1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

những vấn đề cơ bản về xi măng

45 450 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các loại phụ gia hoạt tính thường dùng ở Việt Nam như puzơlanSơn Tây, xỉ lò cao Thái Nguyên, tro xỉ nhiệt điện Phả Lại, đá bọt bazal Nghệ An, Thanh Hoá, Hà Tiên.v.v… + Phụ gia đầy được đ

Trang 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XI MĂNG POOCLANG

1.1 Các khái niệm cơ bản:

1.1.1 Định nghĩa:

Từ xa xưa, con người đã biết dùng những vật liệu đơn sơ như đất sét , đất bùn nhào rác, dăm gỗ, cỏ khô băm …để làm gạch, đắp tường, dựng vách cho chỗ trú ngụ của mình.

Có thể tóm lược các bước hình thành xi măng như sau:

* Người Ai Cập đã dùng vôi tôi làm vật liệu chính.

* Người Hy Lạp trôn thêm vào vôi đất núi lửa ở đảo Santorin, hỗn hợp này đã được các nhà xây dựng thời đó ưu ái nhiều năm.

* Người La Mã thêm vào loại tro – đất núi lửa Vésuve miền Puzzolles Về sau này, phún – xuất – thạch núi lửa được dùng làm một loại phụ gia hoạt tính chịu cách nhiệt

và cách âm , và trở thành danh từ chung “Pozzolana” (Anh), “Pouzzolane” (Pháp)

* Vào năm 1750, kỹ sư Smeaton người Anh, nhận nhiệm vụ xây dựng ngọn hải đăng Eddystone vùng Cornuailles Ông đã thử nghiệm dùng lần lượt các loại vật liệu như thạch cao, đá vôi, đá phún xuất… Và ông khám phá ra rằng loại tốt nhất đó là hỗn hợp nung giữa đá vôi và đất sét.

* Hơn 60 năm sau, 1812, một người Pháp tên Louis Vicat hoàn chỉnh điều khám phá của Smeaton, bằng cách xác định vai trò và tỷ lệ đất sét trong hỗn hợp vôi nung nói trên Và thành quả của ông là bước quyết định ra công thức chế tạo xi măng sau này.

* Ít năm sau, 1824, một người Anh tên Joseph Aspdin lấy bằng sáng chế xi măng (bởi

từ latinh Caementum : chất kết dính), trên cơ sở nung một hỗn hợp 3 phần đá vôi +

1 đất sét

* Chưa hết, 20 năm sau, Isaac Charles Johnson đẩy thêm một bước nữa bằng cách nâng cao nhiệt độ nung tới mức làm nóng chảy một phần nguyên liệu trước khi kết khối thành “clinker”.

Từ đây, như chúng ta biết, đã bùng nổ hằng loạt các nhà máy lớn nhỏ với nhiều kiểu lò nung tính năng khác nhau: xi măng đã làm một cuộc cách mạng trong lĩnh vực xây dựng.

- Xi măng theo tiếng La tinh là “Cement” có nghĩa là sự gắn kết, là chất

kết dính Đó là sản phẩm nhận tạo được nghiền mịn, khi trộn với nước tạo thànhdạng vữa có độ dẻo nhất định, tự cứng được trong không khí và trong nước, kếtdính được với nhau hoặc với cát, sỏi, đá dăm v.v… tạo thành khối rắn chắc

Trang 2

- Phối liệu là hỗn hợp các loại nguyên liệu được trộn với nhau theo một tỷ

lệ nào đó là được tính toán trước

- Clanhke là sản phẩm nhận được sau khi nung đến kết khối hỗn hợp phốiliệu có thành phần xác định, đảm bảo tạo ra các khoáng canxi silicát, aluminát

và alumoferit với tỷ lệ yêu cầu

- Thạch cao là một loại đá thiên nhiên hoặc nhân tạo có chứa khoángCaSO4.2H2O, được dùng làm phụ gia điều chỉnh thời gian đông kết của hồ ximăng

- Phụ gia xi măng: Được chia làm 3 loại

+ Phụ gia công nghệ được pha vào trong quá trình sản xuất xi măng nhằmtăng năng suất máy nghiền, máy đóng bao hoặc cải thiện quá trình công nghệnghiền, đóng bao, bảo quản xi măng Phụ gia công nghệ thường được gọi theocông dụng của nó như phụ gia trợ nghiền, phụ gia kỵ ẩm.v.v…

+ Phụ gia khoáng hoạt tính còn gọi là phụ gia thủy hoạt tính, là các chất

có sẵn trong tự nhêin hoặc phế thải công nghiệp chứa các oxít SiO2, Al2O3 hoạttính có khả năng phản ứng với hydroxit can xi - Ca(OH)2 tạo thành các khoángbền vững với nước trong quá trình đóng rắn của xi măng Phụ gia hoạt tính đượcđưa vào để cải thiện tính chất của xi măng, bê tông hoặc để chế tạo các loại ximăng đặc biệt Các loại phụ gia hoạt tính thường dùng ở Việt Nam như puzơlanSơn Tây, xỉ lò cao Thái Nguyên, tro xỉ nhiệt điện Phả Lại, đá bọt bazal Nghệ

An, Thanh Hoá, Hà Tiên.v.v…

+ Phụ gia đầy được đưa vào xi măng chủ yếu để tăng sản lượng mà

không làm giảm chất lượng của xi măng, trong một số trường hợp cũng có thểcải thiên một số tính chất của xi măng và bê tông Các phụ gia trơ thường dùng

ở Việt Nam như đá vôi, đá silic, cát, sỏi granit v.v…

Các loại xi măng

Xi măng có nhiều chủng loại Tuỳ theo thành phần, tính chất và ứng dụng của ximăng, người ta chia xi măng thành các loại khác nhau như xi măng poóclăng, ximăng puzơlan, xi măng hỗn hợp, xi măng bền sun phát, xi măng giếng khoanv.v

Xi măng poóc lăng

Xi măng poóc lăng do Jojep Aspdin (người Anh) phát minh vào năm 18

12 Đây là chất kết dính thuỷ lực, được chế tạo bằng cách nghiền mịn clanhke ximăng poóc lăng với thạch cao Khi nghiền có thể pha thêm một lượng nhỏ các

Trang 3

chất phụ gia công nghệ để tăng năng suất của máy nghiền hoặc cải thiện tínhchất của xi măng Theo tiêu chuẩn Việt Nam và đa số các nước, xi măng poóclăng có ký hiệu quy ước là PC (viết tắt của chữ Portland Cement) hoặc OPC(Ordinary Portland Cement) Xi măng poóc lăng là loại xi măng được sử dụngnhiều nhất trong xây dựng dân dụng và công nghiệp.

