng làm đối tương phản ánh và phục vụ ; Đại chúng cung cấp,
bổ sung cho văn học lực lượng sáng tác Cách mạng và kháng chiến đêm đến cách hiểu mới về nhân dân Người cầm bút quan tâm đến mọi tầng lớp nhân dân, nói lên nổi bất hạnh, khẳng định sự đổi đời và ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn của người lao động Nền văn học mới mang tính nhân dân sâu sắc
- Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Văn học đề cập đến số phận chung của cả cộng đồng, của dân tộc ; phản ánh những vấn đề cơ bản nhất, có ý nghĩa sống còn của đất nước ; Nhà văn quan tâm đến những sự kiện có ý nghĩa lịch sử của CNYN và CNAHCM ; nhìn con người và lịch sử bằng cái nhìn khái quát, có tầm vóc dân tộc và thời đại Nhân vật chính trong văn học tiêu biểu cho lí tưởng chung của dân tộc, gắn bó số phận mình với số phận của đất nước, kết tinh những phẩm chất đẹp của cả cộng đồng…
Đề 2 Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu từ Cách mạng tháng Tám
năm 1945 đến năm 1975?
a Chặng đường 1945 đến 1954.
- Nội dung chủ đề bao trùm: Ca ngợi Tổ quốc và quần chúng cách mạng, kêu gọi tinh thần đoàn kết toàn dân, cổ vũ phong trào Nam tiến, biểu dương những tấm gương vì nước quên mình
- Từ cuối năm 1946, văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống TD Pháp: Hướng tới đại chúng phản ánh sức mạnh của quần chúng nhân dân; Thể hiện lòng tự hào dân tộc và niềm tin vào tương lai tất thắng của cuộc kháng chiến
- Thành tựu cơ bản:
+ Truyện ngắn và kí: Là những thể loại mở đầu cho văn xuôi kháng chiến chống TD Pháp: “Một lần tới thủ đô” (Trần Đăng); “Đôi mắt”, “Nhật kí ở rừng”(Nam Cao);
“Làng”(Kim Lân)…
- Từ những năm 1950 đã xuất hiện những tập truyện, kí khá dày dặn: “Vùng mỏ” (Võ Huy Tâm); “Xung kích”(Nguyễn Đình Thi); “Đất nước đứng lên” (Nguyên Ngọc);
“Truyện Tây Bắc” (Tô Hoài)…
+ Thơ những năm chống Pháp đạt nhiều thành tựu xuất sắc: “Cảnh khuya”, “Rằm tháng giêng” (Hồ Chí Minh); “Bên kia sông Đuống” (Hoàng Cầm); “Tây Tiến” (Quang Dũng); “Nhớ” (Hồng Nguyên); “Đất nước” (Nguyễn Đình Thi); “Việt Bắc” (Tố Hữu)
…
+ Kịch, lí luận, nghiên cứu, phê bình văn học cũng phát triển
b Chặng đường 1955 đến 1964.
- Nội dung: Văn học tập trung thể hiện hình ảnh người lao động, ngợi ca những đổi thay của đất nước và con người trong bước đầu xây dựng CNXH với cảm hứng lãng mạn, tràn đầy niềm vui và niềm lạc quan tin tưởng
- Thành tựu cơ bản:
Trang 3+ Văn xuôi mở rộng đề tài, bao quát khá nhiều phạm vi của hiện thực đời sống: “mùa lạc” (Nguyễn Khải); “Sống mãi với thủ đô” (Nguyễn Huy Tưởng); “Cao điểm cuối cùng” (Hữu Mai)
+ Thơ: Phát triển mạnh mẽ với các tập: “Gió lộng”(Tố Hữu); “Ánh sang và phù sa”(Chế Lan Viên); “Riêng chung”(Xuân Diệu)
+ Kịch nói cũng được dư luận chú ý, một số vở như: “Một đảng viên”(Học Phi), “chị Nhàn”(Đào Hồng Cẩm)…
c Chặng đường từ năm 1965 đến năm 1975.
- Nội dung: Tập trung viết về cược kháng chiến chống đế quốc Mỹ Chủ đề bao trùm là
ca ngợi tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng
- Thành tựu cơ bản:
+ Văn xuôi chặng đường này phản ánh cuộc sống chiến đấu và lao động, đã khắc họa thành công hình ảnh con người Việt Nam anh dũng, kiên cường,bất khuất: “Người mẹ cầm sung”(Nguyễn Thi), “Rừng xà nu”(Nguyễn Trung Thành), “Hòn đất”(Anh Đức)…+ Thơ những năm chống Mỹ đạt nhiều thành tựu xuất sắc: “Ra trận, Máu và hoa”(Tố Hữu), “Hoa ngày thường, Chim báo bão”, “Những bài thơ đánh giặc”(Chế lan Viên)…+ Kịch cũng có những thành tựu đáng ghi nhận: “Đại đội trưởng của tôi”(Đào Hồng Cẩm), “Đôi mắt”(Vũ Dũng Minh)…
II Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh:
- Năm 1911, Người ra đi tìm đường cứu nước
- Năm 1919 Người gởi tới Hội nghị hòa bình ở Véc-xay (Pháp) bản Yêu sách của nhân dân An Nam về vấn đề thuộc địa
- Năm 1920, Người dự Đại hội Tua và trở thành một trong ngững thành viên sáng lập ĐCS Pháp
- Năm 1925 tham gia thành lập tổ chúc Việt Nam thanh niên cánh mạng đồng chí hội
- Ngày 3/2/2930 thống nhất các tổ chức thành lập Đảng CSVN
- Năm 1941, Người về nước trực tiếp lãnh đạo CM
- Năm 1942, Người lên đường sang TQ để tranh thủ sự viện trợ của quốc tế Khi vừa tới Túc Vinh ( Quãng Tây), Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch Bắt giam trong
13 tháng, 18 nhà lao của 13 huyện tỉnh Quảng Tây
- Khi ra tù Người về nước, trực tiếp lãnh đạo CM và giành thắng lợi trong cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 Ngày 1/9/1945 Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độ lập tại Quảng trường Ba Đình
- Năm 1946 Người được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giữ chức vụ đó cho đến khi mất(2/9/1969)
2 Quan điểm sáng tác:
- Chủ tịch Hồ Chí Minh xem văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú phục vụ
có hiệu qủa cho Cách mạng
- Người đặc biệt chú ý đến đối tượng thưởng thức Đối tượng thưởng thức là quảng đại quần chúng nhân dân Người yêu cầu người cầm bút phải ý thức rõ vấn đề: “Viết cho ai?”, “Viết cái gì?”, “Viết để làm gì?” và “Viết như thế nào?”
Trang 4- Người luôn luôn đòi hỏi văn chương phải có tính chân thật và tính dân tộc
2 Sự nghiệp văn học: bao gồm ba bộ phận
* Văn chính luận:
- Mục đích chủ yếu là đấu tranh chính trị, tiến công trực diện kẻ thù hoặc tuyên truyền, kêu gọi nhân dân thực hiện những nhiệm vụ cách mạng của dân tộc
- Lập luận chặt chẽ, lí lẽ xác đáng, chứng cứ hùng hồn, ngôn ngữ giản dị, trong sáng
- Tiêu biểu: “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925), “Tuyên ngôn Độc lập” (1945),
“Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (1946),…
* Truyện và kí:
- Khoảng từ năm 1922- 1925, Nguyễn Ái Quốc viết một số truyện ngắn và kí bằng tiếng Pháp rất đặc sắc, sáng tạo và hiện đại Truyện ngắn của Nguyễn Ái Quốc cô đọng, cốt truyện sáng tạo, kết cấu độc đáo, ý tưởng thâm thúy, chất trí tụê tỏa sáng trong hình tượng, phong cách giàu tính hiện đại
- Tiêu biểu: “Pari” (1922), “Lời than vãn của bà Trưng Trắc” (1922), “Vi hành” (1923)
- Truyện và kí giàu chất trí tụê và tính hiện đại Ngòi bút của Người rất chủ động và sáng taọ: khi thì lối kể chân thực tạo không khí gần gũi, khi thì giọng điệu sắc sảo, châm biếm thâm thúy, tinh tế
- Thơ ca biểu hiện phong cách rất đa dạng Đó là sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp cổ điển và hiện đại
III TỐ HỮU:
1 Những nhân tố tác động đến con đường thơ của Tố Hữu :
- Quê hương: sinh ra và lớn lên ở xứ Huế, một vùng đất nổi tiếng đẹp, thơ mộng , trầm mặc với sông Hương, núi Ngự, đền đài lăng tẫm cổ kính,… và giàu truyền thống văn hóa, văn học bao gồm cả văn hóa cung đình và văn hóa dân gian mà nổi tiếng nhất là những điệu ca, điệu hò như nam ai nam bình mái nhì, mái đẩy…
- Gia đình: Ông thân sinh ra nhà thơ là một nhà nho không đỗ đạt nhưng rất thích thơ phú và ham sưu tầm văn học dân gian Mẹ nhà thơ cũng là người biết và thuộc nhiều ca dao, tục ngữ Từ nhỏ Tố Hữu đã sống trong thế giới dân gian cùng cha
mẹ Phong cách nghệ và giọng điệu thơ sau này chịu ảnh hưởng của thơ ca dân gian xứ Huế
- Bản thân Tố Hữu: là người sớm giác ngộ lí tưởng cách mạng, tham gia cách mạng từ năm 18 tuổi, bị bắt và bị tù đày từ năm 1939- 1942, sau đó vượt ngục trốn thoát và tiếp tục hoạt động cho đến Cách mạng tháng Tám, làm chủ tịch ủy ban khởi
Trang 5nghĩa ở Huế Sau cách mạng ông giữ nhiều trọng trách ở nhiều cương vị khác nhau, nhưng vẫn tiếp tục làm thơ.
2 Những chặng đường thơ: Thơ Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh
cách mạng Việt Nam từ những năm 1940 cho đến sau này
a Tập thơ Từ ấy (1937- 1946) gồm 71 bài sáng tác trong 10 năm ): là niềm hân
hoan của một tâm hồn trẻ gặp ánh sáng lí tưởng, tìm thấy lẽ sống
Những bài thơ tiêu biểu:Mồ côi, Hai đứa bé, Từ ấy,…
b Tập thơ Việt Bắc (1947 – 1954) : phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp, thể hiện những tình cảm mới của con người Việt Nam mà bao trùm là lòng yêu nước
- Gồm 24 bài sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Pháp
- Việt Bắc là bức tranh tâm tình của con người VN trong kháng chiến với những cung bậc cảm xúc tiêu biểu: tình yêu quê hương đất nước, tình đồng chí đồng đội, tình quân dân, lòng thủy chung cách mạng Đồng thời thể hiện quyết tâm bảo vệ sự toàn vẹn của đất nước
- Những bài thơ tiêu biểu: Phá đường, Việt Bắc, Bà mẹ Việt Bắc, Bầm ơi, Ta đi tới,…
c Gió lộng (1955 - 1961): ngợi ca cuộc sống mới, con người mới, Đảng, Bác
Hồ; cổ vũ cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, khẳng định tình cảm quốc tế vô sản…
+ Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
+ Phong trào đấu tranh chống Mĩ - Ngụy ở miền Nam
- Tác phẩm thể hiện niềm vui chiến thắng, cuộc sống mới với những quan hệ xã hội tốt đẹp Còn là lòng tri ân nghĩa tình đối với Đảng, Bác Hồ và nhân dân
- Những bài thơ tiêu biểu: Trên miền Bắc mùa xuân, Thù muôn đời muôn kiếp không tan, Mẹ Tơm, bài ca mùa xuân 1961,…
d Ra trận (1962 - 1971), Máu và Hoa (1972 - 1977) là khúc ca ra trận; là lời
ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam
Phản ánh cuộc đấu tranh của dân tộc kêu gọi cổ vũ tinh thần chiến đấu của dân tộc Ca ngợi Bác Hồ, tổng kết lịch sử đấu tranh
3 Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu
- Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị thể hiện nồng nhiệt tự hào lý tưởng cách
mạng, đời sống cách mạng của nhân dân ta
- Thơ Tố Hữu chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, màu
sắc lịch sử được diễn tả bằng bút pháp lãng mạn, hình tưởng thơ kì vĩ, tráng lệ
- Nét đặc sắc trong thơ Tố Hữu là có giọng điệu riêng Thơ liền mạch, nhất khí
tự nhiên, giọng tâm tình, ngọt ngào tha thiết.
- Nghệ thuật thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc Phối hợp tài tình ca dao, dân ca
các thể thơ dân tộc và “thơ mới” Vận dụng biến hoá cách nói, cách cảm, cách so sánh
ví von rất gần gũi với tâm hồn người Phong phú vần điệu, câu thơ mượt mà, dễ thuộc
dễ ngâm
Trang 6IV LỖ TẤN:
1 Cuộc đời và sự nghiệp:
+ Lỗ Tấn (1881-1936) xuất thân trong một gia đình quan lại sa sút Tên thật là Chu Thụ Nhân, quê ở phủ Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, miền Đông Nam Trung Quốc Ông là nhà văn cách mạng lỗi lạc của Trung Quốc thế kỉ XX “Trước Lỗ tấn
chưa hề có Lỗ Tấn; sau Lỗ Tấn có vô vàn Lỗ Tấn” (Quách Mạt Nhược)
+ Tuổi trẻ của Lỗ Tấn đã nhiều lần đổi nghề để tìm một con đường cống hiến cho dân tộc: từ nghề khai mỏ đến hàng hải rồi nghề y, cuối cùng làm văn nghệ để thức tỉnh quốc dân đồng bào Con đường gian nan để chọn ngành nghề của Lỗ Tấn vừa mang đậm dấu ấn lịch sử Trung Hoa thời cận hiện đại, vừa nói lên tâm huyết của một người con ưu tú của dân tộc
+ Ngòi bút mang tính văn chương đích thực vì ông đã đề cập đến sứ mệnh thiêng liêng nhất của văn học là góp phần cứu nước, cứu dân; ông còn phát huy được một trong những chức năng đích thực nhất của văn chương là chữ bệnh tinh thần “vạch
ra các bệnh để mọi người chú ý chạy chữa” nhằm mục đích “chấn hưng dân khí, nâng cao dân trí”
+ Quan điểm sáng tác văn nghệ của Lỗ Tấn được thể hiện nhất quán trong toàn
bộ sáng tác của ông: phê phán những căn bệnh tinh thần khiến cho quốc dân mê muội,
tự thoả mãn “ngủ say trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”
+ Tư tưởng Lỗ Tấn có ảnh hưởng sâu sắc đến thanh niên yêu nước trên thế giới, trong đó có Nguyễn Ái Quốc
+ Khối lượng tác phẩm khổng lồ, có nhà nghiên cứu gọi là “Trước tác đẳng
nhân” Tiêu biểu như: “Nhật kí người điên”, “Thuốc”, “AQ chính truyện”, “Chuyện
cũ viết theo lối mới”, Gào thét, Bàng hoàng, hơn chục tập tạp văn có giá trị phê phán,
tính chiến đấu cao
Ông xứng đáng là nhà văn hiện thực xuất sắc của TQ , năm 1981 cả Thế giới kỉ niệm 100 năm sinh và tôn vinh ông là danh nhân văn hoá thế giới
2 Hoàn cảnh sáng tác truyện Thuốc
Thuốc được viết năm 1919, đúng vào lúc cuộc vận động Ngũ tứ bùng nổ Đây
là thời kì đất nước Trung Hoa bị các đế quốc Anh, Nga, Pháp, Đức, Nhật xâu xé Xã hội Trung Hoa biến thành nửa phong kiến, nửa thuộc địa, nhưng nhân dân lại an phận chịu nhục “Người Trung Quốc ngủ mê trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ” (Lỗ Tấn) Đó là căn bệnh đớn hèn, tự thoả mãn, cản trở nghiêm trọng con đường giải phóng dân tộc Chính nhà cách mạng lỗi lạc thời này là Tôn Trung Sơn cũng nói:
“Trung Quốc ấy với một thông điệp: Người Trung Quốc là một con bệnh trầm trọng”
Thuốc đã ra đời trong bối cảnh ấy với một thông điệp: cần suy nghĩ nghiêm khắc về
một phương thuốc để cứu dân tộc
3 Tóm tắt tác phẩm “Thuốc”:
Gia đình lão Hoa có một đứa con bị bệnh lao Người ta bảo mua bánh bao tẫm máu người sẽ chữa khỏi bệnh Vì cuồng tín, lão gom tất cả số tiền mua bánh bao chữa bệnh cho con Chiếc bánh bao tẩm máu chiến sĩ cách mạng Hạ Du
Tại quán trà lão Hoa, người ta bàn tán xôn xao về cái chết Hạ Du Khi ấy, lão nướng bánh bao cho con ăn Bánh bao đó chẳng những không chữa được bệnh cho con
mà còn làm con lão mất mạng Mộ bé Thuyên nằm một bên gần nghĩa địa người chết chém
Trang 7Nhân tết Thanh minh, bà Hoa (mẹ bé Thuyên) gặp mẹ Hạ Du tại nghĩa địa này Hai bà giật mình khi nhìn thấy trên mộ Hạ Du có đặt một vòng hoa Trên cành cây, con qụa đậu kêu lên một tiếng rồi vỗ cánh bay về phía chân trời xa.
