Chúng tôi xin dẫn hai bài thơ về Thăng Long của danh sỹ Hồ Sỹ Tạo trong Tổng tập Văn học Việt Nam tập 19 để chứng minh cho nhận định trên.. ở bài “Đề Hà Nội tỉnh thi” Thơ vịnh tỉnh Hà Nộ
Trang 1Danh sỹ hồ sĩ tạo viết về thăng long
Mai Hồ Minh ( 1/2/2010 11:26:25 AM )
Trong số các danh sỹ xứ Nghệ viết về Thăng Long từ trước tới
nay, có lẽ danh sỹ Hồ Sỹ Tạo có nét khá riêng, đó là thể hiện lòng
yêu nước mãnh liệt bằng khí tiết nhà nho rất “đồ Nghệ” Chúng
tôi xin dẫn hai bài thơ về Thăng Long của danh sỹ Hồ Sỹ Tạo
trong Tổng tập Văn học Việt Nam (tập 19) để chứng minh cho
nhận định trên
ở bài “Đề Hà Nội tỉnh thi” (Thơ vịnh tỉnh Hà Nội)
Nguyên văn chữ Hán như sau:
Kỷ độ phong trần thử độ kinh
Nhất triêu hồn thủ bất thăng tình
Ngư hồ lãng đã tam triều cuộc
Long Đỗ không duy bách lý thành
Nùng Lĩnh phà vân Kim cổ sắc
Nhị Hà lưu thủy khấp ca thanh
“Cầm Hồ, đoạt sáo” nhân hà tại
Thuỳ vị giang sơn tẩy bất bình
Dịch nghĩa: Thơ vịnh Hà Nội
Mấy độ gió bụi, lần này qua đây
Một sớm nhìn lại không khỏi ngậm ngùi xao xuyến
Cá hồ đớp sóng xao động (gợi nhớ) cuộc thay đổi “3 triều”
Đất Long Đỗ chỉ còn trơ ngôi thành trăm dặm
Trên núi Nùng, mây nổi pha trộn màu sắc cổ kim
Dưới dòng Nhị, tiếng nước chảy tựa hồ tiếng khóc
Những người “cướp giặc bắt rợ hồ” nay đâu cả?
Hỏi có ai vì non sông mà rửa nổi bất bình
Dịch giả Vũ Minh Am dịch thơ theo thể thất ngôn bát cú gần
với nguyên tác như sau:
“Gió bụi nhiều, nay tới cố Kinh
Sớm ra nhìn lại xót xa tình
Cá hồ xao động ba triều biến
Long Đỗ trơ vơ mấy dặm thành
Bảng lãng, núi Nùng mây phủ kín Khóc than, dòng Nhị nước trôi nhanh Anh hùng, hào kiệt đi đâu cả
Ai giúp non sông rửa bất bình”
Cũng như nhiều danh sỹ, tao nhân mặc khách khác đề vịnh về Thăng Long đều nặng lòng hoài cổ, hoài niệm và xót xa trước cuộc thế bể dâu, nhưng ở bài thơ này của danh sỹ Hồ Sỹ Tạo, sự xót xa, hoài niệm ấy được tăng lên tới tột cùng Đầu đề là “Thơ vịnh Hà Nội” mà trong bài tác giả nhắc đến những tên đất rất xưa cũ như Long Đỗ, Nùng Lĩnh, Nhị Hà… Ngắm mặt hồ Gươm, hồ Tây, chỉ cần nhìn cá hồ đớp sóng thôi danh sỹ đã động lòng trắc ẩn nghĩ về vận nước, nhớ đến cuộc thay đổi “phế lập” ba vua trong thời gian ngắn ngủi (1884) ở Kinh đô Huế Và thật bất ngờ, một sự ví von táo bạo với sông Nhị Hà (sông Hồng) mà xưa nay chưa thấy ai dám ví
“Tiếng nước chảy của sông như tiếng khóc” Tiếp theo đó, danh sỹ dẫn thơ của thượng tướng Trần Quang Khải trong bài “Đoạt sáo Chương Dương độ /Cầm hồ Hàm Tử quan…” sau chiến thắng Nguyên Mông thuở trước Dẫn điển tích thơ để rồi kết bằng hai câu hỏi dồn dập: Những người anh hùng “Cướp giáo giặc, bắt quân thù” thuở ấy giờ đâu cả? Ai sẽ là người rửa nỗi bất bình cho giang sơn, gấm vóc hôm nay?