Xi măng poóc lăng hỗn hợp

Xi măng poóc lăng hỗn hợp cũng được chế tạo từ clanhke xi măng poóclăng và thạch cao, nhưng khác xi măng poóc lăng ở tỷ lệ phụ gia pha vào khinghiền xi măng Theo tiêu chuẩn Việt nam, trong xi măng: hỗn hợp cho phéppha tối đa đến 40% phụ gia hoạt tính và phụ gia trơ, trong đó phụ gia trơ không

được vượt quá 20% Xi măng poóc lăng hỗn hợp có ký hiệu quy ước là PCB

(viết tắt của chữ Blended Portland Cement) Xi măng poóc lăng hỗn hợp được

sử dụng chủ yếu trong xây dựng thông thường

1.1.2 Thành phần hóa học clanhke xi măng poóc lăng

1.1.2.1 Hàm lượng các ôxít

Clanhke xi măng poóc lăng chứa 4 ôxít chính là CaO, SiO2 , Al2O3, Fe2O3

chiếm từ 94-96% Ngoài ra, tuỳ theo nguồn nguyên liệu sử dụng để chế tạo phốiliệu mà trong clanhke còn có thêm một số xít khác với hàm lượng nhỏ nh MgO,TiO2, SO3, MnO, Cr3O3, P2O5, BaO, K2O, Na2O

Thành phần hoá học là một trong những chỉ tiêu quan trọng để nhận biết

và đánh giá chất lượng của clanhke và xi măng Các xít này được đa vào phốiliệu từ các nguyên liệu ban đầu và tro than Chúng là các thành phần tham giavào phản ứng tạo khoáng clanhke khi nung phối liệu ở nhiệt độ cao Bằng cácphương pháp phân tích hoá học có thể xác định hàm lượng các xít có trongclanhke, xi măng và các loại nguyên liệu; phụ gia Hàm lượng của các xít chínhcần được khống chế chặt chẽ trong quá trình sản xuất, vì tỷ lệ giữa chúng quyếtđịnh chất lượng của clanhke và xi măng

Đối với clanhke xi măng poóc lăng, hàm lượng % của các xít thường nằmtrong giới hạn sau:

CaO = 58 - 67 Fe2O3 = 2,0 - 5,0 SO3 = 0, 1 - 0,5

SiO2 = 18 - 26 MgO = 0,5 - 5,0 K2O = 0,3 - 0,7

Al2O3 = 4 - 8 TiO2 = 0, 1 - 0,3 NaO = 0, 1 - 0,3

Trang 4

Trong sản xuất, để giảm nhiệt độ nung clanhke người ta có thể sử dụngmột số phụ gia khoáng hoá như crômit, apatit, barit, thạch cao, huỳnh thạch

v.v Hàm lượng của các ôxít khoáng hoá (nếu có) thường nằm trong khoảng

sau:

MnO = 0, 1 - 0,3% ; Cr3O3 = 0, 1 - 0,3%

P2O5 = 0, 1 - 0,25% ; BaO = 0,5 - 1,5%

1.4.1.2 Vai trò của các xít

a) Ôxít Can xi (CaO): Tham gia vào phản ứng tạo thành các khoáng chính

của clanhke Nguồn cung cấp CaO chủ yếu là đá vôi (chứa CaCO3) Hàm lượngCaO trong clanhke càng cao thì khi đóng rắn xi măng sẽ phát triển cường độcàng nhanh và có cường độ càng cao Tuy nhiên, muốn xi măng có chất lượngcao, yêu cầu hầu hết lượng CaO có trong clanhke phải phản ứng hết với các ôxítkhác để tạo thành các khoáng canxi silicat, canxi aluminat và canxi alumoferit.Nếu CaO nằm ở dạng tự do (CaO tự do > 2%) sẽ làm cho đá xi măng bị nở thểtích dẫn đến phá huỷ cấu trúc đã bền vững làm giảm cường độ của nó Xi măngchứa nhiều CaO toả nhiều nhiệt khi đóng rắn (có thể gây nứt bê tông), kém bềntrong các môi trường xâm thực và làm giảm độ bền nước của bê tông

b) Ôxít Silic (SiO 2 ): là thành phần rất quan trọng của clanhke và đứng thứ

2 về số lượng sau CaO Nguồn cung cấp SiO2 chủ yếu là đất sét, đất cao silichoặc cát và tro than Ôxít silíc phản ứng với ôxít can xi tạo thành các khoángcanxi silicát Khi hàm lượng SiO2 trong clanhke nhiều mà CaO vừa đủ thì ximăng sẽ đóng rắn chậm, cường độ ban đầu thấp Tuy nhiên sau thời gian dàiđóng rắn (khoảng sau 1 năm), đá xi măng sẽ có cường độ cao Ngoài ra, xi măngcòn có nhiều tính chất quý khác như ít toả nhiệt khi đóng rắn, bền trong các môitrường xâm thực, độ bền nước cao

c) Ôxít nhôm (Al 2 O 3 ): Phản ứng với ôxít canxi và ôxít sắt tạo thành các

khoáng canxi aluminat và canxi alumoferit Nguồn cung cấp Al2O3 chủ yếu làđất sét và tro than Clanhke chứa nhiều Al2O3 sẽ cho X; măng có thời gian đôngkết ngắn tốc độ phát triển cường độ nhanh, cường độ cao, nhưng toả nhiều nhiệt

khi đóng rắn và kém bền trong các môi trường xâm thực.

d) Ôxít sắt (Fe 2 O 3 ): là thành phần chính tạo ra chất nóng chảy khi nung

phối liệu Nhờ chất nóng chảy này mà các phản ứng tạo khoáng clanhke xảy ra

dễ hơn và ở nhiệt độ thấp hơn Fe2O3 phản ứng với CaO và Al3O3 tạo thành

Trang 5

khoáng canxi alumoferit nóng chảy ở nhiệt độ thấp Nguồn cung cấp Fe2O3 chủyếu là quặng sắt, xỉ pirit, quặng laterit và một phần ôxít sắt có sẵn trong đất sét,tro than Clanhke chứa nhiều ôxít sắt sẽ cho xi măng có cường độ thấp và tốc độđóng rắn chậm Ngoài ra, nếu hàm lượng Fe2O3 quá lớn sẽ tạo nhiều chất nóngchảy gây dính lò, khó nung; nếu hàm lượng Fe2O3 quá ít sẽ không đủ chất nóngchảy, khó phản ứng tạo khoáng và clanhke khó kết khối Vì vậy trong sản xuấtcần khống chế chặt chẽ hàm lượng của ô xít sắt trong khoảng cho phép.