4 Chủ đề: “Thuốc tập trung vào hai chủ đề, đó là sự tê liệt của quần chúng và
bi kịch của người cách mạng tiên phong Sự gắn bó của hai chủ đề ấy đã làm nổi bật lên tư tưởng của tác phẩm: làm thế nào để tìm ra phương thuốc chữa bệnh đớn hèn, ngu muội của dân tộc Tác phẩm đặt ra câu hỏi, chưa có câu trả lời nhưng thật ra câu trả lời nằm trong hình tượng Lời giải đáp cho câu hỏi đầy day dứt mà tác giả đặt ra ấy là phải làm cuộc cách mạng thật sự- một cuộc cách mạng của quần chúng và vì quần chúng
5 Câu hỏi tham khảo và gợi ý trả lời :
* Câu 1 : Trước khi trở thành nhà văn, Lỗ Tấn đã học những nghề nào? Tại sao
cưối cùng ông chuyển sang làm văn nghệ ? Nêu tên 3 tác phẩm của ông
* Gợi ý trả lời :
- Trước khi trở thành nhà văn Lỗ Tấn đã học những nghề : Hàng hải với ước mong mở rộng tầm mắt – học nghề khai thác mỏ với nguyện vọng làm giàu cho tổ quốc – học nghề y để chữa bệnh cho dân nghèo như bố ông
- Đang học y khoa ở Tiên Đài (Nhật) ,ông đột ngột đổi nghề Vì : Một lần xem phim ,ông thấy người TQ khỏe mạnh hăm hở đi xem người Nhật chém người TQ làm gián điệp cho Nga ( chiến tranh Nga –Nhật), ông giật mình, nghĩ rằng chữa bệnh thể xác không bằng chữa bệnh tinh thần cho quốc dân Oâng chủ trương dùng ngòi bút để phanh phui căn bệnh tinh thần của quốc dân và lưu ý mọi người tìm phương chữa trị
* Câu 2: Tác động của việc xem phim ở trường y khoa Tiên Đài Nhật Bản đối
với hoạt động văn học của Lỗ Tấn?
* Gợi ý trả lời:
- Một lần xem phim, ông thấy người Trung Quốc khỏe mạnh hăm hở đi xem nhười Nhật chém một người Trung Quốc làm gián điệp cho quân Nga Ông giật mình nghĩ rằng: chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần cho quốc dân Ông quyết định chuyển sang làm văn nghệ Dùng ngòi bút để biến đổi tinh thần những người dân ngu muội, hèn nhát
- Động cơ hoạt động văn nghệ nói trên tạo nên hàng loạt những đặc điểm ság tác của Lỗ Tấn thời kì đầu:
+ Đề tài: “Chọn những người bất hạnh trong xã hội bệnh tật”
+ Mục đích: “Lôi hết bệnh tật của họ ra làm cho mọi người chú ý tìm cách chạy chữa”
- Bút pháp: chủ yếu là châm biếm và hài hước Châm biếm để người dân thấy xấu hổ, tủi nhục mà kiên quyết cắt bỏ những ung nhọt trên cơ thể, hài hước để người dân biết “vui vẻ tiễn đưa những cái lỗi thời vào qúa khứ”
* Câu 3: “Thuốc” là một tiêu đề nhiều nghĩa Hãy tìm xem có những nghĩa gì?
Phải chăng đây chỉ là chuyện chống mê tín dị đoan?
* Gợi ý trả lời:
Thuốc, nguyên văn là "Dược" (trong từ ghép Dược phẩm), phản ánh một quá trình suy tư nặng nề của Lỗ Tấn (động cơ và mục đích đổi nghề của Lỗ Tấn) Nhận thức rõ thực trạng nhận thức của người dân Trung Quốc thời bấy giờ “ngu muội và hèn nhát”, nhà văn không có ý định và cũng không đặt ra vấn đề bốc thuốc cho xã hội mà chỉ muốn “lôi hết bệnh tật của quốc dân, làm cho mọi người chú ý và tìm cách chạy
Trang 8chữa” Tên truyện chỉ có thể dịch là Thuốc (Trương Chính) Vị thuốc (Nguyễn Tuân)
chứ không thể dịch là Đơn thuốc (Phan Khải) Nhan đề truyện có nhiều nghĩa
+ Tầng nghĩa ngoài cùng là phương thuốc truyền thống chữa bệnh lao Một phương thuốc u mê ngu muội giống hệt phương thuốc mà ông thầy lang bốc cho bố Lỗ Tấn bị bệnh phù thũng với hai vị “không thể thiếu” là rễ cây nứa kinh sương ba năm và một đôi dế đủ con đực, con cái dẫn đến cái chết oan uổng của ông cụ
+ “Bánh bao tẩm máu người”, nghe như chuyện thời trung cổ nhưng vẫn xảy ra
ở nước Trung Hoa trì trệ Tầng nghĩa thứ nhất - nghĩa đen của tên truyện là: thuốc chữa bệnh lao Thứ mà ông bà Hoa Thuyên xem là “tiên dược” để cứu mạng thằng con
“mười đời độc đinh” đã không cứu được nó mà ngược lại đã giết chết nó - đó là thứ thuốc mê tín
+ Trong truyện, bố mẹ thằng Thuyên đã áp đặt cho nó một phương thuốc quái
gở Và cả đám người trong quán trà cũng cho rằng đó là thứ thuốc tiên Như vậy, tên truyện còn hàm nghĩa sâu xa hơn, mang tính khai sáng: đây là thứ thuốc độc, mọi người cần phải giác ngộ ra rằng cái gọi là thuốc chữa bệnh lao được sùng bái là một thứ thuốc độc
+ Người Trung Quốc cần phải tỉnh giấc, không được ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt không có sửa sổ
+ Chiếc bánh bao - liều thuốc độc lại được pha chế bằng máu của người cách mạng - một người xả thân vì nghĩa, đổ máu cho sự nghiệp giải phóng nông dân Những người dân ấy (bố mẹ thằng Thuyên, ông Ba, cả Khang ) lại dửng dưng, mua máu người cách mạng để chữa bệnh Với hiện tượng chiếc bánh bao tẩm máu Hạ Du,
Lỗ Tấn đã đặt ra một vấn đề hết sức hệ trọng là ý nghĩa của hi sinh Tên truyện vì thế mang tầng nghĩa thứ ba: Phải tìm một phương thuốc làm cho quần chúng giác ngộ cách mạng và làm cho cách mạng gắn bó với quần chúng
* Câu 4: Tại quán trà lão Hoa, khách ở quán trà bàn với nhau về chuyện gì?
Qua những chuyện ấy, Lỗ Tấn Muốn nói đến điều gì?
* Gợi ý trả lời:
+ Tại quán trà lão Hoa, khách ở quán trà đã bàn về:
- Người tù bị chém sáng nay là chiến sĩ cách mạng Hạ Du
- Dùng bánh bao tẫm máu người( chiến sĩ cách mạng Hạ Du) có thể chữa được bệnh lao
+ Qua những chuyện ấy nhà văn muốn nói:
- Người dân u mê, lạc hậu về khoa học Họ cuồng tín nghĩ rằng bánh bao tẫm máu là
“Tiên dược” có thể chữa được bệnh lao
- Quần chúng nhân dân xa rời cách mạng và đồng thời, những người làm cách mạng còn xa rời quần chúng nhân dân, chưa giúp họ hiểu được vai trò của cách mạng trong
sự nghiệp giải phóng dân tộc
* Câu 5 : Không gian, thời gian nghệ thuật và ý nghĩa của chi tiết vòng hoa trên mộ
Hạ Du
* Gợi ý trả lời :
+ Câu chuyện xảy ra trong 2 buổi sớm vào hai mùa thu, mua xuân có ý nghĩa không tượng trưng Buổi sáng đầu tiên có 3 cảnh: cảnh sáng tinh mơ đi mua bánh bao chấm máu người, cảnh pháp trường và cảnh cho con ăn bánh, cảnh quán trà Ba cảnh gần như liên tục, diễn ra trong mùa thu lạnh lẽo Bối cảnh quán trà và đường phố là nơi
tụ tập của nhiều loại người do đó hình dung được dư luận và ý thức xã hội Buổi sáng
Trang 9cuối cùng là vào dịp tết Thanh minh- mùa xuân tảo mộ Mùa thu lá rụng, mùa xuân đâm chồi nảy lộc, gieo mầm.
+ Vòng hoa trên mộ Hạ Du: Có thể xem vòng hoa là cực đối lập của “chiếc bánh
bao tẩm máu” Phủ định vị thuốc là bằng chiếc bánh bao tẩm máu, tác giả mơ ước tìm
kiếm một vị thuốc mới- chữa được cả những bệnh tật về tinh thần cho toàn xã hội với điều kiện tiên quyết là mọi người phải giác ngộ cách mạng, phải hiểu rõ “ý nghĩa của
sự hi sinh” của những người cách mạng
+ Chi tiết vòng hoa trên mộ Hạ Du chủ đề tư tưởng tác phẩm mới được thể hiện trọn vẹn, nhờ đó mà không khí của truyện vốn rất u buồn tăm tối song điều mà tác giả đưa đến cho người đọc không phải là tư tưởng bi quan
Với cốt truyện đơn giản, cách viết cô đọng, giàu hình ảnh mang tính biểu tượng,
Thuốc của Lỗ Tấn thể hiện một nội dung sâu sắc: một dân tộc chưa ý thức được “bệnh
tật” của chính mình và chưa có được ánh sáng tư tưởng cách mạng, dân tộc đó vẫn
chìm đắm trong mê muội
V HÊ-MINH-UÊ:
1 Cuộc đời và sự nghiệp :
- Sinh 1899 mất 1961, là nhà văn Mĩ nổi tiếng Ông sinh ra trong một gia đình khá giả tại thành phố ngoại ô Chicagô
- Năm 18 tuổi, làm phóng viên tham gia vào đại chiến thế giới lần thứ nhất Bị thương và trở về nước Mĩ được đón tiếp như một người hùng Tuy nhiên, cuộc sống thời bình không làm ông hòa nhập với cuộc sống đương thời Ông tự nhận mình thuộc
“thế hệ vứt đi”
- Năm 1937, tham gia quân đội quốc tế chống Phát xít ở Tây Ban Nha Tiếp tục làm phóng viên, dựng phim, viết kịch
- Năm 1954, được nhận giải thưởng Nobel văn học
- Năm 1961, tự kết liễu đời mình bằng một khẩu súng
- Ông luôn mong muốn “viết một áng văn văn xuôi đơn giản và trung thực về con người” Nhân vật trung tâm trong tác phẩm thường đặt trong tình huống phải đương đầu, vượt qua cái vô nghĩa và sự thất bại của cuộc đời
- Hê-minh-uê đề xướng nguyên lí “tảng băng trôi”, ít sử dụng lời của người kể chuyện trong tác phẩm mà thay vào đó là các đối thoại và độc thoại nội tâm
- Tác phẩm tiêu biểu: “Mặt trời vẫn mọc”, “Giã từ vũ khí”, “Ông già và biển cả”,…
2 Nguyên lí “Tảng băng trôi”:
- Một phần nổi, bảy phần chìm - (Ý tại ngôn ngoại”, “Mạch ngầm văn bản”),
nhà văn không trực tiếp công khai cái loa phát ngôn cho tư tưởng của mình, mà nói lên hình tượng có nhiều sức gợi, để người đọc tự rút ra ẩn ý
- Ông ít sử dụng lời của người kể chuyện trong tác phẩm, mà thay vào đó là các đối thoại và những độc thoại nội tâm Các đối thoại của ông thường có vẻ lan man giống như những cuộc trò chuyện bắt gặp trong cuộc sống đời thường, khi đọc hình như khó hiểu nhưng chứa nhiều ẩn ý Độc thoại nội tâm là ngôn từ trực tiếp của nhân vật không thốt lên thành tiếng Nó mang tính chất hướng nội, thể hiện tính chất bên trong của nhân vật
3 Tóm tắt tác phẩm “Ông già và biển cả”
Trang 10Nhân vật trung tâm của tác phẩm là Xan-ti-a-gô -một "ông già" đánh cá người Cuba
Suốt 84 ngày liền, ông lão không bắt được một mống cá nào, dân làng chài cho rằng lão đã “đi đứt” vì vận rủi Cậu bé Ma-nô-lin cũng bị cha mẹ không cho đi câu trên thuyền với lão nữa
Vào ngày thứ 85, lão quyết định ra khơi trước khi trời sáng Lần này lão đi thật
xa, đến tận vùng Giếng Lớn Khoảng trưa, một con cá lớn cắn câu, kéo thuyền về hướng tây bắc
Sáng ngày thứ hai, con cá nhảy lên Đó là một con cá kiếm, lớn đến nỗi trước đây lão chưa từng nhìn thấy Con cá lại lặn xuống, kéo thuyền chạy về hướng đông
Sang đến ngày thứ ba, con cá bắt đầu lượn vòng Dù đã kiệt sức, lão kiên trì thu ngắn dây câu, rồi dốc toàn lực phóng lao đâm chết được con cá, buộc nó vào mạn thuyền dong về Nhưng chẳng bao lâu nhiều đàn cá mập đánh hơi được đã lăn xả tới
Từ đó đến đêm, lão lại đem hết sức tàn chống chọi với lũ cá mập- phóng lao, vung chày, thậm chí dùng cả mái chèo để đánh- giết được nhiều con, đuổi được chúng đi, nhưng lão biết con cá kiếm của mình thì chỉ còn trơ lại một bộ xương
Đến khuya, đưa được thuyền vào cảng, về đến lều, lão vật người xuống giường
và chìm vào giấc ngủ , rồi mơ về những con sư tử
4 Các lớp nghĩa của tác phâm “Ông già và biển cả”?(Ý nghĩa nhan đề)
- Cuộc chiến không cân sức giữa con người và thiên nhiên (phần nổi)
- Việc săn đuổi con cá kiếm khổng lồ là một ẩn dụ nói lên khát vọng mà con người theo đuổi, ra sức thực hiện trong trong cuộc đời dù đơn độc thất bại cũng hề nản chí Do đó, hình ảnh con cá kiếm trở thành biểu tượng của cái Đẹp
- Lũ cá mập rỉa hết thịt con cá kiếm ám chỉ cho bọn Tư Bản tước đoạt những thành qủa lao động của con người trong xã hội người bóc lột người
- Xét về phương diện nghệ thuật, việc Xantiagô ước mơ săn được một con cá vừa đẹp vừa lớn cũng là ước mơ cả đời của Hê-minh-uê trên con đường tìm tòi sáng tạo cái Đẹp
5 Hoàn cảnh sáng tác và chủ đề:
- Năm 1952, sau gần 10 năm sống ở Cuba, Hê-minh-uê cho ra đời « Ông Già và biển
cả » Bối cảnh của tác phâm là ngôi làng chài yên ả bên cảnh Ha-ba.na và Phu-en-tec, một thủy thủ trên con tàu của ông được xem là nguyên mẫu của Xan-ti-a-gô Trước khi được in thành sách, truyện đã được đăng trên Tạp chí Đời sống
- Thông qua hình ảnh ông lão Xan-ti-a-gô quật cường người chiến thắng con cá kiếm
bằng kĩ năng nghề nghiệp điêu luyện, Hê-minh-uê gởi gắm một thông điệp: trong bất
cứ hoàn cảnh nào “con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại”
6 Nội dung tư tưởng của đoạn trích
Hình tượng con cá kiếm được phát biểu trực tiếp qua ngôn từ của người kể chuyện, đặc biệt là qua những lời trò chuyện của ông lão với con cá ta thấy ông lão coi
nó như một con người Chính thái độ đặc biệt, khác thường này đã biến con cá thành
“nhân vật” chính thứ hai bên cạnh ông lão, ngang hàng với ông Con cá kiếm mang ý nghĩa biểu tượng Nó là đại diện cho hình ảnh thiên nhiên tiêu biểu cho vẻ đẹp , tính chất kiên hùng vĩ đại của tự nhiên Trong mối quan hệ phức tạp của thiên nhiên với con người không phải lúc nào thiên nhiên cũng là kẻ thù Con người và thiên nhiên có thể vừa là bạn vừa là đối thủ Con cá kiếm là biểu tượng của ước mơ vừa bình thường giản
Trang 11dị nhưng đồng thời cũng rất khác thường, cao cả mà con người ít nhất từng theo đuổi một lần trong đời.
