1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

chuyên đề cho ngày 8/3

5 259 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngời phụ nữ đã bớc vào ca dao từ chính cuộc sống của họ trong buổi ấy, họ hiện ra với một số phận chung là vất vả, khổ cực, cay đắng, thậm chí bị đoạ đày nhng chính những con ngời của

Trang 1

Đã từ lâu ca dao là dòng sữa tinh thần thấm qua tâm hồn ngời Việt bao thế hệ, cùng với giọng điệu ngọt ngào của tình thơng mến Có lẽ ở đâu cũng vậy, từ những xóm làng thanh sơ bằng lặng, những ruộng đồng, gò bãi, những dòng sông quê, cả trang sách học trò đều mang trong … những câu ca dao và ta cũng cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp bình yên nơi thôn quê, cuộc sống vất vả của những ngời lao động, hình ảnh những ngời dân quê tự bao đời, những tình cảm thiêng liêng mà giản dị của con ngời Ngời dân trên mọi miền đất nớc ta đã sáng tác ca dao bằng chính d vị còn mùi của mồ hôi, của giọt nớc mắt và ánh của những nụ cời vào ca dao Hình ảnh con ngời hiện lên khá đầy đủ nhng có lẽ lắng sâu và để lại nhiều hạt phù sa tình cảm nhất trong lòng chúng ta khi suối nguồn ca dao chảy qua là hình ảnh của những ngời phụ nữ xa Ngời phụ nữ đã bớc vào ca dao

từ chính cuộc sống của họ trong buổi ấy, họ hiện ra với một số phận chung là vất vả, khổ cực, cay

đắng, thậm chí bị đoạ đày nhng chính những con ngời của số phận ấy lại ánh lên những vẻ đẹp cao quý và trong sáng nhân văn đến vô ngần.

1 Số phận của những ngời phụ nữ trong ca dao:

Nh chúng ta đã biết, thể chế xã hội phong kiến hình thành ở phơng Bắc rồi ảnh hởng sâu sắc nhân dân ta theo sau lỡi gơm và vó ngựa của những đoàn quân xâm lợc Về sau các triều đại của chúng

ta cũng phát triển theo thể chế xã hội ấy, chúng ta đã học đạo khổng, chữ Hán quá lâu đợc làm chữ hành chính và văn hoá trên đất nớc mình Trong cái văn hoá với những quy định và quan niệm ngặt nghèo ấy thì thân phận ngời phụ nữ trở nên rẻ rúm hơn bao giờ Khi còn sống trong cuộc sống gia

đình thì ngời con gái vẫn bị xem nhẹ hơn ngời con trai bởi cái t tởng “ nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”:

“ Cô kia cắt cỏ đồng màu Chăn trâu cho khéo làm giàu cho cha

Giàu thì chia bảy chia ba Phận cô là gái đợc là bao nhiêu”

Hoặc là:

Em nh quả bí trên cây Dang tay mẹ bứt những ngày còn non’

Xã hội phong kiến phụ quyền tồn tại hàng nghìn năm với những quan niệm bất công, khe khắt, xã hội ấy đã dành mọi u tiên, u đãi cho ngời đàn ông và đẩy những ngời phụ nữ xuống địa vị thấp kém nhất trong gia đình cũng nh trong xã hội, Họ ý thức đợc phẩm gía của mình nhng hạnh phúc lại gửi vào đôi bàn tay kẻ khác nên họ gửi lòng mình vào những tiếng than thân:

- “Thõn em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

- “Thõn em như hạt mưa sa Hạt vào đài cỏc, hạt ra ruộng cày”

- “Thõn em như chổi đầu hố Phũng khi mưa giú đi về chựi chõn

Chựi rồi lại vứt ra sõn Gọi người hàng xúm cú chõn thỡ chựi”