e)Ôxít ma giê (MgO): là ôxít có hại Nó có mặt trong clanhke do nguyên,

nhiên liệu đưa vào MgO thường lẫn trong đá vôi, đất sét và tro than Với hàmlượng nhỏ (0,2: 0,5 %) nó tạo thành dung dịch rắn với khoáng C3S làm tăng hoạttính của khoáng này Nhưng nếu hàm lượng MgO quá lớn nó sẽ nằm ở dạng tự

do, khi nung ở nhiệt độ cao bị hoá già thành khoáng penclaz, khoáng này phảnứng rất chậm với nước, gây ra nở thể tích và phá vỡ cấu trúc của đá xi măng Vìvậy, hầu hết các nước đều quy định hàm lượng MgO trong clanhke xi măngkhông được vượt quá 5 - 6%

f) Ôxít titan (TiO 2 ): là tạp Chất thường có trong đất sét, hàm lượng TiO2 trongclanhke rất nhỏ nhưng lại là tạp chất có lợi cho quá trình tạo khoáng

g)Ôxít mangan (MnO: thường có trong quặng sắt và đá vôi MnO ở hàm lượng

nhỏ có vai trò như Fe2O3 và có tác dụng tốt đến quá trình tạo khoáng, nó có thểthay thế đồng hình cho Fe2O3 trong các khoáng canxi alumoferit tạo thành dungdịch rắn

h)Ôxít kiềm (Na 2 O và K 2 O): Chủ yếu do đất sét đưa vào phối liệu, là các tạp

chất có hại Khi nung ở nhiệt độ cao, chúng tạo thành các hợp chất dễ thăng hoabay theo khói và bụi làm ảnh hưởng đến hoạt động của lò nung Phần kiềm cònlại trong clanhke làm giảm cường độ của xi măng Nếu hàm lượng lớn hơn 1%

sẽ rất nguy hiểm vì chúng tác dụng với SiO2 hoạt tính của chất liệu, gây ra hiệntượng ăn mòn kiềm - silic dẫn đến phá huỷ bê tông, thậm chí sau 30 - 40 năm.Đối với xi măng dùng cho các công trình thuỷ công bê tông khối lớn, yêu cầuhàm lượng kiềm tính theo công thức Na2O + 0,658 K2O (Na2Oeq) phải nhỏ hơn

0,6%.

i) Anhydric sunfuric (SO 3 ): Khi nung clanhke, lưu huỳnh có trong nhiên liệu

(than, dầu) và trong nguyên liệu (đất sét, quặng sắt) bị đốt cháy thành SO3 bayhơi ở vùng nung Một phần SO3 bay theo khói lò là chất có hại cho môi trường

và sức khoẻ, một phần hoá hợp với kiềm và ôxi tạo thành K2SO4 và Na2SO4 làm

Trang 6

ảnh hưởng đến hoạt động của lò Một phần SO3 nằm lại trong clanhke ở dạngkhoáng sufoaluminat, là khoáng có lợi cho cường độ của đá xi măng.

k) Các ôxít Crôm (Cr 2 O 3 ), Phốt pho (P 2 O 5 ) bari (BaO)…: là các ôxít có

lợi cho quá trình tạo khoáng clanhke Với hàm lượng rất nhỏ, chúng có tác dụnggiảm nhiệt độ nung và tạo thành dung dịch rắn làm tăng hoạt tính của các

khoáng khi tác dụng với nước Vì vậy chúng thường được gọi là các ôxít khoáng

hoá Nhưng với hàm lượng lớn, chúng lại làm giảm cường độ của xi măng docản trở quá trình tạo thành khoáng C3S, là khoáng chủ yếu tạo ra cường độ của

4CaO + Al2O3 + Fe2O3 = CaO.Al2O3Fe2O3 viết tắt là C4AF

3CaO + Al2O3 = 3CaO.Al2O3 viết tắt là C3A.

2CaO + SiO2 = 2CaO.SiO2 viết tắt là C2S

CaO + 2CaO.SiO2 = 3CaO.SiO2 viết tắt là C3S

Hàm lượng của các khoáng này trong clanke xi măng poóc lăng nằmtrong giới hạn sau: C3S = 37: 60%, C2S = 15: 40%, C3A = 5: 15%, C4AF = 10:18%

Tổng các khoáng chính chiếm 95: 97%; trong đó C3S + C2S = 75 - 80%,

C3A + C4AF = 18 - 25 %

Trong thực tế sản xuất, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố công nghệ khácnhau như thành phần phối liệu, nguồn nguyên liệu sử dụng, độ nghiền mịn, độ

đồng nhất, chế độ nung, chế độ làm lạnh v.v nên các khoáng này thường không

phải là dạng tinh khiết mà chỉ được tạo thành ở dạng dung dịch rắn với các ôxíttạp chất khác Để xác định các khoáng clanhke, người ta sử dụng các phươngpháp phân tích thạch học và phân tích hoá lý nh sử dụng kính hiển vi quang học,

kính hiển vi điện tử, chụp ảnh nhiễu xạ tia rơn ghen, quang phổ hồng ngoại v.v 1.1.3.1.Đặc trưng của các khoáng clanhke

Trang 7

a) Khoáng alít (54CaO 16SiO 2 Al 2 O 3 MgO = C 54 Si 6 AM): là khoáng Chính

của clanhke xi măng poóc lăng Alít là dạng dung dịch rắn của khoáng C3S vớiôxít Al2O3 và MgO lẫn trong mạng lưới tinh thể thay thế vị trí của SiO2. Khoáng

C3S được tạo thành ở nhiệt độ lớn hơn 1250oC do sự tác dụng của CaO vớikhoáng C2S trong pha lỏng nóng chảy và bền vững đến 2065oC Alít có cấu trúcdạng tấm hình lục giác, màu trắng và có khối lượng riêng 3, 15 -3,25 g/cm3, cókích thước 10: 250 µm ( 1µm = 1 0-6m)

Khi phản ứng với nước, khoáng alít hoà tan nhanh, toả nhiều nhiệt tạothành các tinh thể dạng sợi (có công thức viết tắt là CSH(B) gọi là tobermorit) đanxen vào nhau tạo cho đá xi măng có cường độ cao và phát triển cường độ nhanh.Đồng thời nó cũng thải ra lượng Ca(OH)2 khá nhiều nên kém bền trong nướcngọt và nước chứa ion sun phát

b) Khoáng belít (βC2S): có cấu trúc dạng hạt tròn, nằm phân bổ xungquanh các hạt alít Belít là một dạng thù hình của khoáng C2S, tồn tại trongclanhke khi làm nguội nhanh Trong quá trình nung clanhke, do phản ứng củaCaO với SiO2 ở trạng thái rắn tạo thành khoáng C2S ở nhiệt độ 600- 1 100oC.Khoáng C2S có 4 dạng khác nhau về hình dạng cấu trúc và các tính chất, gọi là 4dạng thù hình, đó là: α-, α, β- và γ- C2S

Khi tăng nhiệt độ: g - C 2 S

xi măng có cường độ cao Tốc độ phát triển cường độ của khoáng be lít chậmhơn khoáng lít, phải sau 1 năm đóng rắn cường độ của bè lít mới bằng của lít