7 Nghệ thuật đoạn trích
Đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện trong tác phẩm Ông già và biển cả của
Hê-minh-uê có ngôn ngữ của người kể chuyện và ngôn ngữ trực tiếp của ông già được thể hiện bằng: “lão nghĩ ”, “lão nói ”
+ Ngôn ngữ của người kể chuyện tường thuật khách quan sự việc
+ Lời phát biểu trực tiếp của ông lão Đây là ngôn từ trực tiếp của nhân vật Có lúc nó là độc thoại nội tâm Nhưng trong đoạn văn trích nó là đối thoại Lời đối thoại hướng tới con cá kiếm:
“Đừng nhảy, cá”, lão nói “Đừng nhảy”
“Cá ơi”, ông lão nói “cá này, dẫu sao thì mày cũng sẽ chết Mày muốn tao cùng chết nữa à?”
“Mày đừng giết tao, cá à, ông lão nghĩ “ mày có quyền làm thế” “Tao chưa từng thấy bất kỳ ai hùng dũng, duyên dáng, bình tĩnh,cao thượng hơn mày, người anh em ạ”
+ Ý nghĩa của lời phát biểu trực tiếp:
- Đưa người đọc như đang trực tiếp chứng kiến sự việc
- Hình thức đối thoại này chứng tỏ Xan-ti-a-gô coi con cá kiếm như một con người
- Nội dung đối thoại cho thấy ông lão chiêm ngưỡng nó thông cảm với nó và cảm thấy nuối tiếc khi tiêu diệt nó
- Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên
- Ý nghĩa biểu tượng của con cá kiếm
- Vẻ đẹp của con người trong hành trình theo đuổi và đạt được ước mơ
* Tham khảo:
+ Xan-ti-a-gô là một ông già đánh cá ở vùng nhiệt lưu Đã ba ngày hai đêm ông
ra khơi đánh cá Khung cảnh trời biển mênh mông chỉ một mình ông lão Khi trò chuyện với mây nước, khi đuổi theo con cá lớn, khi đương đầu với đàn cá mập xông vào xâu xé con cá Cuối cùng kiệt sức vào đến bờ con cá kiếm chỉ còn trơ lại bộ xương Câu chuyện đã mở ra nhiều tầng ý nghĩa Một cuộc tìm kiếm con cá lớn nhất, đẹp nhất đời, hành trình nhọc nhằn dũng cảm của người lao động trong một xã hội vô hình, thể nghiệm về thành công và thất bại của người nghệ sĩ đơn độc khi theo đuổi ước mơ sáng tạo rồi trình bày nó trước mắt người đời
+ Đoạn trích có hai hình tượng: ông lão và con cá kiếm Hai hình tượng mang một vẻ đẹp song song tương đồng trong một tình huống căng thẳng đối lập:
- Con cá kiếm mắc câu bắt đầu những vòng lượn “vòng tròn rất lớn”, “con cá đã quay tròn” Nhưng con cá vẫn chậm rãi lượn vòng” Những vòng lượn được nhắc lại rất nhiều lần gợi ra được vẻ đẹp hùng dũng, ngoan cường của con cá trong cuộc chiến đấu ấy
- Ông lão ở trong hoàn cảnh hoàn toàn đơn độc, “mệt thấu xương” “hoa mắt” vẫn kiên nhẫn vừa thông cảm với con cá vừa phải khuất phục nó
- Cuộc chiến đấu đã tới chặng cuối, hết sức căng thẳng nhưng cũng hết sức đẹp
đẽ Hai đối thủ đều dốc sức tấn công và dốc sức chống trả Cảm thấy chóng mặt và choáng váng nhưng ông lão vẫn ngoan cường “Ta không thể tự chơi xỏ mình và chết
Trang 12trước một con cá như thế này được” lão nói Ông lão cảm thấy “một cú quật đột ngột và
cú nảy mạnh ở sợi dây mà lão đang níu bằng cả hai tay” Lão hiểu con cá cũng đang ngoan cường chống trả Lão biết con cá sẽ nhảy lên, lão mong cho điều đó đừng xảy ra
“đừng nhảy, cá” lão nói, “đừng nhảy”, nhưng lão cũng hiểu “những cú nhảy để nó hít thở không khí” Ông lão nương vào giớ chò “lượt tới nó lượn ra, ta sẽ nghỉ” “Đến vòng thứ ba, lão lần đầu tiên thấy con cá” Lão không thể tin nỗi độ dài của nó “ “không” lão nói, “Nó không thể lớn như thế được” Những vòng lượn của con cá hẹp dần Nó đã yếu đi nhưng nó vẫn không khuất phục, “lão nghĩ: “Tao chưa bao giờ thấy bất kì ai hùng dũng, duyên dáng, bình tĩnh, cao thượng hơn mày” Ông lão cũng đã rất mệt có thể đổ sụp xuống bất kì lúc nào Nhưng ông lão luôn nhủ “mình sẽ cố thêm lần nữa” Dồn hết mọi đau đớn và những gì còn lại của sức lực và lòng kiêu hãnh, lão mang ra để đương đầu với cơn hấp hối của con cá Ông lão nhấc con ngọn lao phóng xuống sườn con cá “cảm thấy mũi sắt cắm phập vào, lão tì người lên ấn sâu rồi dồn hết trọng lực lên cán dao” Đây là đòn đánh quyết định cuối cùng để tiêu diệt con cá Lão rất tiếc khi phải giết nó, nhưng vẫn phải giết nó
- “Khi ấy con cá, mang cái chết trong mình, sực tỉnh phóng vút lên khỏi mặt nước phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực của nó” Cái chết của con cá cũng bộc lộ vẻ đẹp kiêu dũng hiếm thấy cả ông lão và con cá đều là kì phùng địch thủ Họ xứng đáng là đối thủ của nhau
- Nhà văn miêu tả vẻ đẹp của con cá cũng là để đề cao vẻ đẹp của con người Đối tượng chinh phục càng cao cả, đẹp đẽ thì vẻ đẹp của con người đi chinh phục càng được tôn lên Cuộc chiến đấu gian nan với biết bao thử thách đau đớn đã tôn vinh vẻ đẹp của người lao động: giản dị và ngoan cường thực hiện bằng được ước mơ của mình
VI SÔLÔKHÔP:
1 Cuộc đời và sự nghiệp:
- Sôlôkhôp (1905-1984) sinh ra và lớn lên ở vùng sông Đông, nước Nga Lúc nhỏ học ở trường làng, có lên Matxcơva học vài năm sau đó trở về quê Là người trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại
- Năm 1923, ông trở lên Thủ đô làm đủ mọi nghề: khuân vác, lao công, kế toán… để thực hiện ước mơ viết văn của mình
- Năm 1925, trở về quê bắt tay viết “Sông Đông êm đềm”
- Ông là nhà văn hiện thực lỗi lạc Là một trong những nhà văn lớn của thế kỷ
XX trên thế giới Năm 1939, ông được bầu làm viện sĩ viện hàn lâm khoa học Liên
Xô
-Ông được trao giải thưởng Nô ben về văn học năm 1965
- Tác phẩm tiêu biểu: Sông Đông êm đềm, Đất vở hoang, Số phận con người…
2 Tóm tắt tác phẩm: “Số phận con người”
Nhân vật chính trong tác phẩm nầy là Xô-cô-lốp Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Xô- cô-lốp nhập ngũ, rồi bị thương, sau đó, anh bị đày đọa trong trại giam của quân phát xít Khi thoát được về với Hồng quân Anh nhận được tin vợ con bị bom giặt sát hại
Trang 13Người con trai duy nhất của anh cũng đã nhập ngủ và đang cùng anh tiến đánh Bec-lin Nhưng đúng ngày chiến thắng, con trai anh bị một tay thiện xạ người Đức bắn chết Niềm hi vọng cuối cùng của Xô-cô-lốp bị dập tắt.
Kết thúc chiến tranh, Xô-cô-lốp giải ngũ, làm lái xe cho một đội vận tải và ngẫu nhiên, anh gặp chú bé Vania, bố mẹ đều bị chết trong chiến tranh, chú bé phải sống bơ
vơ không nơi nương tựa Anh nhận Vania làm con; chú bé ngây thơ tin rằng Xô-cô-lốp
là bố của mình Anh yêu thương, chăm sóc chú bé dù hơi “vụng về” nhưng thật chu đáo
và coi nó như một nguồn vui lớn
Tuy vậy Xô-cô-lốp vẫn bị ám ảnh bởi những nỗi đau buồn vì mất vợ, mất con
Do đó anh thường thay đổi chỗ ở Dù thế, Xô-cô-lốp cố giấu không để Vania biết nổi khổ của mình
3 Chủ đề: “Số phận con người” tập trung khám phá nỗi bất hạnh của con người sau
chiến tranh Song tuy viết về những đau thương, mất mát mà chiến tranh gây ra, tác giả vẫn giữ vững niềm tin ở tính cách Nga kiên cường cũng như lòng tin ở cuộc sống bao dung
B TÁC PHẨM VÀ NHỮNG NỘI DUNG CẦN NẮM:
I “Tuyên ngôn Độc lập”- Hồ Chí Minh
1 Hoàn cảnh ra đời: Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Phát xít Nhật, kẻ đang
chiếm đóng nước ta lúc bấy giờ, đã đầu hàng đồng minh Trên toàn quốc, nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền
- Ngày 19/8/1945, chính quyền Hà Nội về tay nhân dân.
- Ngày 26/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản “Tuyên ngôn Độc lập”
- Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình Hà Nội, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” trước hàng chục vạn đồng bào
2 Tóm tắt:
3 Mục đích và đối tượng của Bản Tuyên ngôn độc lập?
a Mục đích :
- Xóa bỏ chế độ Phong kiến ở Việt Nam.
- Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ; đồng thời còn là một cuộc tranh luận ngầm nhằm bác bỏ lí lẽ dọn đường cho cuộc chiến tranh tái xâm lược của thực dân Pháp xâm lược, và âm mưu can thiệp của đế quốc Mĩ…
- Tuyên bố với đồng bào cả nước và nhân dân thế giới về quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam
b Đối tượng : Nhân dân Việt Nam, nhân dân thế giới, thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ
4 Ý nghĩa :
TNĐL vừa là văn kiện có giá trị Lịch sử to lớn : Là lời tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân, Phong Kiến, là sự khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của dân tộc ta trên toàn thế giới, là mốc son lịch sử mở ra kỉ nguyên độc lập, tự do trên đất nước ta
TNĐL vừa là tác phẩm chính luận xuất sắc Sức mạnh và tính thuyết phục của tác phẩm được thể hiện chủ yếu ở cách lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, đầy cảm xúc…
Trang 14TNĐL còn là áng văn tâm huyết của chủ tịch Hồ Chí Minh, hội tụ vẻ đẹp tư tưởng và tình cảm của Người, đồng thời kết tinh khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do của dân tộc ta.