Chúng tôi đoán rằng, bài thơ trên danh sỹ Hồ Sỹ Tạo viết ra sau ngày ông từ quan về dạy học, đi đó đây kết bạn tâm giao, nghĩa là trong khoảng thời gian phong trào Cần Vương bùng nổ (1885-1895) Đây là giai đoạn bi thương và rối ren nhất, bên ngoài Pháp đang từng bước thôn tính từ Nam ra Bắc, trong triều chính rối ren, chia bè kết cánh… khiến nhà thơ phải “mượn” tiếng chảy nước sông Nhị Hà mà khóc than cho đất nước
Xin được nói thêm rằng, bài thơ của danh sỹ Hồ Sỹ Tạo có dáng dấp đường thi khá rõ, và như đã nói, sự hoài cổ, hoài niệm rất đậm nét khiến ta dễ liên tưởng tới bài “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu:
Trang 2“Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hạc khứ/ Thử địa không duy Hoàng
Hạc lâu/ Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản/ Bạch vân thiên tải
không du du…” Cũng nhắc tới mây nhưng là mây mang sắc màu
kim cổ Cũng nhắc đến sóng nước nhưng là tiếng nước sông như
khóc than Và chỉ khác xưa kia đời thường còn trơ vơ lầu Hoàng
Hạc, mà nay trơ vơ trăm dặm thành Để góp một nén hương tưởng
nhớ tiền nhân là danh sỹ họ Hồ, chúng tôi xin mạn phép được đưa
ra bản dịch thoát theo thể thơ lục bát, mong được bạn đọc tham
khảo:
Thơ Vịnh Hà Nội
Trải bao gió bụi, bất bình
Ngoái nhìn một sớm xót tình bấy nhiêu
Cá hồ động, cuộc “ba triều”
Thành Rồng trăm dặm tiêu điều, trơ vơ
Mây bồng Nùng Lĩnh sắc xưa
Nhị Hà nước réo khóc ca than dài
“Cầm hồ, đoạt sáo” những ai
Ra tay rửa nhục trước đài non sông?
Ở bài thứ hai khá dài, nguyên văn chữ Hán như sau:
Đề tam trung từ
Thăng Long thành thượng yên trầm mộng
Thăng Long thành hạ huyết lưu hồng
Thành hoàn, bất hoàn Nguyễn nguyên súy
Thành vong, dữ vong Hoàng Tướng công
Ta ta nhân thế bạch câu khích
Thiên thu chính khí lăng không bích
Tống gia tam bách niên cương thường
Dĩ nhất thần nhiệm Văn Thiên Tường
Khả tử nhi tử, tử bất hủ Chí Kim thanh sử viễn lưu phương Hoan Châu văn bối Hồ Sỹ Tạo Kính thuật thử văn nhất uỷ điếu Tản sơn tự vân, Nhị tự ba
Hách hách tinh trung thiên nhật chiếu
Dịch nghĩa: đề đền thờ ba vị trung hiếu
Trên thành Thăng Long khói bụi mờ mịt Dưới thành Thăng Long máu chảy đẫm hồng Thành được trả nhưng Nguyên Soái Nguyễn không trở lại Thành mất, mất luôn cả tướng công họ Hoàng
Hỡi ôi! Cuộc đời như bóng câu vụt qua khe cửa Chính khí ngàn năm vút lên trời biếc
Ba trăm năm cương thường của nhà Tống Trút lên một bề tôi Văn Thiên Tường Đáng chết mà chết, chết thế là bất tử Đến nay sử xanh còn vĩnh viễn lưu tiếng thơm
Kẻ hậu sinh này ở Hoan Châu là Hồ Sỹ Tạo Kính thuật lại trong bài này để viếng
Mây từ non Tản, sóng từ sông Nhị Hà
Rờ rỡ tấm tinh trung, vầng nhật sáng son
Bài “Đề tam trung từ” vẫn cùng mạch với bài “Đề vịnh Hà Nội”
ở niềm hoài cổ thể hiện lòng yêu nước sâu sắc, nồng nàn với nét đặc