Trang 8

Be lít thải ra lượng Ca(OH)2 ít hơn lít nên nó tạo cho đá xi măng be lít có độ bềntrong nước ngọt và nước chứa ion sunfat cao hơn đá xi măng lít.

c) Khoáng canxi aluminat (C3A): là chất trung gian màu trắng nằm xengiữa các hạt alít và be lít cùng với alumoferit canxi (C4AF) Trong thành phần

của C3A cũng chứa một số tạp chất như SiO2, Fe2O3, MgO, K2O, NaO

Aluminát canxi là khoáng quan trọng cùng với alít tạo ra cường độ ban đầu của

đá xi măng Xi măng chứa nhiều C3A toả nhiều nhiệt khi đóng rắn C3A có khốilượng riêng là 3,04 g/cm3, nó là khoáng rất hoạt tính với nước nên bị hydrat hoárất nhanh, tạo ra cường độ cao cho đá xi măng nhưng kém bền trong nước vàtrong môi trường sun phát

d) Khoáng Canxi alumoferit (C4AF): cũng là chất trung gian, có khốilượng riêng 3,77g/cm3, màu đen, nằm xen giữa các hạt alít và belít cùng vớikhoáng C3A Khi nung clanhke, do phản ứng của CaO với Fe2O3 tạo thành cáckhoáng nóng chảy ở nhiệt độ thấp (600: 700oC) như CaO.Fe2O3 (CF), C2F Sau

đó các khoáng này tiếp tục phản ứng với Al2O3 tạo thành các khoáng canxialumoferit có thành phần thay đổi như C2F, C6A2F, C4AF, C6AF2 các khoáng này

bị nóng chảy hoàn toàn ở nhiệt độ 1250oC và trở thành pha lỏng cùng với cáckhoáng canxi aluminat, tạo ra môi trường cho phản ứng tạo thành khoáng C3S,nên chúng thường được gọi là chất trung gian hoặc pha lỏng clanhke

Khi tác dụng với nước, canxi alomoferit bị thuỷ hoá chậm, ít toả nhiệt vàcho cường độ thấp

e) Các khoáng khác

Ngoài 4 khoáng chính ở trên, trong clanhke còn chứa pha thuỷ tinh là chấtlỏng nóng chảy bị đông đặc lại khi làm lạnh clanhke Nếu quá trình làm lạnhnhanh thì ?các khoáng C3A, C4AF, MgO (periclaz), CaOtd v.v không kịp kếttinh để tách khỏi pha lỏng, khi đó pha thuỷ tinh sẽ nhiều Ngược lại, nếu làmlạnh chậm thì pha thuỷ tinh sẽ ít Khi làm lạnh nhanh, các khoáng sẽ nằm trongpha thuỷ tinh ở dạng hoà tan nên có năng lượng dự trữ lớn làm cho clanhke rấthoạt tính và sẽ tạo cho đá xi măng có cường độ ban đầu cao Khi làm lạnh chậm,các khoáng sẽ kết tinh hoàn chỉnh, kích thước lớn nên độ hoạt tính với nước sẽgiảm, hơn nữa MgO và CaOtd sẽ tách ra thành các tinh thể độc lập, bị già hoánên dễ gây ra sự phá huỷ cấu trúc của đá xi măng, bê tông về sau

1.1.3.2 Tính hàm lượng khoáng chính của clanhke

Trang 9

Trong thực tế sản xuất, không phải lúc nào cũng có thiết bị phân tích hoá

lý để xác định thành phần khoáng của clanhke Vì vậy, người ta thường tính toánthành phần khoáng của clanhke và xi măng dựa vào thành phần hoá học củaclanhke, xi măng theo các công thức tính được nhiều nước sử dụng và đã đượctiêu chuẩn hoá là:

Khoáng canxi silicat:

C3S = 4,07.%CaO - 7,6.%SiO2 - 6,72.%Al2O3 - l,42.%Fe2O3 - 2,85%SO3

Trang 10

1.2 Nguyên liệu và nhiên liệu để sản xuất xi măng pooclang

1.2.1 Nguyên liệu sản xuất xi măng

Như trên đã nói, để sản xuất xi măng cần phải nung clanhke từ hỗn hợpnguyên liệu có thành phần yêu cầu, sau đó nghiền mịn nó cùng với thạch cao vàmột vài loại phụ gia khác nhau Vì vậy, trong quá trình sản xuất cần phải lựachọn nguồn nguyên, nhiên liệu sao cho có thể chế tạo được phối liệu có đủ 4ôxít chính là CaO, SiO2, Al2O3, Fe2O3 và hạn chế đến mức thấp nhất các tạp chất

có hại như MgO, K2O, Na2O và lưu huỳnh

Hai nguyên liệu chính thường được sử dụng để sản xuất clanhke xi măng

là đá vôi và đất sét đá vôi là nguồn cung cấp CaO, đất sét là nguồn cung cấpSiO2, Al2O3 và Fe2O3 Tuy nhiên để đảm bảo đủ các ôxít theo tỷ lệ yêu cầu nhằmthoả mãn các hệ số chế tạo KH, n, p, thì khó tìm được một loại đá vôi và đất sétnào đó có đủ thành phần như ý muốn Vì vậy trong sản xuất thường phải sửdụng thêm phụ gia có chứa nhiều ôxít sắt để bổ sung Fe2O3 (Ví dụ như quặng sắthoặc xỉ pyrit, quặng laterit) hoặc phụ gia có chứa nhiều ôxít silic để bổ sungSiO2 ví dụ như đất cao silíc hoặc cát mịn)

Nhiên liệu sử dụng trong công nghiệp xi măng chủ yếu là than antraxít vàdầu, ở một số ít nhà máy có nguồn khí thiên nhiên thì nhiên liệu được thay bằngkhí (GAS) Ở Việt Nam, hầu hết các nhà máy đều sử dụng than cám của các mỏthan ở tỉnh Quảng Ninh, một vài nhà máy như xi măng Hoàng Thạch, HảiPhòng, Hà Tiên sử dụng than pha dầu, duy nhất xí nghiệp xi măng Thái Bình là

sử dụng khí đốt của mỏ khí ở huyện Tiền Hải

Các loại nguyên liệu, phụ gia và nhiên liệu thường được sử dụng để sảnxuất clanhke như sau:

1.2.1.1 Đá vôi:

Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6072: 1996, đá vôi sử dụng làm nguyênliệu để sản xuất xi măng poóc lăng phải thoả mãn yêu cầu về hàm lượng của cácchất là: CaCO3 - 85%; MgCO3 - 5%; K2O + Na2O - l%

Thông thường, các nhà máy xi măng ở Việt Nam đều sử dụng đá vôi có hàmlượng CaCO3 = 90: 98% (CaO = 50 - 55%), MgO < 3% và ôxít kiềm khôngđáng kể

Ngoài đá vôi ra, ở một số nơi hiếm đá vôi có thể sử dụng đá vôi san hônhưng phải khai thác và để lâu ngày cho mưa rửa trôi hết muối NaCl Đa phấn

Trang 11

có chứa CaCO3 98: 99% có cấu trúc tơi xốp có thể thay cho đá vôi và là nguyênliệu thích hợp để sản xuất xi măng trắng.