5 Tuyên ngôn độc lập vừa là một áng văn chính luận mẫu mực vì
+ Lập luận chặt chẽ trong toàn bài :
+ Luận điểm xác đáng có sức thuyết phục
+ Lời lẽ đanh thép, giọng văn hùng hồn
6 Ý nghĩa văn bản :
+ TNĐL là một văn kiện lịch sử vô giá tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về quyến tự do, độc lập của dân tôc Việt Nam và khẳng định quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do ấy
+ Kết tinh lí tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lập,
tự do
+Là một áng văn chính luận mẫu mực
II Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống HIV/AIDS – 12 - 2003
(Cô-phi An-nan)
1 Hoàn cảnh và mục đích của văn bản
- Cô-phi An-nan viết văn bản này gửi nhân dân toàn thể giới nhân ngày thế giới phòng chống AIDS 1/12/2003
- Trong khi dịch HIV/AIDS hoàn thành, có ít dấu hiệu suy giảm Nhất là các nước Đông Âu, toàn bộ châu Á, từ dãy núi U-Ran đến Thái Bình Dương
- Mục đích kêu gọi các nhân và mọi người chung tay góp sức ngăn chặn hiểm hoạ, nhận thấy sự nguy hiểm của đại dịch này
- Triển khai chương trình chăm sóc toàn diện ở mọi nơi
- Các quốc gia phải đặt vấn đề AIDS lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị
3 Bố cục Bài văn chia làm 3 đoạn:
+ Đoạn 1: Từ đầu đến “chiến đấu chống lại dịch bệnh này”
Nội dung: cả thế giới nhất trí, cam kểt, phòng chống, chiến đấu, đánh bại căn bệnh HIV/AIDS
+ Đoạn 2: Tiếp đó đến “đồng nghĩa với cái chết”
Có hai ý chính: một là điểm lại tình hình thực tế, hai là nhiệm vụ của mỗi người, mọi người, mọi quốc gia
+ Đoạn 3: còn lại Lời kêu gọi thiết tha
4 Ý nghĩa của thông điệp
- Bản thông điệp là tiếng nói kịp thời trước một nguy cơ đang đe dọa đời sống của loài người Nó thể hiện thái độ sống tích cực, một tinh thần trách nhiệm cao, tình yêu thương nhân loại sâu sắc
Trang 15- Thông điệp giúp người đọc, người nghe biết quan tâm tới hiện tượng đời sống đang diễn ra quanh ta để tâm hồn, trí tuệ không nghèo nàn, đơn điệu và biết chia sẻ, không
vô cảm trước nỗi đau con người
- Từ đó xác định tình cảm, thái độ hành động của mình Giá trị của văn bản còn thể hiện ở tư tưởng có tầm chiến lược, giàu tính nhân văn khi đặt ra nhiệm vụ phòng chống căn bệnh thế kỉ
III “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sáng trong văn nghệ của dân tộc”- Phạm Văn Đồng
2 Kết cấu bài viết:
- Mở bài: Nêu luận điểm trung tâm : Nguyễn Đình Chiểu - nhà thơ lớn của
dân tộc cần phải được nghiên cứu, tìm hiểu và đề cao hơn nữa
- Thân bài: Nêu 3 luận điểm bộ phận
+ Luận điểm 1: Cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là của một chiến
sĩ hi sinh phấn đấu vì một nghĩa lớn.
+ Luận điểm 2: Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sống lại trong
tâm trí chúng ta phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ từ
1860 về sau, suốt hai mươi năm trời.
+ Luận điểm 3: Lục Vân Tiên, tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu rất
phổ biến trong dân gian, nhất là ở miền Nam.
- Kết bài: Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương
sáng, vì đã nêu cao sứ mệnh của người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá và tư tưởng, nêu cao tác dụng của văn hóa, nghệ thuật
+ Thể hiện mối quan hệ giữa văn học và đời sống giữa người nghệ sĩ chân chính
và hiện thực cuộc đời
+ Đặc biệt nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước thương nòi của dân tộc
4 Ý nghĩa của văn bản:
Trang 16Khẳng định ý nghĩa cao đẹp của cuộc đời và văn nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu : cuộc đời của một chiến sĩ phấn đấu hết mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc ; sự nghiệp thơ văn của ông là một minh chứng hùng hồn cho địa vị và tác dụng to lớn của văn học nghệ thuật cũng như trách nhiệm của người cầm bút đối với đất nước, dân tộc.
* Tham khảo :
Phần mở bài
- Tác giả đưa ra cách nhìn mới mẻ về Nguyễn Đình Chiểu
+ So sánh liên tưởng văn chương Nguyễn Đình Chiểu như “vì sao có ánh sáng khác thường Nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn mới thấy, và càng nhìn càng thấy sáng” Đây là cái nhìn khoa học và có ý nghĩa như một định hướng tìm hiểu về văn chương Nguyễn Đình Chiểu
+ Nhận định: “Văn chương thầy Đồ Chiểu không phải là thứ văn hoa mĩ, ông chuốt, cũng không phải là vẻ đẹp của cây lúa xanh uốn mình trong gió nhẹ, mà là vẻ đẹp của đống thóc mẩy vàng” (Văn 11, NXB Giáo dục, 1996) Đó là thứ văn chương đích thực Cho nên đứng về một vài điểm hình thức, câu thơ chưa thật chuốt, thật mượt mà đánh giá thấp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
+ Mặt khác “có người chỉ biết Nguyễn Đình Chiểu là tác giả của cuốn Lục Vân Tiên và hiểu về Lục Vân Tiên cũng khá thiên lệch về nội dung và văn, còn ít biết về thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, khúc ca hùng tráng của phong trào yêu nước chống bọn xâm lược Pháp lúc chúng đến bờ cõi nước ta cách đây 100 năm”
+ Câu mở đầu: “Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ lớn của nước ta, đáng lẽ phải sáng tỏ hơn nữa trong bầu trời văn nghệ dân tộc, nhất là trong lúc này” Đây là luận điểm của phần đặt vấn đề
- Phạm Văn Đồng vừa đặt vấn đề bằng cách chỉ rõ định hướng tìm hiểu thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, vừa phê phán một số người chưa hiểu Nguyễn Đình Chiểu, vừa khẳng định giá trị thơ văn yêu nước của nhà thơ chân chính Nguyễn Đình Chiểu Đây
là cách vào đề phong phú, sâu sắc vừa thể hiện phương pháp khoa học của Phạm Văn Đồng
Phần thân bài
- Phần thân bài tác giả trình bày nội dung:
+ Một là vài nét về con người của Nguyễn Đình Chiểu và quan niệm sáng tác Luận điểm là: “Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ yêu nước mà tác phẩm là những trang bất
hủ ca ngợi cuộc chiển đấu oanh liệt của nhân dân ta chống bọn xâm lược phương Tây ngay buổi đầu chúng đặt chân lên đất nước chúng ta” Để làm rõ luận điểm này tác giả đưa ra những luận cứ:
+ Sinh ra trên đất Đồng Nai hào phóng
+ Triều đình nhà Nguyễn cam tâm bán nước, khắp nơi nổi dậy hưởng ứng chiếu Cần Vương
+ Bị mù cả 2 mắt, Nguyễn Đình Chiểu viết thơ văn phục vụ cuộ chiến đấu của đồng bào Nam Bộ ngay từ những ngày đầu
+ Thơ văn còn ghi lại tâm hồn trong sáng và cao quí của Nguyễn Đình Chiểu
+ Thơ văn ghi lại lịch sử thời khổ nhục nhưng vĩ đại
+ Cuộc đời và hoạt động của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương anh dũng
+ Đất nước và cảnh ngộ riêng càng long đong thì khí tiết càng cao:
Sự đời thà khuất đôi tròng thịt
Trang 17Lòng đạo xin tròn một tấm gương
+ Cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là của một chiến sĩ luôn hi sinh phấn đấu vì nghĩa lớn Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là thơ văn chiến đấu, đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
+ Với Nguyễn Đình Chiểu cầm bút viết văn là một thiên chức Ông khinh miệt những
kẻ lợi dụng văn chương để làm việc phi nghĩa:
Thấy nay cũng nhóm văn chương
Vóc dê da cọp khôn lường thực hư
- Luận điểm đưa ra có tính khái quát bao trùm Luận cứ bao gồm những lí lẽ và dẫn chứng cũng rất cụ thể, tiêu biểu, có sức cảm hoá Nó giúp người đọc hiểu đúng, hiểu rõ, hiểu sâu sắc vấn đề
- Luận điểm hai của phần thân bài là: “Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sống lại trong tâm trí của chúng ta phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ từ năm 1860 về sau, suốt 20 năm trời”
+ Tái hiện lại một thời đau thương và khổ nhục nhưng vô cùng anh dũng của dân tộc (Nguyễn Tri Phương thua ở Sài Gòn, Tự Đức vội vã đầu hàng Năm 1862 cắt 3 tỉnh miền Đông và năm 1867 cắt ba tỉnh miền Tây cho giặc Mặc dù vậy nhân dân Nam bộ
đã vùgn lên làm cho kẻ thù phải khiếp sợ và khâm phục)
+ Phần lớn thơ văn của thầy Đồ Chiểu là những bài văn tế ca ngợi những người anh hùng tận trung với nước và than khóc những người liệt sĩ đã trọn nghĩa với dân Đặc biệt người nghĩa sĩ nông dân chỉ biết cuốc cày đã trở thành anh hùng cứu quốc (Bớ các quan ơi, chớ thấy chín trùng hoà nghị mà tấm lòng dịch khái nỡ phôi phai, cho rằng ba tỉnh giao hoà mà cái việc cứu thù đành lơ đảng!
Bớ các làng ơi! chớ thấy đồn luỹ dưới Gò Công thất thủ mà trở mặt hại nhau, chớ nghe bảo trên Bến Nghé phân cơ mà đành lòng theo mọi!
Hỡi ơi, oán nhường ấy, hận nhường ấy, cừu thù nhường ấy làm sao trả đặng mới ưng!Công bấy lâu, nghiệp bấy lâu, lao khổ bấy lâu, bao đành bỏ qua sao phải?)
Đọc lại nhiều đoạn trong bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
* “Hỡi ôi! Sóng giặc đất rền;
Lòng dân trời tỏ”
* “Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;
Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng hay trải muôn đời ai cũng mộ”
+ So sánh văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc với Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi
Hai bài văn: hai cảnh ngộ, hai thời buổi nhưng một dân tộc Tác phẩm của Nguyễn Trãi
là khúc ca khải hoàn ca ngợi những chiến công oanh liệt chưa từng thấy, biểu dương chiến thắng làm rạng rỡ nước nhà Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là khúc cac những người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang: “sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc muôn kiếp nguyện được trả thù kia”
+ Trong thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu còn có những đoá hoa, hòn ngọc rất đẹp (Xúc cảnh): “Hoa cỏ… trời chung”
+ Phong trào kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ lúc bấy giờ làm nảy nở nhiều nhà văn, nhà thơ: Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Văn Lạc, Nguyễn Hữu Huân, Hồ Huân Nghiệp…
Trang 18- Văn viết rõ ràng, lí lẽ đưa ra có dẫn chứng đầy đủ Đó là cách lập luận chặt chẽ, làm cho người đọc, người nghe lĩnh hội được vẻ đẹp đáng trân trọng, kính phục con người
và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu Bởi lẽ Nguyễn Đình Chiểu là nhà nho yêu nước tiêu biểu, tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, trọng đạo lí Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
là vũ khí chiến đấu chống bọn xâm lược và là bài ca chính nghĩa, ca ngợi đạo đức ở đời Tất cả kết hợp tình cảm nồng hậu của Phạm Văn Đồng đối với Nguyễn Đình Chiểu
để bài viết giàu tính thuyết phục
- Lục Vân Tiên là tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu rất phổ biến trong dân gian nhất là ở miền Nam
+ Ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quí trọng ở đời, ca ngợi những người trung nghĩa
* Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Vương Tử Trực, Hớn Minh, Tiểu Đồng là những người đáng kính, đáng yêu, trọng nghĩa khinh tài, mặc dầu khổ cực gian nguy, quyết phấn đấu vì nghĩa lớn
- Họ đấu tranh chống mọi giả dối bất công và họ đã chiến thắng
- Về văn chương của Lục Vân Tiên, đây là “một chuyện kể”, “chuyện nói”, lời văn
“nôm na”, dễ hiểu, dễ nhớ, truyền bá rộng rãi trong dân gian
- Tác giả bày tỏ ý kiến chưa hiểu đúng về truyện Lục Vân Tiêu do hoàn cảnh thực tế (bị
mù, nhờ người viết) nên “tam sao thất bản”
Phần kết bài
- Luận điểm là “đời sống và sự nghiệp Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác động của văn học nghệ thuật, sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá và tư tưởng”
Thực chất là rút ra bài học sâu sắc:
+ Đôi nén hương lòng tưởng nhớ người con quang vinh của dân tộc (nhắc nhở)
+ Mối quan hệ giữa văn học và đời sống
+ Vai trò của người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá tư tưởng
IV “Người lái đò Sông Đà”- Nguyễn Tuân
1 Tìm hiểu hình tượng Sông Đà
a Sông Đà hung bạo, dữ dội:
- Cảm hứng mãnh liệt về vẻ đẹp hoang sơ, kì vĩ của sông Đà:
+ Thành vách dựng đứng, dòng chảy ghê gớm, thác đá
+ Sức mạnh của gió, sóng, đá và sự phối hợp của nó
+ Những hút nước ghê rợn
+ Những thác nước bày thế trận như một bầy thuỷ quái hung bạo
- Giọng văn phóng túng, phối hợp nhiều tri thức, ngôn từ phong phú giàu giá trị tạo hình
b Sông Đà thơ mộng, trữ tình được tiếp cận bằng nhiều góc độ, cự li:
- Từ trên máy bay trực thăng: Một vẻ đẹp đầy nữ tính- “ áng tóc trữ tình” Một sắc nước đặc trưng
- Đi bộ từ đại ngàn Tây Bắc, tiếp cận sông Đà: trong sáng, khoáng đạt như màu nắng “tháng ba” Đường thi, như gặp lại một cố nhân
- Trực tiếp thả thuyền trên sông Đà quãng hạ lưu: hoang dại, hồn nhiên, an bình
- Tình yêu tha thiết với sông Đà được thể hiện qua giọng văn, nhịp điệu, hình ảnh và những câu cảm thán, câu đặc biệt,…
Trang 19c Qua hình tượng sông Đà, Nguyễn Tuân thể hiện tình yêu mến tha thiết đối với
thiên nhiên đất nước Với ông, thiên nhiên cũng là một tác phẩm nghệ thuật vô song của tạo hóa Cảm nhận và miêu tả sông Đà, Nguyễn Tuân đã chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác và lịch lãm của mình Hình tượng sông Đà là phông nền cho sự xuất hiện và tôn vinh vẻ đẹp của người lao động trong chế đô mới
2 Tìm hiểu hình tượng ông lái đò trong cuộc chiến đấu với con Sông Đà hung bạo:
- Trong cảm xúc thẩm mĩ của Nguyễn Tuân con người lao động đẹp và quý hơn tất cả Đó là khối “vàng mười” Con người lao động vô danh trong cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên đã trở nên lớn lao, kì vĩ
- Người anh hùng lao động trên sông nước:
+ Cuộc đấu tranh không cân sức ( Sông Đà hung bạo- con người nhỏ bé)
+ Con người đã chiến thắng sức mạnh của tự nhiên Dòng sông càng hung bạo thì hình tượng ông lái đò càng đẹp đẽ, uy nghi
+ Nguyên nhân làm nên chiến thắng: sự ngoan cường, dũng cảm và nhất là kinh nghiệm đò giang sông nước, nắm được quy luật của dòng
Đoạn văn miêu tả đầy không khí trận mạc, sức tưởng tượng và kho từ vựng phong phú thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân
- Vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ
+ Nghệ sĩ vượt thác qua ghềnh
+ Tâm hồn đẹp : vô danh, thầm lặng, bình dị
Hình ảnh ông lái đò cho thấy Nguyễn Tuân đã tìm được nhân vật mới : những con người đáng trân trọng, ngợi ca, không thuộc tầng lớp đài các «vang bóng một thời » mà là những người lao động bình thường – chất « vàng mười của Tây Bắc » Qua đây, nhà văn muốn phát biểu quan niệm : người anh hùng không chỉ có trong chiến đấu
mà cón có trong cuộc sống lao động thường ngày
3 Chủ đề: Qua hình ành con sông hung bạo và thơ mộng, người lái đò bình dị mà
dũng cảm, tài hoa, Nguyễn Tuân ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên và con người Tây Bắc của
Tổ quốc Đồng thời thể hiện tình yêu mến, sự gắn bó tha thiết của Nguyễn Tuân đối với đất nước và con người Việt Nam
V “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”- Hoàng Phủ Ngọc Tường.