tả hai cuộc chiếm giữ thành Hà Nội oanh liệt của các tướng Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu ngày trước Đáng chú ý ở bài “Đề đền thờ ba vị trung hiếu tiết nghĩa” này, một vị là Văn Thiên Tường đời Tống đã rất nổi tiếng cả bên Tàu và bên ta từ xưa, hai vị còn lại là hai tướng giữ thành Hà Nội và đều tuẫn tiết với thành, cùng được xếp ngang hàng với Văn Thiên Tường, đó cũng là công bằng lịch sử Làm thơ ngợi ca khí tiết của các bậc tiên liệt, nêu tấm gương “trung hiếu tiết nghĩa” cho hậu thế noi theo là việc làm mà các nhà nho xưa nói chung thường làm, có người làm thơ, có người viết sách sử, chuyện kể, làm phú, câu đối… Có khác chăng ở bài thơ này, danh sỹ
Hồ Sỹ Tạo sử dụng câu chữ khá mộc mạc cứng cáp mà vẫn gợi nên
Trang 3sự trang nghiêm, lòng tôn kính tột bậc của mình Phải chăng đó là
sự bộc trực và khảng khái, một nét tính cách người Nghệ nói
chung và của ông đồ Nghệ nói riêng? Bài thơ này được dịch giả
Nguyễn Văn Huyền dịch như sau:
“Khói bụi mờ mịt trên thành Rồng
Dưới thành máu đỏ nhuốm đầy sông
Thành trả, Nguyễn Nguyên soái không về
Thành mất, mất luôn Hoàng Tướng công
Đời tựa bóng câu qua kẻ vách
Nghìn năm chính khí vút trời biếc
Nhà Tống, ba trăm năm cương thường
Dồn vào một vai Văn Thiên Tường
Cần chết mà chết, chết bất hủ
Đến nay sử xanh còn lừng hương
Hoan Châu, hậu sinh Hồ Sỹ Tạo
Kính thuật văn này một lời điếu
Mây non Tản soi sóng sông Hồng
Rờ rỡ tinh trung vầng nhật chiếu
Nhân đây, chúng tôi xin bày tỏ lòng trân trọng và biết ơn các
dịch giả và PGS Ninh Viết Giao đã có công sưu tầm hai bài thơ
trên của danh sỹ Hồ Sỹ Tạo để đưa vào Tổng tập Văn học Việt
Nam (tập 19) Tuy nhiên, bạn đọc vẫn nuối tiếc phần tiểu sử tác
giả còn khá mỏng, chỉ biết ông sinh năm Tân Sửu (1841), chưa
rõ năm mất, người xã Thanh Quả tổng Võ Liệt, nay là xã
Thanh Khê, huyện Thanh Chương, Nghệ An Ông thông minh ,
học chăm, năm Mậu Thìn (1868) thi đỗ Giải nguyên trường
Nghệ, có thi Hội nhưng không đỗ Làm quan tới chức tri phủ
nhưng khi nhà Nguyễn đầu hàng chịu sự bảo hộ của Pháp, ông
đã từ quan về dạy học và giao du đó đây, tỏ thái độ bất hợp tác.
Đương thời ông sáng tác khá nhiều nhưng bị thất truyền chắc
do nhiều nguyên nhân Chúng tôi sẽ cố gắng góp phần làm sáng
tỏ những băn khoăn này vào dịp khác
Cũng như bài trước, bài này chúng tôi cũng xin mạn phép thử
dịch xuôi theo thể thơ lục bát, mong được tham khảo:
đề đền thờ ba vị trung tiết
Trên thành Rồng, khói bụi mờ Dưới thành máu đỏ nhuộm nhơ sông Hồng Trả thành, Nguyên soái còn không
Mất thành, mất cả Tướng công họ Hoàng Đời người, bóng ngựa vút ngang
Ngàn năm chính khí mơ màng trời xanh
Ba trăm năm Tống, cương thường Dồn trong một chết Thiên Tường một giây Cần chết mà chết, kính thay!
Sử xanh mãi mãi tháng ngày vinh danh Hoan Châu, Hồ Sỹ hậu sinh
Văn này kính điếu, cúi mình ghi công Mây Tản soi bóng sông Hồng
Lòng người, non nước sáng lồng tinh anh