1.2.1.2 Đất sét

Theo TCVN 607 1: 1996, hỗn hợp đất sét được sử dụng làm nguyên liệu

để sản xuất xi măng poóc lăng phải có hàm lượng các ôxít trong khoảng sau:

bổ sung SiO2 Nếu trong đất sét có nhiều ôxít kiềm (K2O + Na2O) thì khi cần sảnxuất xi măng yêu cầu hàm lượng kiềm thấp, bắt buộc phải bổ sung thêm phụ gia

có chứa nhiều ôxít silic và phụ gia có chứa nhiều ôxít nhôm để hạn chế hàmlượng ôxít kiềm nhưng vẫn đảm bảo được các hệ số chế tạo clanhke

1.2.1.3 Phụ gia cao silic

Là phụ gia có chứa nhiều ôxít silic, được sử đung để điều chỉnh mô đun

silicatri = S/ (A + F) trong trường hợp nguồn đất sét của nhà máy có hàm lượng

SiO2 thấp các phụ gia cao silic thường được sử dụng là các loại đất cao silichoặc đá silíc có hàm lượng SiO2 > 80% Ngoài ra, ở những nơi không có nguồnđất cao silic có thể sử dụng cát mịn, nhưng khi nghiền mịn phối liệu sẽ khó hơn

và SiO2 trong cát thường nằm ở dạng quăczit khó phản ứng hơn, nên cần phải sửdụng thêm phụ giá khoáng hoá để giảm nhiệt độ nung clanhke

1.2.1.4 Phụ gia cao sắt

Là phụ gia có chứa nhiều ôxít sắt, được sử dụng để điều chỉnh mô đunaluminat (p = A / F) cho phối liệu, vì hầu hết các loại đất sét đều không có đủlượng Fe2O3 theo yêu cầu Các loạt phụ gia cao sắt thường được sử dụng ở ViệtNam là: Xỉ pirit Lâm Thao (phế thải của công nghiệp sản xuất H2SO4 từ quặngpirit sắt) chứa 55 - 68% Fe2O3 quặng Sắt (ở Thái Nguyên, Thanh Hoá, QuảngNinh) chứa 65:85% Fe2O3 hoặc quặng laterit (ở các tỉnh miền Trung, miền

Nam) chứa 35: 50% Fe2O3

1.2.1.5 Phụ gia cao nhôm

Trang 12

Là phụ gia có chứa nhiều ôxít nhôm, cũng được sử dụng để điều chỉnh môđun aluminat (p =A/F) trong trường hợp nguồn đất sét của nhà máy chứa quá ít

Al2O3 Nguồn phụ gia cao nhôm thường là quặng bô xít (ở Lạng Sơn, Cao Bằng,Hải Hưng) có chứa Al2O3: 44: 58% cũng có thể sử dụng cao lanh hoặc tro xỉnhiệt điện làm phụ gia bổ sung ôxít nhôm, nhưng tỷ lệ sử dụng khá cao nên hiệuquả kinh tế thấp hơn

1.2.1.6 Phụ gia khoáng hoá.

Để giảm nhiệt độ nung clanhke nhằm tiết kiệm nhiên liệu và tăng khảnăng tạo khoảng, tăng độ hoạt tính của các khoáng clanhke, có thể sử dụng thêmmột số loại phụ gia khoáng hoá như: quặng fluorit còn gọi là huỳnh thạch (chứaCaF2) quặng phốtphorit (chứa P2O5 quặng barit (chứa BaSO4) thạch cao (chứaCaSO4) có thể chỉ sử dụng riêng một loại hoặc sử dụng đồng thời hai, ba loạiphụ gia này với nhau (gọi là phụ gia khoáng hoá hỗn hợp) Phụ gia khoáng hoáhỗn hợp có tác đụng khoáng hoá tốt hơn từng loại phụ gia riêng Tuy vậy, trongsản xuất nếu càng sử dụng nhiều loại nguyên liệu, phụ gia thì công nghệ phatrộn phối liệu càng phức tạp, tốn nhiều thiết bị cân trộn hơn và khả năng đồngnhất kém hơn, việc khống chế phối liệu cho chính xác cũng khó hơn

1.2.2 Nhiên liệu để nung clanhke xi măng pooclang

Nhiên liệu khi cháy sẽ cung cấp nhiệt lượng cho các quá trình sấy nguyênliệu các phản ứng phân huỷ đá vôi, đất sét, phụ gia thành các ôxít và cung cấpnhiệt cho các phản ứng tạo thành các khoáng của clanhke Để chế tạo đượcclanhke, cần phải nung nóng phối liếu đến nhiệt độ 1450 - l500oC Chất lượngnhiên liệu ảnh hưởng quyết định đến quá trình nung, vì vậy cần phải chọn loạinhiên liệu phù hợp với điều kiện thiết bị công nghệ của từng nhà máy cụ thể

Nhiên liệu tốt nhất là khí thiên nhiên (chứa chủ yếu là khí Mêtal - CH4) vì

nó dễ cháy, thiết bị đốt đơn giản, nhiệt lượng cao và không có tro

Nhiên liệu tốt thứ hai là dầu (thường sử dụng dầu FO) cũng có nhiệtlượng cao (hơn 9000 kcal/kg) và không có tro, dễ cháy, nhưng thiết bị đốt phứctạp hơn và phải có bộ phận hâm sấy và lọc dầu

Nhiên liệu rắn được sử dụng phổ biến nhất là than antraxít, có chứa 65:85% cacbon, có nhiệt lượng riêng từ 5300: 7400 kcal/kg Sau khi than cháy cònlại khoảng 10 - 30% tro Tro than có thành phần hoá học gần giống thành phầnhoá học của đất sét đã nung (SiO2 = 58: 68%, Al2O3 = 23: 28%, Fe2O3 = 3- 8 %

và một ít tạp chất khác) Lượng tro than này cũng tham gia vào phản ứng tạo

Trang 13

khoáng clanhke nên khi tính phối liệu phải coi nó như 1 cấu tử nguyên liệu vàcần khống chế đúng tỷ lệ yêu cầu trong quá trình sản xuất Sử dụng than làmnhiên liệu phức tạp hơn dầu hoặc khí vì than phải được nghiền thật mịn và đượcphun vào lò (đối với lò quay) hoặc nghiền cùng với phối liệu (đối với lò đứng).