1 Chủ đề: Từ những cảm xúc sâu lắng được tổng hợp bằng vốn kiến thức phong
phú về địa lí, lịch sử, văn hóa… tác giả đã khám phá và ca ngợi vẻ đẹp của Sông Hương, kinh thành Huế cũng là vẻ đẹp của quê hương đất nước
2 Nét độc đáo, đa sắc thái của sông Hương trong “ Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
- Thủy trình của sông Hương :
+ Ở thượng nguồn sông Hương có vẻ đẹp “phóng khoáng và man dại ” như một
cô gái Di-gan Khi chảy qua dãy Trường Sơn, SH như “ một bản trường ca rừng già rầm rộ….” là « người mẹ phú sa của một vùng văn hóa xứ sở »
+ Đến ngoại vi thành phố Huế: sông Hương như « người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đống Châu Hóa đầy hoa dại » được người tình mong đợi đến đánh thức Thủy trình của sông Hương khi bắt đầu về xuôi tựa « một cuộc tìm kiến có ý thức » người tình nhân đích thực của một người con gái đẹp trong câu chuyện tình yêu lãng mạn nhuốm màu cổ tích
Trang 20+ Đến giữa thành phố Huế : sông Hương như tìm được chính mình « vui tươi hẳn lên mềm hẳn đi như một tiếng « vâng » không nói ra của tình yêu » Nó có những đường nét tinh tế, đẹp như « điệu slow tinh2 cảm dành riêng cho Huế », như « người tài
nữ đánh đàn lúc đên khuya »,
+ Trước khi tứ biệt Huế : sông Hương giống như « người tình dịu dàng và chung thủy » Con sông « như nàng Kiều trong đêm tình tự », « trở lại tìm Kim Trọng » để nói một lời thề trước lúc đi xa
- Dòng sông của thi ca và lịch sử :
+ Trong lịch sử, sông Hương mang vẻ đẹp của một bản hùng ca ghi dấu bao chiến công oanh liệt của dân tộc
+ Trong đời thường, sông Hương mang vẻ đẹp giản dị của « một người con gái dịu dàng của đất nước »
+ Sông Hươnglà dòng sông thi ca, vẻ đẹp của sông Hương trong cảm hứng của các nghệ sĩ: Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Tản Đà, Tố Hữu… vẻ đẹp đó gắn với cách cảm nhận, cách thể hiện riêng của từng tác giả
3 Nét riêng trong văn phong của Hoàng Phủ Ngọc Tường:
- Tình yêu say đắm với dòng sông, sự gắn bó máu thịt với cảnh và con người xứ Huế
- Cây bút giàu chất trí tuệ, hiểu biết sâu rộng về lịch sử, văn hoá và nghệ thuật xứ Huế
- Trí tưởng tượng lãng mạn bay bổng
- Văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế, tài hoa
3 Đề tham khảo:
Đề 1: Phân tích giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực của tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”
Bài viết phải đảm bảo những nội dung sau:
- Giá trị hiện thực:
+ Tái hiện bức tranh đời sống nghèo khổ, lạc hậu của con người miền núi (Mị,
A Phủ) (Sử dụng cc dẫn chứng: “bố Mị lấy mẹ Mị không đủ tiền cưới, phải đến vay nhà thống lí,… đến khi hai vợ chồng về già rồi mà cũng chưa trả được nợ Người vợ chết, cũng chưa trả hết nợ.”, “A Phủ thì không có bố mẹ, không có ruộng, không có bạc, A Phủ không thể lấy nỗi vợ”, “phép rượu cũng chẳng to hơn phép làng”,…
+ Cho người đọc thấy được cảnh sống sa hoa, phè phởn của bọn thống lí nhờ bóc lột mà có được (Sử dụng các dẫn chứng: “Trong nhà thống lí…Khói thuốc phiện tuôn ra các lỗ cửa sổ tun hút xanh như khói bếp”, “Suốt từ trưa cho tới hết đêm, mấy chục người hút…Pá Tra hút xong một lượt năm điếu, đến người khác hút, cứ thế lần lượt xuống tới bọn đi gọi người về dự kiện”, “Khói thuốc phiện ngào ngạt tuôn qua các
lỗ cửa sổ…Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút” “Trong nhà, thuốc phiện vẫn hút rào rào”,…
Trang 21+ Lợi dụng phong tục sống lạc hậu, ngu muội của dân tộc miền núi bọn chúa núi
đã ra sức đầu độc, áp chế về tinh thần (Sử dụng dẫn chứng: “Ngoài vách kia, tiếng nhạc sinh tiền cúng ma đương rập rờn nhảy múa”, “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”, “Đời người đàn bà lấy chồng nhà giàu ở Hồng Ngài thì một đời con người chỉ biết
đi theo đuôi con ngựa của chồng”, “Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi”,…
- Giá trị nhân đạo:
+ Tố cáo chế độ phong kiến miền núi bóc lột, đày đọa, chà đạp con người Tiêu biểu là cha con nhà thống lí Pá Tra (sử dụng các dẫn chứng: thống lí P Tra dùng uy quyền buộc Mị phải làm dâu gạt nợ, hành hạ, đầu độc, áp chế về tinh thần đến nỗi:“Bây giờ Mị tưởng mình cũng l con trâu, mình cũng l con ngựa”, “Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi làm việc cả ngày cả đêm”, “Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”, nhà thống lí giàu, Mị là con dâu vậy mà: “Cái buồng Mị nằm kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay”, làm dâu nhà thống lí Mị phải làm việc quần quật: “mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại: Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì gặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp”,…A Phủ thì bị trói về, bị qùy gối, bị đánh, nệnh “huỳnh huỵch” đến nỗi: “hai cái đầu gối sưng bạnh lên như mặt hỗ phù”, bị bắt làm nô lệ, bị trói đứng mấy đêm,…
+ Tác giả thông cảm sâu sắc với số phận của những kiếp sống nghèo khổ
+ Khẳng định sức sống mãnh liệt của con người không một thế lực nào của giai cấp thống trị có thể tiêu diệt nổi (sử dụng dẫn chứng ở đoạn Mị nghe tiếng sáo gọi bạn tình mùa xuân, Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ, chạy trốn khỏi Hồng Ngài cùng A Phủ
+ Thể hiện niềm tin vào sự tất thắng của chính nghĩa (sử dụng nội dung Mị và
A Phủ gặp A Châu và được A Châu- người của Đảng giác ngộ A Phủ trở thành tiểu đội trưởng du kích, cùng với Mị và đồng đội bảo vệ quê hương)
Đề 2: Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Mị khi nhìn thấy “giọt nước mắt”
A Phủ
Đề 3: Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Mị khi nghe tiếng sáo gọi bạn tình
trong đêm tình mùa xuân
*Gợi ý : Khi phân tích cần chú ý vào các nội dung sau:
- Mị là cô gái nghèo, bị bắt làm dâu gạt nợ Có những thời điểm cô tỏ ra cam chịu, nhẫn nhục, vô cảm, không mảy may hi vọng (phần phụ)
- Nhưng thực chất, ở Mị vẫn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt Sức sống ấy
chính là niềm khát khao tự do và hạnh phúc (Phần chính) Phân tích tâm trạng và hành
động qua các thời điểm:
- Khi tết đến và “những đêm tình mùa xuân đã tới”
→ A Sử chỉ trói được thể xác Mị chứ không thể trói được tâm hồn Mị
Đề 4: Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị từ lúc bị bắt về làm dâu gạt
nợ nhà thống lí Pá Tra đến khi cởi trói cho A Phủ trốn khỏi Hồng Ngài
Chú ý cách triển khai giống đề 3 và phân tích thêm:
+ Đêm cắt dây cởi trói cho A Phủ và cùng người thanh niên này trốn khỏi Hồng Ngài
→ Khẳng định sức sống mạnh liệt của con người và đồng thời thể hiện niềm tin của tác giả vào sự lãnh đạo của Đảng
Trang 22Đề 5: Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng nhân vật Mị trong tác phẩm “Vợ
chồng A Phủ” của Tô Hoài
- Mi là cô gái trẻ đẹp, có ước mơ nhưng vì nghèo nên trở thành thân trâu ngựa cho nhà thống lí PáTra
- Cam chịu, nhẫn nhục: lúc nào cũng cúi mặt, “buồn rười rượi”, sống “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”, làm việc quần quật “suốt năm suốt đời như thế”, không còn mảy may hi vọng,…
→ Mị là người phụ nữ điển hình cho số phận của những người phụ nữ miền núi đương thời chịu bao nỗi đày đọa, áp bức, hành hạ về thể xác và bị đầu độc áp chế về tinh thần của bọn thống lí và bè lũ tay sai
Tố cáo tội ác của bọn thực dân, phát xít đã gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945
và khẳng định: ngay trên bờ vực của cái chết, con người vẫn hướng về sự sống, tin tưởng ở tương lai, khao khát tổ ấm gia đình và thương yêu, đùm bọc lẫn nhau
Đề 1: Ý nghĩa nhan đề truyện ngắn vợ nhặt:
- Nhặt : Nhặt được, lượm được một cách tình cờ ở ngoài đường.
- Vợ nhặt: vợ lượm được ở ngoài đường một cách tình cờ.
Trang 23→ Nhan đề giàu ý nghĩa:
+ Kích thích sự chú ý của người đọc Đây không phải là cảnh lấy vợ đường hoàng, có ăn hỏi, có cưới xin theo phong tục truyền thống của người Việt mà là “nhặt vợ”
+ Gợi cảnh ngộ, số phận của Tràng, người đàn bà xa lạ để nói lên số phận con người quá rẻ rúng Qua đó phản ánh tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục của người nông dân nghèo trong nạn đói khũng khiếp năm 1945
Đề 2: Ý nghĩa tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn “Vợ nhặt”
* Hướng khai thác:
- Ý nghĩa tư tưởng:
+ Ý nghĩa hiện thực: phản ánh nạn đói khủng khiếp năm 1945
+ Ý nghĩa nhân đạo: thể hiện niềm tin vào bản chất của người lao động
- Đặc sắc nghệ thuật:
+ Tạo được một tình huống truyện độc đáo
+ Miêu tả tâm lí nhân vật kh tinh tế, sắc sảo
Đề 3: Nhận xét tình huống truyện độc đáo mà Kim Lân đã xây dựng trong tác
phẩm “Vợ nhặt”
* Gợi ý cách triển khai:
- Nêu tình huống truyện: Tràng- dân ngụ cư, nghèo, xấu xí, thô kệch nhặt được
vợ trong lúc nạn đói khủng khiếp đang hoành hành
- Tình huống vừa độc đáo vừa éo le:
+ Độc đáo: Người như Tràng mà có vợ theo, giữa thời buổi đói khát nuôi thân không xong mà dám lấy vợ
+ Éo le: Vui mà tủi; mừng mà lo
→ Tình huống vừa lạ, éo le là đầu mối cho sự phát triển của truyện, tác động đến diễn biến tân trạng, hành động của nhân vật Qua tình huống này, chủ đề tác phẩm được bộc lộ Nói cụ thể hơn là tình huống truyện đã nêu bật được giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm
Đề 4: Phân tích nhân vật bà cụ Tứ :
* Chú ý khai thác các ý sau:
- Sự ngạc nhên của bà cụ Tứ khi thấy có người đàn bà lạ xuất hiện trong nhà
- Bà cụ vừa ai oán, vừa xót thương cho số kiếp đứa con trai mình, vừa cảm thương cho người đàn bà xa lạ
- Tâm trạng bà cụ Tứ lẫn lộn buồn vui, lo lắng Tâm trạng của người già cả nghĩ Nhưng, với tấm lòng nhân hậu, bà đã gắng làm cho cả nhà vui Nó toàn chuyện tương lai
* Tham khảo:
Bà cụ Tứ vốn là một nông dân từng trải, trung hậu Cụ hiểu rõ hoàn cảnh của gia đình mình; Con trai mình trong những ngày tháng bị cái đói hành hạ ghê ghớm
Khi trông thấy người đàn bà ở trong nhà với con mình, bà cụ Tứ vô cùng ngạc
nhiên “Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong nhà nhỉ? (…) Sao lại chào mình bằng u (…) Ai thế nhỉ? (…) Ô hay, thế là thế nào nhỉ?” Đến lúc biết được người đàn
bà kia chính là vợ của con trai mình, tâm trạng của bà cụ diễn biến khá phức tạp, phong phú
Trước hết, nghĩ đến cảnh túng thiếu, đói khát của gia đình mình cụ Tứ thấy tủi thân, tủi phận Cụ ý thức rất rõ lấy vợ cho con trai lẽ ra phải thế này, thế nọ; nhưng cái
Trang 24khó bó cái khôn nên chỉ còn cách nghĩ ngợi tủi thân, tủi phận Rồi cụ thương con đẻ,
thương đến cả con dâu Cụ biết duyên cớ vì đâu người ta phải theo con mình (“Bà lão nhìn người đàn bà lòng đầy thương xót”, và cụ nói với vợ chồng Tràng “Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá”
Việc Tràng “nhặt” được vợ vừa là nỗi buồn rầu lo lắng, vừa là niềm vui mừng
của bà lão tội nghiệp này Mừng vì người con thô lậu, quê kệch đã có vợ Lo vì đúng lúc đói khát, chết chóc này, liệu lấy gì mà nuôi nhau Tuy vậy, dẫu sao niềm vui vẫn
nhiều hơn Bà lão “tươi tỉnh khác hẳn ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên Bà lão xăn xắn thu dọn quét tước nhà cửa” Đến bữa ăn, bà cụ Tứ nói
toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau này Cụ cố giấu cái lo, động viên các con
“nhà ta thì còn nghèo con ạ Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn Rồi ra may mà ông trời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì con cái chúng mày về sau”
Nhưng “nghĩ ngợi mãi”, “bà cụ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt chảy xuống ròng ròng” Bởi bà cụ nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út, nghĩ đến cuộc
đời khổ cực của mình, nghĩ đến tương lai của con trai và con dâu… và chẳng thể thoát
ra khỏi không khí chết chóc đang bủa vây xung quanh
Qua diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ Chúng ta có thể nhận thấy biệt tài phát hiện và miêu tả tâm lí một cách chân thật và sắc sảo của Kim Lân Điều này có tác dụng to lớn, khắc hoạ rõ nét chủ đề của tác phẩm: cho dù phải sống trong một tình thế hết sức bi đát, bà cụ Tứ nói riêng và những người lao động nói chung vẫn hướng tới tương lai, vẫn khao khát một mái ấm gia đình
Đề 5: Phân tích giá trị nhân đạo sâu sắc trong truyện ngắn “Vợ nhặt”.