Cú biết bao nhiờu nỗi khổ mà người phụ nữ phải chịu đựng, nỗi khổ vật chất “ngày ngày hai buổi trốo non”, “ngày thỡ dói nắng đờm thỡ dầm sương” Nhưng nỗi khổ lớn nhất, xuất hiện với tần số cao nhất vẫn là nỗi khổ về tinh thần, nỗi khổ của thõn phận mong manh, bị động, ớt giỏ trị Những người phụ nữ ở đõy bị “đồ vật hoỏ”, được định giỏ theo giỏ trị sử dụng Thõn phận họ

Trang 2

chỉ được ví với “hạy mưa sa”, “chổi đầu hè” Ta có thể cảm nhận được bao nỗi xót xa của người phụ nữ khi cất lên những lời ca ấy Không phải người phụ nữ không ý thức được vẻ đẹp

và phẩm giá đáng quý của mình Họ luôn ví mình với “tấm lụa đào”, “giếng nước trong” nhưng những phẩm chất ấy đâu có được xã hội , người đời biết đến và coi trọng Cả đời họ chỉ lầm lũi, cam chịu trong sự đau khổ, nhọc nhằn Và dường như sự bất hạnh ấy của người phụ nữ trong

xã hội xưa là một hằng số chung, ở tất cả các vùng miền Người phụ nữ dân tộc Thái cũng từng đau đớn thốt lên: “Thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa, con chão chuộc thôi”

Khi đi lấy chồng, họ còn chịu thêm trăm điều cay cực Quan niệm “xuất giá tòng phu”, “lấy chồng làm ma nhà chồng” đã khiến bao người phụ nữ xa quê phải ngậm ngùi nuốt đắng cay, thấm thía nỗi buồn, nhớ khi nghĩ về quê mẹ mà khó có lần nào trở về thăm

- “Chiều chiều ra đứng bờ sông Muốn về với mẹ mà không có đò”

- “Chiều chiều ra đứng ngõ sau trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”

- “Chiều chiều xách giỏ hái rau Ngó lên mả mẹ ruột đau như dần”

Nhớ nhà nhớ mẹ mà không được về, những người đi làm dâu còn phải chịu sự đày đoạ của gia đình nhà chồng, đặc biệt là mẹ chông trong chê độ cũ, những người mẹ chồng xưa kia thường

là “nỗi kinh hoàng” của những nàng dâu vì xã hội phog kiến với quan niệm hôn nhân gả bán cho phép người ta “mua” vợ cho con khác nào mua người lànm không công, trả cái nợ đồng lần mà chính người mẹ chồng trước đây phải gánh chịu:

- “Tiếng đồn cha mẹ anh hiền Cắn cơm không vỡ cắn tiền vỡ tan”

- “Trách cha, trách mẹ nhà chàng Cầm cân chẳng biết là vàng hay thau Thực vàng chẳng phải thau đâu Đừng đem thử lửa mà đau lòng vàng”

Trong hoàn cảnh ấy đại đa số những người phụ nữ phải cam chịu, nín nhịn nhưng cũng có trường hợp, người con dâu tỏ thái độ phản kháng có phần quyết liệt, cô “đội nón về nhà mình” dẫu biết hành động ấy sẽ bị lên án, bị không ít tiếng thị phi, cay độc vì trong xã hội xưa còn gì đáng sợ hơn bằng tội “trốn chúa, lộn chồng”:

“Cô kia đội nón đi đâu Tôi là phận gái làm dâu mới về

Mẹ chồng ác nghiệt đã ghê Tôi ở chẳng được, tôi về nhà tôi”

Sở dĩ họ phải phản kháng là do không còn nơi để bấu víu, tựa nương Mẹ chồng đã vậy, lại còn chịu thêm nỗi khổ của “cảnh chồng chung” Xã hội phong kiến cho phép “trai quân tử năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng” đã gây ra bao cảnh đau lòng Nhân dân hướng

về những người vợ lẽ - những người chịu nhiều thua thiệt hơn cả để cảm thông, để lắng nghe những tiếng giãi bày xót xa, cay đắng:

Trang 3

Đi cấy đi cày chị chẳng kể công Tối tối chị giữ mất chồng Chị cho manh chiếu, nằm không chuồng bò Mong chồng chồng chẳng xuống cho Đến khi chồng xuống, gà o o gáy dồn Chém cha con gà kia, sao mày vội gáy dồn

Để tao mất vía kinh hồn về nỗi chồng con”

- “Thân em làm lẽ chẳng nề

Có như chính thất, ngồi lê giữa đường”

Khao khát của người phụ nữ ở đây không phải là cái khao khát mang tính chất bản năng thuần tuý mà là những khát khao hạnh phúc chính đáng nhất của một con người Vì thế họ đã nhắn nhủ nhau đừng bao giờ đẩy mình vào thân phận kẻ làm lẽ:

- “Đói lòng ăn nắm lá sung Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng”

- “Chồng con là cái nợ nần Thà rằng ở vậy nuôi thân béo mầm”.

Có khi những niềm đau thân phận và số kiếp còn là cái cảnh “ vợ người lớn” phải lấy chồng trẻ con:

“ Bồng bồng cõng chồng đi chơi

Đi đến lỗ lội đánh rơi mất chồng Chị em ơi cho tôi mượn chiếc gầu sòng

Để tôi tát nước múc chồng tôi lên”

Đó là tất cả những nỗi khổ của thân phận, nỗi đau của số kiếp những người phụ nữ trong ca dao xưa Đọc lại những câu ca này ta thấy sự đồng cảm cho một thời chịu khổ của phụ nữ nước ta

2 Vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong ca dao

Dù sống trong bất hạnh, tâm hồn người phụ nữ vẫn sáng lên lấp lánh ánh sáng của trái tim đôn hậu, cao thượng, vị tha Từ trong khổ đau, bất hạnh, từ trong tiếng hát than thân đầy tủi cực, tâm hồn trung hậu, đẹp đẽ, thuỷ chung của người phụ nữ vẫn vươn lên, toả sáng khiến cho tiếng hát than thân kia không mang vẻ bi luỵ mà vẫn toả sáng, ấm áp tình đời, tình người Ca dao đã phản ánh đầy đủ những vẻ đẹp đó của họ - những con người thuỷ chung son sắt, giàu nghĩa tình

Quên đi những nhọc nhằn, vất vả của cuộc sống lao động, những người phụ nữ bình dân ấy cũng có những phút giây sống cho cảm xúc riêng tư, cũng trải qua các cung bậc nhớ nhung của một trái tim mới yêu Trong niềm yêu của những cô gái bình dân này thì nỗi nhớ được thể hiện rất thành công, dạt dào cảm xúc và đa dạng về cung bậc:

Một con gió xinh cũng gợi niềm yêu nhớ:

- “Gió sao gió mát sau lưng

Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này”

Rồi chợt nhớ bâng qua và ngùn ngụt lửa mong chờ:

- “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than”

Có khi một tấm khăn mang trọn vẹn tấm chân tình của cõi lòng mong nhớ khó phôi phai:

Trang 4

“ Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai Khăn thương nhớ ai Khăn chùi nước mắt”

Vẫn biết những cô gái trong ca dao hiện lên với vẻ đẹp dịu dàng, tế nhị và duyên thầm của những cười nụ hoa ngâu, nhưng khi trong tim những tâm hồn thơ thới mang một chú chim sâu biết nói thì họ hồn nhiên, tinh nghịch, họ nói về sự khao khát tình yêu bạo dạn trong nét tủm tỉm cười duyên nguyện ước:

“Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi”

Nhịp cầu ấy chính là nhịp cầu của tình yêu, của tấm lòng hồn hậu để bao người cùng bước vào vườn hồng say đắm yêu đương rồi kết trái hạnh phúc truyền lại cho đời sau

Có cô gái thì thật tế nhị, ý tứ và nết na, cẩn trọng và dè dặt trước những chàng trai tìm đến:

“Sáng ngày tôi đi hái dâu Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn Hai anh đứng dậy hỏi han Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu Thưa rằng tôi đi hái dâu Hai anh mở túi đưa trầu mời ăn Thưa rằng bác mẹ tôi răn Làm thân con gái chớ ăn trầungười”