Để sản xuất xi măng có hiệu quả, cần sử dụng loại than có hàm lượng trothan ít, nhiệt lượng cao và hàm lượng lưu huỳnh (tạo ra SO3 độc hại) càng thấpcàng tốt Hiện nay hầu hết các nhà máy xi măng ở Việt Nam đều quy định chỉ sửdụng than cám 4A và than cám 3 (có nhiệt lượng Qd > 6 100 kcal/kg và hàm

lượng tro A < 19%, hàm lượng lưu huỳnh S < 2%) Loại than tốt nhất ở Việt

Nam là than ở mỏ than Hòn Gai (Quảng Ninh)

Chương 3 Công nghệ sản xuất xi măng pooclang

3.1 Công đoạn nguyên liệu:

3.1.1 Sơ đồ công nghệ

Quá trình công nghệ sản xuất xi măng thường được chia thành 3 giai đoạnchính tách rời nhưng kế tiếp nhau Ba giai đoạn đó là giai đoạn chuẩn bị phốiliệu giai đoạn nung clanhke và giai đoạn nghiền, đóng bao xi măng Mỗi giaiđoạn sản xuất chính được thực hiện theo một dây chuyền sản xuất lên động,hoặc cũng có thể thực hiện theo 2 hoặc 3 dây chuyền liên động nhỏ hơn Sảnphẩm của mỗi giai đoạn chính phía trước lại là nguyên liệu của giai đoạn tiếptheo

Sơ đồ khối của quá trình công nghệ sản xuất xi măng như sau:

a Nhiệm vụ: Nhiệm vụ của giai đoạn này là gia công sơ bộ các loạinguyên nhiên liệu như đá vôi, đất sét, các loại phụ gia, than v.v đến kích thước

và độ ẩm yêu cầu để có thể cấp cho máy nghiền, sau đó định lượng các loạinguyên, nhiên liệu, phụ gia theo tỷ lệ yêu cầu và nghiền mịn thành phối liệu

b Sơ đồ dây chuyền công nghệ chế tạo phối liệu (phương pháp khô)

Trang 14

c) Quá trình công nghệ: Tuỳ theo cách chế tạo phối liệu mà gọi là sản

xuất theo phương pháp khô hay phương pháp ướt

+ Khi sản xuất theo phương pháp khô: các loại nguyên liệu, phụ gia được

đập nhỏ sơ bộ, được cân theo tỷ lệ xác định (để đảm bảo các hệ số chế tạoclanhke theo yêu cầu) và phối trộn lại với nhau, sau đó được nghiền mịn thànhbột khô đến độ mịn nhỏ hơn 10% (tính theo lượng còn lại trên sàng No008 - kíchthước mắt sàng là 0,08mm) sấy khô đến độ ẩm W < 1% Bột phối liệu đượcchứa vào các silô được đảo trộn hoặc sục khí nén cho đồng nhất và sau đó đượccấp cho lò nung ở Việt Nam, hầu hết các nhà máy xi măng đều sản xuất theophương pháp này

+ Khi sản xuất theo phương pháp ướt: đá vôi, đất sét, phụ gia sau khi

được đập nhỏ sơ bộ sẽ được nghiền cùng với nước tạo thành dạng bùn ớt (bùnpate) có độ ẩm W = 35 - 37% và được bơm vào các bể hoặc giếng chứa bùn Khinghiền bùn phối liệu, tỷ lệ giữa các loại nguyên liệu chỉ xác định một cáchtương đối Trong quá trình sản xuất, bùn được bơm vào các giếng và được kiểmtra, phân tích độ ẩm, thành phần hoá học Sau đó phối trộn với nhau để điều chếđược bùn phối liệu có thành phần hoá học theo yêu cầu Khi đã đạt yêu cầu, bùnphối liệu thường xuyên được khuấy trộn để chống sa lắng và bơm cấp cho lònung Ở Việt Nam hiện nay chỉ có 3 nhà máy xi măng sản xuất theo phươngpháp này là nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy xi măng Hà Tiên (dây chuyềncũ) và nhà máy xi măng Bỉm Sơn Trong những năm gần đây người ta không

Trang 15

xây dựng các nhà máy sản xuất theo phương pháp ướt nữa vì tuy công nghệnghiền đơn giản hơn, không phải sấy nguyên liệu, dễ nghiền mịn hơn, dễ đồngnhất hơn nhưng phải có nhiều bể và giếng để chứa và điều chế bùn phối liệu, khinung tốn nhiều nhiệt năng để làm bay hơi 35 - 37% ẩm, lò nung dài hơn, năng

suất thấp hơn v.v .

3.1.2 Các thiết bị chính

Kiểm tra chất lượng nguyên liệu và sản phẩm:

Để đảm bảo chất lượng của quá trình sản xuất, nguyên nhiên liệu đưa vàosản xuất cần phải tập kết theo lô, lấy mẫu kiểm tra độ ẩm, thành phần hoá học.Nguyên liệu đưa vào sản xuất phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật đối với mỗi loại(theo tiêu chuẩn cơ sở của từng nhà máy)

Trong quá trình sản xuất, phải định kỳ lấy mẫu nguyên liệu, phụ gia chứatrong các silô (dưới các cân phối liệu), bột hoặc bùn phối liệu đề kiểm tra độ ẩm,phân tích thành phần hoá học làm căn cứ tính toán và điều chỉnh tỷ lệ phối liệucho phù hợp với sự biến động của chất lượng nguyên, nhiên liệu

Chế độ kiểm tra và chỉ tiêu chất lượng yêu cầu.

Đá vôi:

* Chế độ kiểm tra:

- Mẫu trung bình của khu vực dự định khai thác

Mẫu trung bình hàng ngày (tập trung mẫu theo ca)

Chỉ tiêu kiểm tra và yêu cầu:

CaCO3 > 90%; MgCO3 < 6%; SiO2 < 5%; lượng đất lẫn < 8%; kích thướckhai thác đưa vào máy đập hàm và sau khi đập qua máy đập hàm, đập búa, tuỳtheo thiết bị cụ thể của từng nhà máy mà có quy định riêng

Đất sét:

* Chế độ kiểm tra:

Mẫu trung bình của khu vực dự định khai thác

Mẫu trung bình hàng ngày tập trung mẫu theo ca)

* Chỉ tiêu kiểm tra và yêu cầu:

- SiO2 >55%; Al2O3 > 8%; lượng đá lẫn < 3%; kích thước và độ ẩm trướckhi đưa vào máy cán, máy sấy và sau khi sấy, tuỳ theo thiết bị cụ thể của từngnhà máy mà có quy định riêng

Các loại phụ gia cao silic, cao sắt, cao nhôm và khoáng hoá

* Chế độ kiểm tra:

Mẫu trung bình theo từng lô hàng nhập về nhà máy

Trang 16

- Mẫu trung bình đống trong kho ở khu vực dự định đưa vào sản xuất.