* Dàn bài sơ lược:
+ Bóng người như bóng ma;
+ Người con gái vì miếng ăn có thể đanh đá, chua ngoa;
+ Người làng không ai tin là sống qua được nạn đói, càng không tin vào hạnh phúc gia đình;
- Niềm khát khao được sống và khát khao hạnh phúc đã khiến cho anh Tràng và
cô gái gặp nhau, tình cảm nhân hậu của nhà văn:
+ Cô gái sẵn sàng theo không để sống;
+ Anh Tràng liều lĩnh nhặt vợ;
+ Cuộc dắt vợ về làng là một thánh thức của niềm hi vọng sống trước mối tuyệt vọng phổ biến của mọi người
- Tình yêu cuộc sống đã thắng, niềm tin của tác giả vào con người:
+ Người mẹ từ lo âu, tủi cực đến tích cực vun xới;
+ Người đàn bà tự thay đổi;
Trang 25+ Anh Tràng ý thức được trách nhiệm gia đình;
+ Gửi hi vọng vào cách mạng và đổi đời
*BÀI LÀM THAM KHẢO:
Văn học Việt Nam sau năm 1954 không chỉ giàu tính chiến đấu mà còn giàu tính nhân đạo Hai tính chất này không tách rời nhau, bởi vì cuộc chiến đấu của dân tộc hơn
ba mươi năm nhằm mục đích khẳng định con người, giải phóng con người; và mặc khác, muốn bảo vệ con người, thương yêu con người, người ta phải dấn thân vào chiến đấu “Vợ nhặt” của Kim Lân được hoàn thành vào thời gian sau năm 1955, trên cơ sở một bản thảo cũ viết ngay sau Cách mạng tháng Tám Khoảng cách mười năm đã giúp ông thể nghiệm sâu sắc tư tưởng của tác phẩm, làm cho nó trở thành một tác phẩm mang những giá trị nhân đạo hết sức sâu sắc và phong phú
Tác phẩm bắt đầu bằng việt miêu tả sự đổi thay to lớn của xóm làng khi nạn đói tràn tới Anh cu Tràng, một người vô tư, vui tính, được trẻ con yêu mến là thế mà nay
“đi từng bước mệt mỏi (…) cái đầu trọc nhẵn cúi về phía trước” Cái liều chợ đầy những người đói bồng bế, dắt díu nhau “xanh xám như những bóng ma”, sáng nào cũng trông thấy ba bốn cái xác chết nằm ngổn ngang… Nạn đói tràn đến gieo rắc chết chóc
và xói mất sinh khí của xóm làng Làng xóm xơ xác, đêm về không nhà nào có ánh đèn, lửa trên cây gạo ngoài làng, tiếng quạ kêu hòa với tiếng hờ khóc người chết Hình như không ai tin là mình có thể sống qua nạn đói, qua biểu hiện của cô gái mà Tràng gặp gỡ ở cửa nhà kho trên tỉnh, cái đói đang làm mất dần nhân cách của cô: ăn nói chua ngoa, chỏng lỏn, liều lĩnh Giữa lúc ấy thì Tràng nhận người đàn bà kia làm vợ và đưa
cô về làng Người ta thường nói, nạn đói làm cho con người mất giá, một cô gái phải theo không một người đàn ông không quen biết chỉ vì bốn bát bánh đúc Nhưng đó chỉ
là cái nhìn bên ngoài, không phải là cái nhìn của nhà văn Với tấm lòng rất mực nhân hậu, nhà văn nhìn thấy khát vọng được sống còn bức thiết của cô gái Ông cũng cảm thông niềm khát khao được có vợ của anh cu Tràng Anh cũng liều lĩnh, tặc lưỡi: “Kệ,
cứ đón cô ta về”
Lòng yêu thương, trân trọng của tác giả đối với những người bất hạnh thể hiện ở cuộc dắt díu về làng của hai người Nhà văn không hề có chút rẻ rúng nào khi miêu tả cuộc về làng của họ Trái lại ngòi bút tươi vui, dí dỏm, tinh tế đã khắc họa mọi cảm nhận hạnh phúc của Tràng: khi thì phớn phỏ, khi thì tủm tỉm, khi thì bật cười Đi bên cạnh cô gái gầy gò và rách như tổ đĩa, Tràng không hề gợn trong tình cảm mình một chút gì như coi thường cô gái do cô đã theo không mình vì bốn bát bánh đúc! Anh không hề có tình cảm lên mặt do trong túi mình đang “rích bố cu” Trái lại, nhờ cô gái
mà anh “quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa…” Đó là gì, nếu không phải do anh đã thấy ở cô gái một nguồn ấm
áp, tươi sáng tỏa rạng đời mình? Về phía cô gái, cô cũng không hề có chút mặc cảm về thân phận “bị nhặt’ Trên đường về khi thì cô giễu anh: “Bé lắm đấy!”, khi thì cô mắn anh: “Khỉ gió”, rồi “phát đánh đét” vào “lưng” anh và “khoặm mặt lại” với anh Cô vẫn cảm thấy mình có đầy đủ sức mạnh đối với phái mạnh như bất cứ cô gái bình thường
Trang 26nào! Họ thực sự hướng về nhau, thích thú nhau như một đôi tình nhân khi bắt đầu làm thân nhau.
Điều thú vị là tác giả đã để cho hai người dắt díu nhau diễu qua trước mặt dân làng Rõ rang là sự kết hợp của họ đã đem lại sinh khí cho cái làng đầy tử khí Trẻ con thì gào lên: “chông vợ hài!” Người trong xóm thì “Những khuôn mặt hốc hác u tối của
họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ” Họ không hiểu nổi, họ thở dài, họ nín lặng, bởi vì họ đang tuyệt vọng Sự kết hợp liều lĩnh của Tràng và cô gái là một thách thức quyết liệt của khát vọng sống còn và khát vọng hạnh phúc trước mọi ý thức tuyệt vọng và tê liệt vì nạn đói, và không phải không có tác dụng làm cho tâm hồn họ rạng rỡ hơn Viết đoạn
về làng này, nhà văn hoàn toàn đứng hẳn về phía khẳng định sự sống và ý chí sống còn của con người, trân trọng và yêu mến hành động liều lĩnh của họ
Nhưng tư tưởng nhân đạo của tác phẩm không chỉ có thế Qua cuộc gặp gỡ với người mẹ và qua một đêm thành vợ chồng, nhà văn khẳng định tình yêu cuộc sống sẽ chiến thắng được chết chóc, cuộc sống sẽ thay đổi
Bà mẹ trước nạn đói cũng thất vọng và hoài nghi như mọi người: “biết có nuôi nỗi qua được cơn đói khát này không?”, bà cũng thở dài Nhưng bà là mẹ, bà thấy cái
sự nhặt vợ cũng là may, nên bà mừng lòng bà nuôi hi vọng cho đôi trẻ Bà mẹ nhìn người con dâu “lòng đầy thương xót”, không chút coi thường Bà nghĩ đến việc phải có
“dăm ba mâm cho phải lẽ”, chứng tỏ trong lòng bà không vướng ý nghĩ “nhặt không người đàn bà” cho con mình Đó là tình cảm nhân đạo có tác dụng nâng cao phẩm giá cho con người Có thể nói, Kim Lân chọn tình huống “nhặt vợ”, một tình huống con người bị đánh mất phẩm giá trong mắt mọi người ngoài cuộc để nâng niu, khẳng định phẩm giá của họ, những người trong cuộc
Sau một đêm thành vợ chồng tại ngôi nhà nát, sáng hôm sau, vẫn trong cơn đói khát, nhưng một không khí đầy sinh khí đã đến với mọi người Ngôi nhà sạch sẽ, gọn gàng, ang nước đầy ăm ắp,…người vợ trở nên hiền hậu, đúng mực, còn Tràng thì
“Bỗng nhiên hắn thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng (…) Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này” Một niền tin vào tương lai gieo vào lòng mọi người: “Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nề nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có
cơ khấm khá hơn Chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp như thế” Nhưng bữa cháo, bữa rau và nhất là nồi chè cám đắng ngắt nhắc họ trở về với thực tại Chỉ với lòng yêu thương, hi vọng suông không thể cứu họ qua nạn đói Muốn sống họ còn phải hành động Những tin đồn mơ hồ về Việt Minh phá kho thóc Nhật, chia cho dân nghèo, những hình ảnh về đoàn người đi trên đê sộp lại gieo vào lòng họ những hi vọng mới, gợi ý những hành động mới Những con người đã vượt qua mặc cảm đói nghèo, tủi hờn để khẳng định sự sống, chắc chắn sẽ đi theo tiếng gọi củaViệt Minh để giành lại sự sống cho mình, trong cách mạng Nhưng lôgic cuộc sống sẽ cho thấy họ sẽ không có con đường nào khác
Tóm lại, “Vợ nhặt” của Kim Lân là một truyện ngắn chứa chan tư tưởng nhân đạo Chọn tình huống “nhặt vợ” do nạn đói khủng khiếp gây nên, nhà văn không nhằm miêu tả sự mất giá, sa đọa của con người, trái lại, khẳng định khát vọng sống còn và phẩm giá của họ Nhà văn đã miêu tả tình yêu sự sống của những con người bên bờ cái chết như một nguồn sáng, nguồn ấm áp sưởi ấm lòng người, thôi thúc họ đi tới, cứu lấy đời mình Tác phẩm đã cho thấy mối liên hệ khăng khí giữa nhu cầu sống còn của mỗi
Trang 27cá nhân lao khổ với công cuộc cách mạng xã hội Đó là một tư tưởng nhân đạo mới mẻ,
2 Ý nghĩa nhan đề truyện ngắn “Rừng xà nu”.
Nhà văn có thể đặt tên cho tác phẩm là “Làng Xô-man” hay “Tnú”- nhân vật chính của truyện nhưng nếu như vậy truyện sẽ mất đi tính khái quát và gợi mở
“Rừng xà nu”- Tên tác phẩm chứa đựng được cảm xúc của nhà văn và linh hồn
tư tưởng chủ đề của tác phẩm
“Rừng xà nu” gợi khí vị khó quên của núi rừng Tây Nguyên- Sức sống bất diệt của cây và tinh thần bất khuất của con người
Như vậy, nhan đề “Rừng xà nu” vừa mang ý nghĩa thực (những đặc điểm và sức sống bất diệt của loài cây xà nu) vừa mang ý nghĩa tượng trưng (con người làng Xô Man kiên cường, bất khuất) Hai ý nghĩa này hòa quyện vừa làm nổi bật hình tượng sinh động của cây xà nu vừa đưa lại không khí Tây nguyên đậm đà cho tác phẩm
3 Đề tham khảo:
Đề 1: Phân tích ý nghĩa hình tượng cây xà nu, rừng xà nu trong truyện ngắn
“Rừng xà nu”.
(Ý nghĩa tượng trưng: cây xà nu có sức chịu đựng ghê gớm và sức sống mãnh
liệt tượng trưng cho sức sống của dân làng Xô Man và nhân dân Tây nguyên bất khuất; cây xà nu ham ánh nắng mặt trời, phóng lên rất nhanh… Tượng trưng cho lòng khát khao tự do, luôn hướng về cuộc sống tự do của người dân làng Xô Man)
* Tham khảo :
Đây là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà văn Hình tượng cây xà nu - rừng xà nu nổi bật, xuyên suốt tác phẩm, vừa mang ý nghĩa thực, vừa mang ý nghĩa tượng trưng
+ Cây xà nu được miêu tả cụ thể, gắn bó với con người Tây Nguyên:
- Cây xà nu hiện lên trong tác phẩm trước hết như một loài cây đặc thù, tiêu biểu của miền đất Tây Nguyên Mở đầu và kết thúc tác phẩm cũng bằng hình ảnh của cây xà
nu Cây xà nu, rừng xà nu như chính dân làng Xôman, như người dân Tây Nguyên nơi núi rừng trùng điệp
- Cây xà nu gắn bó thân thiết với cuộc sống người dân Tây Nguyên trong sinh hoạt hàng ngày, trong kí ức của người Xô man, trong đấu tranh chống giặc; là lá chắn bảo vệ làng Xô man trước đạn pháo giặc
+ Cây xà nu tượng trưng cho phẩm chất và số phận con người Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ
- Thương tích mà rừng xà nu phải gánh chịu do đại bác của kẻ thù gợi nghĩ đến những mất mát đau thương mà đồng bào Xôman đã phải trải qua trong thời kì cách mạng miền Nam bị khủng bố khốc liệt
Trang 28- Trong bom đạn chiến tranh, thương tích đầy mình cây xà nu vẫn hiên ngang vươn lên mạnh mẽ như người dân Tây Nguyên kiên cường bất khuất, không khuất phục trước kẻ thù .
- Cây xà nu rắn rỏi, ham ánh nắng mặt trời tựa như người Xô man chân thật, mộc mạc, phóng khoáng yêu cuộc sống tự do
- Rừng xà nu bạt ngàn, rừng xà nu trùng trùng lớp lớp các thế hệ nối tiếp cũng chính là thể hiện sự gắn bó, sức mạnh đoàn kết và sự nối tiếp bất tận của các thế hệ, gợi
liên tưởng đến sức sống vô tận, bền bỉ, bất diệt của con người Xô man (Chú ý kết cấu vòng tròn : Mở đầu, kết thúc là hình ảnh của rừng xà nu, cùng với sự trở về của Tnú
sau ba năm xa cách)
- Rừng xà nu tạo thành một bức tường vững chắc hiên ngang truớc bom đạn cũng là biểu trưng cho sức mạnh đoàn kết của người dân Tây Nguyên khiến kẻ thù phải kiếp sợ (0,5 điểm)
+ Kết luận:
- Cây xà nu tượng trưng cho số phận đau thương và phẩm chất anh hùng của dân làng Xô man nói riêng và nhân dân Tây Nguyên nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mĩ
- Được xây dựng với cảm hứng sử thi hoành tráng, bút pháp lãng mạn
- Kết tinh giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm
Đề 2: Phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật trong thiên truyện “Rừng xà nu”.