Có lẽ trong những vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong ca dao thì nét đáng trân trọng và học hỏi chính là sự đề cao tình yêu thương, lòng chung thuỷ:

- “Trăng tròn chỉ một đêm rằm Tình duyên chỉ hẹn một lần mà thôi”

- “Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đạo cương thường chớ đổi đừng thay Dẫu có làm nên danh vọng hay rủi có ăn mày ta cũng theo nhau”

Người phụ nữ đảm đang, vị tha, chung thuỷ đã thể hiện cảm nghĩ của một cách giản dị mà vẫn

có sức cuốn hút lạ thường Cả khi khó khăn họ vẫn nhẫn nại:

- “Chồng em áo rách em thương Chồng người áo gấm , xông hương mặc người”

- “Râu tôm nấu với ruột bầu Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”

Chỉ những lời ca ngắn ngủi mà chất chứa trong đó bao ý tình sâu xa Đó là lời nhắn nhủ của những người phụ nữ trọn nghĩa vẹn tình Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, họ vẫn đồng cam cộng khổ cùng chồng, xây dựng một gia đình đầm ấm yên vui Đối với họ tình cảm mới là cái đáng quý và khi đã xây dựng gia đình thì tình yêu được khoác thêm cái đạo nghĩa trở thành từ chỉ chung cho tình cảm vợ chồng là tình nghĩa của muôn đời

Trang 5

Một điều cần phải nói nữa là đức hi sinh của những người phụ nữ làm mẹ trong ca dao, dường như khi có con họ không sống cho mình nữa mà là sống cho con:

“Con cò mày đi ăn đêm Đậu phải cành mền lộn cổ xuống ao

Ông ơi ông vớt tôi vào Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong Chớ xáo nước đục đau lòng cò con”

Ở thời nào cũng vậy, vẻ đẹp của người phụ nữ như một hằng số, bất biến ngàn đời Đó là sự nhẫn nại, cam chịu, là sự thuỷ chung son sắt, đức hi sinh, lòng vị tha không gì có thể vùi lấp được những vẻ đẹp đó Nó như những viên ngọc thô mà thời gian, những bất hạnh khổ đau là chất xúc tác mài giũa, càng ngày càng toả sáng lấp lánh Ta tìm về với nó, ta nhận ra một số nét đẹp ở các bà, các mẹ và các chị ngày nay đã kế thừa và phát huy trong cuộc sống

Văn học, nghệ thuật ngày nay cũng rất chú ý đến việc lưu giữ những vẻ đẹp của người phụ nữ Nhưng những làn điệu dân ca từ thuở sơ khai vẫn chính là kho tàng vô giá lưu giữ trọn vẹn nhất

về những con người kì lạ ấy: càng trong đau khổ lại càng ngời sáng, thanh cao Tìm hiểu ca dao và đặc biệt là hình ảnh những người phụ nữ trong ca dao chính là con đường mở cho việc tìm hiểu văn học viết, có rất nhiều tác giả đã tắm tâm hồn mình trong ca giao để thăng hoa bằng những tác phẩm tuyệt vời

Sẽ còn mãi lắng đọng trong tâm hồn những người dân đất Việt hình ảnh những người phụ nữ sáng lấp lánh trong những câu ca dao tự ngàn xưa

Xin gửi lời tri ân đến thế giới phụ nữ - một nửa thế giới của con người, xin kính chúc các cô giáo ngày càng thành đạt trong nghề dạy học cao quý và hành phúc trong vòng tay yêu thương của chồng con Tôi gửi niềm tin tưởng tới các em học sinh nữ về sự thành đạt trên con đường tri thức, từ bến thương là mái trường THPT Giao Thuỷ này với tài năng và nhân cách các em sẽ vươn tời những bầu trời của mơ ước trong tương lai

Bài ngoại khoá của tôi xin tam dừng, xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh!

Ngày đăng: 24/04/2015, 06:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w