* Chỉ tiêu kiểm tra:

- Kích thước và độ ẩm trước khi đua vào máy đập hoặc máy sấy, tuỳ theoloại phụ gia, thiết bị cụ thể của từng nhà máy mà có quy định riêng

Nhiên liệu.

* Chế độ kiểm tra:

- Mẫu trung bình theo từng lô hàng nhập về nhà máy

- Mẫu trung bình đống trong kho ở khu vực dự định đưa vào sản xuất

* Chỉ tiêu kiểm tra và yêu cầu:

- Khí tự nhiên: Kiểm tra áp lực khí

- Dầu FO: Kiểm tra tỷ trọng và hàm lượng lưu huỳnh, nhiệt độ bắt cháy

- Mẫu trung bình theo từng giờ

- Mẫu trung bình theo ca, theo ngày sản xuất

* Chỉ tiêu kiểm tra và yêu cầu:

- Tít phối liệu (%CaCO3 + %MgCO3) = Tít tính toán +/- 0,5

Thông thường, phối liệu không có than, T= 78: 80%;

phối liệu có than, T = 65: 67%

- Hàm lượng CaO, Fe2O3 kiểm tra nhanh bằng máy phân tích canxi, sắt)

- Hàm lượng các ôxít chính, các hệ số chế tạo KH, n, p phải đạt theo yêucầu chỉ đạo của phòng kỹ thuật

Độ mịn, phần còn lại trên sàng No008 < 10%

3.2 Công đoạn Lò nung

3.2.1 Sơ đồ công nghệ

a) Nhiệm vụ: Nhiệm vụ của giai đoạn này là nung bột phối liệu khô, bùn

phối liệu ướt hoặc viên phối liệu ẩm thành clanhke

b) Sơ đồ dây chuyền công nghệ nung clanhke:

Trang 17

+ Dây chuyền lò quay phương pháp khô:

Trang 19

3.2.2 Các thiết bị chính

Quá trình công nghệ:

Quá trình nung clanhke có thể thực hiện được bằng lò quay hoặc lò đứng

Lò quay là một ống trụ dài, bên trong có lót gạch chịu lửa, đường kính ống φ 2,5-6m, chiều dài 75- 185m, nằm nghiêng 2-3o, liên tục quay quanh trục với tốc độ1,5-3 vòng/phút Lò đứng là một hình trụ đứng yên, vỏ lò được làm bằng thép,

bê tông hoặc xây bằng gạch, bên trong có lót gạch chịu lửa, đường kính trong φ

2,2 -3, 1m, chiều cao 8- 1 1m, trên đỉnh có máy rải liệu để cấp vào lò, dưới đáy

có ghi quay hoặc cửa tháo để rút clanhke ra khỏi lò

+) Quá trình nung bằng lò quay phương pháp khô: Nhiên liệu đốt (khí,

dầu hoặc than mịn) được phun vào lò từ đầu thấp (còn gọi là đầu nóng) Nhiênliệu cháy tạo ra ngọn lửa có nhiệt độ 1550 - l650oC ở zôn (vùng) nung và giảmdần về phía đầu cao và đi qua hệ thống xyclon trao đổi nhiệt Bột phối liệu từcác silô chứa đã đồng nhất được bơm khí nén cấp vào xyclon trao đổi nhiệt vớikhí nóng và được đốt nóng dần Do cấu tạo của xyclon, bột phối liệu từ xyclonphía trên tách ra khỏi dòng khí và rơi xuống xyclon phía dưới có nhiệt độ caohơn Qua 4-5 cấp xyclon trao đổi nhiệt (ở các lò hiện đại còn có thêm thiết bịcanxi hoá, còn gọi là “thiết bị tiền nung”), bột phối liệu đã được đốt nóng đến900- 1000OC và các nguyên liệu đã bị phân huỷ Sau đó bột phối liệu đi vào lònung ngược chiều với dòng khí nóng đến zôn nung Trong quá trình này, bộtliệu được đốt nóng dần đến nhiệt độ 14500C, xảy ra các phản ứng tạo khoángclanhke, làm cho clanhke kết khối Ra khỏi zôn nung, clanhke được làm nguộinhanh từ 1200oC xuống 100-150oC nhờ các lò hành tinh gắn xung quanh lòchính hoặc máy làm lạnh kiểu ghi và được đưa vào kho ủ Ở Việt Nam, hầu hếtcác nhà máy xi măng đều sản xuất bằng loại lò này như nhà máy xi măng HoàngThạch (lò φ = 5,5m, chiều dài 94m), Chinfon, Bút Sơn, Hà Tiên II, Sao Mai,

Nghi Sơn, Hoàng Mai, Tràng Kênh v.v

+) Quá trình nung bằng lò quay phương pháp ướt:Nhiên liệu đốt (khí,

dầu hoặc than mịn) được phun vào lò từ đầu thấp (còn gọi là đầu nóng) Nhiênliệu cháy tạo ra ngọn lửa có nhiệt độ 1550 - 1650oC ở zôn nung và giảm dần vềphía đầu cao (còn gọi là đầu lạnh) Bùn phối liệu được bơm từ các giếng điềuchế vào lò nung từ đầu lạnh và đi ngược chiều với dòng khí nóng đến zôn nung.Trong quá trình này, bùn phối liệu đi qua zôn xích được sấy khô thành bột vàđược đốt nóng dần đến nhiệt độ 1450- 1500oC Ở trong lò, tuỳ theo nhiệt độ củatừng zôn mà ở đó xảy ra các phản ứng phân huỷ nguyên liệu và tạo khoángclanhke, làm cho clanhke kết khối Ra khỏi zôn nung, clanhke cũng được làmnguội nhanh từ 1200OC xuống 150 - 250oC và được đa vào kho ủ

Trang 20

So với lò quay phương pháp khô, lò quay phương pháp ướt dài hơn vàkhông cần hệ thống xyclon trao đổi nhiệt, ở đầu lạnh có mắc xích tạo thành zônsấy Loại lò này cho năng suất thấp hơn nhng tiêu tốn nhiệt cao hơn lò quay

phương pháp khô nên ngày nay ít được xây dựng mới

Ở Việt Nam hiện nay chỉ có các nhà máy xi măng Hải Phòng (lò 4) = 2,5:3m,chiều dài 75 - 1 10 m), Bỉm Sơn (lò φ = 5 m, chiều dài 185 m), Hà Tiên I (lò φ =2,5m, chiều dài 75 m) là còn đang sản xuất bằng loại lò này

3.2.3 Đặc điểm trao đổi nhiệt trong lò quay:

+) Quá trình nung bằng lò đứng: Nhiên liệu đốt là than cám được nghiền

cùng với phối liệu và được vê thành viên Khi nhiên liệu cháy tạo ra ngọn lửa cónhiệt độ 1450 - 1500oC ở zôn nung (cách sàn lò 1 ,5:2 m) Trong quá trình này,bột liệu được đốt nóng dần đến nhiệt độ 1400: 1450oC và xảy ra các phản ứngphân huỷ nguyên liệu và tạo khoáng clanhke, làm cho clanhke kết khối Ra khỏizôn nung, clanhke được làm nguội nhanh từ 1200oC xuống 150 - 250oC nhờ giólạnh thổi từ dưới lên, được ghi quay nghiền vỡ, được tháo ra khỏi lò và được đ-

ưa vào kho (hoặc silô) ủ Sản xuất bằng phương pháp lò đứng tuy công nghệ đơngiản hơn, vốn đầu tư thấp nhưng nhược điểm lớn nhất là chế độ nung không ổnđịnh và phụ thuộc rất nhiều vào kỹ thuật thao tác của thợ lò Nếu quá trình nungkhông tốt sẽ có hiện tượng không đều nhiệt, có vùng chỉ đạt 600: 1000OC chưa

đủ để phản ứng tạo khoáng clanhke, nên tạo ra clanhke chất lượng thấp, vôi tự

do cao làm cho xi măng kém ổn định thể tích và cường độ thấp

d) Kiểm tra chất lượng sản phẩm:

Việc kiểm tra chất lượng clanhke trong quá trình sản xuất nhằm đánh giá

khả năng kết luyện của clanhke, chế độ nhiệt của lò nung đã phù hợp hay chưa

để cán bộ kỹ thuật và thợ lò khống chế, chỉ đạo sản xuất

Chế độ kiểm tra và chỉ tiêu chất lượng yêu cầu như sau:

Chế độ kiểm tra:

- Mẫu clanhke ra lò từng giờ (lấy sau lò nung)

- Mẫu trung bình theo ca sản xuất (gộp mẫu lấy theo giờ)

- Mẫu trung bình theo ngày sản xuất (gộp mẫu lấy theo ca)

Chỉ tiêu kiểm tra:

- Đối với mẫu clanhke theo giờ, cần kiểm tra dung trọng làm cơ sở để thợ

lò điều chỉnh chế độ nhiệt và năng suất lò

Trang 21

- Đối với mẫu trung bình theo ca sản xuất, cần kiểm tra hàm lượng vôi tự

do

- Đối với mẫu trung bình theo ngày sản xuất cần kiểm tra thành phần hoáhọc, các hệ số chế tạo, tính ổn định thể tích và cường độ bền nén theo phươngpháp nhanh

3.3 Công đoạn nghiền, đóng bao xi măng

3.3.1 Sơ đồ công nghệ

a) Nhiệm vụ: Nhiệm vụ của giai đoạn này là nghiền xi măng từ clanhke,

thạch cao và một số loại phụ gia như phụ gia hoạt tính, phụ gia đầy, phụ gia

công nghệ Sau khi nghiền, xi măng sẽ được chứa trong các si lô và được đóng

thành bao 50kg để xuất xưởng theo nhu cầu bán hàng hoặc cũng có thể xuấtxưởng ở dạng xi măng rời Tuỳ theo loại tỷ lệ phụ gia pha vào khi nghiền mà ta

có các loại xi măng khác nhau Nếu chỉ nghiền clanhke xi măng poóc lăng với 5% thạch cao, ta được xi măng poóclăng (PC); nếu pha thêm puzơlan ta được ximăng poóc lăng puzơlan (PZ); nếu pha thêm xỉ lò cao, ta được xi măng poóc

3-lăng xỉ (PX): nếu pha thêm các loại phụ gia hoạt tính và phụ gia đầy v.v ta

được xi măng hỗn hợp (PCB)

b) Sơ đồ dây chuyền công nghệ nghiền xi măng:

Trang 22

* Tuỳ vào loại xi măng cần sản xuất mà sử dụng (hoặc không sử dụng) các loại phụ gia.

c) Quá trình công nghệ:

Để nghiền xi măng, người ta sử dụng hệ thống máy nghiền bi Tuỳ theohành trình của vật liệu bị nghiền (quyết định bởi máy nghiền) và các thiết bị phụtrợ mà ta phân biệt ra nghiền theo chu trình kín hay chu trình hở

+ Khi nghiền theo chu trình hở: vật liệu nghiền được cấp vào máy nghiền

ở đầu cấp liệu và được lấy ra ở đầu thạo liệu, vật liệu được nạp vào và tháo raliên tục theo một chiều Trong quá trình này, vật liệu được đập nhỏ, nghiền mịnnhờ sự va đập, chà xát của bi đạn với nhau và với tấm lót bên trong máy nghiền

Độ mịn của vật liệu nghiền (xi măng) phụ thuộc vào độ cứng của clanhke, phụ

gia, năng suất cấp liệu và chế độ thông gió cho máy nghiền v.v

+ Khi nghiền theo chu trình kín: khác với chu trình hở, là sau khi vật liệu

nghiền ra khỏi máy nghiền, chúng được đưa vào máy phân ly Tại máy phân ly,

Ngày đăng: 20/04/2015, 17:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 9: Sơ đồ cấu tạo (a) và khí động học (b) của xyclon trao đổi nhiệt - những vấn đề cơ bản về xi măng
Hình 9 Sơ đồ cấu tạo (a) và khí động học (b) của xyclon trao đổi nhiệt (Trang 38)
Hình 10 mô tả sơ đồ của hệ thống lò nung có tháp tiền nung SP với 4 tầng xyclon. Nguyên lý hoạt động của tháp trao đổi nhiệt kiểu xyclon nh sau: - những vấn đề cơ bản về xi măng
Hình 10 mô tả sơ đồ của hệ thống lò nung có tháp tiền nung SP với 4 tầng xyclon. Nguyên lý hoạt động của tháp trao đổi nhiệt kiểu xyclon nh sau: (Trang 39)
Hình 18: Hệ thống trao đổi nhiệt RSP - những vấn đề cơ bản về xi măng
Hình 18 Hệ thống trao đổi nhiệt RSP (Trang 41)
Hình 8: Góc nâng tối u của bi nghiền - những vấn đề cơ bản về xi măng
Hình 8 Góc nâng tối u của bi nghiền (Trang 43)
Hình 9:  Mức độ nạp bi nghiền theo Levenson - những vấn đề cơ bản về xi măng
Hình 9 Mức độ nạp bi nghiền theo Levenson (Trang 44)
Hình 10: Lựa chọn kích thớc bi nghiền                 Hình 11: Lựa chọn kích thớc đạn nghiền - những vấn đề cơ bản về xi măng
Hình 10 Lựa chọn kích thớc bi nghiền Hình 11: Lựa chọn kích thớc đạn nghiền (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w