* Gợi ý làm bài: Chú ý đề yêu cầu phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật chứ không yêu cầu phân tích một nhân vật cụ thể nào Vì thế khi viết bài cần chỉ ra hệ thống nhân vật trong truyện có đặc điểm gì? Hệ thống nhân vật ấy có ý nghĩa gì trong việc thực hiện chủ đề tư tưởng? Hoặc phân tích dụng ý của nhà văn trong việc xây dựng một hệ thống nhân vật như thế
Nhân vật chia làm hai loại:
- Chính diện: người dân làng Xô Man và cán bộ cách mạng bao gồm: Cụ Mết, Tnú, Mai, Dít, anh Quyết, bé Heng, anh Brôi
- Phản diện: bọn giặc mà tiêu biểu nhất là thằng Dục
Cách xây dựng nhân vật như thế có hai ý nghĩa:
- Một là: tạo nên thế tương phản đối chọi giữa hai tuyến nhân vật như hai lực lượng tiêu biểu cho chính nghĩa và phi nghĩa, sự tàn bạo và lòng nhân ái, sự hủy diệt và
sự sống bất diệt
- Hai là: Lớp nhân vật chính diện rất nhiều thế hệ, sát cánh bên nhau, nối tiếp nhau hết lớp này đến lớp khác tương ứng với hình ảnh rừng xà nu trùng trùng điệp điệp tràn đầy sức sống…
Cách xây dựng nhân vật như trên đã làm nổi bật được chủ đề tư tưởng của truyện
Nổi bật lên trong tập thể nhân vật ấy chính là nhân vật Tnú, một nhân vật độc đáo giàu chất sử thi với những phẩm chất tiêu biểu cho một dân tộc anh hùng Đó là một con người:
- Gan góc, táo bạo, trung thực, biết vượt lên mọi đau đớn và bi kịch cá nhân để quyết tâm ra đi trả thù cho quê hương và gia đình
- Có tinh thần kỉ luật cao
- Giàu lòng yêu thương đối với mọi người…
Trang 29Ngoài Tnú, các nhân vật chính diện khác như cụ Mết trầm ngâm, lừng lững như cây cổ thụ, tiêu biểu cho sức mạnh tinh thần và vật chất có tính truyền thống của dân tộc Tây Nguyên đến vẻ đẹp mảnh mai, hiền diệu nhưng đầy cứng rắn, kiên quyết của Dít như một hậu thân trự tiếp của Mai; bé Heng như cây xà nu mới lớn, tuy còn non trẻ nhưng đã cho người đọc thấy hình ảnh của cây xà nu vạm vỡ tràn đầy sức sống của ngày mai.
Đề 3: Phân tích tính chất sử thi đậm đà trong thiên truyện “Rừng xà nu”.
* Gợi ý làm bài:
Trước hết cần tìm hiểu khái niệm tính sử thi trong tác phẩm văn học, sau đó phân tích cụ thể các phương diện như: đề tài, chủ đề, hệ thống nhân vật, bức tranh thiên nhiên, ngôn ngữ trần thuật… để minh họa cho tính chất sử thi đã nêu
Thiên truyện mang đậm tính sử thi điều đó thể hiện ở:
- Về đề tài- chủ đề: truyện viết về cuộc đấu tranh cách mạng, vùng lên không chịu sống qùy của buông làng, nhưng nhằm ca ngợi và nêu lên sức mạnh quật khở, tinh thần và ý chí không gì dập tắt nổi của một Tây Nguyên bất khuất
- Hình tượng nhân vật ở đây cũng được hai thác và xây dựng bằng những tính cách và phẩm chất kì vĩ, mạnh mẽ Đó là cụ Mết, sừng sững uy nghi như một cây đại thụ: Tnú và tập thể dân làng Xô Man đoàn kết một lòng, giàu dũng khí Họ là những người tiêu biểu cho cộng đồng, sống chết vì cộng đồng dân tộc
- Bức tranh thiên nhiên ở đây cũng được mô tả thật hùng vĩ, hoành tráng Đó là hình ảnh rừng xà nu bạt ngàn “ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng”, những cảnh “suốt đêm nghe cả rừng Xô Man ào ào rung động, vì lửa cháy khắp rừng…”
- Ngôn ngữ “Rừng xà nu” được viết với một giọng say mê mà rất trang trọng, tạo nên chất thơ, hùng tráng, dào dạt
Đề 4: Phân tích hình tượng nhân dân làng Xô Man : Được miêu tả tương ứng với rừng cây xà nu qua nhiều thế hệ, thể hiện sự nối tiếp và trưởng thành của nhân dân Tây Nguyên trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.
a) Cụ Mết: Là thế hệ đi trước, tham gia chống giặc từ thời chống Pháp
- Là cây xà nu đại thụ của làng Xô man (được miêu tả qua dáng vẻ, cách nói, bản lĩnh, tấm lòng yêu thương đối với dân làng, đối với quê hương…)
Hình ảnh biểu tượng biểu tượng cho sức mạnh tinh thần có tính truyền thống, cội nguồn của các dân tộc Tây Nguyên
- Là linh hồn của cuộc chiến đấu, là gạch nối giữa Đảng và dân làng đến với Cách mạng ; vững vàng, gan góc trong đấu tranh ; yêu thương chăm sóc thế hệ tương lai ; yêu qêu hương, tự hào về quê hương của mình…)
Cụ Mết tiêu biểu cho thế hệ già làng trong cuộc đấu tranh của dân tộc
b) Nhân vật Tnú: Được tác giả tập trung khắc họa tính cách lẫn số phận, mang
ý nghĩa tiêu biểu cho số phận và con đường giải phóng của nhân dân Tây Nguyên
* Số phận:
- Nhỏ: mồ côi cả cha lẫn mẹ, sống nhờ vào sự cưu mang đùm bọc của dân làng
- Trưởng thành: Số phận của Tnú giống như số phận của người làng Xô man:
• Có gia đình, vợ, con nhưng đều bị giặc sát hại dã man
• Bản thân Tnú cũng mang thương tích trên thân thể- hậu quả của những đòn tra tấn của kẻ thù: tấm lưng lằn ngang dọc, bàn tay cụt mười ngón
* Phẩm chất:
Trang 30- Là một chú bé gan góc, táo bạo, trung thực, trung thành với Cách mạng (giặc
khủng bố dã man vẫn cùng Mai hăng hái vào rừng nuôi cán bộ, quyết tâm học tập để làm cán bộ, gan dạ dũng cảm khi làm giao liên, bị giặc bắt, bị tra tấn, quyết không khai,
chỉ tay vào bụng Cộng sản ở đây…) Khi lớn lên, Tnú trở thành người lãnh đạo dân
làng Xô man bình tĩnh vững vàng chống Mỹ Diệm
- Yêu thương vợ con, dân làng và quê hương (Chứng kiến cảnh vợ con bị kẻ thù
hành hạ, biết là thất bại, anh vẫn xông ra cứu Xa làng Tnú nhớ làng, nhớ âm thanh và nhịp điệu sinh hoạt của làng ; khi về, anh nhớ tất cả mọi người…)
- Biết vượt lên mọi đau đớn và bi kịch cá nhân để dũng cảm chiến đấu, trả thù
cho quê hương và gia đình (Khi xông ra cứu vợ con, anh bị bắt, bị đốt mười đầu ngón tay, Tnú quyết không kêu van tiếng thét của anh trở thành hiệu lệnh cho dân làng giết giặc Dù mất vợ con, dù hai bàn tay mỗi ngón chỉ còn hai đốt, Tnú vẫn nén đau thương, tham gia lực lượng vũ trang để góp phần giải phóng quê hương…)
- Có tinh thần kỷ luật cao : Ba năm đi bộ đội, dù nhớ làng nhưng được phép
cấp trên mới dám về thăm làng Khi được về thăm làng, dù rất lưu luyến song anh chấp hành đúng qui định, ở lại một đêm rồi ra đi…
* Tác giả đặc biệt miêu tả đôi bàn tay của Tnú, gây ấn tượng sâu sắc và đậm nét, qua đó hiện lên cả cuộc đời và tính cách nhân vật (bàn tay khi còn lành lặn là bàn tay trung thực, tình nghĩa: Cầm phấn học chữ, cầm đá mài giáo, đặt lên bụng khi bị tra tấn, cầm tay Mai; với hai bàn tay không xông ra cứu vợ con – Bàn tay bị giặc đốt cụt, trở thành muời ngọn đuốc trở thành chứng tích tội ác của kẻ thù – Bàn tay còn hai đốt vẫn cầm được súng để bảo vệ quê hương…)
Tóm lại:
- Tnú là nhân vật có tính chất sử thi: số phận và phẩm chất của anh tiêu biểu cho con người Xô man nói riêng và nhân dân Tây Nguyên nói chung
- Cảm hứng, giọng điệu chủ đạo là ca ngợi
- Làm phong phú thêm chân dung con người Vn anh hùng trong kháng chiến chống Mĩ
Tóm lại: Các thế hệ nhân dân Xôman tiếp nối trong cuộc chiến đấu, càng về sau
càng lớn mạnh Nhà văn đã xây dựng được hệ thống nhân vật tiêu biểu, có tác dụng làm nổi bật chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ
Đề 5: Phân tích phẩm chất anh hùng của các nhân vật trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành.
Trang 31Cụ Mết: Là cội nguồn, là lịch sử, “là Tây Nguyên của thời Đất nước đứng lên
còn trường tồn cho đến hôm nay”
Cụ như một nhân vật huyền thoại từ hình dáng cho đến tính cách: quắc thước như xưa, râu dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt sáng xếch ngược, ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn Một con người trầm tĩnh, sáng suốt, bền bỉ và vững chãi
Ngôn ngữ: cách nói của cụ cũng khác lạ (không bao giờ khen tốt, lúc vừa ý nhất cũng chỉ nói được) Tấm lòng của cụ với buôn làng, với Tnú, với cách mạng là tấm lòng thuỷ chung, cu mang đùm bọc, tình nghĩa
Cụ Mết là khuôn mẫu của ngời già Tây Nguyên, yêu buôn làng, yêu nước, yêu cách mạng, tuổi cao chí càng cao Hình ảnh cụ còn sống mãi với câu nói bất hủ:
“Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”
Tnú: Cuộc đời Tnú đã phải trải qua bao thử thách khốc liệt từ thuở ấu thơ Anh
đã được hoàn cảnh hun đúc thành một con người có nhiều phẩm chất đáng quý.Tnú có chữ, có văn hoá, lại sớm được giác ngộ cách mạng, một con người gan góc, trung thực.Dũng cảm, kiên cường, trung thành với cách mạng
Ngoài tình thương vợ con, Tnú còn là người nặng tình với buôn làng
Tnú cũng chịu bao đau thương dưới bàn tay tội ác của kẻ thù
Cuộc đời Tnú là một minh chứng hùng hồn rằng: “phải dùng bạo lực cách mạng
để chống lại bạo lực phản cách mạng”
Dít: Có vẻ đẹp trẻ trung, trong sáng Gan góc, dũng cảm.
Một cán bộ Đảng trẻ, có năng lực, nghiêm túc, tình cảm trong sáng, cao đẹp
Phác hoạ thành công một tập thể nhân vật anh hùng, Nguyễn Trung Thành đã làm
nên thành công của Rừng xà nu Họ là hiện thân của những phẩm chất anh hùng,
đẹp đẽ của các thế hệ nhân dân, tượng trng cho các thế hệ tiếp nối nhau của dân làng Xô Man
Thông qua hệ thống nhân vật đó, tác giả đã thể hiện sinh động và nghệ thuật quy luật: có áp bức có đấu tranh, một chân lí của cách mạng miền Nam: “chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”
Đề 3 : Phân tích câu nói của cụ già Mết:
“Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa Nhớ lấy, ghi lấy Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: chúng nó đã cầm súng mình phải cầm giáo !”
a.Ý nghĩa của câu nói:
Phải cầm vũ khí của mình khi kẻ thù đã cầm vũ khí
Phải sử dụng bạo lực của chính nghĩa để đáp lại bạo lực phi nghĩa của quân thù
b)Sự thể hiện qua hình tượng:
Sẽ ra sao nếu kẻ thù đã cầm súng mà ta cha kịp cầm lấy giáo ?
Khi đó ta vẫn có thể có lí tưởng cách mạng, chí trung kiên, lòng căm thù, sức mạnh và tinh thần dũng cảm, như Tnú đã từng có
Nhưng ta sẽ không thể bảo vệ được hạnh phúc, tình yêu Cũng như Tnú đã không thể bảo vệ được mẹ con Mai, và bàn tay anh còn bị kẻ thù dùng nhựa xà
nu thiêu cháy
Và sẽ ra sao khi ta cầm vũ khí đứng lên:
Trang 32Cuộc khởi nghĩa hùng tráng sẽ thắng lợi Như làng Xô man đã chiến thắng trong tiếng chiêng vang trời và ánh lửa Sự sống sẽ bảo tồn và phát triển Mai
và đứa con như sẽ tái sinh trong Dít và bé Heng
Kẻ thù sẽ phải đền tội ác Tnú sẽ có thể diệt giặc - tên đồn trưởng - bằng chính bàn tay đã bị kẻ thù đốt cháy
c) Giá trị
Đây là câu chuyện của một người, một làng Nhưng đặt vào hoàn cảnh Rừng
xà nu được viết ra, thì đó cũng là câu chuyện của một thời đại, một đất nước, một cuộc cách mạng Và có thể còn lâu bền, lớn lao hơn thế nữa
Như vậy, đây là chân lí mang tầm lịch sử Vì lẽ đó, nhà văn đã để cho nó được nói lên bằng giọng nói thiêng liêng, như để mãi mãi khắc sâu vào kí ức
IX “Những đứa con trong gia đình”- Nguyễn Thi
1 Tóm tắt:
- Việt vẫn được đồng đội gọi bằng cái tên âu yếm cậu Tư Trận chiến đấu ở rừng
cao su với bọn Mĩ, Việt tiêu diệt một xe bọc thép của địch nhưng bị thương khắp người, hai mắt không nhìn thấy gì Lúc tỉnh Việt cố lết từng đoạn để tìm đồng đội Nhiều lúc Việt ngất đi
- Những lúc thiếp đi, Việt lại như gặp từng người thân trong gia đình Việt nhớ lúc ở nhà cùng chị Chiến theo du kích đánh tàu Mĩ trên dòng sông Định Thủy Một thằng Mĩ bị bắn chết Chị Chiến nhường công lao ấy cho Việt Nghe triếng ếch nhái kêu, Việt nhớ những đêm cùng chị Chiến bắt ếch, hai chị em cứ giành nhau mình bắt được nhiều nhất
- Trong gia đình lúc này chỉ còn lại chú năm Ông nội bị lính tổng phòng bắn chết Bà nội bị bọn lính đánh, bệnh rồi chết Ba Việt tham gia kháng chiến hồi chín năm bị bọn Tây và tay sai lùng bắt, chặt đầu Má và chị em Chiến, Việt đi đòi đầu ba
Má cũng hi sinh vì lượm vũ khí cho đằng mình bị đại bác ở Mỏ Cày bắn… Tất cả mọi chi tiết đều được chú Năm ghi lại trong cuốn sổ gia đình
- Ngày chị em Chiến, Việt ghi tên tòng quân, ai cũng muốn đi trước Chú Năm phải đứng ra nói với anh cán bộ về lấy quân để hai chị em cùng được đi Việt nhớ lại đêm trước ngày lên đường, chị Chiến giải quyết mọi việc Nào là cho xã mượn nhà dạy học Thằng út em ở với chú Năm Hai chị em quyết định khiêng bàn thờ ba, má sang gửi nhà chú Năm… Tất cả những chi tiết ấy cứ sống dạy trong lòng Việt
- Đến ngày thứ ba, anh Tánh dẫn tiểu đội đi tìm, mấy lần đụng địch Cuối cùng gặp được cậu Tư trong một bụi rậm Không nhanh miệng lên tiếng trước thì đã ăn đạn của “cậu Tư” rồi Một ngón tay cậu vẫn còn nhúc nhích, một viên đạn đã lên nòng Việt được đưa về điều trị ở một bệnh xá dã chiến Sức khỏe hồi phục dần Anh em trong tiểu đội giục cậu viết thư chi chị Chiến Việt nhớ chị Chiến, muốn viết thư nhưng không biết viết sao Việt cũng không muốn kể chiến công của mình vì chưa thấm gì với thành tích của đơn vị và chưa đáp ứng được nguyện vọng của má
2 Nghệ thuật trần thuật và tác dụng của nó:
- Nghệ thuật trần thuật: chủ yếu qua dòng hồi tưởng miên man đứt nối của nhân vật Việt khi bị trọng thương nằm lại ở chiến trường Nghĩa là người trần thuật thuộc ngôi thứ ba nhưng lời kể phỏng theo quan điểm, ngôn ngữ, giọng điệu của nhân vật
- Tác dụng: cách thức trần thuật như thế đã đem đến cho tác phẩm màu sắc trữ tình đậm đà, tự nhiên, sống động, đồng thời cũng tạo điều kiện cho nhà văn có thể nhập
Trang 33sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật để dẫn dắt câu chuyện Diễn biến câu chuyện, chính vì thế mà hết sức linh hoạt, không phụ thuộc vào trật tự của thời gian tự nhiên, có thể xáo trộn không gian với thời gian, từng chi tiết ngẫu nhiên của hiện thực chiến trường mà gợi ra những dòng hồi tưởng, liên tưởng đến quá khứ khi gần, khi xa, từ chuyện này sang chuyện khác hết sức tự nhiên của nhân vật.
3 Những đề xoay quanh tác phẩm:
Đề 1: Nhan đề “Những đứa con trong gia đình” giúp em hiểu thêm được gì về
truyền thống gia đình cách mạng Chiến Việt?
- Truyền thống gia đình cách mạng Chiến Việt là đại diện tiêu biểu cho truyền thống gia đình cách mạng ở Nam Bộ nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung
Đề 2: Phân tích nhân vật Việt trong tác phẩm “Những đứa con trong gia đình”
của Nguyễn Thi để thấy được vẻ đẹp của tuổi trẻ miền Nam trong thời kì kháng chiền chống Mĩ
* Gợi ý:
1 Mở bài:
- Yêu quê hương đất nước, căm thù giặc, gan dạ, dũng cảm, kiên cường, bất khuất,…là những phẩm chất vô cùng quý giá của bao thế hệ người dân Việt Nam Những phẩm chất ấy đã được thử lửa trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc
- Nhân vật Việt trong “Những đứa con trong gia đình” (2/1966) của Nguyễn Thi
là một minh chứng cụ thể, sinh động hùng hồn cho vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mĩ
2 Thân bài:
- Hồn nhiên:
+ Luôn mang bên mình cài ná thun,…
+ Khi bị thương nặng nằm lại trên chiến trường trong bóng tối không sợ chết mà
sợ bóng đêm, sợ ma,…
+ Tranh với chị từ việc đi bắt ếch đến việc lập chiến công, giành đi bộ đội,…
→ Việt là hình ảnh sinh động của tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc sống đời thường những năm kháng chiến chống Mĩ
- Tình cảm sâu nặng với gai đình:
+ Thương ba mẹ, thương chị (giấu chị như thứ của quý), thương chú Năm,…+ Khi bị thương, hình ảnh người thân luôn hiện về trong giấc mơ của Việt,…
- Việt mang trong mình phẩm chất người anh hùng:
+ Gan góc chiến đấu với tất cả sức mạnh thể chất và tinh thần, với ý chí và truyền thống gia đình cách mạng
+ Dũng cảm: (cùng chị bắn cháy tàu giặc, lúc còn bé tí giám xông vào đá cái thằng đã giết cha mình…
Trang 34+ Căm thù giặc: “Trên trời có mày, dưới đất có mày, khu rừng này còn có mình tao, mày có bắn tao thì tao cũng bắn được mày” “Mày chỉ giỏi giết gia đình tao, còn đối với tao thì mày là thằng chạy”, “Mối thù thằng Mĩ thì có thể sờ thấy được vì nó đang đè nặng ở trên vai”…
→ Phẩm chất đẹp của người lính
3 Kết bài:
- Việt mang trong mình vẻ đẹp của tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mĩ: ngây thơ, hồn nhiên nhưng cũng thật gan dạ, dũng cảm kiên cường Việt tiếp nối và làm rạng rỡ truyền thống đánh giặc cứu nước của gia đình Đó cũng là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
- Nguyễn Thi đã thành công trong việc xây dựng hình tượng người anh hùng trong thời đại đánh Mĩ
Đề 3: Phân tích các thế hệ trong gia đình Chiến Việt để chứng tỏ gia đình Chiến
Việt là một gia đình có truyền thống cách mạng
X “Chiếc thuyền ngoài xa”- Nguyễn Minh Châu
1 Tóm tắt tác phẩm:
Để có thể xuất bản một bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển thật ưng ý, trưởng phòng Nguyên đề nghị nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng phải tìm chụp bổ sung một cảnh biển buổi sáng có sương mù Kết hợp đi thăm Đẩu-người bạn chiến đấu năm xưa giờ đang là chánh án toà án huyện- Phùng đi đến môt vùng biển miền Trung cách Hà Nội hơn 600 cây số Đây từng là nơi anh đã chiến đấu thời đánh Mĩ
Phùng đã “phục kích mấy buổi sáng mà chưa chụp được bức ảnh nào Sau gần
một tuần suy nghĩ, tìm kiếm, anh quyết định chụp cảnh thuyền đánh cá thu lưới vào lúc bình minh Phùng vô cùng mãn nguyện vì đã chụp được một bức ảnh nghệ thuật toàn
bích
Nhưng thật bất ngờ, từ chiếc thuyền thật đẹp ấy, lại bước xuống một đôi vợ chồng nhà chài thô kệch xăm xăm tìm đến bãi xe bọn lính nguỵ đã bỏ lại năm 1975, rồi lão đàn ông dùng chiếc thắt lưng lính nguỵ thẳng tay quật vợ trong khi người vợ cam chịu, không hé răng, không né tránh
Phùng chưa kịp xông ra ngăn cản thì thằng Phác- con họ- đã lao tới giật chiếc thắt lưng, quất vào người cha để bênh mẹ Cặp vợ chồng lại lặng lẽ trở lại thuyền Biết Phùng đã chứng kiến sự tàn bạo của cha mình, thằng Phác đâm ra căm ghét anh
Ba hôm sau, cũng trong làn sương sớm, Phùng lại chứng kiến cảnh người đàn ông đánh vợ, và cảnh cô chị gái tước con dao găm mà thằng em định dùng làm vũ khí để bảo vệ mẹ Không thể nén chịu thêm được nữa, Phùng xông ra buộc lão phải chấm dứt hành động vũ phu, độc ác và bị lão đánh trả để tự vệ Phùng bị thương và được đưa về trạm y tế của toà án huyện để điều trị
Người đàn bà được mời đến và chánh án Đẩu thuyết phục chị ly hôn với người chồng vũ phu, độc ác Nhưng cả Đẩu lẫn Phùng đều ngỡ ngàng, ngạc nhiên trước sự lựa chọn dứt khoát của người đàn bà này: kiên quyết không chịu ly hôn Theo chị , người chồng trước đây là một thanh niên cục tính nhưng hiền lành Chỉ vì cuộc sống quá quẫn bách nên đánh vợ để giải toả nỗi uất ức, bực dọc của mình Vả lại, gia đình họ cũng có lúc vui vẻ, nhất là lúc nhìn đàn con được ăn no Đẩu và Phùng cố thuyết phục nhưng người đàn bà vẫn không hề thay đổi ý kiến Cuối cùng họ đã hiểu ra người đàn
bà ấy dù có bị đánh đập tàn bạo đến mấy vẫn cần có người chồng, cần một người đàn ông sức vóc trên thuyền để có thể ra khơi kiếm sống và nuôi đàn con đông đúc
Trang 35Câu chuyện thương tâm của người đàn bà nhà chài đã khiến Phùng đi từ ngạc nhiên, ngỡ ngàng đến cảm thông và thấm thía: Không thể đơn giản và sơ lược khi nhìn nhận mọi hiện tương của cuộc đời.
2 Ý nhĩa nhan đề truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”
- Chiếc thuyền ngoài xa là biểu tượng của bức tranh thiên nhiên về biển và cũng
là biểu tượng về cuộc sống sinh hoạt của người dân hàng chài
- Chiếc thuyền ngoài xa là một hình ảnh gợi cảm, có sức ám ảnh về cuộc sồng bấp bênh, dập dềnh của những thân phận, những cuộc đời trôi nổi trên sông nước
- Chiếc thuyền ngoài xa biểu tượng cho mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống Cái hồn của bức tranh nghệ thuật ấy chính là vẻ đẽp rất đỗi bình dị của những con người lam lũ, vất vả trong cuộc sống thường nhật
3 Ý nghĩa văn bản : CTNX thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về
nghệ thuật và cuộc đời : nghệ thuật chân chính phải luôn gắn với cuộc đời, vì cuộc đời ; nghệ sĩ cần phải nhìn nhận cuộc sống và con người một cách toàn diện, sâu sắc Tác phẩm cũng rung lên hồi chuông báo động về bạo lực gia đình và hậu quả khôn lường của nó
4 Những đề tham khảo:
Đề 1: Truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” xoay quanh những tình huống nào? Em
có nhận xét gì về nghệ thuật xây dựng tình huống của tác giả?
* Gợi ý:
- Truyện xoay quanh ba tình huống chính:
+ Tình huống 1: Người nghệ sĩ choáng ngợp trước vẻ đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh.+ Tình huống 2: Người nghệ sĩ kinh ngạc khi chứng kiến cảnh người đàn ông đánh vợ
dã man trên bờ biển
+ Tình huống 3: Ngạc nhiên trước cảnh người đàn bà nhất quyết không chịu bỏ chồng, nghệ sĩ đã thay đổi về quan điểm nghệ thuật
+ Với những tình huống độc đáo này, Nguyễn Minh Châu đã góp phần làm phong phú thêm cho kho tàng văn học Việt Nam trong cách xây dựng tình huống truyện
Đề 2: Cảm nhận của em về nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng?
Đề 3: Cảm nhận của em về nhân vật người đàn bà hàng chài?
* Gợi ý: Bài viết đảm bảo các ý
- Ngoại hình:
+ Thân hình cao lớn, đường nét thô kệch, rỗ mặt
+ Khuôn mặt mệt mỏi, tái ngắt
+ Dáng đi mệt mỏi chậm chạp như một bà già
+Tấm lưng áo bạc phếch, rách rưới, nửa thân ướt sũng
→ Chị là hiện thân của sự nghèo khổ, vất vả và cam chịu
- Cảnh bị chồng đánh:
Trang 36+ Khi bị chồng đánh, chị nhẫn nhục, chịu đựng “không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trốn’.
+ Khi thấy thằng Phát (con trai chị) xuất hiện, chị “chắp tay vái lấy vái để”,
“nhựng giọt nước mắt chứa đầy những nốt rỗ chằng chịt”
→ Thái độ cam chịu đầy nhẫn nhục của người đàn bà hang chài làm chúng ta phải kinh ngạc Đây là một thái độ lạ lung nhưng thực chất đó là sự lựa chọn bất đắc dĩ
có suy tính kĩ lưỡng từ trước Trong hoàn cảnh đông con mà cuộc sống trên mặt nước lại đầy nhọc nhằn, bất trắc, nỗi lo cơm áo không lúc nào buông tha, người đàn bà chỉ còn cách lựa chọn duy nhất là cam chịu, nhẫn nhục để bảo vệ hạnh phúc gia đình
=> Đó là người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh Vì thương con, sợ làm tổn thương tâm hồn những đứa trẻ, chị đã nhẫn nhục chịu đựng sự ngược đãi thô bạo, vũ phu của người chồng Nhưng qua đó chúng ta thấy được ở người phụ nữ này vẻ đẹp của lòng vị tha, tình yêu thương con và đức hi sinh
- Cảnh tại tòa án huyện:
+ Lúc đầu: Người đán bà sợ sệt, lung túng, đáng thương tội nghiệp, chị xưng hô
lễ phép: con- quý tòa
+ Sau khi chánh án Đẩu khuyên chị li hôn: Thái độ của chị đột nhiên thay đổi, chị trở nên chủ động, mạnh dạn đề xuất ý kiến của mình Cách xưng hô cũng thay đổi: chị- các chú Nguyên nhân của sự thay đổi này là người đàn bà cảm nhận được thiện ý của Đẩu và “tôi” nhưng chị cũng thông cảm cho sự nông nổi, ngây thơ của họ: Họ mới nhìn chuộc sống ở hiện tượng chứ chưa thấy bản chất bên trong
→ Hóa ra người đàn bà hàng chài quê màu thất học này lạ là một người rất thấu hiểu lẽ đời Chị luôn sống với một tâm niệm thiêng liêng, một hạnh phúc giản dị “vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no” Phải chăng chính vì cái thiên chức làm mẹ ấy mà người đàn bà này phải chấp nhận tình trạng bị hành hạ để gia đình chị luôn có một người đàn ông chèo lái con thuyền, để chị được hạnh phúc khi nhìn thấy những đứa con được ăn no?
- Chị là người phụ nữ tuy nghèo khổ, bị chồng đánh đập hành hạ nhưng là một người yêu thương con, thấu hiểu lẽ đời Đó là nét đẹp phẩm chất, tâm hồn đáng quý, đáng trân trọng
XI “Nhìn về vốn văn hóa dân tộc” – Trần Đình Hựu
1 Xuất xứ: Trích từ phần II tiểu luận Về vấn đề đặc điểm văn hóa dân tộc (in trong cuốn Đến hiện đại từ truyền thống)
2 Những luận điểm chính (tương ứng với mỗi phần của đoạn trích)
- Phần 1: Giới thuyết về khái niệm “vốn văn hóa dân tộc”: “là cái ổn định dần, tồn tại cho đến trước thời cận đại- hiện đại”
- Phần 2: Quy mô và ảnh hưởng của văn hóa dân tộc
+ Khẳng định nền văn hóa Việt Nam không đồ sộ, không có những đặc sắc nổi bật và những cống hiến lớn cho nhân loại
+ Nguyên nhân: do sự hạn chế của trình độ sản xuất, của đời sống xã hội
- Phần 3: Quan niệm sống, lối sống, khả năng chiếm lĩnh và đồng hóa những giá trị văn hóa bên ngoài của người Việt Nam
3 Ý nghĩa văn bản: Đoạn trích cho thấy một quan niệm đúng đắn về những nét đạc trưng của vốn văn hóa dân tộc, là cơ sở để chúng ta suy nghĩ, tìm re phương hướng xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
XII “Tây Tiến” – Quang Dũng: